Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: KQNC đến kinh tế cơ sở luật và chính sách môi trường hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Phân tích kinh tế cơ sở luật và chính sách môi trường dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
4.1. NHỮNG HÌNH THỨC CƠ BẢN TRONG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM
4.1.1. Khái niệm quản lý môi trường
“Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia”.
Các mục tiêu chủ yếu của công tác quản lý về môi trường bao gồm:
- Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh trong hoạt động sống của con người;
- Phát triển bền vững kinh tế và xã hội quốc gia theo 9 nguyên tắc của một xã hội bền vững do hội nghị Rio-92 đề xuất. Các khía cạnh của phát triển bền vững bao gồm: Phát triển bền vững kinh tế; bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên; không tạo ra ô nhiễm và suy thoái chất luợng môi trường sống, nâng cao sự văn minh và công bằng xã hội;
- Xây dựng các công cụ có hiệu lực quản lý môi trường quốc gia và các vùng lãnh thổ. Các công cụ trên phải thích hợp cho từng ngành, từng địa phương và cộng đồng dân cư.
Nguyên lý về tính thống nhất vật chất thế giới gắn tự nhiên, con người và xã hội thành một hệ thống rộng lớn “Tự nhiên – Con người – Xã hội”, trong đó yếu tố con người giữ vai trò rất quan trọng. Tính thống nhất của hệ thống “Tự nhiên – Con người – Xã hội” đòi hỏi việc giải quyết vấn đề môi trường và thực hiện công tác quản lý môi trường phải toàn diện và hệ thống. Con người nắm bắt cội nguồn sự thống nhất đó, phải đưa ra các phương sách thích hợp để giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh trong hệ thống đó. Vì chính con người đã góp phần quan trọng vào việc phá và tất yếu khách quan là sự thống nhất giữa tự nhiên – con người – xã hội. Sự hình thành những chuyên ngành khoa học như quản lý môi trường, sinh thái nhân văn là sự tìm kiếm của con người nhằm nắm bắt và giải quyết các mâu thuẫn, tính thống nhất của hệ thống “Tự nhiên – Con người – Xã hội”.
4.1.2 Khái niệm hình thức quản lý tài nguyên môi trường Luận văn: KQNC đến kinh tế cơ sở luật và chính sách môi trường.
Là các phương sách trong quản lý tài nguyên môi trường nhằm đem lại những lợi ích to lớn cho con người, tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia.
Theo Arnstein (1969), các hình thức quản lý khác nhau nằm trong hai hình thức cơ bản là quản lý hành chính Nhà nước và quản lý cộng đồng. Ngoài ra đồng quản lý hay quản lý nguồn lợi dựa vào cộng đồng (QLNLDVCĐ) là hình thức quản lý trung gian giữa hai hình thức trên. QLNLDVCĐ là một hình thức hợp tác giữa cộng đồng và nhà chức trách trong việc chia sẻ quyền và trách nhiệm trong quản lý và lợi ích (Pomerroy, 1995). Cả hai hình thức quản lý và quản lý cộng đồng thuần tuý đều có lợi ích và hạn chế riêng, đôi khi không thể dung hoà hay đánh đổi được. Vì thế, cần một hình thức quản lý kết hợp hài hòa các lợi ích, sự phối hợp và khả năng của cộng đồng cũng như các kỹ năng về khoa học kỹ thuật, công nghệ và quản lý của các tổ chức Nhà nước. Đó là hình thức quản lý dựa vào cộng đồng. Hiệu quả quản lý sẽ được nâng cao khi có sự tham gia của người sử dụng nguồn lợi và các bên liên quan trong việc quản lý (Pomeroy, 2000 và VEEM, 2002).
Qua quá trình tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy có 4 hình thức quản lý tài nguyên môi trường cơ bản sau:
- Quản lý Nhà nước
- Quản lý tư nhân
- Quản lý cộng đồng
- Quản lý dựa vào cộng đồng
4.2. CÁC HÌNH THỨC QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG Luận văn: KQNC đến kinh tế cơ sở luật và chính sách môi trường.
4.2.1. Quản lý Nhà nước
Hình thức quản lý Nhà nước là quản lý tài nguyên môi trường thông qua các công cụ luật pháp, chính sách về môi trường trên phương diện quốc tế và quốc gia.
Luật quốc tế về môi trường là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm quốc tế điều chỉnh mối quan hệ giữa các quốc gia, giữa quốc gia và các tổ chức quốc tế trong việc ngăn chặn, loại trừ thiệt hại gây ra cho môi trường của từng quốc gia và môi trường ngoài phạm vi tàn phá quốc gia. Các văn bản luật quốc tế về môi trường được hình thành một cách chính thức từ thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, giữa các quốc gia châu Âu, châu Mỹ, châu Phi. Từ hội nghị quốc tế về “Môi trường con người” tổ chức năm 1972 tại Thuỵ Điển và sau Hội nghị thượng đỉnh Rio – 92 có rất nhiều văn bản về luật quốc tế được soạn thảo và ký kết. Cho đến nay đã có hàng nghìn các văn bản luật quốc tế về môi trường, trong đó nhiều văn bản đã được chính phủ Việt Nam tham gia ký kết.
Trong phạm vi quốc gia, vấn đề môi trường được đề cập trong nhiều bộ luật, trong đó Luật Bảo vệ Môi trường được quốc hội nước Việt Nam thông qua ngày 27/12/1993 là văn bản quan trọng nhất. Chính phủ đã ban hành Nghị định 175/CP ngày 18/10/1994 về hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ Môi trường và Nghị định 26/CP ngày 26/4/1996 về Xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường. Bộ Luật hình sự, hàng loạt các thông tư, quy định, quyết định của các ngành chức năng về thực hiện luật môi trường đã được ban hành. Một số tiêu chuẩn môi trường chủ yếu được soạn thảo và thông qua. Nhiều khía cạnh bảo vệ môi trường được đề cập trong các văn bản khác như Luật Khoáng sản, Luật Dầu khí, Luật Hàng hải, Luật Lao động, Luật Đất đai, Luật Phát triển và Bảo vệ rừng, Luật Bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, Pháp lệnh về đê điều, Pháp lệnh về việc bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, Pháp luật bảo vệ các công trình giao thông. Các văn bản trên cùng với các văn bản về luật quốc tế được Nhà nước Việt Nam phê duyệt là cơ sở quan trọng để thực hiện công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường.
