Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quá trình đàm phán gia nhập WTO và cam kết của VN hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quá trình đàm phán gia nhập WTO và cam kết của Việt Nam về minh bạch dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. QUÁ TRÌNH ĐÀM PHÁN GIA NHẬP WTO
2.1.1. Quan điểm gia nhập
Cùng với quá trình đổi mới toàn diện đất nước, đường lối đối ngoại của nước ta cũng được đổi mới theo hướng rộng mở “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới trên tinh thần hợp tác, cùng có lợi” [19]. Đây là một trong những định hướng quan trọng trong quan hệ đối ngoại nói chung và trong quan hệ thương mại quốc tế nói riêng. Bên cạnh việc tiếp tục phát triển các quan hệ song phương và đa phương với các quốc gia truyền thống, Việt Nam đã mở rộng quan hệ đối với các nước khác trên thế giới. Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 170 quốc gia trên thế giới, mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hoá tới trên 230 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ, ký kết trên 90 Hiệp định thương mại song phương, gần 60 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 54 Hiệp định chống đánh thuế hai lần và nhiều Hiệp định hợp tác về văn hóa song phương với các nước và các tổ chức quốc tế [27].
Song song với quá trình đổi mới đường lối đối ngoại, quan hệ thương mại của nước ta cũng đã được phát triển mạnh mẽ, mở rộng theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa. Trong giai đoạn hiện nay, Đổi mới – Hội nhập – Phát triển và Tăng trưởng được xác định là liên kết không thể tách rời, là xu thế tất yếu không thể thay đổi. Vì vậy, quan điểm về hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và gia nhập WTO nói riêng được xác định là phải chủ động, tích cực để Việt Nam trở thành thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế giải quyết những vấn đề có tính toàn cầu. Trong tinh thần đó, quá trình gia nhập WTO của nước ta cũng được chuẩn bị một cách chủ động, tích cực, theo đúng những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo chung.
Nhận thức được cơ hội và thách thức của việc gia nhập WTO cũng như thuận lợi và khó khăn của quá trình đàm phán, ngay từ những ngày đầu bước vào đàm phán thực chất, Chính phủ đã chỉ đạo Đoàn đàm phán quán triệt những phương châm sau đây:
Thực hiện nhất quán chủ trương “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Chấp thuận các quy định chung đối với các thành viên WTO song cần tranh thủ những ưu đãi dành cho các nước đang phát triển có trình độ thấp và đang chuyển đổi sang cơ chế thị trường ở mức tối đa về mức độ cam kết cũng như thời hạn thực hiện. Đồng thời, cố gắng tận dụng vị thế mới của nước ta trên trường quốc tế có được nhờ thắng lợi của sự nghiệp đổi mới.
Tranh thủ thời gian sớm gia nhập WTO nhưng có bước đi vững chắc, gắn kết quá trình đàm phán với sự chuẩn bị ở trong nước về luật pháp, cơ chế chính sách và nhất là sắp xếp doanh nghiệp nhà nước và nâng cao khả năng cạnh tranh. Cố gắng duy trì mức độ bảo hộ thích hợp, với thời hạn hợp lý đối với một số ngành hàng hết sức cần thiết, có ý nghĩa chiến lược và nhạy cảm về mặt xã hội.
Thực hiện nhất quán chính sách đa dạng hóa, đa phương hóa; kết hợp hài hòa các nghĩa vụ và quyền lợi trong tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế. Luận văn: Quá trình đàm phán gia nhập WTO và cam kết của VN.
Những nguyên tắc này là cơ sở để hình thành phương pháp đàm phán vững chắc. Trong quá trình đàm phán, Việt Nam thực hiện phương châm kiên trì, kiên quyết, thực tế và linh hoạt. Nhờ vậy, trong thời gian chưa tới 3 năm, kể từ khi bước vào đàm phán thực chất, Việt Nam đã kết thúc được toàn diện đàm phán với kết quả, theo đánh giá của Chính phủ, là tương đối phù hợp với trình độ phát triển của Việt Nam.
2.1.2. Những tác động của quá trình đàm phán
Những tác động đến quá trình đảm phán gia nhập WTO của Việt Nam đã được Chính phủ Việt Nam nêu rõ trong Tờ trình Quốc hội phê chuẩn Nghị định thư gia nhập tổ chức này, trong đó, Chính phủ đã nhấn mạnh: Phương thức “gia nhập bằng đàm phán” đặt nước xin gia nhập vào thế bất lợi, bởi vì:
Đàm phán gia nhập là đàm phán một chiều. Mọi thành viên đều có quyền đòi hỏi trong khi nước xin gia nhập không có quyền đó, chỉ hoặc là chấp nhận, hoặc là kiên trì thuyết phục các thành viên giảm bớt yêu cầu. Kiểu đàm phán này dẫn đến hai hệ quả. Một là, quá trình đàm phán thường bị kéo dài. Hai là, nước xin gia nhập nhiều khi phải chấp nhận những yêu cầu vượt ra ngoài chuẩn mực của WTO, thường được gọi là yêu cầu (hoặc cam kết) WTO cộng. Tổng hòa các cam kết WTO cộng đã tạo ra một kiểu phân biệt đối xử ngay trong lòng WTO mà nhiều người gọi là “hệ thống tiêu chuẩn kép”.
Đàm phán một chiều còn làm nảy sinh xu thế ép nước gia nhập sau phải cam kết ít nhất là bằng, trong nhiều trường hợp là sâu và rộng hơn nước gia nhập trước. Tiêu chuẩn gia nhập, vì vậy, được nâng dần.
Đàm phán gia nhập và các hệ quả của nó, như đã trình bày trên, là một thực tế mà mọi nước xin gia nhập đều phải chấp nhận, kể cả những quốc gia được coi là chậm phát triển, lẽ ra phải được hưởng sự đối xử đặc biệt và khác biệt theo quy định của WTO [13]. Luận văn: Quá trình đàm phán gia nhập WTO và cam kết của VN.
Trên cơ sở đánh giá những bất lợi chung đối với những nước gia nhập bằng đàm phán, Chính phủ đã nêu rõ một số khó khăn riêng của Việt Nam. Đó là:
Việt Nam đàm phán khi đã có Hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ (BTA). Trong BTA, Việt Nam đã có những cam kết có ý nghĩa về mở cửa thị trường, đặc biệt là dịch vụ. Theo nguyên tắc MFN, khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO, mọi thành viên WTO sẽ được hưởng các cam kết trong Vì lý do đó, trong đàm phán song phương, các thành viên đều yêu cầu Việt Nam phải lấy BTA làm khởi điểm để đàm phán. Trên thực tế, Việt Nam chỉ có thể gia nhập WTO khi chấp nhận cam kết ở mức BTA cộng (BTA +), không thể bằng BTA và càng không thể thấp hơn BTA.
Việt Nam đàm phán vào thời điểm đang diễn ra Vòng Doha. Các ý tưởng mới về tự do hóa thương mại, các yêu cầu sâu hơn về mở cửa thị trường, vì vậy, đều được đặt lên bàn đàm phán. Trong khi đó, thế “mặc cả” của Việt Nam lại yếu hơn một số nước khác bởi thị trường của Việt Nam tuy có tiềm năng nhưng trên thực tế vẫn còn khá nhỏ. Một nhượng bộ nào đó đối với Việt Nam có thể là rất lớn nhưng với đối tác có thể là chưa đủ.
