Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quy định của pháp luật về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Trước khi có Bộ luật dân sự 2015
2.1.1. Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Luật dân sự cổ Việt Nam
Lỗi trong trách nhiệm dân sự nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng được pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật các nước trên thế giới quy định từ rất lâu đời. Pháp luật La Mã cổ đại (Thế kỷ VIITCN đến TK VII SCN) cũng có quy định về vấn đề này, đặt ra chế độ “phục cừu” là nguyên tắc trả thù ngang bằng nhau như máu trả máu, mắt trả mắt, răng trả răng… Ngoài chế độ phục cừu, việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng còn tuân theo những nguyên tắc được pháp luật ấn định trước như “chế độ phục kim” (bồi thường bằng tiền). Về hình thức lỗi, luật La Mã quy định có hai hình thức lỗi là lỗi cố ý và vô ý. Đối với hình thức lỗi vô ý, luật La Mã còn phân biệt với hai mức độ khác nhau là vô ý nặng và vô ý nhẹ. Lỗi vô ý nặng là trường hợp một người không hiểu không thấy những điều mà người bình thường khác cũng hiểu cũng thấy. Lỗi vô ý nhẹ là trường hợp một người đã thực hiện một hành vi mà hành vi đó một chủ nhân tốt (của tài sản) không thực hiện như vậy. Từ cơ sở của việc xác định mức độ lỗi vô ý nặng và vô ý nhẹ để có căn cứ quy trách nhiệm pháp lý của người có hành vi tương ứng với mức độ lỗi đó. Người gây thiệt hại do lỗi vô ý nặng luôn phải chịu trách nhiệm như cố ý và đặc biệt, một người do thiếu kinh nghiệm mà gây thiệt hại cũng coi như có lỗi [19, tr.17].
Ở Việt Nam, pháp luật thời Lê (Quốc triều hình luật) và pháp luật thời nhà Nguyễn (Hoàng Việt luật lệ) chúng ta nhận thấy rằng: Lỗi với tư cách là cơ sở của trách nhiệm dân sự đã được đặt ra. Tuy nhiên, trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng và trách nhiệm dân sự nói chung chưa có sự phân định rõ với trách nhiệm hình sự. Chế tài hình sự được quy định trước hết nhằm trừng trị kẻ nào đã xâm phạm vào tài sản hoặc nhân thân của người khác, ngoài hình phạt kẻ phạm tội còn phải bồi thường cho nạn nhân về thiệt hại xảy ra. Theo đó vấn đề lỗi cũng được quy định một cách sơ sài, tản mạn và không được nhìn nhận một cách tách bạch hoặc có lúc thậm chí lại không được nhắc đến. Trong các điều luật cụ thể không có quy định nào mang tính khái quát về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
Tuy nhiên, trên cơ sở nghiên cứu các quy định trong hai Bộ luật, có thể thấy, mặc dù hai Bộ luật không trực tiếp sử dụng thuật ngữ pháp lý như “Lỗi cố ý”, “Lỗi vô ý” mà chỉ dùng các từ như vô cơ, mưu sát, thất sát, ngộ sát, lầm lỡ… nhưng qua tính chất sự việc được nêu và trách nhiệm được áp dụng, có thể hiểu các nhà làm luật xưa cũng có lúc coi lỗi là yếu tố làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Lỗi được nhìn nhận là lỗi của chính bản thân người gây thiệt hại, người bị thiệt hại hay lỗi của người thứ ba cũng được nhắc đến. Luận văn: Pháp luật lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
Lỗi của chính bản thân người gây thiệt hại: Khi một người có hành vi xâm phạm tài sản hoặc nhân thân của người khác gây thiệt hại thì người đó phải chịu trách nhiệm bồi thường tùy theo lỗi của người gây thiệt hại. Lỗi cố ý thường coi có tính nghiêm trọng nên tiền bồi thường thường tăng gấp đôi thậm chí đôi khi còn tăng gấp ba… Ví dụ: Trong Quốc triều hình luật:
Điều 435: Lột lấy những quần áo và đồ vật của trẻ con, người điên, người say thì phải tội đồ và phải bồi thường gấp đôi, Điều 437: Quan giám lâm, người coi kho mà tự lấy trộm thì xử như ăn trộm thường và phải bồi thường tang vật gấp hai lần, Điều 581: Người thả trâu, ngựa cho dày xéo, ăn lúa, dâu của người ta, thì xử phạt 80 trượng và đền sự thiệt hại. Nếu cố ý cho dày xéo, phá hại của người ta, thì xử biếm một tư và đến gấp đôi sự thiệt hại.
Với lỗi vô ý người gây thiệt hại được áp dụng trong trường hợp bồi thường thông thường (tức là mức bồi thường đã được nhà làm luật giải thích rõ tại Bộ luật). Ví dụ: Điều 581 Quốc triều hình luật quy định: “người thả trâu ngựa cho dày xéo, ăn lúa, dâu của người ta thì xử phạt 80 trượng và đền sự thiệt hại”. Điều 208 Hoàng Việt luật lệ dự liệu rằng trong trường hợp vô ý giết người (thất sát) phạm nhân bị phạt tội giảo nhưng được chuộc lỗi bằng tiền và phải chịu tiền mai táng.
Các nhà làm luật thời phong kiến chú trọng phân biệt lỗi cố ý và lỗi vô ý trong việc gây thiệt hại để ấn định mức bồi thường. Tuy nhiên, mức bồi thường thiệt hại còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như tính chất của sự gây thiệt hại, địa vị xã hội của người gây thiệt hại và người bị thiệt hại. Nhiều khi những yếu tố này chi phối mạnh hơn và ảnh hưởng nhiều hơn đến việc bồi thường.
2.1.2. Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thời kỳ Pháp thuộc Luận văn: Pháp luật lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển theo tiến trình lịch sử của đất nước. Sau khi thực dân Pháp xâm chiếm nước ta, Pháp đã thi hành chế độ bảo hộ Việt Nam và các nước Đông Dương, vì vậy các Bộ luật dân sự của nước ta thời kỳ pháp thuộc do nhà nước Pháp ban hành bằng tiếng Pháp và được dịch ra tiếng Việt. Thời kỳ này, lỗi được ghi nhận chính thức trong luật và được coi là căn cứ phát sinh trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trong Dân luật Bắc Kỳ (1931) và Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật (1936), trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại nói chung cũng đã được quy định khi có hành vi gây thiệt hại trên cơ sở: “Người thụ trái phải chịu trách nhiệm trên cơ sở lỗi” (Điều 712 Bộ Dân luật Bắc Kỳ, Điều 761 Bộ Dân luật Trung Kỳ).
Chế định bồi thường thiệt hại trong Bộ dân luật Bắc Kỳ và Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật được chia thành trách nhiệm dân sự theo hợp đồng và ngoài hợp đồng, nguyên tắc chung để xác định trách nhiệm dân sự được quy định tại Điều 711 Bộ dân luật Bắc Kỳ và Điều 763 Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật, theo đó:
Người ta phải chịu trách nhiệm không những tổn hại tự mình làm ra mà cả về sự tổn hại do những người mà mình phải trông coi nữa.
Phàm vật vô hồn mà làm nên tổn hại, thì người trông coi vật ấy cho là có lỗi vào đó, không phân biệt vật đó có tay người động đến hay không, muốn phá sự phỏng đoán thì phải có bằng chứng trái lại mới được.
