Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cá nhân hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài và tình hình nghiên cứu
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân là một trong những chế định lớn trong pháp luật dân sự nói chung và pháp luật dân sự Việt Nam nói riêng có lịch sử sớm nhất và có vị trí quan trọng trong pháp luật dân sự, một chế định được hình thành nhằm giải quyết những vấn đề liên quan đến thiệt hại phát sinh không xuất phát từ thực hiện hợp đồng. Tại các Quốc gia khác nhau, qua các giai đoạn lịch sử nhất định thì quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân cũng có sự khác nhau về cách thức, mức độ bồi thường, cách xác định thiệt hại cũng như việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại là không giống nhau. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại không phải là hình phạt mà là nghĩa vụ, bổn phận của người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại nhằm phục hồi, đền bù những tổn thất, mất mát cho người bị thiệt hại. Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, chế định bồi thường thiệt hại được Bộ luật Dân sự 2015 ghi nhận tại chương XX quy định về về “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”. Trong đó, năng lực bồi thường thiệt hại của cá nhân được quy định tại Điều 586 bộ luật dân sự 2015, năng lực này được xuất phát từ năng lực chủ thể của cá nhân khi tham gia vào quan hệ dân sự. Pháp luật dân sự quy định năng lực của cá nhân phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi, tình trạng tài sản và khả năng bồi thường của cá nhân.
Trên thực tế, việc áp dụng quy định của pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân cần xét đến năng lực của cá nhân còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau, do đó mà cũng phát sinh mâu thuẫn chưa thống nhất, gây ra khó khăn khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân. Điều này dẫn đến việc phát sinh nhiều vụ việc do hành vi gây thiệt hại nặng nề ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của các chủ thể trong xã hội. Việc xử lý các vụ việc nêu trên ngoài chế tài về dân sự còn dựa trên căn cứ pháp luật về hình sự và hành chính, tuy nhiên những chế tài này còn yếu, chưa đủ sức răn đe. Để hiểu chính xác cũng như xác định đúng trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân, qua đó phát hiện những bất cập và hoàn thiện, thống nhất các quy định đó, đồng thời tăng tính khả thi của pháp luật, thì việc nghiên cứu các quy định pháp luật về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân là hết sức cần thiết.
Về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân nói chung và năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân nói riêng đã một số lượng không nhỏ các công trình nghiên cứu, từ tiểu luận, bài viết trên các tạp chí, cho đến luận văn, đề tài khoa học, có thể kể đến đó là: Tạp chí luật học (số 10), trang 60-61 của Tiến sĩ Phùng Trung Tập năm 2004, Lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 8/2015, trang 13 – 18: Bình luận và kiến nghị về “thiệt hại khi tính mạng bị xâm phạm” trong chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của Fushihara Hirota; Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 4/2005, trang 61 – 66 của Nguyễn Văn Cương, Chu Thị Hoa, Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; Tạp trí kiểm sát số 19/2016, trang 34 – 39 của Trịnh Tuấn Anh, Bàn về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015; Tạp chí tòa án nhân dân số 9/2013 trang 28 – 31 của Nguyễn Thị Thúy Hằng, Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân có năng lực hành vi dân sự; Sách chuyên khảo của Tiến sĩ Phùng Trung Tập năm 2009 – Nhà xuất bản Hà Nội, Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản, sức khỏe và tính mạng; Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Minh Thư năm 2010, Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn; Luận văn thạc sĩ luật học của Cao Cẩm Nhung năm 2015 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân theo pháp luật Việt Nam; Sách Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng từ quy định của pháp luật đến thực tiễn, Nhà xuất bản Học viện Tư pháp, năm 2012… có thể nhận thấy tài liệu về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng rất đa dạng, tuy nhiên tài liệu về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng vẫn còn hạn chế. Đặc biệt là kể từ khi bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực đến nay chưa có công trình luận văn thạc sĩ nào đi nghiên cứu về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân.
Xuất phát từ lý do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân” để làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Luật dân sự và tố tụng dân sự, hi vọng công trình này sẽ làm giàu thêm cho nội dung nghiên
cứu về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân nói chung và năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân nói riêng. Cùng với đó góp phần hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật Việt Nam về vấn đề này.
2. Phạm vi và mục đích nghiên cứu Luận văn: Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cá nhân.
Đối với đề tài “Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân”, trong khuôn khổ nghiên cứu luận văn thạc sĩ, tôi xin tập trung nghiên cứu dựa vào các căn cứ pháp luật như sau: bộ luật dân sự năm 2005, bộ luật dân sự năm 2015, Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của bộ luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành; Nghị quyết 01/2004/NQ-HĐTP về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành; Thông tư số 173/1972/TANDTC ngày 23/3/1972 hướng dẫn xét xử về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do Tòa án Nhân dân Tối cao ban hành. Để đi nghiên cứu năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân, ta sẽ đi vào từng vấn đề: Đầu tiên là lý luận chung về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân, hệ thống hóa các quy định của pháp luật về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân, dựa vào đó nghiên cứu thực trạng bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân, đánh giá tính bao quát của quy định của pháp luật trong thực tế. Trên cơ sở đó nghiên cứu về nguyên nhân của thực trạng, đồng thời chỉ ra những điểm cần sửa đổi, bổ sung đối với các bất cập còn tồn tại, góp phần vào việc giúp các cơ quan áp dụng pháp luật khi giải quyết các tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân do hành vi trái pháp luật gây ra.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Để có thể đạt được mục đích đã đặt ra, luận văn cần giải quyết các vấn đề:
Thứ nhất, khái quát được nội dung về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân theo pháp luật Việt Nam.
Thứ hai, phân tích các quy định về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân theo pháp luật Việt Nam hiện hành, đồng thời nêu và đánh giá thực trạng thi hành pháp luật về vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân, bất cập và vướng mắc.
Thứ ba, trên cơ sở thực trạng trên, đề xuất các giải pháp để hoàn thiện pháp luật, nhằm đảm bảo tốt việc thực hiện pháp luật liên quan đến việc xác định năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân.
Các quy định về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân còn cần được nghiên cứu để bổ sung kịp thời, đặc biệt là trong tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, nhịp sống ngày càng nhanh với sự đa dạng của hoạt động con người trong những năm trở lại đây. Khẳng định tính tất yếu và cấp bách của việc nghiên cứu đề tài năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân, tạo hành lang pháp lý, bổ sung kịp thời vào những lỗ hổng pháp luật Việt Nam về vấn đề này. Luận văn: Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cá nhân.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, trong quá trình nghiên cứu luận văn, người viết đặt ra các vấn đề về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân, năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân trong mối liên hệ với nhau, không nghiên cứu một cách riêng lẻ, đồng thời có sự so sánh giữa các quy định đã hết hiệu lực với các quy định pháp luật hiện hành. Thông qua phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam.