Ngày 15 tháng 11 năm 2004, Bộ Chính trị (khóa IX) đã ban hành Nghị quyết số 41-NQ/TW “Về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Sau hơn 4 năm triển khai thực hiện Nghị quyết, công tác bảo vệ môi trường đã đạt được một số kết quả nhất định. Luận văn: KQNC đến kinh tế cơ sở luật và chính sách môi trường.
Luật Bảo vệ môi trường (năm 2005) và Luật Đa dạng sinh học (năm 2008) đã được Quốc hội thông qua, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về môi trường tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện và bước đầu đáp ứng được nhu cầu thực tiễn. Nhận thức, ý thức về công tác bảo vệ môi trường trong các cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể, của các tầng lớp nhân dân được nâng lên một bước. Lần đầu tiên nhóm chỉ tiêu về môi trường đã được xây dựng dựa vào các chỉ tiêu định hướng phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006 – 2010 và hình thành mục chi ngân sách cho sự nghiệp môi trường với mức chi hàng năm không dưới 1% tổng chi ngân sách Nhà nước. Hệ thống các cơ quan quản lý môi trường từ Trung ương đến cơ sở được tăng cường, lực lượng cảnh sát môi trường đã được thành lập và đi vào hoạt động. Những vấn đề bức xúc và các điểm nóng về môi trường đang từng bước được giải quyết.
Tuy nhiên, việc thực hiện các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp Nghị quyết số 41-NQ/TW đã đề ra còn nhiều thiếu sót, công tác bảo vệ môi trường còn nhiều hạn chế, yếu kém.
- Phân tích mô hình quản lý tài nguyên môi trường theo hình thức quản lý Nhà nước:
Chương trình 327 tiến hành tại 3 huyện thuộc lưu vực Sông Cả là Kỳ Sơn, Tương Dương ở Nghệ An và Con Cuông – một ví dụ về quản lý tài nguyên theo hình thức Nhà nước.
Các quyết định quan trọng về hưởng dụng tài nguyên và luật lệ trong quản lý tài nguyên đều do chính quyền trung ương quyết định. Luận văn: KQNC đến kinh tế cơ sở luật và chính sách môi trường.
Các chính quyền địa phương chủ yếu chỉ được trao quyền tổ chức triển khai thực hiện các chương trình, chính sách của Nhà nước trên địa bàn của địa phương mình mà không được quyền ra quyết định trong việc sử dụng tài nguyên. Chính quyền địa phương phụ thuộc về tài chính đối với chính quyền cấp trên vì nguồn kinh phí cho việc quản lý bảo vệ rừng, xây dựng vốn rừng và việc thực hiện các chương trình dự án của chính phủ ở các địa phương đều trông chờ vào sự phân bổ kế hoạch và kinh phí hàng năm của Nhà nước cho các địa phương. Nguồn kinh phí này thường rất khiêm tốn, không thể đáp ứng nhu cầu cần thiết của các địa phương. Do chính quyền địa phương cấp cơ sở khi được trao quyền mà không có khả năng về tài chính nên khó có thể có khả năng ra quyết định.
Người dân được giao đất lâm nghiệp nhưng vì chính sách hưởng lợi không rõ ràng và thù lao ít ỏi đã không thu hút được sự đầu tư trồng và bảo vệ rừng một cách có hiệu quả. Việc cấp phát cây giống không dựa vào nhu cầu của người dân, cây giống kém chất lượng, không đúng thời vụ gieo trồng, không hướng dẫn kỹ thuật cần thiết trước khi trồng là nguyên nhân tất yếu dẫn đến tình trạng tỉ lệ cây sống thấp, bị chặt bỏ vì chất lượng kém, không được trồng vì không có nhu cầu.
Có thể thấy rõ cách tiếp cận áp đặt từ trên xuống của các dự án thuộc CT 327. Đánh giá về sự tham gia vào các dự án 327, phần lớn cán bộ và dân địa phương đều cho rằng họ không có cơ hội được tham gia góp ý kiến mà mọi quyết định đều áp đặt từ trên xuống. Hơn nữa việc hỗ trợ cây giống và vật tư của các dự án này mang tính chất “ban phát” cho người dân hơn là giúp họ phát triển các hoạt động sản xuất một cách có hiệu quả và lâu bền. Sự ban phát này cùng với việc cung cấp thông tin không đầy đủ cho người dân về dự án đã làm cho người hưởng lợi từ dự án coi nhẹ sự hỗ trợ của Nhà nước dẫn đến tình trạng lãng phí cây giống và chăn thả gia súc bừa bãi gây thiệt hại lớn cho việc trồng và bảo vệ rừng.
Sự hưởng lợi đối với các cán bộ các cấp các ngành tham gia triển khai thực hiện các chính sách, chương trình, dự án không có, nếu có thì không đáng kể, vì vậy chưa tạo ra động lực thúc đẩy họ làm tốt công việc được giao. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu trách nhiệm trong khi thực hiện các chương trình dự án như các dự án thuộc Chương trình 327, Giao đất giao rừng, Xoá đói giảm nghèo… ở một số địa phương.
Kết quả thực hiện các chính sách và chương trình dự án tại các địa phương phụ thuộc một phần vào tinh thần trách nhiệm của các cơ quan và cán bộ được trao quyền. Sự buông lỏng quản lý, thiếu sự kiểm tra giám sát cần thiết của các cấp có thẩm quyền là tình trạng chung giải thích cho kết quả nghèo nàn của một số chương trình, dự án thực hiện trên địa bàn nghiên cứu.
Phân tích đặc điểm của chương trình 327 ở 3 huyện thuộc lưu vực Sông Cả là Kỳ Sơn, Tương Dương ở Nghệ An và Con Cuông có thể thấy những được nguyên nhân thất bại của dự án. Luận văn: KQNC đến kinh tế cơ sở luật và chính sách môi trường.
Qua tìm hiểu về hình thức quản lý Nhà nước, chúng tôi rút ra một số ưu và nhược điểm sau:
Mặt tích cực:
- Quản lý môi trường trên phạm vi vĩ mô;
- Đánh giá được hiệu quả một cách tổng hợp;
- Định hướng được mục tiêu, chương trình hành động;
- Đảm bảo tính thống nhất giữa các tổ chức, cá nhân, giữa các ban ngành chức năng và giữa các địa phương.