Bấy nhiêu trường hợp như trên đều có trách nhiệm cả, trừ khi người chịu trách nhiệm có bằng chứng rằng cái việc sinh ra trách nhiệm ấy mình không thể ngăn cấm được.
Đoạn một điều luật trên quy định về nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự là người nào gây ra thiệt hại thì người đó phải bồi thường. Mặt khác, nếu một người giám hộ người khác mà để người được giám hộ gây thiệt hại thì người giám hộ phải bồi thường thiệt hại, vì người giám hộ không thực hiện tốt nghĩa vụ giám hộ của mình nên phải chịu thay người giám hộ. Đoạn hai điều luật quy định vật vô hồn là các vật như nhà ở, công trình xây dựng và các tài sản vô chi, vô giác khác gây thiệt hại trong hai trường hợp: Thứ nhất, do người quản lý trông coi, sử dụng tài sản mà có lỗi vô ý, quản lý, trông coi hoặc khai thác sử dụng không cẩn thận để tài sản gây thiệt hại. Thứ hai, tài sản tự nó gây thiệt hại mà không có hành vi tác động trực tiếp của người quản lý, trông coi. Trường hợp này người quản lý tài sản có lỗi vô ý gián tiếp là không thực hiện tốt các biện pháp phòng ngừa có khả năng cho phép, cho nên để tài sản gây thiệt hại, vì vậy chủ sở hữu hoặc người quản lý trông coi tài sản phải bồi thường thiệt hại. Nếu thiệt hại xảy ra không phải do lỗi của người quản lý tài sản mà là do hành vi trái pháp luật trực tiếp hoặc gián tiếp của người thứ ba thì người thứ ba phải bồi thường thiệt hại. Luận văn: Pháp luật lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại không phát sinh khi người quản lý, trông coi tài sản chứng minh được việc gây thiệt hại đó là bất khả kháng. Vì trong trường hợp này người quản lý không có lỗi trong việc trông coi tài sản, thiệt hại xảy ra nằm ngoài sự kiểm soát của con người, cho nên họ không phải chịu trách nhiệm dân sự.
Như vậy, có thể thấy, các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hai Bộ Dân luật Bắc Kỳ và dân luật Trung kỳ đều dựa trên căn cứ vào lỗi trực tiếp hoặc lỗi gián tiếp của chủ sở hữu hoặc quản lý sử dụng tài sản. Nguyên tắc xác định trách nhiệm dân sự dựa trên lỗi đảm bảo được việc xác định đúng trách nhiệm dân sự của người có hành vi trái pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích của người bị thiệt hại trong việc khắc phục hậu quả thiệt hại do người khác gây ra.
2.1.3. Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của Thông tư 173/UBTP năm 1972
Bộ dân luật Bắc Kỳ được áp dụng ở miền Bắc nước ta đến cuối năm 1959 và sau đó Tòa án áp đụng đường lối xét xử được Tòa án nhân dân tối cao tổng kết kinh nghiệm xét xử hàng năm và các văn bản hướng dẫn xét xử của Tòa án nhân dân tối cao. Trong lĩnh vực bồi thường thiệt hại có Thông tư 173-UBTP ngày 23/3/1972 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn xét xử về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Theo đó, để xác định một chủ thể có phải chịu trách nhiệm dân sự hay không Thông tư này quy định cần phải căn cứ vào 04 điều kiện sau:
Thứ nhất, phải có thiệt hại: Thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất, cụ thể là các thiệt hại về tài sản, các chi phí cần thiết và thu nhập bị mất do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe… những thiệt hại xảy ra phải tính toán được bằng một số tiền cụ thể.
Thứ hai, phải có hành vi trái pháp luật: Hành vi trái pháp luật có thể là hành vi vi phạm pháp luật hình sự hoặc bất kỳ hành vi nào vi phạm pháp luật nói chung hoặc vi phạm một quy tắc sinh hoạt xã hội.
Thứ ba, phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật: Thiệt hại xảy ra phải đúng là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật, hành vi trái pháp luật là nguyên nhân chủ yếu có tính chất quyết định làm phát sinh hậu quả cụ thể.
Thứ tư, người gây thiệt hại có lỗi: Người gây thiệt hại nhận thức hoặc cần phải nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật có thể gây ra thiệt hại cho người khác. Lỗi của người gây thiệt hại có thể là cố ý hoặc vô ý. Luận văn: Pháp luật lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
Khi có thiệt hại xảy ra, cần phải xem xét thiệt hại do hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp của con người. Hành vi trực tiếp gây thiệt hại là hành vi của một người đã xác định được, hành vi đó là trái pháp luật. Hành vi gián tiếp gây thiệt hại là do người đó không thực hiện các biện pháp cần thiết để phòng ngừa việc gây thiệt hại như không có các biện pháp phù hợp bảo quản tài sản dẫn đến việc tài sản gây thiệt hại… Đối với những trường hợp hành vi trực tiếp gây thiệt hại cần xác định ý thức chủ quan của người gây thiệt hại là biết, hoặc không biết hành vi của mình là sai để xác định người thực hiên hành vi đó có lỗi cố ý hay vô ý. Trường hợp tài sản gây thiệt hại do nguyên nhân chủ quan của người quản lý sử dụng tài sản, thì cần phải xác định lỗi của người chủ sở hữu hoặc người quản lý sử dụng thể hiện như thế nào trong từng trường hợp cụ thể.
Về nguyên tắc, khi xác định trách nhiệm dân sự của một chủ thể thì cần phải xác định chủ thể đó có lỗi trong việc gây thiệt hại. Tuy nhiên, một số trường hợp không cần xác định lỗi của con người, đó là trách nhiệm dân sự do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Nguyên tắc của trách nhiệm này là chủ sở hữu sử dụng tài sản thì phải bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra, trừ trường hợp chứng minh được thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi người bị hại hoặc do bất khả kháng. Trách nhiệm dân sự do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra được hướng dẫn tại điểm 5 mục B Thông tư 173. “Trường hợp thiệt hại xảy ra hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ, không do lỗi của ai, thì cơ quan quản lý nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại…”
Những năm 1970, miền Bắc đã hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa, cho nên phương tiện giao thông vận tải và các nguồn nguy hiểm cao độ khác chủ yếu thuộc sự quản lý của các hợp tác xã, cơ quan nhà nước và các tổ chức chính trị-xã hội.. cho nên TT.173 hướng dẫn là cơ quan quản lý nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại. Thông tư 173 được áp dụng đến ngày Bộ luật dân sự 1995 có hiệu lực.
2.1.4. Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự 1995 và 2005 Luận văn: Pháp luật lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
Trải qua nhiều giai đoạn của lịch sử, lỗi có sự kế thừa và phát huy các quy định pháp luật qua mỗi thời kỳ. Trong Bộ luật dân sự 1995 và được sửa đổi bổ sung năm 2005, các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng như quy định về lỗi trong loại trách nhiệm này hầu như không thay đổi, bổ sung nội dung quy định mà chỉ thay đổi số các điều luật.
Theo quy định tại Điều 609 Bộ luật dân sự 1995 và Điều 604 Bộ luật dân sự 2005, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng yêu cầu người gây thiệt hại phải có “lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý”. Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã khẳng định “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố sau đây: “Phải có thiệt hại xảy ra, phải có hành vi trái pháp luật, phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật, phải có lỗi cố ý hoặc vô ý của người gây thiệt hại”.