- Một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu được áp dụng trong luận văn như sau:
Phương pháp phân tích, diễn giải: Những phương pháp này được sử dụng phổ biến trong việc làm rõ các quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân nói chung và năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân nói riêng.
Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh: Những phương pháp này được người viết vận dụng để đưa ra ý kiến nhận xét quy định của pháp luật hiện hành có hợp lý hay không, đồng thời nhìn nhận trong mối tương quan so với quy định liên quan hoặc pháp luật của các nước khác.
Phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch: Được vận dụng để triển khai có hiệu quả các vấn đề liên quan đến năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân, đặc biệt là các kiến nghị hoàn thiện. Cụ thể như trên cơ sở đưa ra những kiến nghị mang tính khái quát người viết dùng phương pháp diễn dịch để làm rõ nội dung của kiến nghị đó.
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Với công trình nghiên cứu của mình trong phạm vi luận văn thạc sĩ, kết quả đề ra của luận văn là làm sáng tỏ lý luận trong khoa học pháp lý về vấn đề năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân: Đưa ra và làm rõ được khái niệm, xây dựng những tiêu chí để xác định được trường hợp cá nhân có năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân, phát hiện được những vướng mắc còn tồn tại, cùng với đó đưa ra phương hướng hoàn thiện pháp luật về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân. Luận văn: Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cá nhân.
Bên cạnh đó, luận văn sẽ góp phần làm đa dạng kho tàng tài liệu tham khảo cho các đối tượng cần tìm hiểu, nghiên cứu về vấn đề bồi thường thiệt hại. Và với những giải pháp hoàn thiện sẽ đề cập đến trong luận văn cũng là cơ sở để giúp ích các cơ quan chức năng có thẩm quyền, trong phạm vi của mình trong hoạt động sửa đổi, bổ sung pháp luật.
6. Cơ cấu luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm ba chương, cụ thể:
- Chương 1: Lý luận chung về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân.
- Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân.
- Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân.
Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG VÀ NĂNG LỰC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG CỦA CÁ NHÂN
1.1. Lý luận chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1.1.1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
BTTHNHĐ là một trong những chế định có sớm nhất của pháp luật dân sự trong lịch sử pháp luật thế giới. Quy định về người phải bồi thường, cách thức bồi thường, thiệt hại phải bồi thường, mức độ bồi thường khác nhau qua các thời kỳ lịch sử, và cũng khác nhau ở mỗi quốc gia, lãnh thổ, tùy thuộc vào quan điểm giai cấp, điều kiện kinh tế – xã hội ở các nước khác nhau. Bồi thường thiệt hại được hiểu là một loại trách nhiệm dân sự theo đó người có hành vi gây ra thiệt hại cho người khác phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra [10].
Về mặt ngôn ngữ học, theo Đại từ điển tiếng Việt, thiệt hại được hiểu là “mất mát, hư hỏng nặng nề về người và của” [32]. Dưới góc độ khoa học pháp lý, Từ điển giải thích thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội: “thiệt hại là tổn thất về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ” [19].
Theo luật thực định, Điều 310 bộ luật dân sự 1995 đưa ra cách tiếp cận khái niệm “trách nhiệm bồi thường thiệt hại” trong quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân, theo đó “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần”. Điều 307 bộ luật dân sự 2005 nhắc đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại, tuy nhiên lại không đưa ra được căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, mà chỉ đề cập đến hai loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần. Tiếp đó bộ luật dân sự năm 2015 quy định tại Điều 360 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ:
Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác. Luận văn: Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cá nhân.
- Cụ thể tại Điều 361 bộ luật dân sự 2015:
Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần. Thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút. Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể.
Như vậy, về mặt khoa học và luật thực định thì theo quan điểm phổ biến hiện nay có thể hiểu thiệt hại bao gồm: Thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần.
Bồi thường thiệt hại được hiểu là “đền bù những tổn thất đã gây ra” [31]. Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác [29, Điều 13]. Về khía cạnh pháp lý, bồi thường là một dạng nghĩa vụ dân sự phát sinh do hành vi gây thiệt hại, hay có thể hiểu là hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành vi gây thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách bù đắp, đền bù tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại. Như vậy có thể định nghĩa bồi thường là việc đền bù những tổn thất, mất mát về vật chất và tinh thần nhằm khắc phục những hậu quả do hành vi gây thiệt hại gây ra.
Tôn trọng pháp luật, tôn trọng những quy tắc chung của xã hội, không xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác là nguyên tắc chung cho mọi chủ thể trong toàn xã hội. Khi chủ thể vi phạm nghĩa vụ pháp lý, gây tổn hại cho chủ thể khác thì chính chủ thể đó phải chịu bất lợi do hành vi của mình gây ra, việc gánh chịu hậu quả bất lợi này chính là việc bồi thường thiệt hại. Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại là trách nhiệm dân sự mà theo đó thì một người phải bù đắp những tổn thất, mất mát về vật chất và tinh thần nhằm khắc phục những hậu quả do hành vi gây thiệt hại trái pháp luật gây ra.
Qua tiến trình phát triển của xã hội, các chế định pháp luật dần thay đổi, trách nhiệm bồi thường thiệt hại không được coi là hình phạt nữa mà là nghĩa vụ của người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại nhằm khôi phục tình trạng tài sản của người bị thiệt hại. Luận văn: Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cá nhân.
BTTHNHĐ là một chế định quan trọng trong luật dân sự. Tại Điều 275 bộ luật dân sự năm 2015 nêu ra một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật”, tương ứng với căn cứ này là các quy định tại chương XX phần thứ ba bộ luật dân sự 2015 về “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”.
Theo đó, hành vi trái pháp luật là căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân. Trách nhiệm lúc này được hiểu là nghĩa vụ của người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Trong trường hợp này, nhà làm luật đã đồng nghĩa trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân với nghĩa vụ phát sinh do hành vi trái pháp luật. Điều 584 bộ luật dân sự 2015 đã xác định sự đồng nghĩa này bằng quy định: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”. Theo quy định của điều luật này khi một người gây thiệt hại cho người khác thì phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Hay nói cách khác giữa các chủ thể này phát sinh một quan hệ pháp luật, trong đó người bị thiệt hại có quyền yêu cầu bên gây thiệt hại bồi thường còn bên gây thiệt hại có nghĩa vụ bồi thường những thiệt hại đã gây ra. Quan hệ pháp luật đó gọi là nghĩa vụ phát sinh do gây thiệt hại hay còn gọi là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân [1].
Bộ luật không đưa ra khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại mà chỉ quy định người có hành vi gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và bồi thường thiệt hại về tinh thần, khi thiệt hại xảy ra. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất thực tế xác định được do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần là khi người có hành vi gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể [29, Điều 361].
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường do hành vi trái pháp luật, và từ nghĩa vụ phải bồi thường lại tạo ra quan hệ nghĩa vụ tương ứng với quy định nghĩa vụ tại Điều 274 bộ luật dân sự 2015:
Nghĩa vụ là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền). Luận văn: Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cá nhân.