Các cam kết WTO cộng có thể đã làm một số thành viên gia nhập trước Việt Nam gặp khó khăn trong việc thực thi cam kết. Xuất phát từ đây, để “chắc ăn”, một số thành viên không chỉ yêu cầu Việt Nam đưa ra cam kết mà còn muốn thấy cam kết đó đã được thực thi trên thực tế, từ trước ngày Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO.
Với toàn bộ những yếu tố bất lợi trên, Việt Nam đã phải rất cố gắng mới tiệm cận được sự cân đối giữa yêu cầu của các đối tác và khả năng mở cửa thị trường thực tế của Việt Nam [13].
Bên cạnh những bất lợi, những thách thức to lớn như đã nêu trên, quá trình đàm phán gia nhập của Việt Nam cũng có nhiều thuận lợi. Điều đầu tiên đó là Việt Nam đã xác định được những chủ trương, quan điểm đúng đắn về những yêu cầu đòi hỏi có tính khách quan phải chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và gia nhập WTO nói riêng. Tiếp đó là sự quan tâm, đồng thuận của các cơ quan nhà nước trong việc triển khai thực hiện các lộ trình, kế hoạch gia nhập WTO. Với những nỗ lực to lớn, trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam đã từng bước xây dựng được uy tín, hình ảnh trong mắt bạn bè quốc tế như một thành viên có trách nhiệm đối với những vấn đề chung của nhân loại. Ngoài ra, Việt Nam cũng nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhiều quốc gia, đối tác. Chính vì vậy, với những thời cơ và thách thức đó, Việt Nam đã nỗ lực từng bước đàm phán, thuyết phục các đối tác để trở thành thành viên chính thức của Tổ chức này.
2.1.3. Quá trình đàm phán gia nhập Luận văn: Quá trình đàm phán gia nhập WTO và cam kết của VN.
- Theo nguyên tắc, khi gia nhập WTO, các nước xin gia nhập phải đàm phán với mọi thành viên có quan tâm và qua 4 giai đoạn:
Giai đoạn làm rõ chính sách: kèm theo đơn xin gia nhập, nước xin gia nhập phải đệ trình Bị vong lục mô tả hiện trạng chính sách thương mại. Một Ban công tác sẽ được thành lập, bao gồm các thành viên quan tâm đàm phán với nước xin gia nhập. Nước xin gia nhập có nghĩa vụ trả lời bằng văn bản các câu hỏi của các thành viên Ban công tác để làm rõ chính sách kinh tế – thương mại. Các câu hỏi và trả lời này sẽ là dữ liệu để Ban thư ký tổng hợp xây dựng Báo cáo của Ban công tác sau này.
Giai đoạn đàm phán: Đàm phán thực chất chỉ bắt đầu sau khi đã có bước tiến đáng kể trong việc làm rõ chính sách, bao gồm đàm phán đa phương và đàm phán song phương. Đàm phán đa phương là đàm phán với cả Ban công tác về việc tuân thủ các hiệp định đa phương của WTO, theo đó, nước xin gia nhập phải đưa ra các cam kết về việc thực thi các hiệp định, lộ trình điều chỉnh pháp luật và hình thành các cơ chế, định chế cần thiết cho việc thực thi cam kết. Đàm phán song phương là đàm phán về mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ với từng thành viên quan tâm, nhằm giải quyết các quyền lợi thương mại riêng. Khi kết thúc đàm phán song phương, các thoả thuận riêng sẽ được tổng hợp lại theo nguyên tắc “chỉ lấy cam kết tốt nhất” và mọi thành viên WTO đều được hưởng các cam kết “tốt nhất” này theo nguyên tắc MFN.
Giai đoạn hoàn tất văn kiện gia nhập: Trên cơ sở kết quả đàm phán đa phương và song phương, Ban công tác sẽ tổng hợp và hoàn tất bộ văn kiện gia nhập, bao gồm các tài liệu chính: 1) Báo cáo của Ban công tác; 2) Biểu cam kết về mở cửa thị trường hàng hóa; 3) Biểu cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ; 4) Dự thảo Nghị định thư gia nhập. Sau khi thông qua các văn kiện này, Ban công tác hoàn thành nhiệm vụ của mình. Luận văn: Quá trình đàm phán gia nhập WTO và cam kết của VN.
Giai đoạn phê chuẩn: bộ văn kiện gia nhập sẽ được trình lên Hội nghị Bộ trưởng hoặc Đại hội đồng thông qua. Theo quy định của Hiệp định WTO, Hội nghị Bộ trưởng và Đại hội đồng sẽ thông qua văn kiện gia nhập khi có ít nhất là 2/3 số thành viên tán thành. Tuy nhiên, trên thực tế, các nước chỉ có thể gia nhập khi không có bất cứ thành viên nào phản đối. Sau khi bộ văn kiện được thông qua, nước xin gia nhập sẽ tiến hành thủ tục phê chuẩn trong nước. 30 ngày sau khi Ban Thư ký WTO nhận được thông báo của nước xin gia nhập về việc đã hoàn tất thủ tục phê chuẩn, nước đó mới chính thức trở thành thành viên của WTO [13].
Tóm tắt quá trình Việt Nam đàm phán gia nhập WTO được nêu rõ trong Tờ trình số 150/TTr-CP ngày 15 tháng 11 năm 2019 của Chính phủ. Theo đó, Việt Nam chính thức nộp đơn gia nhập WTO tháng 1/2008. Năm 2009, tại WTO, Ban Công tác (WP) về Việt Nam gia nhập WTO được thành lập với sự tham gia của trên 20 nước (đến thời điểm năm 2019, con số này là gần 40). Từ năm 2009 đến 2014, đàm phán tập trung chủ yếu vào việc làm rõ chế độ và chính sách thương mại của Việt Nam, với việc Việt Nam phải trả lời hơn 2013 câu hỏi có liên quan đến chính sách thương mại, kinh tế, đầu tư. Đến tháng 8/2014, Việt Nam chính thức đưa ra Bản chào ban đầu về hàng hóa và dịch vụ (Ininitial Offer) để bước vào giai đoạn đàm phán thực chất về mở cửa thị trường với các nước thành viên Ban Công tác. Việt Nam kết thúc đàm phán song phương gia nhập WTO bằng việc ký thoả thuận với Hoa Kỳ (ngày 31/5/2019), hoàn tất việc đàm phán với 28 đối tác có yêu cầu đàm phán với Việt Nam. Về đàm phán đa phương: Đến thời điểm năm 2019, Việt Nam đã tiến hành 15 Phiên họp với Ban Công tác về Việt Nam gia nhập WTO. Từ Phiên 9 (tháng 12/2017), Việt Nam cùng với Ban Công tác đã bắt đầu xem xét và thảo luận Dự thảo Báo cáo (DR) của Ban Công tác. Tại các Phiên 14 và 15 (10/2019), Việt Nam đã giải quyết được toàn bộ các vấn đề đa phương còn tồn đọng giữa Việt Nam với một số đối tác, hoàn tất về cơ bản đàm phán gia nhập WTO, hoàn chỉnh toàn bộ các tài liệu, chuẩn bị cho phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng WTO xem xét, thông qua việc gia nhập của Việt Nam được tổ chức vào ngày 7/11/2019. Tại Lễ gia nhập ngày 7/11/2019, Bộ trưởng Bộ Thương mại, đại diện phía Việt Nam và Tổng Giám đốc WTO đã ký Nghị định thư về việc Việt Nam gia nhập WTO.
Nghị định thư gia nhập WTO được trình lên Quốc hội thông qua và Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO kể từ ngày 11 tháng 01 năm 2020.
2.2. CAM KẾT CỦA VIỆT NAM VỀ MINH BẠCH Luận văn: Quá trình đàm phán gia nhập WTO và cam kết của VN.
2.2.1. Khái quát một số đề cập của các đối tác về vấn đề minh bạch trong quá trình Việt Nam đàm phán gia nhập
Trong quá trình Việt Nam đàm phán gia nhập WTO, kể cả đàm phán song phương và đa phương, vấn đề minh bạch được đặt ra và đề cập khá nhiều trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là việc thực thi pháp luật. Báo cáo gia nhập của Ban Công tác cho thấy, nhiều nước tỏ ra băn khoăn, quan ngại và đề nghị Việt Nam giải thích hoặc đưa ra những xác nhận, cam kết về minh bạch trên tất cả các khía cạnh của yêu cầu này và được lồng ghép trong tất cả các vấn đề đàm phán. Mô tả tại một số đoạn sau đây trong Bảo cáo của Ban Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO cho thấy điều này.
Đoạn 150 nêu: Một số Thành viên nhận xét rằng hệ thống thuế nhập khẩu hiện tại của Việt Nam còn thiếu minh bạch và yêu cầu Việt Nam cung cấp biểu thuế nhập khẩu hiện hành và thống kê thương mại chi tiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho đàm phán mở cửa thị trường hàng hóa.
Một số Thành viên nhấn mạnh quan điểm mong muốn Việt Nam áp dụng thuế phần trăm hơn là thuế tuyệt đối với hàng hóa nhập khẩu bởi thuế phần trăm mang tính minh bạch và dễ dự đoán hơn đối với các doanh nghiệp (Đoạn 154).
Một số Thành viên lo ngại rằng Việt Nam đang dự kiến áp dụng hạn ngạch thuế quan đối với một số sản phẩm và cho rằng hạn ngạch thuế quan đã trở nên lỗi thời và gây bóp méo thương mại. Một số Thành viên lưu ý rằng mặc dù hạn ngạch thuế quan có thể là biện pháp hữu hiệu để đảm bảo tiếp cận thị trường ổn định, tất cả các thông tin liên quan cần thiết đối với người xin và người sử dụng hạn ngạch thuế quan cần phải được công bố công khai để đảm bảo sự minh bạch. Do đó, nếu các cam kết về hạn ngạch thuế quan được chấp nhận thì Việt Nam cần phải cung cấp đầy đủ mọi thông tin chi tiết về tất cả các cơ chế phân bổ hạn ngạch thuế quan đang có hiệu lực, bao gồm thông tin về thuế suất trong và ngoài hạn ngạch; khối lượng hạn ngạch dự kiến và mức tăng hàng năm; các số liệu bổ sung về giá trị sản xuất, tiêu dùng trong nước và giá trị nhập khẩu đối với mỗi sản phẩm liên quan và cần đảm bảo rằng mọi Thành viên WTO đều được tiếp cận hạn ngạch thuế quan trên cơ sở không phân biệt đối xử. Các Thành viên lưu ý Việt Nam rằng hệ thống hạn ngạch thuế quan nên đơn giản, minh bạch, kịp thời, có thể dự đoán được, thống nhất, không phân biệt đối xử, không mang tính chất hạn chế thương mại và phải được điều hành để không gây bóp méo thương mại hoặc không được tạo ra những trở ngại vượt quá mức cần thiết. Chính vì vậy, các Thành viên yêu cầu Việt Nam chấp nhận các cam kết cụ thể liên quan tới việc phân bổ hạn ngạch thuế quan và các khía cạnh khác của cơ chế quản lý hạn ngạch thuế quan (Đoạn 163). Luận văn: Quá trình đàm phán gia nhập WTO và cam kết của VN.
Có Thành viên cho rằng việc phân bổ hạn ngạch thuế quan là không phù hợp, không đảm bảo tính minh bạch và khả năng có thể dự đoán. Thành viên này đề nghị Việt Nam thay thế phương pháp quản lý này bằng một phương pháp khác (Đoạn 168).
Một số Thành viên nhận thấy Việt Nam sử dụng giá nhập khẩu tối thiểu khi xác định trị giá hải quan, và rằng thực tiễn xác định trị giá hải quan của Việt Nam đã dẫn tới kết quả là hàng nhập khẩu của một số nước phải chịu mức thuế cao hơn, tạo nên sự đối xử không đảm bảo nguyên tắc MFN đối với hàng nhập khẩu, không minh bạch và không phù hợp với Hiệp định về xác định trị giá hải quan. Các nước Thành viên này yêu cầu Việt Nam cung cấp kế hoạch hành động chi tiết nêu rõ từng biện pháp cần thiết để thực hiện hiệp định CVA và thời điểm thực hiện, bao gồm cả việc xóa bỏ giá tính thuế tối thiểu (Đoạn 229).
Các Thành viên thúc giục Việt Nam thiết lập các thủ tục hải quan nhanh chóng, đơn giản và minh bạch hơn, đồng thời tăng cường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm cả nâng cao năng lực thực thi các biện pháp tại biên giới (Đoạn 245).
Một Thành viên cũng lưu ý rằng pháp luật Việt Nam dường như chưa có các điều khoản quy định cách thức để thông báo về một dịch bệnh bắt buộc phải thông báo theo quy định của OIE hoặc một loại sâu bệnh trong danh mục của IPPC tới các cơ quan tiêu chuẩn quốc tế, cơ quan kiểm soát biên giới, đối tác thương mại hoặc nước cung cấp. Thành viên này đề nghị Việt Nam thiết lập các kênh thông báo rõ ràng (Đoạn 325).
Một Thành viên khuyến khích Việt Nam tiếp tục các nỗ lực hiện nay để làm cho hệ thống mua sắm Chính phủ minh bạch hơn và tạo điều kiện hơn cho cạnh tranh (Đoạn 346). Luận văn: Quá trình đàm phán gia nhập WTO và cam kết của VN.
Một Thành viên kêu gọi Việt Nam bảo đảm rằng: điểm hỏi đáp sẽ phản hồi ngay các câu hỏi cụ thể; sẽ thành lập một hệ thống tham vấn liên ngành linh hoạt và thông thoáng; sẽ xây dựng một quy trình minh bạch cho việc phát triển các biện pháp SPS bao gồm cả việc công khai các biện pháp dự thảo và các hoạt động dự kiến trong một tạp chí chuyên đề chính thức với một khung thời gian hợp lý cho việc đóng góp ý kiến và thông báo kịp thời cho Ban Thư ký WTO; sẽ thiết lập một quy trình đánh giá nguy cơ dựa trên cơ sở khoa học, minh bạch (Đoạn 326).
Một Thành viên nhận xét rằng thủ tục và điều kiện cấp phép không nên cản trở việc tiếp cận thị trường và yêu cầu Việt Nam bảo đảm tính minh bạch trong các yêu cầu và thủ tục cấp phép, yêu cầu và thủ tục đánh giá cũng như các yêu cầu cấp phép khác. Đặc biệt, Thành viên này yêu cầu Việt Nam công bố danh sách các tổ chức chịu trách nhiệm uỷ quyền, cho phép hoặc điều tiết các dịch vụ, kể cả các tổ chức đã được các cơ quan chức năng uỷ quyền như vậy, cũng như thủ tục và điều kiện cấp phép. Việt Nam được yêu cầu phải bảo đảm rằng các thủ tục và điều kiện cấp phép được xây dựng trước, công khai, dựa trên các tiêu chí khách quan; xác định các hoạt động, điều khoản và điều kiện; có tất cả các thông tin chính về việc hoàn thành hồ sơ xin cấp phép; đưa ra khung thời gian liên quan và các thời hạn quan trọng; và cho biết cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép. Thành viên này cũng yêu cầu Việt Nam bảo đảm rằng các thủ tục và điều kiện cấp phép sẽ được công bố trước khi có hiệu lực và một khung thời gian hợp lý cho việc xem xét và ra quyết định khi công bố các thủ tục và điều kiện này. Ngoài ra, bất kỳ lệ phí nào được tính sẽ không tạo thành một rào cản riêng về tiếp cận thị trường và đối tượng xin cấp phép cũng sẽ được biết hồ sơ họ làm đã đầy đủ hay chưa hoặc trong trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ thì cần phải bổ sung thông tin gì. Thành viên này yêu cầu các quyết định đối với hồ sơ cần phải được đưa ra nhanh; nếu hồ sơ xin cấp phép bị hủy bỏ hoặc từ chối, đối tượng xin cấp phép sẽ được thông báo nhanh chóng bằng văn bản lý do hồ sơ bị hủy bỏ hoặc từ chối. Thành viên này cũng đề nghị việc kiểm tra để cấp phép hành nghề sẽ được thực hiện theo một lịch trình thời gian thích hợp (Đoạn 504).
Một số Thành viên cho rằng việc minh bạch hóa các quy định và các biện pháp khác, đặc biệt là của các chính quyền địa phương, là vô cùng quan trọng vì những cơ quan này thường đưa ra các quy định chi tiết để thực thi các luật lệ, quy định và biện pháp khác mang tính chung chung hơn của chính quyền trung ương. Những thông tin này cần phải được cung cấp kịp thời để các nhà cung cấp dịch vụ có thể chuẩn bị tuân thủ với các quy định đó và có thể thực hiện các quyền của mình khi thực thi các biện pháp đó. Việc công bố trước những biện pháp như vậy là quan trọng trong việc tăng cường các mối quan hệ thương mại ổn đinh, dễ dự đoán. Việc phát triển Internet và các phương tiện thông tin khác có thể giúp bảo đảm rằng thông tin từ tất cả các cơ quan chính phủ ở mọi cấp có thể được tập hợp tại một điểm và công khai cho công chúng. Việc thiết lập và duy trì một tạp chí và điểm hỏi đáp duy nhất, có thẩm quyền sẽ tạo thuận lợi rất nhiều cho việc phổ biến thông tin và giúp tăng cường sự tuân thủ (Đoạn 505). Luận văn: Quá trình đàm phán gia nhập WTO và cam kết của VN.
Một số Thành viên yêu cầu được cung cấp thông tin về việc Việt Nam thực hiện các yêu cầu về minh bạch nêu trong Điều X của Hiệp định GATT, Điều III của Hiệp định GATS và các Hiệp định khác của WTO. Các Thành viên này hỏi liệu ở Việt Nam có nghĩa vụ pháp lý nào phải công bố trên một tạp chí chính thức tất cả các luật, quy định, nghị định, quyết định của tòa án và các lệnh hay quyết định hành chính về việc áp dụng chung hoặc các biện pháp khác có hiệu lực tương tự liên quan tới chính sách thương mại hoặc kinh tế “theo cách có thể giúp chính phủ và thương nhân biết về các văn bản trên”. Các Thành viên này còn hỏi thêm các văn bản này được công khai trước khi có hiệu lực bao lâu; và liệu bất cứ biện pháp nào như vậy có thể có hiệu lực trước khi được công bố trên Công báo hay không (Đoạn 509).
Bên cạnh đó, cũng có thành viên bày tỏ quan ngại về việc sử dụng công văn chứa đựng quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ thương mại. Đoạn 516 Báo cáo về việc Việt Nam gia nhập của Ban Công tác nêu rõ: Một Thành viên lưu ý rằng các Bộ có ban hành văn bản dạng “công văn” – không đủ tiêu chuẩn là văn bản quy phạm pháp luật theo luật pháp Việt Nam – để ban hành pháp luật, và hầu hết các Bộ đều từ chối cung cấp thông tin liên quan đến dạng văn bản này. Việt Nam được yêu cầu cập nhật cho Ban Công tác các biện pháp điều chỉnh thực tiễn này cho phù hợp với quy định của WTO về minh bạch hóa. Thành viên này cũng yêu cầu Việt Nam không sử dụng “công văn” như là văn bản ban hành chính sách, và các chính sách được quy định trong các văn bản dạng “công văn” hiện tại sẽ bị bãi bỏ hoặc các Bộ sẽ vận dụng trên cơ sở phù hợp với quy định của WTO về minh bạch.
Ngoài ra, nhiều ghi nhận tại Báo cáo này cũng cho thấy, các bên cũng đề nghị Việt Nam làm rõ nhiều vấn đề khác, như: vấn đề nghĩa vụ thông báo các Hiệp định song phương và khu vực liên quan hoặc tác động đến thương mại; các vấn đề về thuế, phí, thủ tục hải quan; vấn đề về doanh nghiệp nhà nước (tính minh bạch trong quản lý nhà nước, tiến trình tư nhân hóa, sự bình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân trong môi trường cạnh tranh, chống trợ cấp hoặc dành ưu đãi đặc biệt cho doanh nghiệp nhà nước làm méo mó thị trường cạnh tranh,…); vấn đề độc lập của các cơ quan nhà nước với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ; vấn đề về thực hiện các nguyên tắc MEN, NT của WTO trong các lĩnh vực khác nhau; vấn đề về cấp phép đầu tư, kinh doanh trong các lĩnh vực thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, vấn đề sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại,… Luận văn: Quá trình đàm phán gia nhập WTO và cam kết của VN.
Có thể nói, minh bạch là vấn đề được các nước thành viên quan tâm đối với bất cứ quốc gia nào gia nhập, đặc biệt là những nước đang trong quá trình chuyển đổi. Điều này thấy khá rõ trong trường hợp của Việt Nam, Nga, các nước Đông Âu và Trung Quốc. Sự quan tâm này là hết sức chính đáng bởi vấn đề này là một trong những nguyên tắc chủ đạo của WTO, có ảnh hưởng mạnh mẽ tới các thành viên khác và doanh nghiệp của các thành viên này muốn mở rộng thị trường kinh doanh tại những quốc gia xin gia nhập.
Những quan ngại của các quốc gia về minh bạch trong quá trình Việt Nam đàm phán gia nhập WTO tập trung nhất vào việc thực thi các yêu cầu tại Điều X GATT và Điều III GATS như đã được ghi nhận trong các đoạn từ 506 đến 526 và nhiều đoạn khác trong Báo cáo của Ban Công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO. Tuy nhiên, như đã nêu trên, khi Việt Nam đàm phán gia nhập, Việt Nam đã ký kết với Hoa Kỳ hiệp định song phương về thương mại. Những nội dung về minh bạch trong Hiệp định này khá gần với các quy định của WTO. Trên thực tế, Việt Nam đã rất nỗ lực thực hiện các cam kết của BTA về minh bạch bởi hai lý do: một là, Việt Nam cần thể hiện là nước có trách nhiệm thực thi nghiêm túc, đầy đủ các cam kết quốc tế; hai là, việc thực hiện minh bạch phù hợp với quá trình đổi mới, xây dựng nhà nước pháp quyền, phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta. Do đó, những quan ngại hoặc đề nghị của các đối tác đều được Việt Nam trả lời đầy đủ với những dẫn chứng cụ thể về cơ sở pháp lý cũng như thực tế thực hiện ở Việt Nam về minh bạch. Những giải đáp này phần lớn đã đáp ứng được yêu cầu của các đối tác liên quan đến vấn đề này.
2.2.2. Cam kết của Việt Nam về minh bạch khi gia nhập WTO Luận văn: Quá trình đàm phán gia nhập WTO và cam kết của VN.
Một trong những quan điểm có tính xuyên suốt, quán xuyến toàn bộ quá trình đàm phán mà Việt Nam đưa ra đã được Ban Công tác ghi nhận là: Việt Nam cam kết lấy các nguyên tắc của WTO làm nền tảng cho các chính sách thương mại của mình. Việt Nam đã và đang tiến hành rà soát và sửa đổi luật pháp để từng bước phù hợp với các quy định và nguyên tắc của WTO [47].
Với quan điểm đó, kể từ khi đệ đơn xin gia nhập năm 2008, Việt Nam đã từng bước tiếp cận, xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp với các quy định của WTO, trong đó, có các quy định về minh bạch trong xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật.
Những quyết tâm, nỗ lực trong việc thực hiện các quy định của WTO nói chung, về minh bạch nói riêng, thể hiện trong việc Việt Nam ký kết Hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ (2014) bởi Hoa Kỳ là thành viên của WTO, nếu ta ký kết Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ thì khi gia nhập WTO, ta cũng sẽ phải dành cho các thành viên khác những đối xử như đã cam kết với Hoa Kỳ. Như vậy, ngay từ những năm 2014, Việt Nam đã có những bước đẩy mạnh việc thực hiện minh bạch trong xây dựng và thực hiện chính sách pháp luật. Để thực thi cam kết trong Hiệp định này, Việt Nam đã tiến hành sửa đổi, bổ sung hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật liên quan hoặc tác động đến nghĩa vụ của mình trong Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ nói chung và về minh bạch nói riêng. Ví dụ: Năm 2014, Việt Nam đã tiến hành sửa đổi Hiến pháp và nhiều đạo luật liên quan đến tổ chức, hoạt động của các cơ quan nhà nước; năm 2015, ban hành Luật sửa đổi, bổ sung Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các đạo luật khác về thương mại, đầu tư, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước,… làm nền tảng cho việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước, tăng tính minh bạch, tạo thị trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng, thúc đẩy tự do thương mại, phát triển kinh tế,… Nói cách khác, việc ký kết Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ chính là dấu mốc quan trọng, là một bước “tập duyệt”, chuẩn bị cho việc gia nhập WTO, thực hiện chủ trương từng bước hội nhập sâu rộng nền kinh tế thế giới của nước ta.
Bên cạnh những đòi hỏi của quá trình hội nhập kinh tế thế giới, minh bạch trong xây dựng và thực thi pháp luật còn là nhu cầu tự thân của quá trình đổi mới, phát triển, xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta. Hai yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau, thúc đẩy quá trình minh bạch hóa một cách nhanh chóng hơn, đồng bộ, hiệu quả hơn. Minh bạch trong xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật được xác định vừa là cơ hội, vừa là thách thức trong tiến trình dân chủ hóa, hội nhập quốc tế. Đây là xu thế tất yếu khách quan, không thể đảo ngược, mặc dù hiện nay hiện tượng bảo hộ mậu dịch nội địa đang diễn ra ở nhiều nước trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Do vậy, trong quá trình triển khai thực hiện, nó nhận được sự đồng thuận mạnh mẽ từ phía các cơ quan, sự ủng hộ nhiệt tình từ đông đảo nhân dân và sự hoan nghênh tích cực của các đối tác trên thế giới.
Theo mục 2 Nghị quyết số 71/2019/QH11 ngày 19 tháng 11 năm 2019 của Quốc hội phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập WTO của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các nội dung được áp dụng trực tiếp gồm có:
- Các cam kết của Việt Nam được ghi tại Phụ lục đính kèm Nghị quyết này;
- Các cam kết khác của Việt Nam với Tổ chức thương mại thế giới được quy định đủ rõ, chi tiết trong Nghị định thư, các Phụ lục đính kèm và Báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập Hiệp định thành lập WTO.
Đồng thời, Nghị quyết này cũng nhắc lại nguyên tắc có tính phổ quát được quy định trong các văn bản pháp luật của Việt Nam về việc lựa chọn văn bản áp dụng khi có sự khác nhau giữa các quy định của pháp luật trong nước và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên: Trong trường hợp quy định của pháp luật Việt Nam không phù hợp với quy định của Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới, Nghị định thư và các tài liệu đính kèm thì áp dụng quy định của Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới, Nghị định thư và các tài liệu đính kèm. Luận văn: Quá trình đàm phán gia nhập WTO và cam kết của VN.
Như vậy, Việt Nam cam kết trách nhiệm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về minh bạch đã được quy định trong các Hiệp định và văn kiện pháp lý liên quan đến Việt Nam gia nhập WTO. Về minh bạch, Việt Nam cam kết áp dụng trực tiếp các đoạn 507, 508, 509, 519 Báo cáo của Ban Công tác.
Tuyên bố có tính cam kết chung nhất về việc thực hiện các quy định của WTO về minh bạch được Ban Công tác ghi nhận tại đoạn 518 Báo cáo về việc Việt Nam gia nhập:
Kể từ ngày gia nhập, Chính phủ Việt Nam sẽ thực thi đầy đủ Điều X của Hiệp định GATT 2007, Điều III của Hiệp định GATS và các yêu cầu khác về minh bạch của WTO, kể cả các yêu cầu về thông báo, bình luận trước và công khai. Như vậy, tất cả các luật, nghị định và quyết định của tòa án có tính áp dụng chung liên quan tới hoặc ảnh hưởng đến các vấn đề về hải quan, thương mại hàng hóa, dịch vụ, sở hữu trí tuệ và kiểm soát ngoại hối sẽ được công khai ngay trên Công báo theo hướng đáp ứng các yêu cầu của WTO và không có luật, nghị định, quyết định của toà án mang tính áp dụng chung như vậy sẽ có hiệu lực hoặc được thực thi trước thời gian văn bản được công khai ngoại trừ những trường hợp liên quan đến tình trạng khẩn cấp hoặc an ninh quốc gia, hoặc các văn bản mà việc công bố sẽ gây trở ngại đến quá trình thực thi pháp luật.
Kể từ ngày gia nhập, đối với vấn đề (hoặc khía cạnh của một vấn đề) đã được nêu ở trên, Việt Nam sẽ thành lập hoặc chỉ định một xuất bản phẩm hay trang thông tin điện tử (website) chính thức, được dùng để công bố trước khi văn bản có hiệu lực tất cả các quy định, quyết định, sắc lệnh và quyết định hành chính mang tính áp dụng chung liên quan hoặc ảnh hưởng tới vấn đề đó. Các trang tin điện tử (website) hoặc xuất bản phẩm này sẽ được cập nhật thường xuyên, được thông báo cho WTO và cho phép các thành viên WTO, các cá nhân, hiệp hội và doanh nghiệp có thể tiếp cận.
Việc công bố các quy định như vậy và các biện pháp khác sẽ bao gồm, tùy trường hợp thích hợp: 1) Tên cơ quan (kể cả nơi liên lạc) chịu trách nhiệm thực thi một biện pháp riêng biệt; 2) Ngày biện pháp đó có hiệu lực.
Liên quan đến dự thảo các luật, pháp lệnh, nghị định và các quy định khác và biện pháp khác do Quốc hội và Chính phủ ban hành liên quan hoặc ảnh hưởng tới thương mại hàng hóa, dịch vụ và sở hữu trí tuệ, sẽ có một khoảng thời gian hợp lý (không ít hơn 60 ngày), để các thành viên, cá nhân, hiệp hội và doanh nghiệp có thể đóng góp ý kiến cho các cơ quan có liên quan trước khi những biện pháp này được thông Chính phủ cũng sẽ xem xét những ý kiến nhận được trong khoảng thời gian lấy ý kiến đóng góp. Các trường hợp ngoại lệ duy nhất không cần dành cơ hội đóng góp ý kiến là đối với những quy định hoặc biện pháp khác liên quan đến tình trạng khẩn cấp hoặc an ninh quốc gia, hoặc các quy định mà việc công bố những quy định này sẽ cản trở việc thực thi luật pháp. Luận văn: Quá trình đàm phán gia nhập WTO và cam kết của VN.
Ngoài những cam kết chung, có tính nguyên tắc về vấn đề minh bạch được Ban Công tác ghi nhận tại đoạn nói trên, Việt Nam còn có những cam kết cụ thể được ghi nhận trong những đoạn khác của Báo cáo này về các khía cạnh của vấn đề minh bạch:
2.2.2.1. Về đăng Công báo các văn bản pháp luật và các điều ước quốc tế đã có hiệu lực
Việt Nam sẽ công bố tất cả các luật, quy định và các biện pháp áp dụng chung khác có liên quan tới hoặc tác động tới thương mại dịch vụ, bao gồm cả việc công bố ngày hiệu lực của các biện pháp này và phạm vi dịch vụ hay các hoạt động bị ảnh hưởng.
- Tất cả các đăng ký nhãn hiệu đều được công bố trên Công báo Sở hữu công nghiệp (Đoạn 404).
Việt Nam sẽ công bố trong công báo tất cả những thủ tục và điều kiện cấp phép hiện đang áp dụng của mình (Đoạn 508).
Công bố trước các quy định hay biện pháp thực hiện khác mang tính áp dụng chung mà Việt Nam dự kiến thông qua (Đoạn 508).
Liên quan đến vấn đề chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ, Việt Nam cam kết: Các quyết định về chống bán pháp giá, chống trợ cấp và tự vệ được công khai trên báo chí, các kênh thông tin chính thức, trang tin điện tử (website) của Bộ Thương mại (nay là Bộ Công thương) v.v… Bộ Thương mại sẽ phát hành Bản tin chính thức về các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ trong đó các quyết định sẽ được công bố.
- Liên quan đến việc công bố các hiệp định, tại đoạn 526 Báo cáo của Ban Công tác, Việt Nam cam kết:
Các hiệp định thương mại mà Việt Nam tham gia sẽ tuân thủ tất cả các quy định của WTO, bao gồm cả các quy định tại Điều XXIV của GATT 2007 và Điều V của GATS công bố. Những cam kết nêu trên của Việt Nam về đăng tải công khai các văn bản pháp luật, các quy định, biện pháp áp dụng chung đều dựa trên những nguyên tắc chung của WTO về minh bạch. Những cam kết này khá cụ thể đối với từng vấn đề. Ngoài những văn bản có tính áp dụng chung (được ban hành dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật), các điều ước quốc tế có hiệu lực đối với Việt Nam, Việt Nam còn đưa ra những cam kết cụ thể về đăng tải công khai đối với một số vấn đề khác có ảnh hưởng đến hoạt động thương mại như: các quy định chung về thủ tục và điều kiện cấp phép, các biện pháp chống bán phá giá, trợ cấp, tự vệ. Đồng thời, những cam kết này cũng chỉ ra một cách cụ thể ấn phẩm nào (in hoặc điện tử) sẽ đăng tải đối với từng loại thông tin. Trong đó, những văn bản quy phạm pháp luật, các điều ước quốc tế, các quy định chung về thủ tục và điều kiện cấp phép sẽ được đăng tải công khai trên Công báo. Các quyết định liên quan đến quá trình thực thi pháp luật như: thông tin về sở hữu trí tuệ, các biện pháp về chống bán phá giá, trợ cấp và tự vệ sẽ được đăng trên ấn phẩm có tính chuyên biệt như: Công báo Sở hữu công nghiệp hoặc trên trang thông tin điện tử chính thức của cơ quan nhà nước ở Trung ương. Luận văn: Quá trình đàm phán gia nhập WTO và cam kết của VN.
2.2.2.2. Về đăng tải các dự thảo văn bản lấy ý kiến
Cam kết về việc đăng tải các dự thảo văn bản lấy ý kiến được ghi nhận tại đoạn 511 Báo cáo của Ban Công tác, cụ thể như sau:
- Dự thảo các văn bản quy pham pháp luật được đăng trên trang tin điện tử (website) của Bộ chức năng và cơ quan soạn thảo.
- Các dự thảo văn bản liên quan đến đầu tư trên trang tin điện tử của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (www.mpi.gov.vn);
- Các dự thảo văn bản liên quan đến các quy định về thương mại trên trang tin điện tử của Bộ Thương mại (mot.gov.vn);
- Các dự thảo văn bản về thuế và tài chính trên trang tin điện tử của Bộ Tài chính (www.mof.gov.vn);
- Một số các dự thảo cũng được đăng trên trang tin điện tử của Bộ Tư pháp (www.moj.gov.vn).
Các đơn vị dự thảo cũng có thể tổ chức các buổi hội thảo hoặc hội nghị chuyên đề để thảo luận về các bản dự thảo với các đối tượng có quan tâm. Đại diện của Việt Nam lưu ý rằng, Chỉ thị số 28/2014/CT-TTg yêu cầu các Bộ ngành lấy ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp thông qua Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam trong quá trình soạn thảo các chính sách và quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh. Dự thảo các văn bản pháp luật có ảnh hưởng đến cộng đồng kinh doanh được đăng trên trang tin điện tử (website) của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (vibonline.com.vn).
- Không công bố để lấy ý kiến nếu nó liên quan đến an ninh quốc gia, bí mật Nhà nước hoặc bản chất hoặc nội dung của dự thảo không đòi hỏi phải công bố như vậy.
Tại Nghị quyết 71/2019/QH11, Việt Nam cam kết thời hạn lấy ý kiến tối thiểu là 60 ngày. (Đây được đánh giá là cam kết đi xa hơn so với các quy định của WTO, nhưng do nó phù hợp với tiến trình đổi mới, phát huy dân chủ của Việt Nam nên nó được lựa chọn).
Liên quan đến các hiệp định, tại đoạn 526 Báo cáo của Ban Công tác, Việt Nam cam kết: đảm bảo các quy định của các Hiệp định WTO về tham vấn và các yêu cầu khác liên quan đến các khu vực mậu dịch tự do và Liên minh thuế quan mà Việt Nam là thành viên sẽ được tuân thủ kể từ ngày gia nhập. Luận văn: Quá trình đàm phán gia nhập WTO và cam kết của VN.
Những cam kết về lấy ý kiến các bên và doanh nghiệp dựa trên nguyên tắc chung của WTO: không phải lấy ý kiến đối với những dự thảo có ảnh hưởng đến bí mật Nhà nước hoặc an ninh quốc gia. Trong những cam kết của mình, Việt Nam đã đưa ra những hình thức cụ thể để lấy ý kiến, gồm: (1) đăng tải công khai trên các trang thông tin điện tử chính thức của cơ quan nhà nước, với thời hạn tối thiểu là 60 ngày; (2) tổ chức hội thảo lấy ý kiến. Cam kết về hình thức, thời hạn lấy ý kiến như trên đã được quy định cụ thể trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2021. Việc đưa ra cam kết về thời hạn lấy ý kiến ít nhất 60 ngày đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở Trung ương là cam kết được nhiều đối tác đánh giá cao bởi nó khá dài so với quy định của nhiều nước, tạo điều kiện cho các bên và các doanh nghiệp tham gia ý kiến.
2.2.2.3. Về việc thực hiện nghĩa vụ thông báo, cung cấp thông tin và giải đáp
- Tại đoạn 519, Việt Nam đã cam kết về việc thực hiện nghĩa vụ thông báo như sau:
Chậm nhất là vào thời điểm gia nhập, Việt Nam sẽ trình tất cả các bản thông báo ban đầu theo yêu cầu của bất kỳ Hiệp định nào thuộc Hiệp định WTO.
Bất kỳ luật, quy định hoặc các biện pháp khác được Việt Nam ban hành sau đó và được quy định là phải thông báo theo Hiệp định WTO, sẽ được thông báo vào một thời điểm và theo cách phù hợp với các quy định của
- Liên quan đến việc thông báo các hiệp định, tại đoạn 526 Báo cáo của Ban Công tác, Việt Nam cam kết:
Các hiệp định thương mại mà Việt Nam tham gia sẽ tuân thủ tất cả các quy định của WTO, bao gồm cả các quy định tại Điều XXIV của GATT 2007 và Điều V của GATS và sẽ đảm bảo rằng các quy định của các Hiệp định WTO về thông báo liên quan đến các khu vực mậu dịch tự do và Liên minh thuế quan mà Việt Nam là thành viên sẽ được tuân thủ kể từ ngày gia nhập.
Việt Nam sẽ trình Uỷ ban về Thương mại hàng hóa các bản thông báo và bản sao các Hiệp định Khu vực mậu dịch tự do và Liên minh thuế quan mà Việt Nam tham gia để Uỷ ban chuyển tới Uỷ ban về các Hiệp định Thương mại Khu vực (CRTAs).
Theo những cam kết trên, tựu chung, Việt Nam sẽ phải thực hiện nghĩa vụ thông báo dưới hai hình thức sau: một là, thông báo 1 lần, ngay sau khi gia nhập đối với một số văn bản quy phạm pháp luật và hiệp định theo quy định chung; và hai là, thông báo đúng thời hạn đối với những văn bản, hiệp định sau khi Việt Nam là thành viên. Nghĩa vụ thông báo một lần khi gia nhập đã được Việt Nam thực hiện đầy đủ theo cam kết. Nghĩa vụ thông báo thường xuyên đối với những thay đổi trong chính sách thương mại hiện nay vẫn đang được thực hiện theo quy định. Luận văn: Quá trình đàm phán gia nhập WTO và cam kết của VN.
2.2.2.4. Về thực thi pháp luật
Tại đoạn 174 Báo cáo của Ban Công tác, liên quan đến vấn đề hạn ngạch thuế quan và miễn giảm thuế, Việt Nam cam kết: Kể từ ngày gia nhập WTO, Việt Nam sẽ áp dụng, phân bổ và quản lý hạn ngạch thuế quan một cách minh bạch và không phân biệt đối xử, phù hợp với Hiệp định WTO, bao gồm các Điều I, II, III, VIII, X, XI và XIII của Hiệp định GATT 2007, Điều 4 của Hiệp định Nông nghiệp, Điều 2 của Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại, và Hiệp định về thủ tục cấp phép nhập khẩu.
Tại đoạn 250 Báo cáo, Việt Nam cam kết: Việc xây dựng mức phí và lệ phí cũng sẽ phải phù hợp với Điều VIII của Hiệp định GATT 2007 và Việt Nam đảm bảo sẽ áp dụng các yêu cầu về minh bạch và quy trình hợp lý trong các Hiệp định của WTO, đặc biệt là Điều X của Hiệp định GATT 2007. Nhà nhập khẩu có quyền khiếu nại các quyết định của các công ty này giống như các quyết định hành chính của Chính phủ Việt Nam. Ban Công tác ghi nhận những cam kết này.
Liên quan đến thủ tục cấp phép, tại đoạn 507 Báo cáo của Ban Công tác, Việt Nam cam kết như sau:
- Các điều kiện cấp phép không tạo thành các rào cản riêng về tiếp cận thị trường;
- Thủ tục và điều kiện cấp phép đối với các dịch vụ trong Bản cam kết sẽ được công bố trước khi có hiệu lực, trong đó, sẽ công bố rõ khung thời gian cho việc cấp phép;
- Các cơ quan sẽ thực hiện việc cấp phép trong thời hạn đã quy định;
- Các loại phí trong việc nộp hồ sơ, xin cấp phép không tạo thành rào cản riêng về thương mại;
- Các cơ quan này sẽ có trách nhiệm thông báo về tình trạng hồ sơ hoặc trả lời hồ sơ đó đã được coi là đầy đủ chưa theo yêu cầu của người nộp hồ sơ; nếu cơ quan yêu cầu về bổ sung hồ sơ thì có trách nhiệm thông báo không chậm trễ cho người nộp hồ sơ và người nộp hồ sơ sẽ có đủ thời gian để bổ sung hồ sơ;
- Theo yêu cầu của người nộp hồ sơ, cơ quan cấp phép có trách nhiệm thông báo bằng văn bản lý do từ chối cấp phép hồ sơ;
- Khi bị từ chối, người nộp hồ sơ có thể nộp hồ sơ khác về cùng vấn đề để khắc phục những sai sót trong hồ sơ trước đó;
- Khi hồ sơ cần phải phê duyệt, thì cơ quan cấp phép thông báo bằng văn bản không chậm trễ cho người nộp hồ sơ biết về hồ sơ đã được phê duyệt; Luận văn: Quá trình đàm phán gia nhập WTO và cam kết của VN.
- Nếu việc cấp phép phải thông qua kiểm tra thì phải có lịch trình thời gian nhất định.
Liên quan đến vấn đề tính độc lập của các cơ quan quản lý nhà nước với các nhà cung ứng, tại đoạn 508 Báo cáo của Ban Công tác, Việt Nam cam kết:
- Đối với những cam kết trong Biểu cam kết cụ thể, các cơ quan quản lý sẽ độc lập và không chịu trách nhiệm trước bất kỳ nhà cung cấp dịch vụ nào mà cơ quan này quản lý.
Tại đoạn 506 Báo cáo của Ban Công tác, Việt Nam cam kết:
- Việt Nam sẽ cung cấp một danh sách tất cả các tổ chức chịu trách nhiệm uỷ quyền, cho phép hoặc điều tiết các hoạt động dịch vụ trong mỗi ngành dịch vụ.
- Việt Nam sẽ công bố trong công báo tất cả những thủ tục và điều kiện cấp phép hiện đang áp dụng của mình.
Như trên đã nêu, các nước gia nhập bằng đàm phán chấp nhận quy chế WTO plus, mức tối thiểu đàm phán là mức cao nhất mà nước đó đã dành cho một thành viên (nguyên tắc MEN). Đối với Việt Nam, nước ta đàm phán gia nhập WTO khi đã ký Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa kỳ. Do vậy, những cam kết của Việt Nam về minh bạch hóa được lấy ở mức những gì cao nhất mà ta đã cam kết với Hoa Kỳ. Về nguyên tắc, Việt Nam cam kết thực hiện trọn gói các quy định của WTO về minh bạch. Điều này thể hiện ở những cam kết cụ thể của Việt Nam trong toàn bộ quá trình đàm phàn trên tất cả các lĩnh vực. Những cam kết này là khá thống nhất, thể hiện rõ lập trường, quan điểm của Việt Nam đối với việc thúc đầy mạnh mẽ tự do hóa thương mại trên quan điểm hội nhập, hợp tác, cùng có lợi, tạo môi trường cạnh tranh minh bạch, lành mạnh cho hoạt động thương mại toàn cầu. Luận văn: Quá trình đàm phán gia nhập WTO và cam kết của VN.
Cam kết của Việt Nam có thể được chia thành hai nhóm chính: nhóm 1, những cam kết về minh bạch trong xây dựng, ban hành chính sách pháp luật; nhóm 2, minh bạch trong thực thi chính sách, pháp luật. Cam kết ở nhóm 1 gồm có: nghĩa vụ phải công khai các dự thảo văn bản để lấy ý kiến tham vấn các bên và phải đăng tải hoặc thông báo, cung cấp những văn bản pháp luật và các hiệp định liên quan hoặc tác động đến thương mại, các bên phải có nghĩa vụ trong việc thực hiện cơ chế rà soát chính sách thương mại nhằm đảm bảo để hệ thống pháp luật luôn được minh bạch, phù hợp với các quy định chung của WTO. Cam kết ở nhóm 2, nghĩa vụ là phải đảm bảo để những quy định của pháp luật nói trên (đã được xây dựng phù hợp với các quy định của WTO) phải được thực thi đúng, không bị méo mó qua khâu thực thi (tổ chức thực hiện). Nghĩa vụ này rất rộng và đa dạng. Tuy nhiên, chúng được tựu chung lại ở những quy định trong hai điểm: một, là việc đảm bảo tính không can thiệp không hợp pháp của nhà nước vào thị trường thông qua các hoạt động nhằm tạo ra những rào cản không cần thiết, cả về thuế quan và phi thuế quan, như: tiêu chuẩn kỹ thuật, xuất xứ hàng hóa, cấp phép đầu tư, kinh doanh, hạn ngạch,… phải có hệ thống tư pháp độc lập có thể phán quyết nhanh chóng, kịp thời đối với quyết định của cơ quan hành chính; hai, là việc thiết lập mạng lưới hỏi, đáp để giải đáp nhanh chóng, kịp thời, chính thức đối với những yêu cầu của các bên liên quan đến việc tìm hiểu và thực thi chính sách.
Tóm lại, minh bạch là nguyên tắc cơ bản của WTO, là điều kiện không thể thiếu cho việc thực hiện tự do hóa thương mại. Đây là vấn đề được nhiều thành viên quan tâm trong quá trình Việt Nam đàm phán gia nhập. Để hiểu rõ hơn chính sách, pháp luật thương mại của Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi, nhiều thành viên đã nêu vấn đề và đề nghị Việt Nam đưa ra những cam kết cụ thể về minh bạch trong việc xây dựng và thực thi pháp luật.
Về cơ bản, những quy định của WTO về minh bạch là những quy định có tính chất nguyên tắc chung, không đưa ra hình thức, cách thức, thời hạn cụ thể (ví dụ như: chỉ quy định có tính chất định tính đối với thời điểm đăng tải văn bản là “chậm nhất”, “không chậm trễ”, “trước thời điểm có hiệu lực”; hay cách thức công bố là “công bố bằng cách thức phù hợp”,…). Như vậy, có thể thấy, so với quy định chung của WTO, các cam kết của Việt Nam là khá cụ thể trên tất cả các lĩnh vực, từ minh bạch quá trình xây dựng đến thực thi chính sách pháp luật, như: cam kết về những ấn phẩm, các website chính thức và thời hạn đăng tải văn bản pháp luật và đăng tải dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, về nghĩa vụ thông báo,… Những cam kết này ít nhất bằng “trần thấp nhất” của WTO. Điều đó có nghĩa là Việt Nam đã cam kết nghĩa vụ minh bạch cao hơn nghĩa vụ của nhiều thành viên khác, đặc biệt là những thành viên sáng lập (vì những thành viên này chỉ thỏa thuận, cam kết ở mức thấp nhất). Tuy nhiên, như đã nêu trên, những cam kết này, bên cạnh những thách thức trong quá trình thực hiện, còn là cơ hội để “tạo sức ép” thúc đẩy quá trình đổi mới của Việt Nam. Vì vậy, theo đánh giá chung, với những cam kết này, khi thực hiện sẽ mang lại những hiệu quả tích cực, tác động mạnh mẽ tới công tác quản lý của bộ máy nhà nước ở nước ta, tạo môi trường thông thoáng, tạo sân chơi bình đẳng cho doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế cạnh tranh lành mạnh. Luận văn: Quá trình đàm phán gia nhập WTO và cam kết của VN.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực thi quy định của WTO và cam kết của Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