Với quy định trên, ngoài việc chứng minh người gây thiệt hại có “Hành vi trái pháp luật”, cần phải chứng minh thêm rằng người gây thiệt hại phải có “lỗi vô ý hay cố ý”, tức là phải có lỗi. Lỗi là một trong bốn điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Để có căn cứ yêu cầu một người phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì ngoài việc chứng minh người đó có hành vi trái pháp luật, gây thiệt hại thì còn phải chứng minh người đó có lỗi gây ra thiệt hại. Lỗi là yếu tố quan trọng, không thể thiếu trong quá trình xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và có mối liên hệ mật thiết với các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường (hành vi trái pháp luật, thiệt hại, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra).
Nắm bắt được tầm quan trọng của lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Bộ luật dân sự 1995, 2005 không chỉ ghi nhận lỗi mà còn có sự giải thích rất cụ thể về hình thức lỗi dưới phương diện luật học, ảnh hưởng của lỗi tới việc xác định trách nhiệm bồi thường. Ngoài ra, Bộ luật quy định thêm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phát sinh ngay cả khi không có lỗi trong một số trường hợp.
Tuy nhiên, qua một thời gian dài áp dụng, các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và quy định về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng đã nảy sinh nhiều bất cập. Do đó, các nhà lập pháp khi xây dựng Bộ luật dân sự 2015 đã có nhiều quy định mới, sửa đổi bổ sung các quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong Bộ luật dân sự 2005. Trong đó, phải kể đến quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hiện nay không coi lỗi là một trong bốn căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nữa.
2.2. Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng quy định tại Bộ luật dân sự 2015 Luận văn: Pháp luật lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
Về nguyên tắc, một người bị áp dụng cưỡng chế nhà nước thì họ phải có hành vi vi phạm pháp luật do lỗi cố ý hoặc vô ý. Tuy nhiên trong quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có những trường hợp ngoại lệ là người không có hành vi trái pháp luật, không có lỗi vẫn phải chịu trách nhiệm dân sự. Do vậy, Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 đã quy định 03 căn cứ bắt buộc làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là: có thiệt hại xảy ra, có hành vi trái pháp luật và có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại thực tế xảy ra. Đây là điểm mới trong quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng giữa Bộ luật dân sự 2015 và Bộ luật dân sự 2005.
Trước đây, theo quy định tại Điều 604 Bộ luật dân sự 2005, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng yêu cầu người gây thiệt hại phải có “lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý”. Với quy định này, ngoài việc chứng minh người gây thiệt hại có “hành vi trái pháp luật”, cần phải chứng minh thêm rằng người gây thiệt hại phải có “lỗi vô ý hay cố ý”, tức là phải có lỗi. Ở góc độ văn bản, Luật Thương mại trước đây có yêu cầu “lỗi” để làm phát sinh trách nhiệm bồi thường nhưng Luật Thương mại 2005 đã bỏ lỗi (chỉ cần có hành vi vi phạm, thiệt hại và quan hệ nhân quả) và việc bỏ lỗi này không những không gây ra bất kỳ khó khăn gì mà ngược lại tạo sự thuận lợi trong việc vận dụng. Văn bản mới và hiện đại nhất do Quốc Hội thông qua về bồi thường thiệt hại là Luật trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước cũng theo hướng này: Điều 6 về “căn cứ” xác định trách nhiệm bồi thường nhấn mạnh yếu tố “trái pháp luật” và không đề cập đến yếu tố “lỗi”. Ở góc độ so sánh, Pháp trước đây đã từ rất lâu theo hướng người điên gây thiệt hại (tức không có lỗi) vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường [3].
Xuất phát từ những vướng mắc, bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật, Bộ luật dân sự 2015 ra đời không còn quy định lỗi là một trong bốn yếu tố là căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng nữa. Mặc dù lỗi không phải là một trong những căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng song “lỗi” vẫn có giá trị quan trọng trong việc xem xét mức độ thiệt hại được bồi thường, loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với từng trường hợp thiệt hại cụ thể xảy ra trong thực tế.
2.2.1. So sánh lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với lỗi trong các loại trách nhiệm pháp lý khác Luận văn: Pháp luật lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
- Thứ nhất, lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng
Theo như tên gọi của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thì có thể thấy lỗi trong quan hệ hợp đồng xuất phát từ sự vi phạm cam kết mà các bên đã thỏa thuận và ghi nhận trong một hợp đồng dân sự. Một trong các bên trong hợp đồng có lỗi do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng phần nghĩa vụ của mình được ghi nhận trong hợp đồng. Khác với trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không phát sinh trên cơ sở hợp đồng mà phát sinh trên cơ sở quy định của pháp luật. Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng là sự thể hiện thái độ của chủ thể khi không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ đã được hai bên cam kết trong hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ được phát sinh trên cơ sở hợp đồng.
Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hợp đồng, nghĩa vụ bồi thường của người mang trách nhiệm theo hợp đồng có thể phát sinh cả khi do lỗi của người khác (Thực hiện nghĩa vụ dân sự thông qua người thứ ba). Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, người gây thiệt hại có thể phải chịu trách nhiệm bồi thường ngay cả khi họ không có lỗi.
- Thứ hai, lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với lỗi trong trách nhiệm hình sự
Về mặt bản chất, lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và lỗi trong trách nhiệm hình sự đều là thái độ phủ định của chủ thể đối với các lợi ích của xã hội, sự phủ định chủ quan này được phản ánh qua việc thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, lỗi trong hai loại trách nhiệm này cũng có những điểm khác biệt cơ bản:
Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được hiểu là thái độ tâm lý của người gây thiệt hại với hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm những đòi hỏi của xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của cá nhân hay của tổ chức và với thiệt hại do hành vi đó gây nên. Lỗi trong trách nhiệm hình sự là thái độ tâm, lý của một người với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và hậu quả do hành vi đó gây nên biểu hiện dưới hình thức lỗi cố ý hoặc vô ý.
Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được xem xét ở phạm vi rộng hơn so với lỗi trong trách nhiệm hình sự. Ngay trong mỗi vụ án hình sự, khi một chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác thì ngoài việc các cơ quan tiến hành tố tụng xác định lỗi trong hành vi của chủ thể để quyết định áp dụng hình thức xử phạt phù hợp thì còn phải xem xét trách nhiệm bồi thường những tổn thất do người có hành vi trái pháp luật gây ra cả về vật chất và tinh thần, đây chính là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật phải gánh chịu. Luận văn: Pháp luật lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
Nếu trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra khi chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật có lỗi thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng xuất hiện ngay cả khi chủ thể có hành vi gây thiệt hại không có lỗi. Chủ cần có thiệt hại xảy ra, có sự kiện gây thiệt hại, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại với thiệt hại xảy ra là trách nhiệm bồi thường thiệt hại được áp dụng cho chủ thể. Bộ luật dân sự đặt ra vấn đề suy đoán lỗi, người thực hiện hành vi gây thiệt hại muốn loại bỏ trách nhiệm thì họ phải chứng minh mình không có lỗi hoặc thiệt hại xảy ra hoàn toàn do bên bị thiệt hại. Quy định này hoàn toàn khác so với trách nhiệm hình sự. Theo đó, pháp luật hình sự quy định một người phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội nếu họ có lỗi khi thực hiện hành vi đó. Lỗi trong trách nhiệm hình sự không dựa trên cơ sở suy đoán, các cơ quan tiến hành tố tụng phải bằng nghiệp vụ của mình để xác minh các căn cứ, chứng cứ chứng minh một người có lỗi khi thực hiện hành vi phạm tội.
Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, chủ có thiệt hại thực tế xảy ra thì mới xác định được trách nhiệm bồi thường. Bởi mục đích của việc bồi thường là nhằm khôi phục lại những tổn thất cho ngươi bị thiệt hại. Còn trong trách nhiệm hình sự, người có hành vi trái pháp luật hình sự, xâm phạm đến những quan hệ pháp luật hình sự bảo vệ nhưng thực tế không gây ra một thiệt hại vật chất hay tinh thần nào có thể tính toán được thì cũng không đặt ra việc xem xét trách nhiệm bồi thường.
2.2.2. Lỗi trong việc xác định loại trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trên thực tế, một thiệt hại có thể do một hoặc nhiều nguyên nhân gây ra, những nguyên nhân này có thể do hành vi của một hoặc nhiều trực tiếp hoặc không trực tiếp tạo nên. Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có những trường hợp thiệt hại được tạo nên do lỗi cả từ phía người gây thiệt hại và người bị thiệt hại. Chính mối quan hệ đa chiều, phức tạp đó đã tạo nên các loại trách nhiệm khác nhau: trách nhiệm riêng rẽ, trách nhiệm liên đới hay trách nhiệm hỗn hợp. Việc xác định đúng, chính xác trách nhiệm của từng chủ thể có vai trò quan trọng bởi nó ảnh hưởng đến vấn đề xác định trách nhiệm bồi thường của cá nhân, tổ chức gây thiệt hại. Nguyên tắc bồi thường giữa các chủ thể ở từng loại trách nhiệm trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là khác nhau. Để đánh giá được sự khác biệt giữa các loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cần phải dựa trên cơ sở có tính quyết định là lỗi.
- Thứ nhất, lỗi trong trách nhiệm riêng rẽ Luận văn: Pháp luật lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
Trách nhiệm riêng rẽ là trách nhiệm của nhiều chủ thể trong đó phần trách nhiệm của các chủ thể là độc lập nhau, mỗi chủ thể chỉ phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình sau khi thực hiện xong, quan hệ nghĩa vụ chấm dứt. Các chủ thể chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đúng trách nhiệm của mình thì phải tiếp tục thực hiện.
Xuất phát từ đặc trưng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, pháp luật dân sự cũng quy định về trách nhiệm riêng rẽ. Điều 287 Bộ luật dân sự quy định: “Khi nhiều người cùng thực hiện một nghĩa vụ nhưng mỗi người có một phần nghĩa vụ nhất định và riêng rẽ thì mỗi người chỉ phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình”. Căn cứ vào quy định này có thể thấy, bản chất của loại nghĩa vụ riêng rẽ trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là là không có sự liên quan lẫn nhau giữa những người cùng thực hiện nghĩa vụ cũng như không có sự liên quan quan trong việc thực hiện quyền yêu cầu của những người có quyền. Mỗi người có lỗi có trách nhiệm bồi thường phần thiệt hại trong phạm vi do mình gây ra mà không phải chịu trách nhiệm bồi thường phần thiệt hại do lỗi của người khác. Người gây thiệt hại sau khi bồi thường phần thiệt hại của mình thì được xem là đã hoàn thành nghĩa vụ bồi thường.
Trong cùng một vụ án về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, có nhiều trường hợp có nhiều người cùng phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường nhưng mỗi người phải gánh vác một phần trách nhiệm bồi thường riêng, độc lập với phần nghĩa vụ bồi thường của người khác. Thiệt hại thực tế do hành vi của nhiều người gây nên, về mặt chủ quan, khi thực hiện hành vi giữa họ hoàn toàn không có sự liên kết ý chí, họ độc lập với nhau về hành vi gây thiệt hại trái pháp luật và hậu quả do hành vi đó gây ra cho chủ thể chịu thiệt hại. Điều này phản ánh sự độc lập trong nhận thức của họ khi lựa chọn và quyết định thực hiện hành vi, tức là ở từng người gây thiệt hại có sự độc lập về lỗi. Họ không có sự bàn bạc, liên hệ với nhau trong quá trình thực hiện hành vi trái pháp luật, mục đích của họ khi thực hiện hành vi là khác nhau và mong muốn cho hậu quả xảy ra cũng khác nhau. Do đó, lỗi của họ là khác nhau mà mức độ bồi thường thiệt hại cũng khác nhau.
Lỗi của mỗi người khi thực hiện hành vi có thể là lỗi cố ý hoặc vô ý. Mỗi chủ thể thực hiện hành vi gây thiệt hại chỉ phải bồi thường tương ứng với phần lỗi của mình mà không phải chịu trách nhiệm về phần lỗi của người khác mặc dù trong thực tế có thể những người này cùng thực hiện những hành vi gây thiệt hại giống nhau và thiệt hại xảy ra về mặt hình thức là như nhau. Sau khi thực hiện xong phần trách nhiệm bồi thường của mình, người gây thiệt hại đã hoàn thành việc bồi thường nếu không có yêu cầu sửa đồi, bổ sung việc bồi thường của người bị thiệt hại.
Như vậy, đối với mỗi thiệt hại thực tế xảy ra đặt ra vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cần phải xác định được lỗi giữa các chủ thể đối với hành vi và hậu quả mà họ gây ra ở mức độ nào, có riêng biệt hay không, từ đó xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các chủ thể có thuộc trường hợp bồi thường riêng rẽ hay không.
- Thứ hai, lỗi trong trách nhiệm liên đới Luận văn: Pháp luật lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
Khoản 1, Điều 298 Bộ luật dân sự quy định: “Nghĩa vụ liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ”. Căn cứ vào quy định nêu trên có thể hiểu, trách nhiệm liên đới là loại trách nhiệm nhiều người, trong đó, một trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nội dung của nghĩa vụ nếu người có quyền yêu cầu hoặc một trong số những người có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ. Chủ thể đứng ra bồi thường sau khi thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường cho bên chủ thể bị thiệt hại có quyền yêu cầu những người có trách nhiệm liên đới hoàn trả lại phần nghĩa vụ tương ứng mà chủ thể đã thực hiện.
Liên quan đến nghĩa vụ liên đới trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Điều 587 Bộ luật dân sự cũng quy định trường hợp bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra. Theo đó, trường hợp nhiều người cùng gây ra thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại, trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người, nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau.