Theo đó, người bị thiệt hại (người có quyền) và người gây ra thiệt hại (người có nghĩa vụ) là các bên tham gia vào quan hệ nghĩa vụ này, trong đó bên có quyền cũng như bên có nghĩa vụ có thể có một hoặc nhiều người. Quyền và nghĩa vụ của họ có thể là liên đới, riêng rẽ, hay theo phần tùy điều kiện hoàn cảnh và đối tượng bị xâm hại. Trong quan hệ nghĩa vụ đó, chủ thể tham gia có thể là công dân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác. Các cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng cũng có thể trở thành bên có quyền hoặc bên có nghĩa vụ trong một số trường hợp.
Cơ sở của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do pháp luật quy định xuất phát từ những nguyên tắc chung của Hiến pháp và các nguyên tắc được quy định trong Điều 3 bộ luật dân sự 2015. Tại khoản 4 Điều 3 bộ luật dân sự 2015 quy định: “Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”. Nguyên tắc này buộc các chủ thể không được xâm phạm, nếu xâm phạm sẽ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế với mục đích khắc phục những hậu quả về tài sản cũng như nhân thân do hành vi gây thiệt hại tạo ra. Cơ sở phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do là sự kiện “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” cho các chủ thể khác. Khách thể trong quan hệ nghĩa vụ này luôn được thể hiện dưới dạng hành động, phải thực hiện hành vi bồi thường cho bên bị thiệt hại.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại thể hiện trong nghĩa vụ bồi thường thiệt hại được gọi là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân, để phân biệt với trách nhiệm theo hợp đồng. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng với nghĩa vụ trong hợp đồng. Loại trách nhiệm này có đặc điểm là giữa hai bên chịu trách nhiệm và bên bị thiệt hại có quan hệ hợp đồng, và thiệt hại là do hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trong hợp đồng. Đương nhiên trong trường hợp các bên có quan hệ hợp đồng nhưng thiệt hại xảy ra không liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng thì trách nhiệm này là trách nhiệm ngoài hợp đồng. Trong thực tiễn xét xử, trường hợp gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe dù hai bên có quan hệ hợp đồng hay không có quan hệ hợp đồng thì đều áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân là một hình thức cụ thể của trách nhiệm dân sự, do đó trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân trước hết là một loại trách nhiệm dân sự, chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân luôn mang đến hậu quả bất lợi về tài sản cho người gây thiệt hại. Theo quy định của bộ luật dân sự 2015 khi một người có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại cho người khác thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, thiệt hại là những tổn thất thực tế được tính thành tiền do việc xâm phạm đến danh dự, tính mạng, nhân phẩm, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức. Các bên có thể thỏa thuận hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc. Những tổn thất về tinh thần không thể giá trị được bằng tiền theo nguyên tắc ngang giá trị và không thể phục hồi được. Tuy nhiên, với mục đích an ủi động viên người bị thiệt hại về tinh thần, bộ luật dân sự năm 2015 quy định người bị thiệt hại danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó, đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai, còn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại [29, Điều 34].
Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân là một loại trách nhiệm dân sự bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần, phát sinh khi có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho người khác về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác, mà trước đó giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại không có quan hệ hợp đồng hoặc không có giao kết hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không thuộc hành vi vi phạm hợp đồng.
1.1.2. Ý nghĩa của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Luận văn: Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cá nhân.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại không chỉ nhằm bảo đảm việc đền bù tổn thất đã gây ra mà còn giáo dục mọi người về ý thức tuân thủ pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội. Trong thực tế thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm của cá nhân; Tài sản, danh dự, uy tín của tổ chức do hành vi trái pháp luật của cá nhân diễn ra khá nhiều. Vì vậy, quy định của pháp luật về trách nhiệm dân sự nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân nói riêng là vô cùng cần thiết. Không chỉ có pháp luật Việt Nam mà pháp luật hầu hết các nước trên thế giới đều có chế định này. Khi một hành vi xâm phạm đến tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác thì tùy theo quan hệ bị xâm hại được pháp luật bảo vệ hành vi của người gây thiệt hại có thể phải chịu trách nhiệm hình sự hoặc dân sự. Điều có ý nghĩa thiết thực hơn hết vào lúc này, đối với người có tài sản hoặc quyền nhân thân bị xâm phạm là phải làm thế nào để khắc phục được những hậu quả do hành vi pháp luật gây nên. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân khác với trách nhiệm hình sự ở chỗ nó được áp dụng đối với mọi chủ thể là cá nhân, pháp nhân hay chủ thể khác, trong khi đó trách nhiệm hình sự chỉ áp dụng đối với cá nhân. Mặt khác, hình thức lỗi đóng vai trò quan trọng trong luật hình sự, trong khi luật dân sự lại quy định một nguyên tắc tổng quát về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân mà không quy định những hành vi nào là có lỗi và phải chịu chế tài, trong dân sự, người nào có hành vi xâm phạm đến lợi ích về vật chất hoặc tinh thần của cá nhân, tổ chức khác thì phải bồi thường những thiệt hại đã gây ra. Bởi vậy, bên cạnh những biện pháp hình sự để trừng phạt người có hành vi trái pháp luật, trong nhiều trường hợp phải sử dụng các biện pháp dân sự, được áp dụng một cách độc lập không phụ thuộc vào việc người gây thiệt hại có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không. Để khắc phục hậu quả do hành vi trái pháp luật gây ra, pháp luật Việt Nam quy định các biện pháp trong cả hình sự và dân sự, trong đó bao gồm biện pháp buộc bồi thường thiệt hại. Hậu quả của việc áp dụng biện pháp này luôn mang đến bất lợi về tài sản cho người gây thiệt hại để hạn chế, bù đắp những thiệt hại họ gây ra cho người khác, nhất là hành vi phạm tội với động cơ vụ lợi. Quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân có các ý nghĩa:
Thứ nhất, quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân góp phần bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức một cách triệt để hơn. Trường hợp hành vi trái pháp luật gây thiệt hại về tài sản thì phải khôi phục lại tình trạng tài sản của người bị thiệt hại bằng các biện pháp như: Đền bù giá trị tài sản bị hư hỏng hay mất bằng một số tiền, thay thế tài sản hư hỏng hay mất bằng một tài sản khác, sửa chữa tài sản đã bị hư hỏng để khắc phục giá trị sử dụng của nó như khi chưa bị hư hỏng… Nếu hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân hoặc tổ chức thì phải chịu trách nhiệm bồi thường những chi phí mà người bị thiệt hại bỏ ra để phục hồi sức khỏe và những thu nhập người đó không thu được. Với thiệt hại về tính mạng, phải chịu trách nhiệm bồi thường những chi phí cứu chữa người đó trước khi chết, chi phí mai tang, chi phí cấp dưỡng những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng. Còn đối với thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín thì người gây thiệt hại phải chịu trách nhiệm về chi phí hợp lý để hạn chế, bù đắp thiệt hại. Bên cạnh đó, đối với trường hợp xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân, tổ chức người gây thiệt hại còn bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại hoặc nhân thân người bị thiệt hại bằng một khoản tiền nhất định, đồng thời buộc người gây thiệt hại phải xin lỗi, cải chính công khai. Luận văn: Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cá nhân.
Thứ hai, những quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân có ý nghĩa trong việc giáo dục pháp luật, phòng ngừa những hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác. Bất kỳ ai có hành vi trái pháp luật gây thiệt đều có trách nhiệm bồi thường. Bởi vậy, những quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân sẽ buộc mọi người trước khi hành động đều phải suy nghĩ về hậu quả có thể xảy ra để lựa chọn hành vi xử sự đúng pháp luật. Qua đó góp phần nâng cao nhận thức pháp luật cũng như ý thức chấp hành của công dân.
Thứ ba, bộ luật dân sự 2015 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân khá chi tiết về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nguyên tắc bồi thường thiệt hại, năng lực bồi thường thiệt hại, căn cứ để xác định thiệt hại, thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại, cũng như bồi thường thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể. Điều này tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc để cơ quan bảo vệ pháp luật giải quyết các vấn đề tranh chấp liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân, xác định đúng chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại, giải quyết vụ án một cách nhanh chóng, chính xác bảo đảm nguyên tắc thiệt hại gây ra phải được bồi thường “toàn bộ” và “kịp thời” cho người bị thiệt hại.
1.1.3. Đặc điểm pháp lý của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân là một hình thức cụ thể của trách nhiệm dân sự, do đó trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân trước hết là một loại trách nhiệm dân sự, chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự. Khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì họ phải bồi thường thiệt hại để bảo đảm quyền lợi chính đáng cho bên bị thiệt hại.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại dựa trên hành vi bất hợp pháp còn được gọi là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân. Đây là khái niệm được xây dựng dựa trên hành vi bất hợp pháp, là trách nhiệm luật định đối với chủ thể pháp luật dân sự với tư cách là hậu quả pháp lý được quy thuộc cho chủ thể khi thực hiện hành vi xâm hại quyền tài sản, quyền nhân thân (quyền và lợi ích hợp pháp) của chủ thể khác. Và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân có những đặc điểm pháp lý sau khi phân biệt với trách nhiệm bồi thường thiệt hại dựa trên hợp đồng: (1) Thứ nhất, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân là hậu quả pháp lý mà pháp luật quy định khi thấy rằng chủ thể nên gánh chịu khi vi phạm nghĩa vụ mang tính luật. Việc vi phạm những nghĩa vụ này sẽ dẫn tới trách nhiệm bồi thường thiệt hại [11]. Theo bộ luật dân sự 2015, khi một người có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại cho người khác thì phải chịu trách nhiệm BTTH, thiệt hại là những tổn thất thực tế được tính thành tiền do việc xâm phạm đến danh dự, tính mạng, nhân phẩm, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức. Các bên có thể tự thỏa thuận về hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc. Những tổn thất về tinh thần không thể giá trị được bằng tiền theo nguyên tắc ngang giá trị và không thể phục hồi được. Tuy nhiên, với mục đích an ủi động viên người bị thiệt hại về tinh thần, bộ luật dân sự năm 2015 quy định đối với người bị thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó, đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai, còn có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại [29, Điều 34]. (2) Thứ hai, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân với điều kiện cần là tồn tại hành vi bất hợp pháp (hành vi xâm hại). Do vậy, không có hành vi bất hợp pháp không thể quy trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với chủ thể.
Mục đích hình thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân đó là pháp luật dân sự xem loại trách nhiệm này như một trách nhiệm dân sự đối với những hành vi bất hợp pháp và qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác khi chịu những thiệt hại do hành vi bất hợp pháp đem lại (bù đắp thiệt hại về tài sản và tinh thần). (3) Thứ ba, trong mối tương quan so sánh với trách nhiệm dân sự dựa trên hợp đồng, trách nhiệm dân sự dựa trên hành vi bất hợp pháp (BTTHNHĐ) là trách nhiệm dân sự độc lập, riêng rẽ với đặc tính cưỡng chế mang tính luật rất mạnh. Khác với trách nhiệm dân sự trên hợp đồng với nền tảng pháp lý là sự thỏa thuận giữa các bên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân dựa trên pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân – được quy định tại bộ luật dân sự và tại các luật chuyên ngành liên quan [11].
1.1.4. Điều kiện cấu thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Luận văn: Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cá nhân.
Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân là cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường, người được bồi thường, người phải bồi thường, mức độ bồi thường. Các điều kiện này phải được xem xét trong mối quan hệ biện chứng, thống nhất và đầy đủ. Trên cơ sở khoa học pháp lý và thực tiễn áp dụng pháp luật khi xét xử các vụ án, việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân đều phải dựa vào những điều kiện nhất định, mà nghĩa vụ chứng minh thuộc về nguyên đơn:
Một là, điều kiện về thiệt hại xảy ra: Thiệt hại xảy ra là yếu tố tiên quyết để nhận định xem đó có phải là quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại hay không, bởi mục đích của việc áp dụng chế định này là khôi phục, bù đắp những tổn thất, mất mát cho người bị thiệt hại, vậy không có thiệt hại thì cũng không đặt ra vấn đề bồi thường thiệt hại. Căn cứ vào thiệt hại thực tế, cơ quan áp dụng pháp luật xác định được mức bồi thường thiệt hại, làm sao để tương xứng với tổn thất mà người bị thiệt hại phải chịu đựng, đồng thời ấn định mức bồi thường thiệt hại cho người gây thiệt hại một cách hợp lý.
Hai là, điều kiện về hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật: Mọi cá nhân, tổ chức đều được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác, mọi chủ thể đều phải tôn trọng, không được thực hiện bất cứ hành vi xâm phạm nào đối với các quyền tuyệt đối đó. Điều này xuất phát từ nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được quy định tại khoản 4 Điều 3 bộ luật dân sự 2015: “Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”.
Ba là, điều kiện về mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật: Để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân cần quan tâm đến mối quan hệ nhân quả giữa tác động của hành vi xâm phạm đối với thiệt hại xảy ra trên thực tế. Hành vi xâm phạm đó phải là nguyên nhân của thiệt hại xảy ra và ngược lại, thiệt hại xảy ra là kết quả của hành vi trái pháp luật. Tuy nhiên, để xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra trong nhiều trường hợp rất khó khăn. Vậy nên cần phải xem xét, phân tích tất cả các sự kiện liên quan một cách thận trọng, khách quan và toàn diện. Từ đó mới có thể rút ra được kết luận chính xác về nguyên nhân, xác định đúng trách nhiệm của người gây thiệt hại cũng như mức bồi thường hợp lý. Luận văn: Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cá nhân.
Bốn là, có lỗi của người gây thiệt hại: Khi một người có đủ nhận thức và điều kiện để lựa chọn cách xử sự sao cho phù hợp với pháp luật, tránh thiệt hại cho chủ thể khác nhưng vẫn thực hiện hành vi gây thiệt hại thì người đó bị coi là có lỗi. Như vậy, lỗi là thái độ tâm lý của người có hành vi gây thiệt hại, phản ánh nhận thức của người đó đối với hành vi và hậu quả của hành vi mà họ đã thực hiện, lỗi bao gồm hai hình thức là lỗi cố ý và lỗi vô ý:
Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện hành vi đó và mong muốn hoặc không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.
Vô ý gây thiệt hại là một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại mặc dù phải biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.
Cuối cùng, ngoài bốn điều kiện vừa nêu trên, muốn cho trách nhiệm bồi thường thiệt hại được phát sinh trên thực tế thì không thể thiếu điều kiện về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân. Bởi chủ thể có hành vi gây thiệt hại có thể là bất cứ ai, nhưng không phải mọi chủ thể gây thiệt hại đó đều có năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân. Vì thế, việc xác định điều kiện về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân là một căn cứ để yêu cầu bồi thường thiệt hại, qua đó bảo đảm quyền lợi chính đáng cho người bị thiệt hại. Đây cũng chính là chế định mà trong những phần tiếp theo của luận văn này tác giả sẽ đi phân tích và làm rõ.
1.2. Lý luận chung về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân Luận văn: Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cá nhân.
1.2.1 Khái niệm về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân
Theo đại từ điển Tiếng Việt “năng lực là khả năng đủ để thực hiện tốt một công việc hay những điều kiện đủ để làm một việc gì” [31]. Về mặt thuật ngữ pháp lý, từ điển luật học định nghĩa: Năng lực pháp luật của cá nhân là khả năng có các quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự, năng lực pháp luật dâ sự bao gồm quyền nhân thân không gắn với tài sản, quyền nhân thân gắn liền với tài sản, các quyền tài sản, quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó [10]. Cá nhân có năng lực pháp luật từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết. Năng lực hành vi dân sự được pháp luật quy định căn cứ vào: Độ tuổi, bởi đến một độ tuổi nhất định, một người mới có đủ nhận thức để quyết định về hành vi của mình. Vì đó mà bộ luật dân sự quy định người thành niên là người có đủ năng lực hành vi dân sự trừ trường hợp bị mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hay hạn chế năng lực hành vi dân sự [29, Điều 20]. Nếu là người chưa thành niên thì tùy theo độ tuổi mà họ là người không có năng lực hành vi hoặc chỉ có năng lực hành vi một phần.
Hiện nay, bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật khác chưa đưa ra khái niệm như thế nào là năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân mà chỉ quy định cụ thể các mức độ năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân căn cứ vào các tiêu chí độ tuổi, tình trạng tài sản, khả năng nhận thức của cá nhân. Bằng việc phân tích trên đây ta có thể đưa ra khái niệm: Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân là khả năng của cá nhân đó bằng hành vi của mình bù đắp những tổn thất, mất mát về vật chất và tinh thần nhằm khắc phục những hậu quả do hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại.
1.2.2. Ý nghĩa của năng lực bồi thường của cá nhân trong pháp luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân Luận văn: Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cá nhân.
Quy định của pháp luật về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân không những có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn bởi khi phát sinh một quan hệ bồi thường thiệt hại thì việc xác định cá nhân gây thiệt hại và việc xác định trách nhiệm bồi thường này thuộc về ai luôn luôn là câu hỏi phải đặt ra để giải quyết tranh chấp. Căn cứ vào năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân được pháp luật quy định để xác định cá nhân nào phải tự chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do chính hành vi trái pháp luật của mình gây ra, cá nhân nào không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại mặc dù có hành vi gây thiệt hại, và xác định chủ thể có trách nhiệm bồi thường trong những trường hợp đó. bộ luật dân sự năm 2015 quy định bồi thường thiệt hại trong các trường hợp cụ thể: Bồi thường thiệt hại phát sinh trong trường hợp tài sản gây ra thiệt hại; Bồi thường thiệt hại phát sinh do hành vi trái pháp luật của con người gây thiệt hại. Việc quy định năng lực bồi thường thiệt hại là căn cứ pháp lý để Tòa án có thể xác định rõ chủ thể nào có trách nhiệm bồi thường thiệt hại, qua đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại. Pháp luật chỉ có quy định cụ thể về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân mà không có quy định cụ thể về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của pháp nhân và các tổ chức khác. Điều này có nghĩa là pháp luật thừa nhận pháp nhân và các tổ chức khác có năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân.
Ngoài ra, quy định về năng lực bồi thường thiệt hại còn dựa vào độ tuổi, khả năng nhận thức làm chủ hành vi của cá nhân, đây là căn cứ để xác định đúng tư cách chủ thể trong tố tụng dân sự đối với các trường hợp cụ thể. Đối với cá nhân có hành vi gây thiệt hại từ đủ mười tám tuổi trở lên và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ thì họ là bị đơn dân sự trước Tòa án, chính họ phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Trong thực tiễn xét xử những cá nhân từ đủ mười tám tuổi trở lên có hành vi gây thiệt hại chưa có tài sản, chưa có thu nhập, đang sống phụ thuộc vào cha mẹ thì Tòa án vẫn xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với họ và trong quá trình giải quyết vụ án vẫn thừa nhận sự tự nguyện của cha, mẹ người gây thiệt hại bồi thường thay cho con, song về mặt luật pháp họ không phải là chủ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Đối với cá nhân có hành vi gây thiệt hại là người chưa thành niên từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi thì khi xét về về mặt tố tụng, họ có tư cách là bị đơn trong vụ án dân sự, chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của mình gây ra. Tuy nhiên, pháp luật xác định trách nhiệm bồi thường của cha, mẹ, người giám hộ là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Đối với cá nhân chưa đủ mười lăm tuổi có hành vi gây thiệt hại thì họ không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại về hành vi của mình. Trường hợp này cha, mẹ của người gây thiệt hại tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn dân sự, chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại thay cho hành vi gây thiệt hại của con mình. Đối với những cá nhân mất năng lực hành vi dân sự thì cá nhân, tổ chức giám hộ là bị đơn dân sự.
Như vậy, quy định về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân đã tạo ra căn cứ pháp lý để bảo vệ lợi ích và nhân thân của người bị thiệt hại. Với những quy định về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân người bị hại có thể xác định đúng chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại để làm đơn yêu cầu Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, đảm bảo nguyên tắc bồi thường thiệt hại kịp thời và khắc phục toàn bộ thiệt hại đã xảy ra, góp phần tăng ý nghĩa thực tiễn và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Luận văn: Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cá nhân.
1.2.3. Điều kiện về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân
Người gây thiệt hại có thể là bất cứ chủ thể nào: Cá nhân, pháp nhân, hay tổ chức khác… tuy nhiên chỉ những chủ thể có đủ khả năng bồi thường mới phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, và cũng chính họ phải là người tham gia vào quan hệ nghĩa vụ, dù hành vi gây ra thiệt hại đó do họ thực hiện hay không. bộ luật dân sự năm 2015 có quy định về năng lực bồi thường thiệt hại của cá nhân tại Điều 586, song lại không có quy định về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của các chủ thể khác. Do vậy, có thể hiểu rằng pháp nhân và các tổ chức khác mặc nhiên không có năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân. Pháp nhân, các tổ chức khác có trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi thiệt hại xảy ra do người của pháp nhân, tổ chức khác gây ra trong khi thực hiện công việc được giao. Sau đó, pháp nhân, tổ chức khác xem xét người của pháp nhân gây thiệt hại có lỗi hay không có lỗi trong việc gây thiệt hại, để tiến hành việc hoàn trả khoản tiền bồi thường của người gây thiệt hại cho mình.
Trong thực tiễn cuộc sống, khi một chủ thể gây ra thiệt hại cho người khác thì chủ thể đó phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với những thiệt hại do mình gây ra trừ trường hợp pháp luật quy định không phải chịu trách nhiệm bồi thường. Song, khi xét về mặt pháp lý chủ thể gây thiệt hại có thể là bất cứ ai nhưng không phải ai cũng phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Bởi vậy, để đảm bảo nguyên tắc thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời cho người bị thiệt hại, khi một thiệt hại xảy ra thì vấn đề quan trọng đầu tiên phải làm là việc xác định ai là người phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Trên cơ sở khoa học pháp lý và kinh nghiệm từ thực tiễn áp dụng pháp luật để xét xử các vụ án, cũng như xuất phát từ năng lực chủ thể của cá nhân khi tham gia vào quan hệ dân sự, bộ luật dân sự 2015 đã quy định khi phải xác định năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân, đều phải căn cứ vào những yếu tố nhất định: Điều kiện về độ tuổi; Điều kiện về khả năng nhận thức; Tình tạng tài sản. Đây là các điều kiện nhằm xác định năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân, và cũng là những nội dung chủ yếu của chế định pháp luật này.
- Điều kiện về độ tuổi Luận văn: Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cá nhân.
Độ tuổi là yếu tố đầu tiên xuất phát từ yêu cầu về năng lực chủ thể của cá nhân khi tham gia bất kỳ một quan hệ pháp luật nào. Để trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự thì cá nhân phải có đầy đủ năng lực chủ thể, bao gồm cả năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự như đã phân tích ở trên.
Theo quy định tại Điều 586 bộ luật dân sự năm 2015 thì người từ đủ mười tám tuổi trở lên có năng lực hành vi đầy đủ (không rơi vào các trường hợp mất hay hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi), có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại thì phải tự bồi thường thiệt hại do họ gây ra, điều này xuất phát từ khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự [29, Điều 19]. Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp người này gây ra thiệt hại trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý được quy định tại Điều 599 bộ luật dân sự 2015. Đối với người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình. Việc pháp luật quy định độ tuổi là căn cứ của năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân là hợp lý, bởi khi cá nhân đạt đến một độ tuổi nhất định cùng với một trình độ nhận thức nhất định thì lúc này họ mới có khả năng chịu trách nhiệm dân sự nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói riêng.
- Khả năng nhận thức của cá nhân
Khả năng nhận thức của của người gây thiệt hại được đánh giá dựa trên độ tuổi của người đó, là căn cứ để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân cũng như năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân. Khả năng nhận thức của mỗi cá nhân là cơ sở quan trọng để xác định năng lực bồi thường khi cá nhân có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại và nó có mối quan hệ biện chứng với năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân. Nhận thức và độ tuổi là hai yếu tố cấu thành nên năng lực hành vi dân sự của chủ thể. Pháp luật quy định độ tuổi là căn cứ để xác định mức độ năng lực hành vi dân sự, bởi chỉ khi con người đạt tới một độ tuổi nhất định, tâm sinh lý cùng với nhận thức của họ mới được phát triển đầy đủ. Tuy vậy lại có những trường hợp mà khi chủ thể đã đạt đến độ tuổi nhất định nhưng rơi vào trạng thái khó khăn hoặc không có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình, pháp luật quy định đây là trường hợp bị mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức làm chủ hành.
Nguyên nhân có thể là do người đó bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác dẫn đến hậu quả không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình. Dựa vào kết quả giám định pháp y tâm thần, Tòa án tuyên bố bằng quyết định có hiệu thực thì họ bị coi là người mất năng lực hành vi và họ không thể trở thành chủ thể có thể đứng ra gánh vác trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân dù thiệt hại đó là do họ gây ra. Tương tự đối với trường hợp hạn chế năng lực hành vi dân sự và có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cũng như vậy. Trên thực tế những người rơi vào các trường hợp vừa đề cập cũng không thể chịu trách nhiệm do chính hành vi gây thiệt hại của mình gây ra, bởi vậy khả năng nhận thức là một căn cứ khoa học và biện chứng phù hợp với bản chất của pháp luật quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân, là điều kiện hạt nhân không thể không xét đến khi xác định năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân.
- Tình trạng tài sản Luận văn: Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cá nhân.
Có quan điểm cho rằng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân dựa trên khả năng tạo dựng tài sản của cá nhân là không chính xác, vì bất kỳ cá nhân nào khi gây ra thiệt hại cho người khác đều phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã xảy ra mà không phụ thuộc vào việc cá nhân đó có tài sản hay không. Tuy nhiên, quan điểm đó lại cũng hợp lý nếu xét trong trường hợp trách nhiệm bồi thường sẽ do chính cá nhân đã gây thiệt hại gánh chịu. Còn đối với trường hợp thiệt hại do người chưa thành niên, người mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây ra thì họ không phải gánh chịu hoặc không phải gánh chịu toàn bộ thiệt hại mà do cha mẹ hoặc người giám hộ (khi không chứng minh được mình không có lỗi) gánh chịu. Do đó, pháp luật căn cứ vào trình trạng tài sản của cá nhân để quy định năng lực bồi thường thiệt hại. Theo đó, người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường. Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 bộ luật dân sự 2015 (người này gây ra thiệt hại trong thời gian trường học, bệnh viện, pháp nhân khác trực tiếp quản lý). Đối với người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình. Như vậy có thể thấy tình trạng tài sản của cá nhân là điều kiện để xác định năng lực bồi thường thiệt hại.
1.2.4. Hậu quả pháp lý khi xác định năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân Luận văn: Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cá nhân.
Từ các phân tích trên đây, có thể thấy khi một cá nhân gây thiệt hại thì tùy thuộc vào các điều kiện về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân được đáp ứng mà sẽ xác định được trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân tương ứng với từng trường hợp cụ thể. Căn cứ vào mức độ năng lực hành vi dân sự, tình trạng tài sản, khả năng bồi thường của cá nhân để xác định năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân. Mức độ bồi thường thiệt hại được xác định căn cứ vào các điều kiện về độ tuổi, trí tuệ, nhận thức, khả năng tạo dựng tài sản của cá nhân theo quy định của pháp luật dân sự.
Bản chất của việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân là khôi phục, bù đắp những tổn thất, thiệt hại cho người bị thiệt hại thông qua trách nhiệm tài sản, vì vậy mà việc xác định chủ thể có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại là yếu tố quan trọng đầu tiên cần phải xem xét. bộ luật dân sự quy định khá cụ thể về chế định này để bảo đảm quyền và lợi ích của người bị thiệt hại. Theo đó, người đã thành niên có đầy đủ năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân sẽ phải tự bồi thường thiệt hại; Còn nếu người gây thiệt hại là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi,… thì trách nhiệm bồi thường không hoàn toàn thuộc về đối tượng này, mà thuộc về người khác như cha, mẹ, người giám hộ, bệnh viện, trường học, tổ chức khác… Việc xác định được chủ thể bồi thường thiệt hại vừa giúp giải quyết nhanh chóng, chính xác tranh chấp và khắc phục tổn thất cho người bị thiệt hại sớm nhất, vừa là căn cứ để xác định tư cách chủ thể trong tố tụng dân sự, ai sẽ là bị đơn dân sự phải bồi thường theo trách nhiệm dân sự trước Tòa án.
Như vậy, sẽ có khó khăn để giải quyết đối với trường hợp người không có năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân, nếu điều kiện về tài sản của chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân chỉ đáp ứng được một phần, hoặc không đáp ứng được yêu cầu bồi thường thiệt hại, lúc này người bị thiệt hại sẽ phải chịu rủi ro.
1.3. Quy định của một số nước về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân Luận văn: Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cá nhân.
BTTHNHĐ nói chung và năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân nói riêng là một chế định lịch sử ra đời khá sớm. Ở mỗi Quốc gia khác nhau, vào những giai đoạn lịch sử và điều kiện kinh tế, tình hình chính trị – xã hội khác nhau mà các quy định của pháp luật về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân cũng khác nhau. Các Quốc gia luôn tiếp thu, học hỏi chọn lọc những kinh nghiệm với nhau, tiêu biểu phải kể đến là pháp luật của Nhật Bản, Pháp và Đức, nơi mà quy định pháp luật có tầm ảnh hưởng bậc nhất đến pháp luật Việt Nam, trong đó có bao gồm các quy định về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân.
1.3.1. Pháp luật Nhật Bản về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân
Đất nước “Mặt trời mọc” là một trong những Quốc gia Châu Á có nền kinh tế phát triển vượt bậc. Ở bất kỳ một quốc gia nào đều không thể tránh khỏi những xung đột giữa các chủ thể, hành vi xâm phạm đến quyền, lợi ích của người khác vì lợi ích của bản thân cũng là điều luôn tồn tại. Để điều chỉnh các quan hệ xã hội, cũng như các quan hệ pháp luật phát sinh trong thực tiễn, Nhật Bản chú trọng vào cách thức hoạt động của hệ thống cơ quan áp dụng pháp luật và xây dựng các văn bản pháp quy chuẩn mực.
BTTHNHĐ trong luật của Nhật Bản được quy định tại Chương V về hành vi không hợp pháp: “Một người do cố ý hoặc do vô ý mà vi phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác thì phải bồi thường thiệt hại phát sinh từ việc vi phạm ấy” [22, Điều 709]. Quy định này chỉ ra cơ sở chịu trách nhiệm bồi thường khi có hành vi vi phạm. Điều này tương đồng với pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của nhiều quốc gia khác khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân. Pháp luật Nhật bản quy định một số trường hợp về năng lực bồi thường thiệt hại như sau:
Trường hợp người chưa thành niên gây thiệt hại cho người khác được quy định: “Người chưa thành niên trong trường hợp gây thiệt hại cho người khác, không phải chịu trách nhiệm bồi thường về hành vi đó khi không được trang bị đầy đủ năng lực trí tuệ để lý giải được trách nhiệm hành vi của bản thân” [22, Điều 712]. Vậy, theo pháp luật dân sự của Nhật Bản, khi người chưa thành niên có năng lực trí tuệ lý giải được trách nhiệm phát sinh từ hành vi mình thực hiện thì họ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân và căn cứ pháp lý đó là cá nhân phải chịu trách nhiệm bởi hành động của chính mình bắt nguồn từ Luật La Mã (Self-Responsibility). Mặt khác, dưới góc độ khoa học pháp lý, cũng như luật thực định thì đối với trường hợp này không cấu thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại thay thế của cha, mẹ [12, tr.2].
Trường hợp một người ở trong trạng thái suy nhược về tinh thần đã gây thiệt hại cho người khác thì không chịu trách nhiệm về thiệt hại đã gây ra. Tuy nhiên, điều này không được áp dụng nếu người đó tạo ra cho mình tình trạng suy nhược tạm thời hoặc do cố ý hoặc do cẩu thả. Luận văn: Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cá nhân.
Trường hợp người có nghĩa vụ pháp lý giám sát một người không có năng lực hành vi, trong những trường hợp khi người này không chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại (Như người vị thành niên, người ở trong trạng thái suy nhược về tinh thần), thì người giám sát có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại mà người được giám sát gây ra cho người khác. Song, điều này không được áp dụng nếu người có nghĩa vụ giám sát đã không lơ là nghĩa vụ của mình. Người giám sát người không có năng lực hành vi thay cho người có nghĩa vụ giám sát cũng phải gánh vác những trách nhiệm nói trên. Về vấn đề người giám sát thay thế người có nghĩa vụ giám sát này, pháp luật Việt Nam hiện vẫn chưa có quy định.