Mặt hạn chế:
- Việc quản lý Nhà nước chủ yếu dựa trên công cụ luật pháp, các chế tài vì thế việc thực hiện tỏ ra cứng nhắc, chưa đồng bộ và phù hợp với nhu cầu của cộng đồng và quốc gia;
- Việc hoàn thiện cơ chế, chính sách và hệ thống tổ chức quản lý Nhà nước về bảo vệ tài nguyên môi trường còn chậm, chưa đồng bộ;
- Đội ngũ cán bộ quản lý môi trường còn thiếu về số lượng, hạn chế về năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Trình độ khoa học – công nghệ bảo vệ môi trường, xử lý, giải quyết ô nhiễm môi trường còn thấp;
- Nhận thức về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững của nhiều cấp ủy, lãnh đạo các cấp, các ngành, doanh nghiệp và nhân dân chưa đầy đủ; ý thức bảo vệ môi trường nhìn chung còn thấp;
- Nguồn vốn đầu tư và chi thường xuyên cho bảo vệ tài nguyên môi trường chưa đáp ứng được yêu cầu. Nhiều địa phương còn sử dụng kinh phí sự nghiệp môi trường cho các mục đích khác hoặc sử dụng không hiệu quả;
- Trang thiết bị phục vụ công tác bảo vệ tài nguyên môi trường còn thiếu và lạc hậu. Nhiều nơi trong chỉ đạo, điều hành chỉ quan tâm tới các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, coi nhẹ các yêu cầu bảo vệ môi trường; có biểu hiện buông lỏng công tác quản lý Nhà nước, thiếu kiên quyết trong việc xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; chưa giải quyết dứt điểm các điểm nóng, bức xúc về ô nhiễm môi trường;
- Tình trạng vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường diễn ra khá phổ biến. Nhiều vi phạm có tổ chức, tinh vi, một số hành vi có dấu hiệu tội phạm. Nhiều tổ chức, cá nhân khi vi phạm nhưng không nhận trách nhiệm. Tuy vậy, Nhà nước vẫn chưa có biện pháp xử lý hiệu quả, để lại những hậu quả nặng nề cho môi trường;
- Các hình thức xử lý vi phạm còn mang tính chiếu lệ, chưa đủ sức răn đe, ngăn ngừa;
- Việc quản lý môi trường chưa thực sự mang lại hiệu quả đối với chất lượng cuộc sống của người dân do đó trong quá trình thực hiện gặp nhiều khó khăn, trở ngại như người dân tiếp tay, bảo vệ cho lâm tặc, …
4.2.2 Quản lý tư nhân Luận văn: KQNC đến kinh tế cơ sở luật và chính sách môi trường.
Quản lý tư nhân (cá nhân, hộ gia đình) là hình thức quản lý thấp nhất về quy mô. Trong đó, mỗi cá thể là một chủ thể được giao trách nhiệm quản lý chất lượng tài nguyên môi trường ở một khu vực trong một lĩnh vực nào đó. Ví dụ như: quản lý đất, quản lý rừng, quản lý nguồn lợi thủy sản,…
Nhà nước khẳng định quyền quản lý tài nguyên tập trung vào Nhà nước, nhưng lại không đủ lực để thực hiện quyền này. Nhà nước giao cho chính quyền địa phương chi phối, nhưng quyền lực của địa phương thì có hạn (Bruce, 1989).
Như phân tích quản lý tài nguyên rừng theo hình thức Nhà nước đã thấy rõ việc tối đa hoá hệ quản lý rừng Nhà nước đã dẫn đến tình trạng tài nguyên rừng bị suy thoái. Thất bại đó là một trong những bài học quan trọng nhất về phát triển trong nửa thế kỷ qua ở các nước đang phát triển (Bromlay và Cernea, 1989). Từ sự không thành công của quản lý rừng Nhà nước đã dẫn đến người ta hy vọng rằng việc trao quyền quản lý rừng cho tư nhân là một giải pháp tốt để có thể bảo vệ và phát triển rừng.
Quản lý tư nhân là một loại hình quản lý có hiệu quả, vì chủ thể được xác định rõ ràng, họ biết chắc chắn sẽ được hưởng lợi những gì. Thực tiễn phát triển của các trang trại trên thế giới trong những năm qua đã minh chứng rõ ràng nhất cho loại hình quản lý này. Trang trại phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng, theo hướng mở rộng diện tích, sản xuất hàng hoá, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân.
Nhưng nếu quá nhấn mạnh đến hình thức quản lý tư nhân lại dẫn đến những hậu quả xã hội khác. Như ở Philippin người ta chỉ coi trọng quản lý tư nhân và đã gây nên hậu quả xã hội: phân hoá giàu nghèo mãnh liệt, Nhà nước mất quyền lợi, không kiểm soát được hoạt động sản xuất kinh doanh của tư nhân. Luận văn: KQNC đến kinh tế cơ sở luật và chính sách môi trường.
- Hình 4.1: Hình thức quản lý nguồn tài nguyên rừng ở nông hộ
Trên cơ sở phân tích sơ đồ trên chúng tôi nhận thấy hình thức quản lý tài nguyên rừng theo hình thức tư nhân có những ưu điểm cũng như hạn chế sau:
Mặt tích cực:
- Phù hợp với chính sách giao đất giao rừng hiện hành nên dễ thực hiện;
- Người dân có chủ quyền trên nguồn tài nguyên được giao nên có điều kiện vay vốn ngân hàng để đầu tư, phát triển, chủ động kế thừa, chuyển nhượng;
- Gắn được trách nhiệm với quyền lợi của người dân địa phương;
- Phát huy được sự năng động của nông hộ trong việc quản lý phát triển tài nguyên.
Mặt hạn chế:
- Phân chia đất rừng cụ thể về mặt pháp lý đến từng hộ có nguy cơ làm mất truyền thống quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng, dòng họ. Đây là tập quán truyền thống quý báu của người dân bản địa, họ thường coi tài sản từ thiên nhiên là của cả cộng đồng, mọi người đều có quyền hưởng;
- Thời gian nhận đất nhận rừng khá dài (thường từ 20 – 50 năm) nên khi gia đình tách hộ sẽ có nguy cơ phát sinh mâu thuẫn, xé lẻ rừng vốn diện tích đã nhỏ bé;
- Có khả năng phát sinh mâu thuẫn giữa các hộ trong phân chia lợi ích, phân chia các loại rừng giàu nghèo, vị trí xa gần khác nhau. Trong một buôn vẫn có hộ không được nhận đất nhận rừng;
- Khó thúc đẩy các phương thức hợp tác trong quản lý, phát triển rừng;
- Trình độ các hộ khác nhau nên việc nhận thức và thực hiện việc quản lý phát triển rừng sẽ không đồng đều;
- Dễ mất rừng do một số hộ quá khó khăn hoặc vì tham lợi trước mắt mà sang nhượng rừng trái phép cho những người sản xuất nông nghiệp.
4.2.3. Quản lý cộng đồng Luận văn: KQNC đến kinh tế cơ sở luật và chính sách môi trường.
Quản lý cộng đồng (thôn, bản, nhóm hộ, nhóm người cùng hưởng lợi). Mặc dù cộng đồng không phải là một chủ thể kinh tế, nhưng đây là một loại hình tập thể rất phù hợp với phong tục tập quán của người dân. Cộng đồng cũng là một chủ thể sở hữu tư liệu sản xuất. Hình thức này cũng có mặt mạnh, mặt yếu của nó.
Phân tích hình thức quản lý tài nguyên rừng cộng đồng để thấy rõ hơn những ưu điểm và hạn chế của hình thức này trong quản lý rừng nói riêng và trong quản lý tài nguyên môi trường nói chung.
Trên thực tế, không phải bất cứ khu rừng nào Nhà nước cũng quản lý được (những khu rừng nhỏ, phân tán, ít giá trị) và quản lý tư nhân cũng không thể phủ hết những phần rừng còn lại. Hiện tại, trong tổng số khoảng 10 triệu ha đất có rừng của cả nước, đã giao được 6 triệu ha cho tổ chức kinh tế (lâm trường, đơn vị kinh tế) và 2 triệu ha cho nông hộ (năm 1998), cùng với khoảng 1 triệu ha rừng đặc dụng; số rừng/đất rừng còn lại (khoảng 1 triệu ha) vẫn chưa có chủ quản lý.
Vậy thì, phần đất còn lại ai sẽ là người quản lý của những “khu rừng vô chủ” đó? Nên chăng cùng với giao rừng/đất rừng cho tư nhân hãy trao lại những khu rừng chưa có chủ này cho các cộng đồng vốn trước kia đã là “chủ” của nó?
Trên thực tế, cho đến nay ở Việt Nam đã và đang chỉ tập trung tới hệ quản lý rừng Nhà nước, hiện đang trong quá trình tư nhân hóa rừng và đất rừng, mà chưa chú ý tới hệ quản lý rừng cộng đồng.
Thực tế việc giao đất rừng cho cộng đồng địa phương quản lý có hiệu quả hơn là giao đất rừng cho các cá nhân, vì nhiều sáng kiến quan trọng, đặc biệt là để bảo vệ rừng, đòi hỏi hoạt động ngoài quy mô hộ gia đình. Những giải pháp thích hợp luôn gắn bó với văn hóa – xã hội địa phương, đánh giá cao và sử dụng kiến thức bản địa về hệ sinh thái rừng của người dân khuyến khích và trao quyền quản lý và hưởng lợi tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên rừng cộng đồng; tạo được những đòn bẩy thích đáng thúc đẩy sự tham gia lâu dài của người dân địa phương (Messersmidt, 1996).
Xét về mặt lịch sử, ở Việt Nam, rừng cộng đồng đã tồn tại từ lâu đời, gắn liền với sự sinh tồn và tín ngưỡng của các cộng đồng dân cư sống dựa vào rừng. Hình thức này đã tạo nên các phương thức sử dụng tài nguyên lâu bền và gắn liền với vốn kiến thức bản địa về hệ sinh thái rừng của người dân địa phương. Quản lý rừng cộng đồng gắn liền với người dân địa phương miền núi. Kiểu quản lý này phổ biến và đã tồn tại trong một thời gian rất dài, khi mà tài nguyên rừng đang còn dồi dào và khi Nhà nước chưa đủ sức quản lý ở những vùng xa xôi. Có thể nêu lên những ví dụ điển hình của hệ quản lý rừng cộng đồng, như hệ panchayat ở Nê Pan, hệ umunnu ở Nigeria, hệ sagia ở Sudan,… Luận văn: KQNC đến kinh tế cơ sở luật và chính sách môi trường.
Việc quản lý rừng bằng phương thức này thường gắn bó chặt chẽ với vốn kiến thức bản địa cùng các yếu tố văn hoá địa phương và nhiều trong số đó có những yếu tố có tính chất truyền thống. Việc tìm hiểu, kế thừa một cách có chọn lọc thông qua tham khảo các hình thức quản lý rừng cộng đồng khác nhau là cần thiết và có ý nghĩa thiết thực, nếu chúng ta muốn thực sự tiếp cận để tìm kiếm những giải pháp cho sự phát triển các thể chế cộng đồng trong quản lý tài nguyên địa phương.
Hiện nay, tại nhiều địa phương có những khu rừng cộng đồng cổ truyền hiện vẫn tồn tại và phát triển. Như ở vùng đệm Pù Mát (Nghệ An) hiện vẫn có 6 khu rừng cộng đồng của người Thái, Đan Lai (Trần Ngọc Lân, 1999).
Luật tục và quy ước là đỉnh cao của ý thức, trách nhiệm của cộng đồng bản làng. Nó đảm bảo cho cuộc sống hiện tại của họ và sự bền vững của cuộc sống con cháu. Quy ước quản lý tài nguyên (rừng, đất, nước) luôn gắn liền với những quy ước của sản xuất (trồng trọt, chăn nuôi) thuộc mảng quy ước về nguồn sinh sống của cộng đồng. Cùng với những luật pháp chung của Nhà nước, quy ước bản làng rất cần thiết và hữu ích đối với cộng đồng dân cư địa phương, quy ước mang tính cộng đồng cao, gắn liền lợi ích và trách nhiệm trong quản lý tài nguyên.
Nội dung của quy ước thường là những vấn đề rất thiết thực trong quản lý tài nguyên. Mỗi quy ước thường có 3 phần: quyền lợi, trách nhiệm, hình phạt. Cùng với sự biến động của tự nhiên và xã hội cộng đồng người Thái có những cách ứng xử phù hợp, vì vậy hàng năm quy ước được cộng đồng tham gia thảo luận, bàn bạc, bổ sung sửa đổi (nếu cần). Chính sự mềm dẻo đảm bảo tính thiết thực của quy ước bản làng.
Sức mạnh của các quy ước còn phụ thuộc một phần tác động của hệ thống luật pháp của Nhà nước. Hiệu lực của các quy ước đòi hỏi sự hỗ trợ của Nhà nước. Hiệu lực của các quy ước đòi hỏi sự hỗ trợ tích cực của các cấp chính quyền địa phương (như việc xử phạt đối với những ngươì ngoài cộng đồng vi phạm quy ước).
Cùng với luật pháp của Nhà nước, luật tục và quy ước của bản làng về quản lý tài nguyên đã góp phần vào việc phát triển kinh tế – xã hội nông thôn và bảo vệ tài nguyên môi trường. Thực tiễn một số nơi đã chỉ rõ quản lý rừng với sự tham gia của các cộng đồng địa phương sống gần rừng là mô hình quản lý rừng có tính khả thi về kinh tế – xã hội, phù hợp với tập quán sản xuất truyền thống của nhiều dân tộc ở Việt Nam. Luận văn: KQNC đến kinh tế cơ sở luật và chính sách môi trường.
Trên cơ sở điều tra tại tỉnh Thừa Thiên Huế, có thể phân chia thành 5 hình thức rừng cộng đồng sau:
- Rừng được Nhà nước giao cho cộng đồng dân cư thôn quản lý,
- Rừng do cộng đồng quản lý theo luật tục/ hương ước,
- Rừng giao cho nhóm sở thích (câu lạc bộ quản lý).
- Rừng được Nhà nước giao cho nhóm hộ quản lý,
- Rừng giao cho cộng đồng liên thôn quản lý,
Trong 5 hình thức trên thì hình thức 1, 3, 4 và 5 được Nhà nước công nhận chính thức và ở hình thức 2 rừng cộng đồng được quản lý theo hương ước, chưa được Nhà nước chính thức công nhận nhưng mặc nhiên được thừa nhận.
- Từ 5 hình thức trên có thể chia thành 3 hình thức quản lý rừng cộng đồng chính:
Hình thức tổ chức quản lý rừng theo dòng tộc (dòng họ), theo dân tộc Cộng đồng tổ chức quản lý rừng và đất rừng theo dòng họ, theo dân tộc nơi có diện tích rừng và đất rừng nhỏ, do họ tự thừa nhận hay đã mặc nhiên công nhận từ các thế hệ trước. Những khu rừng này, thường nằm gần nơi cư trú của các cộng đồng với các tên gọi như: rừng thiêng (tôn thờ thần thánh theo tín ngưỡng), rừng ma (khu rừng chôn cất người chết – nghĩa địa), rừng mó nước (khu vực bảo vệ nguồn nước cung cấp trực tiếp cho cộng đồng), rừng gỗ gia dụng (nơi cung cấp lâm sản cho cộng đồng).
Việc tổ chức bảo vệ rừng gắn bó chặt chẽ với những tập quán truyền thống và hệ thống tư tưởng của cộng đồng, vai trò của người trưởng tộc hoặc già làng rất quan trọng. Hầu hết các công việc quản lý rừng của họ đều có sự phân công rõ ràng, các thành viên thực hiện tự giác và nghiêm túc.
- Hình thức tổ chức quản lý rừng theo thôn, làng, buôn, bản, ấp
Đây là hình thức tổ chức quản lý rừng cộng đồng chủ yếu hiện nay. Hình thức tổ chức này dựa trên cơ sở vị trí địa lý và khu vực người dân sinh sống. Phần lớn các thôn đều xây dựng quy ước/hương ước quản lý và bảo vệ rừng cộng đồng, tổ chức lực lượng tuần tra rừng chuyên trách hoặc phân công luân phiên các hộ gia đình trong thôn. Trưởng thôn điều hành các công việc chung liên quan đến bảo vệ rừng cộng đồng. Ở một số địa phương, đây là các loại rừng và đất rừng của làng xã được quản lý từ lâu đời, rừng trồng của các HTX, rừng tự nhiên đã được giao cho các HTX trước đây sau khi chuyển đổi HTX đã giao lại cho thôn quản lý. Tuy Nhà nước chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và công nhận quyền hưởng lợi cho cộng đồng, song thực chất cộng đồng đang tự quản lý và toàn quyền sử dụng các sản phẩm đó. Cộng đồng tham gia quản lý rừng tự nhiên của Nhà nước theo chế độ khoán bảo vệ. Đây là loại rừng tự nhiên thường được quy hoạch là rừng phòng hộ. Nhà nước khoán cho cộng đồng thôn xóm bảo vệ và sử dụng ngân sách để chi trả công bảo vệ rừng, các thành viên trong cộng đồng được hưởng lợi từ rừng. Luận văn: KQNC đến kinh tế cơ sở luật và chính sách môi trường.
- Hình thức quản lý rừng theo nhóm hộ/nhóm sở thích
Hình thức quản lý rừng này được thực hiện ở một số nơi. Nhóm hộ có thể hình thành từ một số hộ gia đình cư trú liền nhau trong phạm vi một thôn, một xóm hoặc gồm một số hộ gia đình có quan hệ huyết thống hoặc họ hàng; cũng có trường hợp là những cá nhân cùng lứa tuổi, cùng có mong muốn được tham gia quản lý rừng. Nhóm hộ này tự phân công để bảo vệ rừng, có thể cả nhóm cùng tham gia tuần tra rừng hàng ngày, hàng tuần hoặc luân phiên nhau; một số nhóm hộ có rừng gần nhau liên kết bảo vệ rừng.
Có thể so sánh khái quát các hình thức quản lý rừng cộng đồng như sau:
- Bảng 4.1. Khái quát các hình thức quản lý rừng cộng đồng
Từ kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, quy mô thôn là phù hợp cho quản lý rừng cộng đồng vì:
- Thích hợp đối với vùng sâu, vùng xa;
- Phù hợp với truyền thống tập quán của nhiều nhóm dân tộc;
- Phù hợp với điều kiện sản xuất hiện nay của dân khi nền kinh tế đang phát triển;
- Phù hợp đối với quản lý tất cả các loại rừng, kể cả rừng phòng hộ và đặc dụng;
- Phù hợp với trình độ quản lý của người dân cấp thôn.
4.3. CHỨC NĂNG CỦA CÁC CẤP CHÍNH QUYỀN TRONG VIỆC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ MÔI TRƯỜNG Luận văn: KQNC đến kinh tế cơ sở luật và chính sách môi trường.