Xuất phát từ đặc điểm của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, một thiệt hại xảy ra có thể do nhiều chủ thể cùng thực hiện, do vậy nếu không xác định được mức độ lỗi của từng chủ thể thì họ phải cùng chịu trách nhiệm bồi thường. Trách nhiệm liên đới là loại trách nhiệm mà những người có nghĩa vụ luôn luôn liên quan với nhau trong cả quá trình thực hiện toàn bộ nghĩa vụ cũng như quyền yêu cầu của người có quyền luôn được coi là một thể thống nhất. Lỗi ở đây được đề cập đến thể hiện mối quan hệ giữa nhận thức và hành vi trái pháp luật, hậu quả của hành vi đó gây ra. Mối quan hệ này được biểu hiện cụ thể trong trách nhiệm liên đới: Những người gây thiệt hại cùng thống nhất với nhau về mặt hành vi; những người gây thiệt hại cùng thống nhất với nhau về mặt hậu quả; những người gây thiệt hại cùng thống nhất với nhau cả về hành vi và hậu quả. Trong trách nhiệm liên đới, việc ấn định mức bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại đòi hỏi phải tương ứng với mức độ lỗi của họ. Mức độ lỗi không làm triệt tiêu trách nhiệm liên đới với toàn bộ thiệt hại do hành vi trái pháp luật của họ gây ra. Nếu chứng minh được đúng mức độ lỗi cụ thể thì mức bồi thường được ấn định theo mức độ lỗi. Trường hợp không chứng minh được mức độ lỗi thì từng người gây thiệt hại sẽ phải bồi thường theo phần bằng nhau. Trong cả hai trường hợp này, nghĩa vụ bồi thường của từng người vẫn được đặt thống nhất trong nghĩa vụ liên đới mà khi thực hiện phải tuân theo nguyên tắc, trình tự, nội dung của nghĩa vụ liên đới. Luận văn: Pháp luật lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
- Thứ ba, lỗi trong trách nhiệm hỗn hợp
Trên thực tế, không phải bất cứ thiệt hại nào đều do người thực hiện hành vi trái pháp luật gây ra mà đôi khi thiệt hại xuất phát từ lỗi của hai phía: người gây thiệt hại và người bị thiệt hại. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho cả người gây thiệt hại và người bị thiệt hại, pháp luật dân sự đã dự liệu trường hợp bồi thường thiệt hại này thông qua quy định về trách nhiệm hỗn hợp.
Trách nhiệm hỗn hợp có thể được coi là một trường hợp đặc biệt của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra. Tính đặc thù và đặc biệt của loại trách nhiệm này là có sự tham gia của người bị thiệt hại trong việc gây ra thiệt hại. Theo quy định trên, việc xem xét lỗi của người bị thiệt hại cũng chỉ nhằm mục đích cuối cùng là ấn định được mức bồi thường cụ thể cho chủ thể gây thiệt hai. Trường hợp cả người gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều có lỗi đối với một thiệt hại cụ thể thì người bị thiệt hại vẫn được bồi thường phần thiệt hại không phải do lỗi của mình. Nghĩa là, họ vẫn phải chịu trách nhiệm tương ứng với mức độ lỗi của mình. Trong trường hợp này, tòa án cần xác định rõ mức độ lỗi của mỗi bên để ấn định trách nhiệm bồi thường cho tương xứng. Vì người bị thiệt hại cũng có lỗi, và chính yếu tố lỗi của họ là chất xúc tác, là nguyên nhân, dẫn đến phản ứng tiêu cực của bên gây ra thiệt hại và hậu quả thực tế xảy ra, nhưng họ lại là người bị thiệt hại, do vậy, họ phải tự “bồi thường” cho mình tương ứng với mức độ lỗi đó.
Chỉ trong trường hợp không xác định được lỗi của các bên thì có thể áp dụng theo Điều 620 Bộ luật dân sự, nghĩa là họ phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại theo các phần bằng nhau trong tổng số giá trị tài sản bị thiệt hai (chia đều trách nhiệm cho mỗi bên). Cơ sở xác định lỗi trong trách nhiệm dân sự của người gây thiệt hại với người bị thiệt hại cùng có lỗi trong trách nhiệm dân sự hỗn hợp cũng dựa trên hình thức lỗi được quy tại Điều 308 Bộ luật dân sự và được thể hiện theo nguyên tắc: Người gây thiệt hại có lỗi vô ý, nhưng ngược lại người bị thiệt hại cũng có lỗi vô ý (liên quan đến việc gây thiệt hại), thì trách nhiệm của hai bên là trách nhiệm dân sự hỗn hợp đối với thiệt hại. Điều đó cho phép loại trừ trường hợp: hoặc người gây thiệt hại có lỗi cố ý hoặc người bị thiệt hại có lỗi cố ý và trong trường hợp như vậy, thì không thể có trách nhiệm dân sự hỗn hợp. Người nào có lỗi cố ý trong việc gây thiệt hại thì chính người đó phải tự chịu trách nhiệm dân sự mang tính chất riêng rẽ mà không thể có trách nhiệm hỗn hợp. Cũng tương tự như vây, trong thực tế nếu người bị thiệt hại có lỗi cố ý mong muốn thiệt hại xảy ra cho mình thì người gây thiệt hai cho dù có lỗi vô ý cũng không phải bồi thường.
Quy định về trách nhiệm hỗn hợp nêu trên có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo cân bằng quyền lợi giữa người bị thiệt hại và người thực hiện hành vi trái pháp luật, bởi lẽ người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây ra thiệt hại do đó, không thể buộc chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật bồi thường toàn bộ thiệt hại được.
2.2.3. Lỗi trong việc xác định chủ thể phải chịu trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Luận văn: Pháp luật lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
Chủ thể phải chịu trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là chủ thể có hành vi gây thiệt hại trái pháp luật cho người khác về danh dự, uy tín, tài sản, tính mạng, sức khỏe. Người gây thiệt hại có thể là bất cứ chủ thể nào: cá nhân, pháp nhân, cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng… Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phải là người có khả năng bồi thường và chính họ phải tham gia vào quan hệ nghĩa vụ, mặc dù hành vi gây thiệt hại có thể không do chính họ thực hiện.
Điều 586 Bộ luật dân sự 2015 quy định trước hết chủ thể phải chịu trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại và có lỗi. Trong thực tế, cá nhân có hành vi gây thiệt hại trái pháp luật có thể là bất kỳ ai nhưng không phải người nào cũng có đủ năng lực lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Tùy vào từng độ tuổi, trình độ nhận thức mà pháp luật ghi nhận năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của mỗi cá nhân là khác nhau trong các trường hợp khác nhau. Cá nhân thực hiện hành vi gây thiệt hại và có lỗi khi bản thân họ ý thức được những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội, của pháp luật, đồng thời nhận thức được hành vi mình lựa chọn thực hiện có hợp pháp hay không. Cơ sở để đánh giá lỗi của cá nhân phải dựa vào năng lực chủ quan của họ. Trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cá nhân bị coi là có lỗi khi thực hiện hành vi trái pháp luật phải là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Năng lực hành vi là yếu tố ảnh hưởng đến năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân.
Khoản 1, Điều 586 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường”. Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, do đó, khi bản thân họ thực hiện hành vi trái pháp luật, gây thiệt hại thì họ phải tự chịu trách nhiệm bồi thường. Khoản 2, Điều này cũng quy định:
Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình. Luận văn: Pháp luật lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
Như vậy, khi xây dựng quy định về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, các nhà làm luật đã chia các trường hợp và mức bồi thường khác nhau dựa trên độ tuổi của từng chủ thể. Sở dĩ, pháp luật quy định như trên bởi ở từng lứa tuổi sẽ có khả năng nhận thức, quá trình hình thành đạo đức, tư chất riêng. Khi đạt đến một độ tuổi nhất định, con người mới nhận thức được hành vi của mình là đúng pháp luật hay không, thấy rõ được những hậu quả về mặt xã hội của hành vi bà vì thế mà hoàn toàn có khả năng tự chịu trách nhiệm về hành vi do mình gây ra.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có thể được thực hiện dưới nhiều phương thức khác nhau trên cơ sở đảm bảo đầy đủ quyền lợi cho người bị thiệt hại, bù đắp nhanh nhất, trọn vẹn nhất những mất mát, tổn thất về mặt vật chất và tinh thần của người bị thiệt hại. Thông thường, pháp luật dân sự quy định cá nhân phải trực tiếp dùng tài sản của mình để bồi thường thiệt hại đã gây ra. Với cá nhân từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình…
Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại dù cho được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý hay vô ý thì họ đều phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Trong trường hợp này, nếu họ có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.
Bên cạnh quy định về cá nhân là chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Bộ luật dân sự 2015 còn quy định các chủ thể là tổ chức. Theo đó, lỗi của pháp nhân, cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng… trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại là mỗi của cá nhân, nhân viên các cơ quan này trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao. Do vậy, các cơ quan này phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do thành viên của họ gây ra khi thực hiện nhiệm vụ được giao.
Trên thực tế, thiệt hại xảy ra không chỉ do hành vi của con người trực tiếp gây nào mà còn do các vật gây nên. Bộ luật dân sự quy định trong những trường hợp đó, trách nhiệm bồi thường vẫn được đặt ra với chủ sở hữu, người đang trực tiếp quản lý, sử dụng vật. Luận văn: Pháp luật lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
2.2.4. Lỗi trong việc xác định mức độ bồi thường thiệt hại
Xuất phát từ các quan hệ tài sản mà luật dân sự điều chỉnh cũng như địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia vào quan hệ dân sự, những điều kiện khách quan cũng như chủ quan của người bị thiệt hại, người gây ra thiệt hại, tính khả thi của quyết định bồi thường… Khoản 1, Điều 605, Bộ luật dân sự 2005 quy định nguyên tắc chung là phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây nên “Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời” (khoản 1, Điều 605). Tuy nhiên quy định này vẫn chưa rõ ràng, thiệt hại phải bồi thường ở đây là những thiệt hại gì? Do đó, trong quá trình áp dụng, nhiều Tòa án chỉ theo hướng thiệt hại nào được quy định thì mới được bồi thường, thiệt hại nào không có quy định không được bồi thường, dẫn đến người bị thiệt hại không được bảo vệ đối với những thiệt hại mà pháp luật không quy định, chưa dự liệu trên thực tế. Để giải quyết tình trạng này, khi ban hành Bộ luật dân sự 2015 các nhà làm luật đã quy định nguyên tắc bồi thường tại khoản 1 Điều 585 như sau: “Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ”. Với quy định này, những thiệt hại có trong thực tế sẽ được bồi thường mặc dù pháp luật chưa có quy định. Các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ căn cứ vào mức độ thiệt hại cụ thể đối với từng thiệt hại xảy ra để ấn định mức bồi thường kể cả trong trường hợp những thiệt hại này chưa được pháp luật quy định nhằm bảo vệ tối ưu nhất quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể chịu thiệt hại.
Đây là một nguyên tắc đặc trưng của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng bởi mục đích của nguyên tắc này là bù đắp, khôi phục lại các tổn thất do hành vi vi phạm pháp luật gây ra. Việc áp dụng nguyên tắc này phải thỏa mãn hai điều kiện:
- Thứ nhất, người gây thiệt hại có lỗi cố ý trong khi gây thiệt hại.
- Thứ hai, người gây thiệt hại không có lỗi hoặc có lỗi vô ý khi gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra không quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Theo nguyên tắc bồi thường thiệt hại thì thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ, tính toàn bộ thể hiện ở chỗ: Người gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra thiệt hại bao nhiêu thì phải bồi thường bấy nhiêu. Tính kịp thời đòi hỏi sự bồi thường phải được tiến hành đúng thời điểm mà sự tổn hại đòi hỏi phải được bù đắp. Luận văn: Pháp luật lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
Quy định về nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng là quy định có nhiều sửa đổi mới so với quy định về nguyên tắc bồi thường thiệt hại theo Bộ luật dân sự 2015. Theo đó, Bộ luật dân sự 2015 quy định người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại được giảm mức bồi thường bởi người gây thiệt hại và người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể là hai chủ thể khác nhau (chẳng hạn, con gây thiệt hại nhưng cha mẹ chịu trách nhiệm bồi thường, người làm công gây thiệt hại nhưng người sử dụng người làm công chịu trách nhiệm bồi thường…) Mặt khác, về điều kiện để có thể giảm mức bồi thường, Bộ luật dân sự 2005 mới chỉ đề cập tới người có “lỗi vô ý” trong khi đó thực tiễn xét xử tại Tòa án theo hướng cho giảm mức bồi thường cả trong trường hợp “không có lỗi”. Quy định này có tính thực thi cao, việc căn cứ vào mức độ lỗi và thiệt hại thực tế xảy ra so với khả năng kinh tế của người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại để giảm mức bồi thường là cần thiết.
Ngoài ra, lỗi còn chi phối tới việc xác định mức bồi thường thiệt hại trong trường hợp: “Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây ra thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra”. Phần thiệt hại xảy ra do lỗi của người bị thiệt hại thì người bị thiệt hại phải tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình, người gây thiệt hại không phải bồi thường.
2.2.5. Lỗi trong một số trường hợp bồi thường thiệt hại cụ thể
- Thứ nhất, bồi thường thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết
Phòng vệ chính đáng là hành vi hợp pháp của một người vì bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của Nhà nước, của tập thể hoặc bảo vệ lợi ích chính đáng của mình hay của người khác mà chống trả lại một cách tương xứng người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ thực tế đe dọa trực tiếp lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải có hành động gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn chặn.
Hậu quả thực tế mà hành vi phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết gây ra đều có thiệt hại xảy ra nhưng hành vi gây thiệt hại trong phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết là hành vi hợp pháp chứ không phải hành vi trái pháp luật, là quyền của công dân được pháp luật công nhận và bảo vệ. Trong phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết, việc ngăn chặn những hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho Nhà nước, tập thể và người khác cũng như cho bản thân được pháp luật coi là hành vi có ích và chính đáng, là quyền tự vệ cần thiết của mọi công dân được pháp luật ghi nhận. Do đó, pháp luật dân sự ghi nhận hành vi gây thiệt hại trong phòng vệ chính đáng và tình thế cấp thiết không phải bồi thường. Tuy nhiên, pháp luật dân sự cũng dự liệu trường hợp nếu chủ thể có hành vi “vượt quá” giới hạn của phòng vệ chính đáng và yêu cầu tình thế cấp thiết thì hành vi đó lại là hành vi trái pháp luật và có lỗi. Theo đó, Điều 594 Bộ luật dân sự 2015 quy định “Người gây thiệt hại do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải bồi thường cho người bị thiệt hại”, Điều 595 quy định “Trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại phải bồi thường phần thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết cho người bị thiệt hại”. Người gây thiệt hại không tuân thủ các điều kiện pháp luật quy định, đã có hành vi vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng và yêu cầu của tình thế cấp thiết không được pháp luật thừa nhận nên phải chịu trách nhiệm bồi thường phần thiệt hại do mình gây ra theo nguyên tắc chung về bồi thường thiệt hại. Quy định này hoàn toàn phù hợp với mục đích của trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Luận văn: Pháp luật lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
Việc xác định mức bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết cũng được dựa trên lỗi. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong hai trường hợp trên có thể được giảm mức bồi thường trong trường hợp do lỗi vô ý gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của họ.
Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 595 Bộ luật dân sự 2015 còn quy định “người đã gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến thiệt hại xảy ra thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại”. Quy định này góp phần đảm bảo công bằng cho người vì để ngăn chặn thiệt hại phát sinh từ hành vi của người tạo ra tình thế cấp thiết mà buộc phải hành động gây thiệt hại cho người khác.
- Thứ hai, bồi thường thiệt hại do người dùng chất kích thích gây ra
Pháp luật hình sự cũng như pháp luật dân sự Việt Nam đều buộc người do uống rượu hoặc do dùng chất kích thích khác mà gây thiệt hại cho người khác phải chịu trách nhiệm (có thể là trách nhiệm hình sự nếu hành vi gây thiệt hại cấu thành tội phạm hình sự) và phải bồi thường thiệt hại vì tự họ đặt mình vào tình trạng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, mặc dù trước đó họ có đầy đủ khả năng để lựa chọn thái độ xử sự phù hợp với các chuẩn mực của xã hội song họ đã không lựa chọn.
Khoản 1, Điều 596 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Người do uống rượu hoặc do dùng chất kích thích khác mà lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi, gây thiệt hại cho người khác thì phải bồi thường”.
Rượu và các chất kích thích khác đều có những ảnh hưởng nhất định đến năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của con người. Trong tình trạng say rượu, năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của chủ thể có thể bị hạn chế hoặc bị loại bỏ. Người thực hiện hành vi gây thiệt hại trong tình trạng không có năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, không còn khả năng làm chủ hành vi nhưng nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường. Ở đây, lỗi vẫn được đặt ra, mặc dù tại thời điểm thực hiện hành vi gây thiệt hại, chủ thể không có hoặc không có đầy đủ năng lực nhận thức và năng lực điều khiển hành vi, tuy nhiên, trước khi thực hiện hành vi gây thiệt hại, ho là những chủ thể có năng lực hành vi đầy đủ. Họ tự mình tước bỏ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình, tự đặt mình vào tình trạng say dẫn đến mất khả năng nhận thức. Họ có lỗi với tình trạng say của mình và có lỗi đối với hành vi gây thiệt hại đã thực hiện khi say, do đó họ phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại xảy ra.
Bên cạnh trường hợp quy định tại khoản 1, Điều 596 nêu trên, pháp luật còn dự liệu trường hợp người cố ý dùng chất kích thích để đưa người khác lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức. Theo đó, khoản 2 Điều 596 quy định: “Khi một người cố ý dùng rượu hoặc chất kích thích khác làm cho người khác lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi mà gây thiệt hại thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại”. Trường hợp này, tình trạng mấy khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của người trực tiếp gây thiệt hại hoàn toàn do người khác cố ý gây nên. Họ không tự đặt mình vào tình trạng say và không có lỗi đối với tình trạng say của mình. Do đó, pháp luật không quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với họ. Người có trách nhiệm bồi thường trong trường hợp này là người đã cố ý dùng rượu hoặc chất kích thích đặt người khác lâm vào tình trạng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi dẫn đến gây thiệt hại. Họ đã có lỗi với tình trạng say của người khác và phải chịu trách nhiệm bồi thường. Lỗi ở đây là lỗi cố ý bởi nếu là lỗi vô ý thì chủ thể không có ý thức đưa người khác vào tình trạng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi gây thiệt hại. Người dùng rượu, chất kích thích đưa người khác vào tình trạng mất khả năng nhận thức, điều khiển hành vi phải có lỗi cố ý và nhằm mục đích sử dụng người khác như phương tiện thực hiện hành vi trái pháp luật của họ, gây thiệt hại cho người khác. Hành vi và lỗi của người này có liên quan trực tiếp đến hậu quả thiệt hại xảy ra và họ phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại đó. Luận văn: Pháp luật lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
- Thứ ba, bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường
Trước đây, Bộ luật dân sự 2005 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường như sau: “Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật kể cả trường hợp người gây ô nhiễm môi trường không có lỗi” (Điều 624). Việc liệt kê chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường trong Điều 624 có thể được lý giải: Ngoài cá nhân, pháp nhân chịu trách nhiệm bồi thường ra thì theo Bộ luật dân sự 2005 còn có thể có các chủ thể khác chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là hộ gia đình, tổ hợp tác. Hiện nay, Điều 602 Bộ luật dân sự 2015 quy định “Chủ thể làm ô nhiễm môi trường mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật kể cả trường hợp chủ thể đó không có lỗi”. Như vậy, Điều 602 đã dùng cụm từ “chủ thể: thay thế cho cụm từ “cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác” trong Điều 624 Bộ luật dân sự 2005. Về cơ bản, quy định vừa nêu không có sửa đổi gì lớn mà chỉ đơn thuần là sửa đổi về kỹ thuật, câu chữ [3].
Hành vi làm ô nhiễm môi trường có thể hàm chứa lỗi vô ý hoặc cố ý. Người gây ra thiệt hại trong trường hợp có lỗi hoặc không có lỗi đều phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại đã xảy ra.
- Thứ tư, bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân, người làm công, người học nghề gây ra
Điều 597 Bộ luật dân sự 2015 quy định về bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra như sau:
Pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người của mình gây ra trong khi thực hiện nhiệm vụ được pháp nhân giao; nếu pháp nhân đã bồi thường thiệt hại thì có quyền yêu cầu người có lỗi trong việc gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật. Điều 600 quy định: Cá nhân, pháp nhân phải bồi thường thiệt hại do người làm công, người học nghề gây ra trong khi thực hiện công việc được giao. Luận văn: Pháp luật lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
Căn cứ vào các quy định trên thì cá nhân, pháp nhân phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của họ gây ra khi thực hiện các nhiệm vu được giao. Hoạt động của pháp nhân thể hiện thông qua hoạt động của người đại diện của pháp nhân hoặc thành viên của pháp nhân. Trong trường hợp này, pháp nhân bồi thường thiệt hại do hành vi của chính pháp nhân, do lỗi của pháp nhân. Trường hợp các nhân là chủ, người dạy nghề phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi của người làm công, người học nghề gây ra vì những người làm công, người học nghề đã gây ra thiệt hại khi đang chịu sự quản lý của cơ sở dạy nghề, thực hiện công việc được chủ giao phó.
Khi đã bồi thường thiệt hại, pháp nhân và các chủ thể khác có quyền yêu cầu người có lỗi gây ra thiệt hại phải hoàn trả khoản tiền mà pháp nhân và các chủ thể khác đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo nghĩa vụ hoàn lại. Người của pháp nhân, người làm công, học nghề phải hoàn trả cho pháp nhân khi họ có lỗi trong việc gây ra thiệt hại. Trường hợp người của pháp nhân, người làm công, học nghề lợi dụng nhiệm vụ được giao và danh nghĩa cơ quan, tổ chức để mưu cầu lợi ích riêng mà gây thiệt hại cho người khác thì cá nhân họ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
- Thứ năm, bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra
Bộ luật dân sự 2005 chỉ đề cập đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra (Điều 619) và bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra (Điều 620). Tuy nhiên, trên thực tế, ngoài cán bộ, công chức, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây thiệt hại còn có những người thi hành công vụ khác gây thiệt hại như trường hợp xã viên gây thiệt hại trong quá trình thi hành công vụ. Do đó, Bộ luật dân sự 2015 đã gộp quy định tại Điều 619, Điều 620 thành quy định về bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra. Theo đó, Điều 598 Bộ luật này quy định “Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước”.
Công chức, viên chức, người thi hành công vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình hoặc hành vi của họ gây thiệt hại cho người khác được xem là hành vi của pháp nhân, của cơ quan Nhà nước, của cơ quan tiến hành tố tụng. Lỗi của những người này là lỗi của pháp nhân, cơ quan Nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng và các tổ chức này phải chịu trách nhiệm do những hành vi gây thiệt hại của họ. Công chức, viên chức, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng, người thi hành công vụ gây thiệt hại trong khi thực hiện nhiệm vụ thì cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Xét hành vi gây thiệt hại của cá nhân đó có lỗi thì cá nhân phải tự chịu trách nhiệm. Nhưng do hành vi gây thiệt hại được thực hiện trong thời gian thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ được giao, quan hệ quản lý hành chính vẫn tồn tại và tới tư cách là người đại diện cho người của mình gây thiệt hại có trách nhiệm về hành vi của người của mình gây thiệt hại, cơ quan Nhà nước đứng ra chịu trách nhiệm bồi thường. Sau khi bồi thường, người có lỗi khi thi hành công vụ phải hoàn trả lại cho cơ quan Nhà nước đã đứng ra bồi thường. Đối với những thiệt hại cũng do người thi hành công vụ gây ra trong thời điểm thực thi công vụ được giao, tuy diễn ra trong thời điểm “thực thi công vụ” được giao nhưng không liên quan gì đến nhiệm vụ được giao thì người gây thiệt hại phải trực tiếp bồi thường cho người bị thiệt hại.
- Thứ sáu, bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra Luận văn: Pháp luật lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
Nguồn nguy hiểm cao độ là những vật do đặc tính của nó nên trong quá trình chiếm hữu, khai thác, quản lý, vận chuyển chúng luôn chứa đựng tiềm ẩn những nguy hiểm khách quan, dễ xảy ra thiệt hại ở mức độ lớn cho người xung quanh.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra được đặt ra đối với chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ và người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra được đặc trên cơ sở lỗi, đó thường là lỗi vô ý do không tuân thủ theo đúng các quy định về bảo quản, trông giữ, vận chuyển và sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ.
Khoản 2, Điều 601 Bộ luật dân sự quy định “Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Khi có thiệt hại xảy ra do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra cho chủ thể khác, chủ sở hữu là người phải bồi thường. Nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường thiệt hại trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Việc chuyển giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ được thực hiện theo quy định của pháp luật (Nhà nước giao cho doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước) hoặc theo hợp đồng hợp pháp (cho thuê, cho mượn). Tuy nhiên, nếu như nguồn nguy hiểm cao độ được giao cho người sử dụng theo nghĩa vụ lao động thì người đã giao (chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp) phải chịu trách nhiệm nếu nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại. Trường hợp người lao động có lỗi thì có nghĩa vụ hoàn lại phần bồi thường cho chủ sở hữu.
Nguồn nguy hiểm cao hộ có khả năng gây thiệt hại cho người xung quanh, vì vậy việc bảo quản, vận hành, sản xuất phải tuân theo quy trình nghiêm ngặt về an toàn kỹ thuật, trình tự, quy trình vận hành, khai thác. Nếu chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để người khác chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại với người chiếm hữu bất hợp pháp.
Cũng theo quy định tại khoản 3, Điều 601 Bộ luật dân sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra không cần lỗi của chủ sở hữu, người chiếm hữu, người sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ. Chủ sở hữu, người được giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra cho chủ thể khác ngay cả khi không có lỗi nếu không chứng minh được rằng thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng, do tình thế cấp thiết. Đây là trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do sự hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ gây ra mà không ai sử dụng gây thiệt hại hoặc do hành vi vi phạm pháp luật trong khi sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ gây ra thiệt hại cho người khác. Thiệt hại xảy ra nằm ngoài ý thức và ý chí của con người. Luận văn: Pháp luật lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
Trong quá trình xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra nếu bên gây thiệt hại chứng minh được mình không có lỗi, thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của bên bị thiệt hại thì bên gây thiệt hai không phải bồi thường. Việc xác định có lỗi hay không có lỗi có ý nghĩa khẳng định có hay không có quan hệ hoàn trả giữa pháp nhân và người của pháp nhân sau khi đã thực hiện việc bồi thường.
- Thứ bảy, bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể, mồ mả
Hiện nay, hành vi xâm phạm mồ mả, thi thể xảy ra ngày càng nhiều có thể là do lỗi vô ý hoặc cố ý. Hành vi xâm phạm thi thể, mồ mả là hành vi trái pháp luật, do đó pháp luật dân sự đã quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với những người có hành vi xâm phạm thi thể, mồ mả này. Cụ thể, Điều 606 Bộ luật dân sự 2015 quy định về bồi thường thiệt hại do xâm phạm thi thể như sau: “Cá nhân, pháp nhân xâm phạm thi thể phải bồi thường thiệt hại…”, Điều 607 quy định “Cá nhân, pháp nhân xâm phạm đến mồ mả của người khác phải bồi thường thiệt hại…”.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do thi thể, mồ mả bị xâm phạm là trách nhiệm pháp lý đặc biệt vì hành vi xâm phạm mồ mả đồng thời xâm phạm về nhân thân và xâm phạm về tài sản. Việc bồi thường thiệt hại do hành vi xâm phạm thi thể, mồ mả gây ra có vai trò quan trọng trong việc bù đắp những tổn thất về tinh thần cũng như vật chất của người còn sống đối với người thân của người đã khuất.
- Thứ tám, bồi thường thiệt hại do súc vật, cây cối, nhà ở, công trình xây dựng gây ra
Chủ sở hữu súc vật, cây cối; Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại do những vật này gây ra cho người khác. Trách nhiệm của họ được đặt ra trong mọi trường hợp kể cả không có lỗi. Trách nhiệm ấy chỉ không được đặt ra nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại hoặc sự kiện bất khả kháng hoặc do lỗi của người thứ ba.
Tiểu kết chương 2 Luận văn: Pháp luật lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
Qua việc phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có thể thấy, quy định về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đã được các nhà lập pháp nước ta xây dựng và đưa vào từ rất sớm. Trải qua những giai đoạn lịch sử của đất nước, quy định về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ngày càng được hoàn thiện nhằm đáp ứng nhu cầu, sự phát triển của xã hội hiện đại. Trên cơ sở nghiên cứu các quy định về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, luận văn đi vào so sánh lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng với các loại trách nhiệm pháp lý khác, từ đó chỉ ra những điểm riêng biệt của lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Bên cạnh đó, tác giả cũng phân tích để làm nổi bật được vai trò của lỗi trong việc xác định loại trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trong việc xác định chủ thể phải chịu trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, xác định mức độ bồi thường thiệt hại. Đồng thời, thông qua các quy định của Bộ luật dân sự 2015 về các trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, có thể thấy tầm quan trọng của lỗi đối với việc xác định thiệt hại, trách nhiệm bồi thường trong từng trường hợp cụ thể. Luận văn: Pháp luật lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp lỗi về trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Lỗi về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng