Luận văn: Thực trạng pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ ở Bộ Nội vụ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ ở bộ nội vụ

2.1.1. Số lượng

  • Năm 2011

Tại thời điểm năm 2011, Bộ Nội vụ có tổng số 83 công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ (nam giới có 73/83 người, chiếm tỷ lệ 87,95%; nữ giới có 10/83 người, chiếm tỷ lệ 12,05%). Trong đó:

Vụ trưởng và tương đương có 24/83 người, chiếm tỷ lệ 28,92% (nam giới có 22/24 người, chiếm tỷ lệ 91,67% công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ trưởng; nữ giới có 02/24 người, chiếm tỷ lệ 8,33% công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ trưởng).

Phó vụ trưởng và tương đương có 59/83 người, chiếm tỷ lệ 71,08% (nam giới có 51/59 người, chiếm tỷ lệ 86,44% công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ phó; nữ giới có 08/59 người, chiếm tỷ lệ 13,56% công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ phó).

  • Biểu đồ số 01. Cơ cấu lãnh đạo cấp vụ của Bộ Nội vụ năm 2011

Phân tích cơ cấu công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ tại Bộ Nội vụ năm 2011 cho thấy, tỷ lệ công chức lãnh đạo, quản lý là nữ còn thấp, chỉ với 12,05%, chưa bảo đảm tỷ lệ tối thiểu 30% theo chủ trương của Đảng. Trong đó, nếu tính trên tổng số công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ năm 2011 của Bộ Nội vụ, thì lãnh đạo, quản lý cấp vụ trưởng là nữ có tỷ lệ rất thấp, chỉ đạt 2,41%; cấp phó vụ trưởng là nữ đạt 9,64%.

  • Năm 2014

Tại thời điểm năm 2014, Bộ Nội vụ có tổng số 61 công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ (nam giới có 54/61 người, chiếm tỷ lệ 88,52%; nữ giới có 07/61 người, chiếm tỷ lệ 11,48%). Trong đó:

Vụ trưởng và tương đương có 24/61 người, chiếm tỷ lệ 39,34% tổng số công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ (nam giới có 20/24 người, chiếm tỷ lệ 83,33% công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ trưởng; nữ giới có 04/24 người, chiếm tỷ lệ 16,67% công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ trưởng). Luận văn: Thực trạng pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

Phó Vụ trưởng và tương đương có 37/61 người, chiếm tỷ lệ 60,66% tổng số công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ (nam giới có 34/37 người, chiếm tỷ lệ 91,89% công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ phó; nữ giới có 03/37 người, chiếm tỷ lệ 08,11% công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ phó).

Phân tích cơ cấu công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ tại Bộ Nội vụ năm 2014 cho thấy, tỷ lệ công chức lãnh đạo, quản lý là nữ còn thấp, chỉ với 11,48%, tỷ lệ này giảm so với năm 2011. Trong đó, nếu tính trên tổng số công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ năm 2014 của Bộ Nội vụ, thì lãnh đạo, quản lý cấp vụ trưởng là nữ có tỷ lệ còn thấp, đạt 6,56%; cấp phó vụ trưởng là nữ đạt 4,92%.

Biểu đồ số 02. Cơ cấu lãnh đạo cấp vụ của Bộ Nội vụ năm 2014

  • Năm 2015

Tại thời điểm năm 2015, Bộ Nội vụ có tổng số 73 công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ (nam giới có 61/73 người, chiếm tỷ lệ 83,56%; nữ giới có 12/73 người, chiếm tỷ lệ 16,44%). Trong đó:

Vụ trưởng và tương đương có 21/73 người, chiếm tỷ lệ 28,77% tổng số công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ (nam giới có 19/21 người, chiếm tỷ lệ 90,48% công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ trưởng; nữ giới có 03/21 người, chiếm tỷ lệ 9,52% công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ trưởng);

Phó vụ trưởng và tương đương có 52/73 người, chiếm tỷ lệ 71,23% tổng số công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ (nam giới có 42/52 người, chiếm tỷ lệ 80,77% công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ phó; nữ giới có 10/52 người, chiếm tỷ lệ 19,23% công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ phó).

Biểu đồ số 03. Cơ cấu lãnh đạo cấp vụ của Bộ Nội vụ năm 2015

  • Năm 2016

Tại thời điểm năm 2016, Bộ Nội vụ có tổng số 65 công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ (nam giới có 53/65 người, chiếm tỷ lệ 81,54%; nữ giới có 12/65 người, chiếm tỷ lệ 18,46%). Trong đó:

Vụ trưởng và tương đương có 18/65 người, chiếm tỷ lệ 27,69% (nam giới có 16/18 người, chiếm 88,89% công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ trưởng; nữ giới có 02/18 người, chiếm 11,11% công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ trưởng);

Phó vụ trưởng và tương đương có 47/65, chiếm tỷ lệ 72,31% (nam giới có 37/47 người, chiếm tỷ lệ 78,72% công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ phó; nữ giới 10/57 người, chiếm tỷ lệ 21,28% công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ phó).

  • Biểu đồ số 04. Cơ cấu lãnh đạo cấp vụ của Bộ Nội vụ năm 2016

Theo số liệu báo cáo của các Bộ, ngành địa phương gửi Bộ Nội vụ để tổng hợp chung, tại thời điểm năm 2016 cho thấy số lượng lãnh đạo, quản lý cấp vụ của Bộ Nội vụ là thấp hơn so với một số Bộ; cụ thể như sau:

Bộ Thông tin và Truyền thông có tổng số 81 công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ. Trong đó:

  • Vụ trưởng và tương đương có 22 người, chiếm tỷ lệ 27,16%;
  • Phó vụ trưởng và tương đương có 59 người, chiếm tỷ lệ 72,84%.

Bộ Xây dựng có tổng số 87 công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ.

Trong đó:

  • Vụ trưởng và tương đương có 20 người, chiếm tỷ lệ 22,99%;
  • Phó vụ trưởng và tương đương có 67 người, chiếm tỷ lệ 77,01%).

Biểu đồ số 05. Cơ cấu lãnh đạo cấp vụ của một số Bộ năm 2016

  • đ) Năm 2017 Luận văn: Thực trạng pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

Tại thời điểm năm 2017, Bộ Nội vụ có tổng số 92 công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ và tương đương (nam giới có 80/92 người, chiếm tỷ lệ 86,96%; nữ giới có 12/92 người, chiếm tỷ lệ 13,04%). Trong đó:

Vụ trưởng và tương đương: Có 20/92 người, chiếm tỷ lệ 21,74% (nam giới có 18/20 người, chiếm tỷ lệ 90% công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ trưởng; nữ giới có 02/20 người, chiếm tỷ lệ 10% công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ phó);

Phó vụ trưởng và tương đương: Có 72/92 người, chiếm tỷ lệ 78,26% (nam giới có 65/72 người, chiếm tỷ lệ 90,28% công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ phó; nữ giới có 07/72 người, chiếm tỷ lệ 09,72% công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ phó).

  • Biểu đồ số 06. Cơ cấu lãnh đạo cấp vụ của Bộ Nội vụ năm 2017

2.1.2. Cơ cấu (số liệu của năm 2017)

  • Theo độ tuổi

Vụ trưởng và tương đương có 20 người, trong đó:

  • Dưới 40 tuổi có 03 người, chiếm tỷ lệ 15%;
  • Từ 41 tuổi đến 50 tuổi có 13 người, chiếm tỷ lệ 65%;
  • Từ 51 tuổi trở lên có 04 người, chiếm tỷ lệ 20%;

Phó Vụ trưởng và tương đương có 72 người, trong đó:

  • Dưới 40 tuổi có 15 người, chiếm tỷ lệ 20,83%;
  • Từ 41 tuổi đến 50 tuổi có 41 người, chiếm tỷ lệ 56,95%;
  • Từ 51 tuổi trở lên có 16 người, chiếm tỷ lệ 22,22%.

Biểu đồ số 07. Cơ cấu lãnh đạo cấp vụ theo độ tuổi của Bộ Nội vụ năm 2017

  • Theo giới tính

Vụ trưởng và tương đương có 20 người, trong đó:

  • Nam giới có 18 người, chiếm tỷ lệ 90%;
  • Nữ giới có 02 người, chiếm tỷ lệ 10%.

Phó Vụ trưởng và tương đương có 72 người, trong đó:

  • Nam giới có 62 người, chiếm tỷ lệ 86,11%;
  • Nữ giới có 10 người, chiếm tỷ lệ 13,89%.

Biểu đồ số 08. Cơ cấu lãnh đạo cấp vụ theo giới tính của Bộ Nội vụ năm 2017

  • Theo dân tộc: Có 100% công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ thuộc Bộ Nội vụ là người dân tộc kinh.
  • Theo trình độ đào tạo Luận văn: Thực trạng pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

Vụ trưởng và tương đương:

  • Về trình độ chuyên môn: Có 20 người trình độ đại học; 15 người trình độ thạc sĩ; 12 người trình độ tiến sĩ.
  • Về trình độ lý luận chính trị: có 20 người trình độ cao cấp, cử nhân.
  • Về trình độ quản lý nhà nước: Có 18 người có trình độ quản lý nhà nước ngạch chuyên viên cao cấp; 02 người có trình độ quản lý nhà nước ngạch chuyên viên chính.

Biểu đồ số 09a. Cơ cấu lãnh đạo cấp vụ trưởng theo trình độ của Bộ Nội vụ năm 2017

Phó Vụ trưởng và tương đương:

  • Về trình độ chuyên môn: Có 40 người trình độ đại học; 32 người trình độ thạc sĩ; 24 người trình độ tiến sĩ.
  • Về trình độ lý luận chính trị: có 04 người trình độ sơ cấp, trung cấp; 68 người trình độ cao cấp, cử nhân.
  • Về trình độ quản lý nhà nước: Có 52 người có trình độ quản lý nhà nước ngạch chuyên viên cao cấp; 20 người có trình độ quản lý nhà nước ngạch chuyên viên chính.

Biểu đồ số 09b. Cơ cấu lãnh đạo cấp Phó Vụ trưởng theo trình độ của Bộ Nội vụ năm 2017

2.1.3. Nhận xét về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ ở Bộ Nội vụ Luận văn: Thực trạng pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

  • Về phẩm chất đạo đức

Đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ ở Bộ Nội vụ đều là những người có phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống lành mạnh; tận tâm, tận tụy phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

  • Về trình độ chuyên môn

Đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ ở Bộ Nội vụ được đào tạo cơ bản, 100% có trình độ đại học trở lên, chuyên ngành, lĩnh vực đào tạo cơ bản phù hợp với yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ của vị trí lãnh đạo, quản lý.

Một số công chức lãnh đạo, quản lý được đào tạo tại các trường có uy tín ở nước ngoài; một số trường hợp trong quá trình công tác thể hiện được năng lực, trình độ và chiều hướng phát triển nên đã được cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định cử đi đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

  • Về mức độ hoàn thành công việc

Theo số liệu thống kê trong 03 năm (từ năm 2015 đến năm 2017), đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ ở Bộ Nội vụ đa số được cấp có thẩm quyền đánh giá, phân loại đạt mức hoàn thành tốt nhiệm vụ và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được cấp có thẩm quyền tặng thưởng, ghi nhận.

Riêng trong năm 2016, có 01 trường hợp công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ trưởng do vi phạm, sai sót trong thi hành nhiệm vụ nên cấp có thẩm quyền đánh giá, phân loại mức hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực.

  • Về mức độ trách nhiệm

Về cơ bản, đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ ở Bộ Nội vụ có tinh thần trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Chủ động, tích cực tham mưu cấp có thẩm quyền ban hành các chủ trương, chính sách, xây dựng và hoàn thiện thể chế, đồng thời tổ chức triển khai thực hiện, cơ bản hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị và của bản thân được giao, bảo đảm tiến độ, chất lượng đề ra.

Bên cạnh đó, vẫn có những công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ ý thức trách nhiệm chưa cao, còn thiếu chủ động, tích cực, chưa quyết liệt trong việc tham mưu với cấp có thẩm quyền các biện pháp tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao; chưa mạnh dạn đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; vẫn còn hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm, thiếu tinh thần phối hợp, tương trợ trong thực thi nhiệm vụ. Luận văn: Thực trạng pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

  • Về kỹ năng lãnh đạo, quản lý, thực thi công vụ

Kỹ năng lãnh đạo, quản lý thực thi công vụ có vai trò quan trọng, là yếu có đóng vai trò then chốt góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả, chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị.

Kết quả đánh giá, phân loại hàng năm cho thấy, về cơ bản, đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ ở Bộ Nội vụ được đào tạo cơ bản, có quá trình và kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực nội vụ, được lựa chọn kỹ, đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn của từng chức danh lãnh đạo, quản lý, theo đó trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ được giao đã thực hiện hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao; thể hiện được vị trí, vai trò của người lãnh đạo, quản lý của cơ quan, đơn vị trong thực thi công vụ được giao.

Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những trường hợp chưa thể hiện được vai trò, trách nhiệm của người lãnh đạo, quản lý cấp vụ, còn lúng túng, thiếu kỹ năng lãnh đạo, quản lý trong thực thi nhiệm vụ, công vụ.

  • Về kỹ năng giao tiếp

Bên cạnh kỹ năng lãnh đạo, quản lý, thực thi công vụ; ý thức trách nhiệm và các yếu tố khác, kỹ năng giao tiếp của công chức lãnh đạo, quản lý là nhân tố góp phần quan trọng trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ được giao. Kỹ năng giao tiếp thể hiện khả năng truyền đạt những mệnh lệnh, chỉ đạo điều hành, những cách hành xử, giải quyết, xử lý các tình huống phát sinh, những quan hệ giao tiếp hàng ngày với đồng chí, đồng nghiệp, cấp trên, cấp dưới; với cơ quan, đơn vị trong nội bộ Bộ và các cơ quan, đơn vị liên quan ngoài Bộ…

Về cơ bản, đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ ở Bộ Nội vụ đã thể hiện được kỹ năng giao tiếp tốt trong chỉ đạo, điều hành cũng như khi phát biểu, thảo luận trên các diễn đàn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Theo đó, trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo đội ngũ này đã thông qua ngôn ngữ, cử chỉ, hành động, lời nói phổ thông, đơn nghĩa để truyền đạt thông tin đến đối tượng liên quan hiểu, bảo đảm hễ hiểu, giúp thấy được nội dung, mục đích, yêu cầu và thông điệp muốn truyền tải, bảo đảm triển khai thực hiện đạt được đúng mục đích, yêu cầu đề ra.

Trong quan hệ giao tiếp, đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ đã thể hiện và xác định được đúng thứ bậc hành chính, ngôn ngữ, văn phong, đúng ngữ cảnh, phù hợp với đối tượng; bản thân có khả năng lập luận, phát biểu mạch lạc, không bị chi phối, ảnh hưởng khi phát biểu trước tập thể đông người hoặc tại các cuộc họp, hội nghị quan trọng.

Bên cạnh đó, một bộ phận công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ có kỹ năng giao tiếp chưa cao, chưa có thói quen và khả năng phát biểu trước tập thể đông người, khả năng lập luận kém, diễn đạt ngôn ngữ thiếu lôgic, không mạch lạc, gây khó hiểu cho người nghe.

2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp bộ ở bộ nội vụ Luận văn: Thực trạng pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

2.2.1. Thực hiện tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn của công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ ở Bộ Nội vụ

Thực trạng tiêu chuẩn công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ ở Bộ Nội vụ Căn cứ quy định của Luật cán bộ, công chức năm 2008 và các quy định của pháp luật liên quan, Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã ký Quyết định số 1204/QĐ-BNV ngày 19 tháng 12 năm 2012 ban hành tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo, quản lý của Bộ Nội vụ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Theo Quyết định số 1204/QĐ-BNV, các chức danh lãnh đạo, quản lý cấp vụ thuộc Bộ Nội vụ bao gồm:[2]

  • Cục trưởng, Phó Cục trưởng Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước; Vụ trưởng, Phó Vụ trưởng các vụ thuộc Bộ;
  • Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra thuộc Bộ; Chánh Văn phòng, Phó Chánh Văn phòng Bộ;
  • Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ (trừ Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia).

Đồng thời, tại Quyết định số 1204/QĐ-BNV nêu trên cũng quy định tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn cụ thể của công chức lãnh đạo, quản lý thuộc Bộ nói chung, trong đó bao gồm công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ, cụ thể như sau:

  • Tiêu chuẩn chung đối với các chức danh lãnh đạo, quản lý nói chung, trong đó có công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ:
  • Có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với lý tưởng cách mạng của Đảng, với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh;

Có ý thức đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước. Lãnh đạo và tổ chức thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

  • Gương mẫu về đạo đức, lối sống, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; không quan liêu, tham nhũng, lãng phí và kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí;

Có tác phong dân chủ, gắn bó chặt chẽ với nhân dân, thực hiện nghiêm túc quy chế dân chủ ở cơ quan và Quy tắc ứng xử, Quy tắc đạo đức nghề nghiệp của công chức, viên chức làm việc trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thuộc, trực thuộc Bộ Nộí vụ. Luận văn: Thực trạng pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

  • Có tinh thần trách nhiệm và ý thức tổ chức kỷ luật cao; có tinh thần học hỏi, nghiên cứu, sáng tạo, năng động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
  • Có ý thức và khả năng nghiên cứu, hiểu biết về tình hình chính trị, kinh tế – xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước;

Nắm vững các nguyên tắc tổ chức, quy chế làm việc và mối quan hệ công tác trong hệ thống chính trị và trong nội bộ cơ quan, đơn vị;

Có kiến thức về khoa học lãnh đạo, quản lý; được đào tạo và có kiến thức cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học.

  • Có khả năng đoàn kết, quy tụ công chức, viên chức; tập hợp và phát huy được sức mạnh tập thể.
  • Bản thân và gia đình gương mẫu thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Không lạm dụng chức vụ, quyền hạn và để người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình mưu lợi riêng.
  • Tiêu chuẩn cụ thể của công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ (i) Yêu cầu về tiêu chuẩn, trình độ và năng lực.

Đối với chức danh vụ trưởng và tương đương:

  • Tốt nghiệp đại học trở lên, chuyên ngành phù hợp với lĩnh vực công tác đảm nhiệm; có thời gian kinh qua công tác ngành Nội vụ nói chung từ 07 năm trở lên;
  • Đã tốt nghiệp chương trình lý luận chính trị cao cấp. Đã qua đào tạo, bồi dưỡng chương trình quản lý hành chính nhà nước ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương;
  • Đã được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương, các chức danh nghề nghiệp tương đương trở lên;
  • Sử dụng được ít nhất một ngoại ngữ thông dụng (Anh, Nga, Pháp, Đức, Trung Quốc) trình độ C;
  • Biết sử dụng máy vi tính và áp dụng kỹ năng về tin học vào công tác lãnh đạo, quản lý và chuyên môn nghiệp vụ;
  • Có thời gian đảm nhiệm chức vụ Phó Vụ trưởng và tương đương hoặc Giám đốc và tương đương các sở, ban, ngành thuộc tỉnh;

Nếu là Phó Giám đốc sở và tương đương các sở, ban, ngành thuộc tỉnh thì phải là tỉnh ủy viên đương nhiệm và trong diện quy hoạch chức danh giám đốc sở và tương đương.

Đối với chức danh Phó Vụ trưởng và tương đương:

  • Tốt nghiệp đại học trở lên, có chuyên ngành phù hợp với lĩnh vực công tác đảm nhiệm; có thời gian kinh qua công tác ngành Nội vụ từ 05 năm trở lên;
  • Đã được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương, các chức danh nghề nghiệp tương đương trở lên;
  • Có trình độ lý luận chính trị trung cấp, quản lý hành chính nhà nước ngạch chuyên viên chính;
  • Sử dụng được ít nhất một ngoại ngữ thông dụng (Anh, Nga, Pháp, Đức, Trung Quốc) trình độ C;
  • Biết sử dụng máy vi tính và áp dụng kỹ năng về tin học vào công tác lãnh đạo quản lý và chuyên môn nghiệp vụ.

Yêu cầu về tiêu chuẩn và trình độ đối với các chức danh công chức lãnh đạo, quản lý của các cơ quan, đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ có tính đặc thù còn phải căn cứ vào các quy định về tiêu chuẩn, trình độ chuyên môn đo Thủ tướng Chính phủ hoặc các Bộ, ban, ngành có liên quan quy định. (Ví dụ: Theo quy định hiện hành, Viện trưởng phải có trình độ Tiến sĩ trở lên,…).

  • Thực trạng thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ

Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng trong việc lãnh đạo, quản lý, điều hành mọi hoạt động của cơ quan, đơn vị trong phạm vi phụ trách để thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các quy định, quy chế của Bộ và cơ quan, đơn vị; bảo đảm cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao; Luận văn: Thực trạng pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

Cấp phó của người đứng đầu các cơ quan, đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ có trách nhiệm giúp người đứng đầu chỉ đạo một số mặt công tác theo sự phân công của người đứng đầu, chịu trách nhiệm trước người đứng đầu và pháp luật về các lĩnh vực công tác được phân công;

  • Lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, chủ trì nghiên cứu, đề xuất chủ trương, kế hoạch, biện pháp để thực hiện các nghị quyết, quyết định, chỉ thị của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước có liên quan đến lĩnh vực công tác của Bộ Nội vụ và của đơn vị;
  • Xây dựng kế hoạch, quy trình tổ chức và hướng dẫn thực hiện các nội dung nghị quyết, quyết định, chỉ thị của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, quy định của cơ quan, đơn vị trong phạm vi lĩnh vực công tác được phân công;
  • Chỉ đạo, kiểm tra, báo cáo tình hình và kết quả thực hiện các nhiệm vụ công tác được phân công;

Các chức danh lãnh đạo, quản lý trên đây khi được bố trí hoặc được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giới thiệu bầu mà trúng cử kiêm nhiệm các chức danh khác về Đảng, Nhà nước, đoàn thể phải đảm bảo chức trách, nhiệm vụ được giao, báo cáo công tác với Thủ trưởng các cơ quan chủ quản và hữu quan của Đảng, Nhà nước, đoàn thể;

Trong quan hệ công tác với lãnh đạo cấp trên, với các đơn vị khác thuộc Bộ Nội vụ và với các cơ quan hữu quan khác của Đảng, Nhà nước, đoàn thể và nhân dân, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ lấy danh nghĩa thay mặt đơn vị theo nhiệm vụ được giao;

Cấp phó của người đứng đầu chỉ giải quyết công việc trong phạm vi và chức trách, nhiệm vụ được phân công và được thay mặt người đứng đầu khi được ủy quyền.

2.2.2. Thực hiện quy định về quản lý công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ ở Bộ Nội vụ

  • Tuyển chọn, bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ ở Bộ Nội vụ

Việc tuyển chọn, bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý tại Bộ Nội vụ thời gian qua được thực hiện nghiêm túc, bảo đảm công khai, minh bạch, đúng quy trình, thủ tục theo quy định; các trường hợp được xem xét, bổ nhiệm đều đáp ứng đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật và của Bộ.

  • Tuyển chọn, bổ nhiệm theo quy trình hiện hành

Việc tuyển chọn, bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý được căn cứ tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo, quản lý của Bộ Nội vụ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [2]. Luận văn: Thực trạng pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

Theo đó, căn cứ nhu cầu bổ sung, kiện toàn lãnh đạo, quản lý đối với một vị trí, chức danh cụ thể, người đứng đầu cơ quan, tổ chức phối hợp với cấp ủy cùng cấp trao đổi, thảo luận và thống nhất có văn bản báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, cho chủ trương về việc bổ sung, kiện toàn chức danh lãnh đạo, quản lý cấp vụ.

Sau khi được sự đồng ý về chủ trương bổ sung, kiện toàn chức danh lãnh đạo quản lý cấp vụ của cấp có thẩm quyền, người đứng đầu tổ chức tiếp tục phối hợp với cấp ủy cùng cấp lựa chọn nhân sự cụ thể trong số các trường hợp đã được phê duyệt quy hoạch của cấp có thẩm quyền để triển khai thực hiện các bước quy trình tiếp theo theo đúng quy định tại Quyết định số 1205/QĐ-BNV ngày 19 tháng 11 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc ban hành Quy định chế bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, từ chức, miễn nhiệm công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý và điều động, biệt phái công chức, viên chức làm việc tại các cơ quan, đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ Nội vụ và các văn bản sửa đổi, bổ sung liên quan.

Nhìn chung, việc thực hiện tuyển chọn, bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ thời gian qua tại Bộ Nội vụ được thực hiện nghiêm túc, bảo đảm đúng, đầy đủ quy trình, thủ tục theo quy định; các trường hợp công chức lãnh đạo, quản lý được bổ nhiệm đều đảm bảo đầy đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định tại thời điểm bổ nhiệm.

  • Thí điểm thi tuyển công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ

Thực hiện chủ trương của cấp có thẩm quyền (theo Kết luận số 202 – KL/TW ngày 26 tháng 5 năm 2015 của Bộ Chính trị) về việc thí điểm thi tuyển chức danh lãnh đạo, quản lý cấp vụ, cấp sở, cấp phòng nhằm đổi mới phương thức, quy trình tuyển chọn lãnh đạo; Bộ Nội vụ đã phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương và các cơ quan liên quan ban hành Văn bản số 2424/BNV-CCVC ngày 09 tháng 5 năm 2017 về việc hướng dẫn thực hiện Đề án thí điểm đổi mới cách tuyển chọn lãnh đạo, quản lý cấp Vụ, cấp Sở, cấp phòng.

Trên cơ sở hướng dẫn tại Công văn số 2424/BNV-CCVC ngày 09 tháng 5 năm 2017, Bộ Nội vụ đã văn bản (kế hoạch; quy chế,…) để tổ chức thí điểm thi tuyển chức danh lãnh đạo, quản lý cấp phó vụ trưởng và tương đương, nhằm thông qua đó phát hiện, thu hút, trọng dụng những người có đức, có tài, phát huy được phẩm chất, trình độ, năng lực, kinh nghiệm để đóng góp sức lực, trí tuệ cho sự phát triển bền vững của đất nước; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý cấp Vụ, cấp Sở, cấp phòng; góp phần thực hiện tốt chủ trương của Đảng về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Luận văn: Thực trạng pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

Theo đó, trong năm 2017 Bộ Nội vụ đã tổ chức thực hiện 01 kỳ thi tuyển chức danh lãnh đạo, quản lý cấp phó vụ trưởng để bổ sung cho 02 đơn vị cấp vụ thuộc Bộ, kết quả đã tuyển chọn và thực hiện bổ nhiệm được 02 chức danh công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ; đó là:

  • Phó Vụ trưởng Vụ Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức;
  • Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế.

Việc thi tuyển chức danh lãnh đạo, quản lý được tổ chức thực hiện nghiêm túc, công khai, minh bạch theo đúng hướng dẫn của cấp có thẩm quyền và các quy định của pháp luật liên quan. Thông tin về các kỳ thi tuyển được công khai, minh bạch trên các phương tiện thông tin đại chúng để các đối tượng có nhu cầu, đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định đăng ký tham gia dự tuyển hoặc cơ quan, đơn vị đề cử tham gia dự tuyển; cụ thể:

  • Đối tượng đăng ký tham gia dự tuyển

Cán bộ, công chức, viên chức có đủ tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm, nằm trong quy hoạch của chức danh tuyển chọn (phó Vụ trưởng) và đang công tác tại các Vụ: Hợp tác quốc tế; Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức thuộc Bộ Nội vụ. Nếu đối tượng này không đăng ký tham gia dự tuyển thì hàng năm khi rà soát danh sách quy hoạch, cơ quan có thẩm quyền đưa ra khỏi danh sách quy hoạch. Trừ khi thuộc một trong các trường hợp sau thì có thể không đăng ký tham gia dự tuyển:

  • Đang mắc bệnh hiểm nghèo hoặc đang mất khả năng nhận thức hoặc bị ốm đau đang điều trị nội trú tại bệnh viện được cơ quan y tế có thẩm quyền từ cấp huyện trở lên xác nhận.
  • Đang trong thời gian được cử đi học tập, đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài.
  • Cán bộ, công chức, viên chức nữ đang trong thời gian nghỉ thai sản.

Cán bộ, công chức, viên chức không công tác tại Vụ Hợp tác quốc tế và Vụ Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức, nếu có đủ tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm và nằm trong quy hoạch của chức danh tương đương với chức danh tuyển chọn, đang công tác trong cùng Bộ Nội vụ được quyền đăng ký tham gia dự tuyển.

Đối tượng đăng ký tham gia dự tuyển nếu đang giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý thì được dự tuyển ở vị trí lãnh đạo, quản lý cao hơn không quá 2 cấp so với chức vụ hiện giữ (ví dụ: Phó Trưởng phòng có thể được dự tuyển chức danh Phó Vụ trưởng và tương đương; Trưởng phòng có thể được dự tuyển chức danh Vụ trưởng và tương đương). Trường hợp không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, khi dự tuyển thì phải đáp ứng đủ tiêu chuẩn, điều kiện về ngạch công chức hoặc thời gian công tác trong ngành, lĩnh vực (nếu có) theo quy định về tiêu chuẩn, điều kiện của chức danh tuyển chọn.

  • Đối tượng được đề cử tham gia dự tuyển Luận văn: Thực trạng pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

Cán bộ, công chức, viên chức không nằm trong quy hoạch của chức danh phó vụ trưởng và tương đương (bao gồm cả trường hợp không công tác tại Vụ Hợp tác quốc tế hoặc Vụ Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức thuộc Bộ Nội vụ và có thể không phải là đảng viên) được tập thể lãnh đạo của cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm chức danh tuyển chọn đề cử và được cấp ủy của cơ quan có thẩm quyền bổ nhiệm chức danh đó đồng ý bằng văn bản.

Như vậy, thông tin về điều kiện, tiêu chuẩn, đối tượng tham gia dự tuyển chức danh lãnh đạo, quản lý cấp Vụ thuộc Bộ Nội vụ được thực hiện theo đúng hướng dẫn của cấp có thẩm quyền và được thông báo công khai, rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, thời hạn đăng tải theo đúng quy định.

  • Đào tạo, bồi dưỡng công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ ở Bộ Nội vụ

Căn cứ quy định của Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã ký Quyết định số 490/QĐ-BNV ngày 23 tháng 3 năm 2016 ban hành Quy chế đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức, người lao động của Bộ Nội vụ, với mục trang bị những kiến thức về lý luận chính trị; quản lý hành chính nhà nước, chuyên môn, nghiệp vụ; ngoại ngữ, tin học; hội nhập kinh tế quốc tế và kỹ năng, phương pháp làm việc cho đội ngũ công chức, viên chức và người lao động đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác. Công tác đào tạo, bồi dưỡng phải căn cứ vào vị trí việc làm; yêu cầu quản lý theo tiêu chuẩn của từng chức vụ lãnh đạo, quản lý; tiêu chuẩn của ngạch công chức, hạng và chức danh nghề nghiệp viên chức; quy hoạch, kế hoạch xây dựng đội ngũ công chức, viên chức của cơ quan, đơn vị đáp ứng được yêu cầu xây dựng, phát triển nguồn nhân lực của cơ quan, đơn vị.

Theo quy định tại Điều 5 Quyết định số 490/QĐ-BNV ngày 23 tháng 3 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành Quy chế đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức, người lao động của Bộ Nội vụ, có 03 loại hình đào tạo, bồi dưỡng, cụ thể:

  • Đào tạo nâng cao trình độ chính trị và chuyên môn, nghiệp vụ nói chung;
  • Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức và chức danh nghề nghiệp viên chức;
  • Bồi dưỡng theo chức danh lãnh đạo, quản lý.

Việc cử đi đào tạo, bồi dưỡng phải đáp ứng đủ các điều kiện, tiêu chuẩn về thời gian công tác trong cơ quan, tổ chức của nhà nước (từ đủ 05 năm trở lên, không kể thời gian tập sự, thử việc); về đánh giá, phân loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ (03 năm liền kề năm được cử đi đào tạo, bồi dưỡng được phân loại hoàn thành tốt nhiệm vụ); …

Trên cơ sở quy định của pháp luật và của Bộ Nội vụ về đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức, người lao động, công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ được thực hiện thường xuyên, bảo đảm đúng đối tượng, quy trình, thủ tục, điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định. Luận văn: Thực trạng pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

Hàng năm, căn cứ kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức, người lao động của Bộ (trong đó có đối tượng lãnh đạo, quản lý cấp vụ), đơn vị làm công tác tổ chức cán bộ có văn bản triệu tập và cử đối tượng tham dự lớp đào tạo, bồi dưỡng do các cơ quan có thẩm quyền tổ chức (ví dụ: bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho đối tượng 2; bồi dưỡng cao cấp lý luận chính trị đối với đối tượng quy hoạch chức danh phó vụ trưởng và tương đương trở lên,…). Việc cử công chức lãnh đạo, quản lý đi đào tạo, bồi dưỡng phải đáp ứng đủ các điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của cơ sở đào tạo, bồi dưỡng; dựa trên cơ sở chỉ tiêu được được phân bổ và nguyện vọng của công chức lãnh đạo, quản lý.

Bên cạnh đó, hàng năm căn cứ kế hoạch đào tạo, đơn vị làm công tác tổ chức tham mưu cấp có thẩm quyền tổ chức lớp đào tạo, bồi dưỡng về tiêu chuẩn chức danh; về ngoại ngữ, tin học; về nghiệp vụ, kỹ năng lãnh đạo, quản lý cấp vụ và tương đương;…

  • Sử dụng, đánh giá công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ ở Bộ Nội vụ

Sử dụng, đánh giá công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ là một trong những nội dung quan trọng trong thực hiện pháp luật về công chức nói chung, công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ nói riêng.

Theo đó, trên cơ sở quy định của Luật cán bộ, công chức năm 2008 và Nghị định số 56/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2015 của Chính phủ về đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức, Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã ký Quyết định số 1822/QĐ-BNV ngày 02 tháng 12 năm 2015 ban hành Quy chế đánh giá và phân loại đối với tổ chức, đơn vị và công chức, viên chức, người lao động của Bộ Nội vụ.

Thực tiễn quản lý, sử dụng công chức cho thấy, việc sử dụng công chức phù hợp với năng lực, chuyên môn, nghiệp vụ là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị.

Công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ tại Bộ Nội vụ được bố trí, sử dụng trên cơ sở trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; bảo đảm đúng và đầy đủ các điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật và các quy định của Bộ Nội vụ khi bố trí, sử dụng công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ, phù hợp với vị trí việc làm. Luận văn: Thực trạng pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

Theo quy định hiện hành của pháp luật và của Bộ Nội vụ, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị thực hiện nhiệm vụ theo phân công của Bộ trưởng, chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng và trước pháp luật về kết quả thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị được giao phụ trách, quản lý; cấp phó của người đứng đầu thực hiện nhiệm vụ theo phân công của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng, trước Thủ trưởng cơ quan, đơn vị và trước pháp luật về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao.

Việc đánh giá công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ tại Bộ Nội vụ được thực hiện theo quy định của pháp luật và quy định của Bộ Nội vụ về phân cấp quản lý cán bộ, công chức, viên chức.

Theo đó, hàng năm, công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ thực hiện đánh giá tại cơ quan, đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý. Tại cuộc họp đánh giá, phân loại, công chức trình bày bản tự đánh giá, phân loại của bản thân để công chức, người lao động cơ quan, đơn vị tham gia ý kiến nhận xét, đánh giá. Các nội dung nhận xét, đánh giá về: Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong lề lối làm việc; năng lực và trình độ chuyên môn; tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ; tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ; thái độ phục vụ nhân dân; Kết quả thực hiện nhiệm vụ của tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý; Năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành tổ chức thực hiện nhiệm vụ của tổ chức, đơn vị; Năng lực tập hợp, đoàn kết công chức.

Căn cứ bản tự đánh giá, phân loại, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị đánh giá, phân loại đối với công chức, người lao động và cấp phó của người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Việc đánh giá, phân loại đối với Vụ trưởng và tương đương do Bộ trưởng thực hiện.

Căn cứ các quy định của pháp luật và hướng dẫn của Bộ Nội vụ, việc khen thưởng thường niên đối với công chức công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ được thực hiện trên cơ sở kết quả đánh giá, phân loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao (giống như công chức chuyên môn); ngoài ra, việc đánh giá, phân loại còn được căn cứ trên cơ sở mức độ hoàn thành nhiệm vụ của tập thể cơ quan, đơn vị được phân công lãnh đạo, quản lý;

Đối với cấp vụ trưởng và tương đương, mức đánh giá, phân loại hàng năm không được cao hơn mức đánh giá, phân loại đối với tập thể cơ quan, đơn vị được phân công lãnh đạo, quản lý, bảo đảm công khai, minh bạch, đúng quy định của pháp luật và của Bộ.

Ví dụ: Tập thể Vụ A được cấp có thẩm quyền đánh giá, phân loại đạt mức Tập thể hoàn thành tốt nhiệm vụ năm 2017, thì mức đánh giá, phân loại năm 2017 đối với Vụ trưởng Vụ A cao nhất là hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Kết quả đánh giá, phân loại hàng năm được gửi về Vụ Tổ chức cán bộ để tổng hợp chung, làm cơ sở tham mưu cho Bộ trưởng xem xét, quyết định đánh giá, phân loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ hàng năm đối với tập thể và cá nhân công chức, viên chức, người lao động (trong đó có công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ).

Kết quả đánh giá, phân loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ của công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ tại Bộ Nội vụ trong 03 năm gần nhất (từ năm 2015 đến năm 2017) như sau: Luận văn: Thực trạng pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

  • Năm 2015

Vụ trưởng và tương đương: có 11/21 người được đánh giá, phân loại hoàn hành xuất sắc nhiệm vụ (chiếm tỷ lệ 52%); có 10/21 người được đánh giá, phân loại hoàn thành tốt nhiệm vụ (chiếm tỷ lệ 48%).

  • Biểu đồ số 10a. Kết quả đánh giá, phân loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ của công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ tại Bộ Nội vụ năm 2015

Phó vụ trưởng và tương đương: có 24/52 người được đánh giá, phân loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ (chiếm tỷ lệ 46%); có 28/52 người được đánh giá, phân loại hoàn thành tốt nhiệm vụ (chiếm tỷ lệ 54%).

Biểu đồ số 10b. Kết quả đánh giá, phân loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ của công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ tại Bộ Nội vụ năm 2015

  • Năm 2016

Vụ trưởng và tương đương: có 07/18 người được đánh giá, phân loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ (chiếm tỷ lệ 39%); có 10/18 người được đánh giá, phân loại hoàn thành tốt nhiệm vụ (chiếm tỷ lệ 56%); có 01/18 người được đánh giá, phân loại hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực (chiếm tỷ lệ 05%).

Biểu đồ số 11a. Kết quả đánh giá, phân loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ của công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ tại Bộ Nội vụ năm 2016

Phó vụ trưởng và tương đương: có 23/47 người được đánh giá, phân loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ (chiếm tỷ lệ 49%); có 24/47 người được đánh giá, phân loại hoàn thành tốt nhiệm vụ (chiếm tỷ lệ 51%).

Biểu đồ số 11b. Kết quả đánh giá, phân loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ của công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ tại Bộ Nội vụ năm 2016 Luận văn: Thực trạng pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

  • Năm 2017

Vụ trưởng và tương đương: có 07/20 người được đánh giá, phân loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ (chiếm tỷ lệ 35%); có 13/20 người được đánh giá, phân loại hoàn thành tốt nhiệm vụ (chiếm tỷ lệ 65%).

Biểu đồ số 12a. Kết quả đánh giá, phân loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ của công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ tại Bộ Nội vụ năm 2017

Phó Vụ trưởng và tương đương: có 20/72 người được đánh giá, phân loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ (chiếm tỷ lệ 28%); có 52/72 người được đánh giá, phân loại hoàn thành tốt nhiệm vụ (chiếm tỷ lệ 72%).

Biểu đồ số 12b. Kết quả đánh giá, phân loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ của công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ tại Bộ Nội vụ năm 2017

  • Khen thưởng, kỷ luật công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ ở Bộ Nội vụ

Công tác khen thưởng, kỷ luật đối với công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ ở Bộ Nội vụ được thực hiện theo quy định của pháp luật liên quan và các quy định của Bộ Nội vụ về vấn đề này, gồm:

  • Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15/4/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng;
  • Nghị định số 39/2012/NĐ-CP ngày 27 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thi đua, khen thưởng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng;
  • Nghị định số 65/2014/NĐ-CP ngày 27 tháng 4 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng năm 2013;
  • Nghị định số 91/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thi đua, khen thưởng; Luận văn: Thực trạng pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.
  • Nghị định số 34/2011/NĐ-CP ngày 17 tháng 5 năm 2011 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức;
  • Thông tư số 07/2014/TT-BNV ngày 29 tháng 6 năm 2014 ngày 29 tháng 8 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thi đua, khen thưởng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng, Nghị định số 39/2012/NĐ-CP ngày 27 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ và Nghị định số 65/2014/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng năm 2013.
  • Thông tư số 08/2017/TT-BNV ngày 27 tháng 10 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 91/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2017 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thi đua, khen thưởng.

Thực trạng công tác thi đua, khen thưởng và xử lý kỷ luật tại Bộ Nội vụ trong thời gian từ 2015 đến 2017 như sau:

  • Về khen thưởng đối với công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ

Trên cơ sở các quy định của pháp luật, hàng năm Bộ trưởng Bộ Nội vụ có văn bản phát động phong trào thi đua và hướng dẫn khen thưởng trong nội bộ Bộ Nội vụ. Theo đó, trong thời gian 03 năm gần nhất (từ năm 2015 đến năm 2017), Bộ Nội vụ đã ban hành các văn bản hướng dẫn công tác khi đua khen thưởng sau:

  • Văn bản số 2093/BNV-VP ngày 18/5/2015 của Bộ Nội vụ về việc hướng dẫn thực hiện công tác thi đua, khen thưởng năm 2015.
  • Văn bản số 2336/BNV-VP ngày 24/5/2016 của Bộ Nội vụ về việc hướng dẫn thực hiện công tác thi đua, khen thưởng năm 2016.
  • Văn bản số 2328/BNV-VP ngày 04/5/2017 của Bộ Nội vụ về việc hướng dẫn thực hiện công tác thi đua, khen thưởng năm 2017.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, các hình thức khen thưởng được thực hiện đối với công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ, gồm: Huân chương; Huy chương; Danh hiệu vinh dự nhà nước; “Giải thưởng Hồ Chí Minh”, “Giải thưởng nhà nước”; Kỷ niệm chương; Huy hiệu; Bằng khen; Giấy khen (Điều 8 Luật thi đua, khen thưởng).

Việc khen thưởng thường niên được thực hiện dựa trên kết quả, mức độ hoàn thành nhiệm vụ theo Chương trình công tác hàng năm, áp dụng đối với tổ chức, cá nhân công chức, viên chức, người lao động. Ngoài ra, theo quy định hiện hành còn có hình thức khen thưởng đột xuất, được thực hiện khi công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ có thành tích đột xuất trong thực thi nhiệm vụ, công vụ được giao, để kịp thời động viên, khích lệ tinh thần hăng say công tác. Việc bình xét, suy tôn được thực hiện chặt chẽ, đúng quy trình theo quy định của pháp luật. Luận văn: Thực trạng pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

Trên cơ sở quy định của pháp luật, hướng dẫn của Bộ Nội vụ và kết quả đánh giá, phân loại đối với tập thể các cơ quan, đơn vị và từng cá nhân công chức, viên chức, người lao động, kết quả bình xét thi đua, khen thưởng thời gia qua tại Bộ Nội vụ từng bước đi vào nền nếp, góp phần động viên, khích lệ tinh thần hăng say lao động. Trong đó, kết quả bình xét thi đua, khen thưởng thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Nội vụ đối với công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ trong 03 năm gần nhất (từ 2015 đến năm 2017) như sau:

Năm 2015

  • Băng khen của Bộ trưởng (do 02 năm liên tục 2014-2015 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ): Không có công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ được Bộ trưởng tặng Bằng khen;
  • Danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở”: Có 16 công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ trong tổng số 49 tổng số công chức, viên chức, người lao động Bộ Nội vụ được công nhận, chiếm tỷ lệ 32,65%;
  • Danh hiệu lao động tiên tiến: 100% công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ đạt danh hiệu lao động tiên tiến.

Năm 2016

  • Bằng khen của Bộ trưởng (do có 02 năm liên tục 2015-2016 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ): Có 09 công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ trong tổng số 25 công chức, viên chức, người lao động Bộ Nội vụ được Bộ trưởng tặng Bằng khen, đạt tỷ lệ 36%.
  • Danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở: Có 14 công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ trong tổng số 37 công chức, viên chức, người lao động Bộ Nội vụ được công nhận, đạt tỷ lệ 37,84%.

Năm 2017

  • Bằng khen của Bộ trưởng: Không có.
  • Danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở: Có 13 công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ trong tổng số 27 công chức, viên chức, người lao động được công nhận danh hiệu, chiếm tỷ lệ 48,15%;
  • Danh hiệu lao động tiên tiến: 100% công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ đạt danh hiệu lao động tiên tiến.

Việc kỷ luật đối với công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ:

Việc xem xét, thi hành kỷ luật công chức lãnh đạo, quản lý được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 34/2011/NĐ-CP ngày 17 tháng 5 năm 2011 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức.

Tại Bộ Nội vụ, việc xem xét xử lý kỷ luật đối với công chức, viên chức, người lao động nói chung, công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ nói riêng được thực hiện thận trọng, chặt chẽ và bảo đảm đầy đủ quy trình, thủ tục theo quy định của pháp luật.

2.3. Đánh giá việc thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ ở Bộ Nội vụ Luận văn: Thực trạng pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

2.3.1. Kết quả đạt được và nguyên nhân

  • Kết quả đạt được

Với vị trí là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về cán bộ, công chức, viên chức nhà nước theo quy định của pháp luật, Bộ Nội vụ đã tham mưu cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các quy định về quản lý, sử dụng công chức nhà nước.

Về cơ bản, việc thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ ở Bộ Nội vụ được thực hiện nghiêm túc, theo đúng quy định của pháp luật và của Bộ. Căn cứ quy định của Luật cán bộ, công chức 2008; các Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật cán bộ, công chức 2008 và căn cứ Quyết định số 27/2003/QĐ-TTg ngày 19 tháng 02 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, từ chức, miễn nhiệm cán bộ, công chức lãnh đạo; các văn bản liên quan về công tác tổ chức cán bộ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã ban hành các văn bản quy định về điều kiện, tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục thực hiện công tác tổ chức cán bộ của Bộ Nội vụ, gồm:

Quyết định số 33/QĐ-BNV ngày 20/6/2003 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành Quy định về việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, từ chức, miễn nhiệm cán bộ, công chức lãnh đạo và điều động, biệt phái cán bộ, công chức thuộc Bộ Nội vụ;

Quyết định số 33/QĐ-BNV ngày 10/5/2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành Quy chế tạm thời tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo, quản lý của Bộ Nội vụ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;

Quyết định số 1204/QĐ-BNV ngày 19/11/2012 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc ban hành Quy định tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo, quản lý của Bộ Nội vụ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;

Quyết định số 1205/QĐ-BNV ngày 19/11/2012 về việc ban hành Quy định chế bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, từ chức, miễn nhiệm công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý và điều động, biệt phái công chức, viên chức làm việc tại các cơ quan, đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ Nội vụ; Luận văn: Thực trạng pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

Và nhiều văn bản liên quan đến công tác đào tạo, bồi dưỡng; quy hoạch, nâng ngạch; thi đua, khen thưởng; chế độ chính sách tiền lương;….

Các văn bản này đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai thực hiện trong Bộ Nội vụ. Việc quy hoạch, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và của Bộ; việc đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức nói chung, công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ nói riêng được thực hiện đạt được những kết quả quan trọng, bảo đảm đúng đối tượng, mục đích, yêu cầu, từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý; công tác đánh giá, phân loại công chức lãnh đạo quản lý được thực hiện sát hợp tình hình, kết quả thực thi công vụ; công tác thi đua, khen thưởng được thực hiện kịp thời, đúng đối tượng theo quy định của pháp luật và của Bộ, kịp thời động viên, khích lệ tinh thần hăng say lao động.

  • Nguyên nhân

Đạt được những kết quả trong thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ tại Bộ Nội vụ thời gian qua có nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân cơ bản sau:

  • Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, kịp thời của Ban Cán sự đảng Bộ, của Bộ trưởng, tập thể Lãnh đạo Bộ; của cấp ủy đảng các cấp;
  • Hệ thống các văn bản quy phạm nội bộ của Bộ Nội vụ được ban hành tương đối đầy đủ, bám sát quy định của Đảng và của pháp luật;
  • Chất lượng đội ngũ công chức nói chung, công chức lãnh đạo, quản lý của Bộ Nội vụ nói riêng từng bước được nâng lên thông qua công tác tuyển dụng đầu vào; công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và tinh thần, ý thức tự nghiên cứu, học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý.

2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

  • Hạn chế

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ tại Bộ Nội vụ cũng còn một số tồn tại, hạn chế nhất định; đó là:

Chưa thực hiện tốt chủ trương của Đảng về trẻ hóa đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý nói chung, cấp vụ nói riêng;

Văn bản hướng dẫn về công tác thi đua, khen thưởng chưa được hoàn thiện, ban hành đầy đủ và cập nhật kịp thời các quy định của pháp luật, gây khó khăn trong việc thực hiện quy trình, thủ tục bình xét thi đua, khen thưởng hàng năm.

Chất lượng đội ngũ công chức, trong đó có công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ còn có mặt hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

  • Nguyên nhân

Hệ thống văn bản quy phạm nội bộ của Bộ Nội vụ về công tác cán bộ đã bám sát, thể chế hóa các quy định của cấp có thẩm quyền. Tuy nhiên, vẫn có những nội dung chưa phù hợp với thực tiễn tình hình; chưa bảo đảm yêu cầu từng bước trẻ hóa đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý; giảm cơ hội tuyển chọn, bổ nhiệm những công chức trẻ, có đức có tài vào các vị trí lãnh đạo, quản lý cấp vụ; Nội dung chưa bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất giữa tiêu chuẩn chức danh với vị trí việc làm, như:

Quy định điều kiện, tiêu chuẩn bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ trưởng phải là người đã được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp (cao hơn so với mặt bằng chung so với các Bộ, ngành) là chưa sát với tình hình thực tiễn đội ngũ công chức, viên chức của Bộ Nội vụ.

Quy định điều kiện, tiêu chuẩn bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý cấp Phòng thuộc Bộ phải là người đã được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính, bằng với điều kiện, tiêu chuẩn phó vụ trưởng và tương đương là không sát với tình hình thực tiễn, chưa phù hợp với yêu cầu về trình độ giữa vị trí lãnh đạo, quản lý cấp phòng với cấp vụ. Quy định định này cũng gây khó khăn trong công tác kiện toàn chức danh trưởng phòng và tương đương của các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ.

Đây cũng được xem là một trong những nguyên nhân dẫn đến suốt một thời gian dài nhiều đơn vị trong Bộ Nội vụ chưa kiện toàn đươc đầy đủ các vị trí lãnh đạo, quản lý cấp vụ, cấp phòng.

  • Văn bản hướng dẫn về công tác thi đua, khen thưởng chậm được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp và thống nhất với các văn bản pháp luật hiện hành: Luật thi đua, khen thưởng (sửa đổi, bổ sung); các văn bản của Chính phủ hướng dẫn Luật thi đua, khen thưởng. Luận văn: Thực trạng pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.
  • Việc đào tạo, bồi dưỡng công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ chưa gắn với yêu cầu nhiệm vụ của từng vị trí, chức danh;
  • Thực hiện quy hoạch công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ nhưng chưa thực hiện đào tạo, bồi dưỡng đối với đội ngũ những người được quy hoạch để trang bị những kiến thức, kỹ năng cần thiết của vị trí chức danh được quy hoạch, bảo đảm thực hiện và hoàn thành tốt nhiệm vụ, quyền hạn khi được xem xét đề bạt bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh được quy hoạch;
  • Nội dung đào tạo, bồi dưỡng chưa được xây dựng trên cơ sở yêu cầu của từng chức danh lãnh đạo, quản lý cấp vụ, do đó công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng chức danh, vị trí lãnh đạo, quản lý.
  • Một số chương trình đào tạo, bồi dưỡng còn trùng lặp về nội dung, chưa được cập nhật, bổ sung thường xuyên những kiến thức mới.
  • Việc tham gia đào tạo, bồi dưỡng của công chức chủ yếu là do yêu cầu đủ các chứng chỉ để thi nâng ngạch, chuyển ngạch, chưa thật sự xuất phát từ nhu cầu nâng cao năng lực, hiệu quả làm việc theo chức danh, vị trí việc làm đang hoặc sẽ đảm nhiệm.

Tiểu kết chương 2

Chương 2 tiến hành phân tích, đánh giá khái quát thực trạng đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ tại Bộ Nội vụ trong 05 năm gần nhất (2011, 2014, 2015, 2016 và năm 2017). Việc phân tích đã làm rõ tỷ lệ công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ tại Bộ Nội vụ trong các năm có sự biến động tăng, giảm; tỷ lệ công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ là nam giới so với nữ giới; làm rõ mức độ trẻ hóa đội ngũ công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ ở Bộ Nội vụ thời gian qua;

Nội dung chương này cũng đã phân tích, làm rõ thực trạng thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý tại Bộ Nội vụ thời gian qua; đó là việc ban hành văn bản quy định về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ; việc thực hiện điều kiện, tiêu chuẩn công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ; việc tuyển dụng, bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ; việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ; việc đánh giá, phân loại công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ; việc khen thưởng, kỷ luật công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ;..

Đồng thời, nội dung chương 2 cũng đã chỉ ra được những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong thực hiện pháp luật về công chức lãnh đạo, quản lý cấp vụ tại Bộ Nội vụ thời gian vừa qua, làm cơ sở đề xuất các giải pháp thực hiện tại Chương 3. Luận văn: Thực trạng pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ

One thought on “Luận văn: Thực trạng pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ

  1. Pingback: Luận văn: Thực hiện pháp luật công chức lãnh đạo quản lý cấp vụ

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464