4.3.1. Các nội dung và chức năng của quản lý Nhà nước về môi trường
Quản lý môi trường là một nội dung quản lý kinh tế xã hội của Nhà nước, khung cấu trúc các nội dung quản lý Nhà nước về môi trường có thể được trình bày dưới dạng sơ đồ sau:
- Hình 4.2. Cấu trúc quản lý Nhà nước về môi trường
Hình 4.2 đã cho chúng ta một khung cấu trúc các nội dung quản lý Nhà nước về vấn đề môi trường mong muốn của các quốc gia trên thế giới. Hoạt động bảo vệ môi trường trong thời đại chúng ta là một trong những hoạt động quan trọng của xã hội loài người nhằm duy trì và sử dụng hợp lý các dạng tài nguyên môi trường cho sự phát triển của nhân loại. Nhà nước với tư cách đại diện cho lợi ích chung của toàn xã hội sử dụng sức mạnh quyền lực và các truyền thống, tập quán của dân tộc để biến đường lối chủ đạo của mình thành hiện thực thông qua việc hình thành một cơ cấu tổ chức quản lý hợp lý (cơ cấu kinh tế xã hội và hệ thống tổ chức quyền lực quản lý môi trường); một cơ chế sử dụng nhân lực hữu hiệu (đội ngũ công chức môi trường và công chức chính quyền khác); với phương pháp, hình thức, giải pháp quản lý thích hợp (các công cụ quản lý, giải pháp quản lý và chính sách quản lý); tạo ra và tận dụng các thời cơ, các quan hệ quốc tế để phát triển bền vững đất nước.
Trong công tác quản lý môi trường có 3 nội dung quan trọng nhất bao gồm: Xây dựng cơ sở khoa học, kinh tế, luật pháp cho việc thi hành công tác quản lý môi trường, thiết lập các công cụ quản lý môi trường, tổ chức các công tác bảo vệ và quản lý môi trường.
Quản lý môi trường là một nội dung của công tác quản lý Nhà nước về môi trường. Ở nước ta các nội dung của công tác quan lý Nhà nước về môi trường được trình bày trong điều 37 luật bảo vệ môi trường Việt Nam 1993 gồm các điểm sau:
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp quy về bảo vệ môi trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn môi trường;
- Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo vệ môi trường, kế hoạch phòng chống, khắc phục suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường; Luận văn: KQNC đến kinh tế cơ sở luật và chính sách môi trường.
- Xây dựng, quản lý các công trình bảo vệ môi trường và các công trình có liên quan đến bảo vệ môi trường;
- Tổ chức, xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc định kỳ đánh giá hiện trạng môi trường, dự báo diễn biến môi trường;
- Thẩm định các báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án và các cơ sở kinh doanh;
- Cấp và thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường cho các cơ sở kinh tế xã hội;
- Giám sát thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường, giải quyết các khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về bảo vệ môi trường, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường;
- Đào tạo các cán bộ về khoa học và quản lý môi trường;
- Tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
- Quan hệ quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Công tác quan lý môi trường có thể phân loại theo phạm vi và tính chất quản lý. Theo phạm vi quản lý có thể chia ra các loại:
- Quản lý môi trường khu vực: Khu vực đô thị, nông thôn, biển…;
- Quản lý môi trường theo ngành nghề kinh tế như: Công nghiệp, nông nghiệp, năng lượng, khai thác khoáng sản;
- Quản lý tài nguyên: Tài nguyên nước, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên du lịch…
Theo tính chất của công tác quản lý có thể phân loại:
- Quản lý chất lượng môi trường như ban hành và kiểm tra các tiêu chuẩn về chất lượng không khí, nước thải, nước mặt, nước ngầm…;
- Quản lý kỹ thuật môi trường: Quản lý hệ thống quan trắc, giám định, đánh giá chất lượng các thành phần môi trường, các trạm phân tích và các phòng thí nghiệm phân tích chất lượng môi trường…;
- Quản lý kế hoạch môi trường: Quản lý việc xây dựng và thực thi các kế hoạch bảo vệ môi trường từ trung ưng đến địa phương, xây dựng các công trình bảo vệ môi trường, hình thành và quản lý quỹ môi trường ở trung ương, các ngành, các cấp địa phương. Luận văn: KQNC đến kinh tế cơ sở luật và chính sách môi trường.
Trong quá trình thực hiện, các nội dung quản lý trên đan xen với nhau tạo ra sự thống nhất và đồng bộ công tác bảo vệ môi trường. Thí dụ: Quản lý môi trường đô thị gồm cả quản lý chất lượng môi trường, kỹ thuật môi trường và kế hoạch hóa môi trường trên địa bàn đô thị.
Cơ sở pháp lý cho các công tác quản lý môi trường được trình bày trong các văn bản pháp luật như hiến pháp, các bộ luật và các quy định riêng ở từng quốc gia. Ở nước ta cơ sở pháp lý của công tác quản lý môi trường được thể hiện trong luật môi trường, Nghị định 175/CP và các văn bản khác. Các văn bản này được trình bày trong 2 tập sách: “Các quy định pháp luật về môi trường tập 1-1995” và “Các quy định pháp luật về môi trường tập 2-1997” cùng nhiều văn bản liên quan khác như: “ Tiêu chuẩn môi trường Việt Nam…”. Tuy nhiên, ở nước ta một số văn bản pháp lý cần thiết cho công tác quản lý môi trường chưa có hoặc chưa được ban hành như: Tiêu chuẩn và quy định về môi trường cho các lĩnh vực sản xuất hàng hóa cụ thể, kinh phí dành cho các hoạt động quản lý môi trường…
Ngày 25 tháng 6 năm 1998, bộ Chính trị BCH trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã có văn bản số 36-CT/TW “Chỉ thị về việc tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Chỉ thị đã nêu lên các quan điểm của Đảng về bảo vệ môi trường và 8 giải pháp để thực hiện công tác bảo vệ môi trường trong giai đoạn hiện nay.
Có 4 quan điểm của Đảng về bảo vệ môi trường là:
- Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân;
- Bảo vệ môi trường là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối chủ trương và phát triển kinh tế của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;
- Coi phòng ngừa và ngăn chặn ô nhiễm là nguyên nhân chủ đạo kết hợp với xử lý ô nhiễm, cải thiện môi trường và bảo tồn thiên nhiên;
- Kết hợp với phát huy nội lực với tăng cường hợp tác quốc tế trong bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Tám giải pháp để thực hiện công tác bảo vệ môi trường nước ta trong giai đoạn hiện nay:
- Thường xuyên giáo dục, tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếp sống và các phong trào quần chúng bảo vệ môi trường. Cụ thể như: Đưa chương trình bảo vệ môi trường và chương trình giáo dục của tất cả các hệ thống giáo dục quốc dân, tạo điều kiện cho nhân dân nhận được các thông tin về môi trường, động viên nhân dân thực hiện nếp sống sạch, hợp vệ sinh…
- Hoàn chỉnh hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường, ban hành các chính sách phát triển kinh tế phải gắn với bảo vệ môi trường, nghiêm chỉnh thi hành luật môi trường. Giải pháp này nhằm tăng cường hiệu lực của công tác quản lý môi trường bằng công cụ pháp luật. Luận văn: KQNC đến kinh tế cơ sở luật và chính sách môi trường.
- Chủ động phòng chống ô nhiễm và sự cố môi trường, khắc phục tình trạng suy thoái môi trường.
- Khai thác sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học, bảo tồn thiên nhiên. Giải pháp nhằm khắc phục suy thoái tài nguyên tái tạo và cạn kiệt tài nguyên không tái tạo do việc khai thác lãng phí và không có tổ chức hiện nay.
- Tăng cường và đa dạng hóa đầu tư cho hoạt động bảo vệ môi trường giải pháp nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường từ ngân sách của Nhà nước, kinh phí của các doanh nghiệp, các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước.
- Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường từ trung ương đến địa phương, giải pháp đề ra nhiệm vụ cụ thể như: Nâng cấp cơ quan quản lý môi trường cấp trung ương từ cục thành tổng cục, tăng cường năng lực quản lý môi trường ở địa phương bằng cách tạo ra biên chế cán bộ quản lý môi trường ở cấp quận, huyện.
- Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và công nghệ, đào tạo cán bộ, chuyên gia về lĩnh vực môi trường. Giải pháp đặt ra 4 nhiệm vụ: Xây dựng hệ thống quan trắc, đánh giá và dự báo môi trường toàn quốc; hình thành hệ thống cơ sở nghiên cứu về khoa học và công nghệ môi trường; tổ chức đào tạo cán bộ và chuyên gia môi trường ở nhiều mức độ và nhiều ngành nghề; hình thành ngành công nghệ phù hợp với môi trường Việt Nam.
- Mở rộng hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường bằng cách tham gia các chương trình, hợp tác quốc tế, khu vực, hợp tác song phương với các nước về bảo vệ môi trường.
4.3.2. Tổ chức công tác quản lý môi trường
Tổ chức công tác quản lý môi trường là một nhiệm vụ quan trọng của công tác bảo vệ môi trường bao gồm các mảng công việc quan trọng sau đây:
- Bộ phận nghiên cứu đề xuất kế hoạch, chính sách, các quy định luật pháp dung cho công tác bảo vệ môi trường;
- Bộ phận quan trắc, giám sát, đánh giá định kỳ chất lượng môi trường;
- Bộ phận thực hiện các công tác kỹ thuật, đào tạo cán bộ môi trường;
- Các bộ phận nghiên cứu, giám sát kỹ thuật và đào tạo cho các địa phương ở các cấp các ngành.
Các tổ chức tham gia nghiên cứu và quản lý môi trường thế giới bao gồm:
- Chương trình môi trường thế giới: UNEP có trụ sở tại Nairobi;
- Hội đồng phát triển bền vững thế giới;
- Các tổ chức quốc tế khác như: UNDP, UNIDO, FAO, UNESCO, IUCN, WWF;
- Các chương trình BAP, chương trình hành động đa dạng sinh học, hệ thống quan trắc chất lượng môi trường toàn cầu GEMS…; Luận văn: KQNC đến kinh tế cơ sở luật và chính sách môi trường.
- Các tổ chức tài chính quốc tế: IMF, WB, ADB, GEF…;
- Các tổ chức phi chính phủ:
Mỗi một quốc gia có một cách riêng để xây dựng tổ chức nghiên cứu quản lý môi trường. Từ số liệu thống kê ở 130 quốc gia do dự án SEMA tiến hành năm 1998 về hình thức tổ chức bộ máy bảo vệ môi trường, có thể phân loại cơ cấu tổ chức cơ quan bảo vệ môi trường quốc gia làm 3 nhóm cơ bản:
Nhóm 1: Các nước có cơ quan bảo vệ môi trường là một bộ độc lập gồm 40 nước chiếm 30.6% số mẫu thống kê. Thuộc nhóm 1 là các nước có nền kinh tế phát triển và tương đối phát triển như phần lớn các nước châu Âu, Singapore, Brazin…
Nhóm 2: Các nước có cơ quan bảo vệ môi trường là cơ quan ngang bằng hoặc trực thuộc văn phòng Chính phủ gồm 18 nước chiếm 13.84% số mẫu thống kê. Thuộc nhóm này có một số nước kinh tế hàng đầu thế giới như: Nhật Bản, Trung Quốc, Anh, Thụy Sỹ, Co-oet;
Nhóm 3: Các nước có cơ quan bảo vệ môi trường trực thuộc Bộ kiêm nhiệm gồm 72 nước chiếm 55.38% số mẫu thống kê. Thuộc về nhóm này là các nước phát triển kém, ngoại trừ Hà Lan, Australia, Liên bang Nga, Ấn Độ, Việt Nam thuộc nhóm này.
Hai nhóm 1 và 2 có thể gộp thành một do tính chất của chúng gần tương tự nhau. Theo thời gian, các nước trên thế giới từng bước nâng cấp cơ quan bảo vệ môi trường làm chúng ngày càng hoàn thiện hơn, tương xứng với sự gia tăng trọng trách của công tác môi trường trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước bên cạnh các cơ quan bảo vệ môi trường độc lập, nhiều vấn đề có liên quan đến bảo vệ môi trường ở nhiều nước vẫn thuộc quyền kiểm soát và phối hợp của nhiều bộ, nhiều ngành khác nhau. Để phối hợp các bộ và ngành kinh tế trong hoạt động bảo vệ môi trường, nhiều quốc gia đã hình thành Ủy ban bảo vệ môi trường quốc gia.
- Ở Việt Nam ta công tác nghiên cứu và quản lý môi trường được hình thành từ nhiều cách như:
Bộ chính trị đảng CSVN và Quốc hội nước Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là cơ quan cao nhất của Nhà nước thực hiện trách nhiệm hoạch định chính sách. Quốc hội có một Ủy ban: “Ủy ban khoa học, công nghệ và môi trường tư vấn về vấn đề môi trường”. Luận văn: KQNC đến kinh tế cơ sở luật và chính sách môi trường.
Thủ tướng chính phủ – Văn phòng chính phủ và Vụ khoa học giáo dục văn hóa xã hội có cố vấn cao cấp về các vấn đề môi trường.
Hai bô liên ngành – Bộ kế hoạch đầu tư (MPI) có trách nhiệm lập kế hoạch phát triển quốc gia và phân bổ ngân sách cho các ngành. Trong bộ có vụ khoa học công nghệ và môi trường chịu trách nhiệm về các vấn đề môi trường.
Bộ Công nghệ và Môi trường (MOSTE) và Cục môi trường của bộ chịu trách nhiệm quản lý Nhà nước về môi trường. Chức năng của cục môi trường được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường năm 1993. Điều 4 khoản 2 Nghị định 175/CP ngày 18/10/1994 đã ghi: “ Cục môi trường có nhiệm vụ giúp Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường trong phạm vi cả nước. “Tổ chức và hoạt động của Cục Môi trường được xác định trong quyết định số 545/QĐ/TCCB ngày 07/10/1993 của Bộ trưởng bộ Công nghệ và Môi trường.
Các bộ đều có vụ Khoa học công nghệ và môi trường chịu trách nhiệm nội dung bảo vệ môi trường các địa phương (cấp tỉnh) có phòng quản lý môi trường. Nhiều tỉnh có trung tâm môi trường hoặc chi cục môi trường. Riêng thành phố Hồ Chí Minh có Ủy ban môi trường do chủ tịch thành phố là chủ tịch Ủy ban. Sở khoa học công nghệ và môi trường là Ủy viên thường trực.
Mối quan hệ giữa Bộ Khoa học công nghệ và môi trường với các cơ quan chức năng khác trong các Bộ, các ngành nước ta hiện nay được trình bày trong các sơ đồ.
Như vậy, hình thức tổ chức cơ quan bảo vệ môi trường quốc gia ở mỗi nước khác nhau tùy vào điều kiện tự nhiên, mức độ phát triển kinh tế. Ở các nước phát triển, khi điều kiện kinh tế xã hội đạt được ở mức độ cao thì nhiệm vụ cơ quan quản lý môi trường đi vào chiều sâu và tổ chức cơ cấu quản lý ở cấp trung ương được nâng cấp. Ở các nước đang phát triển do có bài học từ các nước phát triển đi trước là ngăn ngừa ô nhiễm môi trường ít tốn kém hơn là xử lý ô nhiễm, nên vấn đề môi trường được quan tâm thích đáng trong quá trình phát triển, tổ chức môi trường được xây dựng ở mức độ cao hơn ngay từ đầu. Ở các nước kém phát triển, nhiệm vụ cơ quan bảo vệ môi trường ở cấp trung ương ở mức chống suy thoái môi trường, chống đói và chống bệnh dịch là chủ yếu. Cơ quan bảo vệ môi trường ở cấp trung ương cũng ở mức độ trực thuộc một Bộ kiêm nhiệm nào đó.
- Hình 4.3. Sơ đồ tổ chức công tác môi trường Việt Nam năm 1998
- Hình 4.4. Sơ đồ tổ chức công tác công tác môi trường ở các Sở khoa học, công nghệ và môi trường năm 1998
- Hình 4.5. Tổ chức công tác môi trường của Cục môi trường thuộc MOSTE năm 1998
KẾT LUẬN Luận văn: KQNC đến kinh tế cơ sở luật và chính sách môi trường.
Việc sử dụng ngày càng tăng các phân tích kinh tế nhằm mục đích thông báo các quyết định môi trường đánh dấu sự gia tăng việc thừa nhận tính hữu ích của những công cụ này để giúp tập trung cải tiến chính sách. Các cuộc tranh luận về sự tồn tại có tính quy phạm của chỉ tiêu Kaldor-Hicks và những thách thức vốn có trong việc áp dụng phân tích lợi ích – chi phí có thể sẽ tiếp tục. Tuy nhiên, phân tích kinh tế đã đảm nhận một vị trí quan trọng trong quy định Nhà nước.
Mặc dù các tranh luận đã tồn tại trong nhiều thập kỷ bởi các nhà kinh tế và các nhà nghiên cứu khác cho việc sử dụng rộng hơn phân tích lợi ích – chi phí để đánh giá các quy định môi trường hiện tại hoặc dự kiến. Thực sự, các phương pháp phân tích này vẫn còn trên vùng ngoại vi của việc xây dựng chính sách.
Chắc chắn sự thay đổi đã gây ấn tượng sâu sắc. Công cụ dựa vào thị trường đã chuyển sang giai đoạn trung tâm, và các cuộc tranh luận chính sách ngày nay trông rất khác với hai mươi năm trước đây, khi những quan niệm này thường được mô tả như “giấy phép ô nhiễm” là hoàn toàn không thực tế. Công cụ dựa vào thị trường ngày nay được xem xét một cách nghiêm túc cho mỗi và mọi vấn đề môi trường được thảo luận, sắp xếp theo thứ tự từ bảo tồn các loài có nguy cơ tuyệt chủng đến khu vực sương mù đến biến đổi khí hậu toàn cầu. Có lý để dự đoán rằng các công cụ thị trường sẽ được hưởng ứng chấp nhận ngày càng tăng trong những năm tới.
Tất nhiên, không có hình thức đặc biệt nào của sự can thiệp Chính phủ, không có công cụ chính sách cá nhân dù là công cụ dựa vào thị trường hoặc công cụ thông thường và không có các cấp cụ thể nào của Chính phủ là thích hợp cho tất cả các vấn đề môi trường. Với các công cụ hay cấp chính quyền là tốt nhất trong bất kỳ tình huống nào được đưa ra phụ thuộc vào một loạt các đặc điểm của vấn đề môi trường và bối cảnh xã hội, chính trị và kinh tế, trong đó nó được điều chỉnh. Không có thuốc chữa bách bệnh chính sách, tuy nhiên, ngày nay công cụ kinh tế đã đóng góp một vai trò vô cùng quan trọng trong việc phân tích Luật và Chính sách môi trường. Do vậy, thông qua đề tài này, tác giả muốn đề xuất các cơ quan quản lý áp dụng triệt để hơn nữa các công cụ kinh tế này vào phân tích Luật và Chính sách môi trường để đưa ra những quy định hoàn thiện nhất, và cơ bản đó là tin tốt cho cả việc bảo vệ môi trường và kinh tế phúc lợi. Luận văn: KQNC đến kinh tế cơ sở luật và chính sách môi trường.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Phân tích kinh tế cơ sở luật và chính sách môi trường

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: PPNC đến kinh tế cơ sở luật và chính sách môi trường