1.3.2. Pháp luật Cộng hòa Pháp về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân
Việt Nam có thời gian chịu sự đô hộ của thực dân Pháp khá lâu, bởi vậy mà sự ảnh hưởng của Pháp từ xưa đến nay luôn tồn tại ở nhiều phương diện, nhiều lĩnh vực khác nhau, từ văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật, …đến chính sách pháp luật. Trên cơ sở tiếp thu và chọn lọc những điểm tích cực, phù hợp của Bộ luật Dân sự Napoleon 1804 của Pháp, bộ luật dân sự của Việt Nam được ban hành mang đậm giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, đồng thời học hỏi, đúc kết những tinh hoa của bộ luật dân sự Pháp.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong luật dân sự Pháp được gọi là trách nhiệm dân sự do gây thiệt hại (responsabilité civile délictuelle). Khi Napoleon Bonaparte lên ngôi vào năm 1799, gần như ngay lập tức, ông đã quan tâm đến vấn đề lập pháp, nhất là trong lĩnh vực luật dân sự. Bộ luật Dân sự Pháp 1804 ra đời với niềm tự hào to lớn: “Vòng nguyệt quế từ những chiến thắng của ta có thể bị lãng quên… nhưng Bộ luật Dân sự của ta, sẽ chẳng có gì có thể xóa nhòa”. Trong số 2281 điều luật của bộ pháp điển hóa vĩ đại đó, chỉ có 5 (năm) điều, từ điều 1382 đến điều 1386 được dành cho chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng [13, tr. 29]. Giống như các hệ thống pháp luật khác, luật dân sự pháp quy định rằng quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại là một yếu tố cấu thành trách nhiệm dân sự. Bộ luật dân sự Pháp quy định, “Bất cứ ai làm việc gì gây thiệt cho người khác thì người đó phải bồi thường thiệt hại do lỗi của mình gây ra” [14, Điều 1382]. Có thể coi đây là quy tắc chung trong bồi thường thiệt hại, khi một người do lỗi của mình mà gây thiệt hại cho người khác thì người đó phải chịu trách nhiệm bồi thường những thiệt hại đã phát sinh. Điều luật với phạm vi khá rộng khi quy định bất cứ ai làm việc gì, gây thiệt hại do lỗi của mình thì đều phải bồi thường thiệt hại, mà không nói rõ lỗi trong trường hợp này là lỗi vô ý hay cố ý, tuy nhiên vấn đề này được quy định rõ hơn tại Điều 1383: “Mỗi người chịu trách nhiệm về thiệt hại do bản thân đã gây ra, không những bởi việc làm mà còn bởi sự cẩu thả và thiếu thận trọng của mình” [14]. Theo đó, lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm cả lỗi cố ý và vô ý, và việc không hành động khi cần thiết phải hành động có thể là yếu tố làm phát sinh thiệt hại, vì vậy kéo theo trách nhiệm dân sự. So với lỗi trong luật dân sự Việt Nam, lỗi trong pháp luật dân sự Pháp bao hàm ý nghĩa rộng hơn, không những chỉ trạng thái tâm lý của con người đối với hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó, mà còn chỉ chính hành vi có lỗi. Với ý nghĩa đó, khái niệm lỗi dân sự trong luật của Pháp tương đương với cả hai khái niệm là lỗi và hành vi trái pháp luật – hai trong những yếu tố làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân theo pháp luật Việt Nam [16, tr. 64].
Luật dân sự Pháp cũng có quy định chỉ những người chưa thành niên chưa đủ mười sáu tuổi hoặc chưa kết hôn mới được miễn trách nhiệm dân sự, và trong trường hợp này cha, mẹ hoặc người có trách nhiệm trông nom giám sát phải bồi thường thiệt hại: Cha, mẹ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cùng với người con nếu người con có lỗi gây ra thiệt hại đang sống với họ vào thời điểm gây ra thiệt hại. Theo đó, lỗi của cha, mẹ trong trường hợp này là lỗi suy đoán [14].
Có thể thấy, quy định về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân trong các Bộ luật của Việt Nam đều có nét tương đồng bộ luật dân sự Pháp, bởi các quy định trên là hoàn toàn phù hợp, đảm bảo tính công bằng, khách quan trong quá trình xác định về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân.
1.3.3. Pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân Luận văn: Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cá nhân.
Tùy thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế – chính trị – xã hội ở từng Quốc gia mà Nhà nước đưa ra những chính sách pháp luật phù hợp. Pháp luật dân sự Đức quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khá rõ ràng, chi tiết tại phần các hành vi trái phép từ Điều 823 đến Điều 853. Liên quan đến năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân tại bộ luật dân sự Đức so với pháp luật dân sự Việt Nam cũng có sự giao thoa, thể hiện ở một số nội dung sau đây:
BLDS Đức quy định: Người có lỗi cố ý hoặc vô ý gây xâm phạm trái pháp luật đến tính mạng, thân thể, sức khỏe, tự do, tài sản hoặc một quyền khác của người khác thì có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại phát sinh cho người kia [14, Điều 823]. Và Người cố ý gây thiệt hại cho người khác theo một cách thức vi phạm truyền thống đạo đức có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho người kia [14, Điều 826].
Về năng lực bồi thường thiệt hại của cá nhân, tại Điều 828 bộ luật dân sự Đức có quy định: Người dưới 7 tuổi không chịu trách nhiệm về tổn thất gây ra cho người khác. Người trên 7 tuổi đến dưới 10 tuổi không phải chịu trách nhiệm đối với tổn thất gây ra cho người khác đối với các sự cố liên quan đến ô tô, đường sắt, đường điện hoặc tàu trên cao, trừ trường hợp người này gây ra việc xâm hại do cố ý. Người dưới 18 tuổi, nếu trách nhiệm của họ không được loại trừ theo quy định vừa nêu trên thì không phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại gây ra cho người khác nếu khi thực hiện hành vi gây thiệt hại người đó không có năng lực biện giải cần thiết để nhận thức về trách nhiệm khi thực hiện hành vi gây hại [14, Điều 828].
Trường hợp người trong tình trạng vô thức hoặc trong tình trạng rối loạn tâm thần bệnh lý làm không thể hình thành ý chí tự do gây ra thiệt hại cho một người khác thì không chịu trách nhiệm đối với thiệt hại đó. Nếu người đó dùng đồ uống có cồn hoặc các loại tương tự mà tạm thời rơi vào tình trạng dạng như vậy thì chịu trách nhiệm đối với thiệt hại gây ra trái pháp luật trong tình trạng này như thế người đó gây ra do lỗi vô ý. Trách nhiệm không phát sinh nếu người đó không có lỗi khi rơi vào tình trạng đó [14, Điều 827].
Có thể thấy pháp luật Đức quy định về các điều kiện để xác định năng lực bồi thường thiệt hại có sự khác biệt với pháp luật Việt Nam về độ tuổi, nhận thức, điều này là phù hợp với sự phát triển về kinh tế – xã hội cũng như điều kiện phát triển, khả năng nhận thức, tâm sinh lý của con người ở Quốc gia này.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cá nhân.
Với nội dung Chương 1: Lý luận chung về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân, đã làm rõ những nội dung chính sau:
Thứ nhất, khái quát được về khái niệm, ý nghĩa, đặc điểm, điều kiện cấu thành của trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân.
Thứ hai, phân tích về những nội dung pháp lý chủ yếu về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân. Tác giả đưa ra khái niệm về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân, từ đó làm rõ khái niệm, điều kiện cũng như ý nghĩa lý luận, hậu quả pháp lý của chế định này.
Thứ ba, tác giả đã nêu ra được một số nét tương đồng cũng như những điểm khác biệt về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân trong pháp luật Nhật Bản, Pháp, Đức so với pháp luật Việt Nam.
Cơ sở lý luận về năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng của cá nhân của cá nhân là tiền đề để làm rõ những nội dung sẽ được phân tích ở chương tiếp theo. Luận văn: Năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cá nhân.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Hoàn thiện năng lực bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng