Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại điện tử theo pháp luật Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1 GIAO KẾT HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
2.1.1 Đề nghị giao kết hợp đồng thương mại điện tử
Nếu như ở hợp đồng truyền thống thì việc giao kết được thực hiện một cách trực tiếp giữa các chủ thể tham gia. Khi đó, ý định về việc ràng buộc quyền lợi và nghĩa vụ giữa các bên được cụ thể hoá bằng những điều khoản trong hợp đồng. Thông qua đó, ý chí cũng như sự tự nguyện của các chủ thể tham gia được thể hiện một cách minh thị thông qua chữ ký và/hoặc con dấu pháp nhân của doanh nghiệp. Tuy nhiên, việc thể hiện ý chí, sự tự nguyện tham gia cũng như giao kết một hợp đồng điện tử lại mang cách thức hoàn toàn khác, được thực hiện thông qua đề nghị giao kết và chấp nhận đề nghị giao kết – một trong những chế định cơ bản và đặc trưng nhất của pháp luật hợp đồng.
Theo đó, Điều 386.1 BLDS 2015 quy định: “Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công c húng” và Điều 36 Luật GDĐT 2005 quy định: “Trong giao kết hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận giao kết hợp đồng có thể được thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu”. Nhận thấy, do tính chất phi biên giới và phi thời gian trong thương mại điện tử dẫn đến cách thức giao kết hợp đồng điện tử được thực hiện thông qua đề nghị và chấp nhận đề nghị. Theo đó, một bên có thể khởi tạo đề nghị và gởi đến bên được đề nghị với mong muốn giao kết hợp đồng trong bất kỳ thời gian nào của ngày, và ở bất kỳ vị trí nào thuộc quốc gia hoặc vùng lãnh thổ trên thế giới, bằng việc sử dụng tính năng lưu trữ và truyền tin của thông điệp dữ liệu điện tử cùng sự góp mặt của phương tiện điện tử như: máy tính, máy tính bảng, điện thoại di động,… có kết nối mạng internet. Pháp luật hợp đồng hiện hành quy định 02 điều kiện để một lời đề nghị giao kết tuân thủ quy định về mặt hình thức là: (i) Thể hiện rõ ý định giao kết và chịu sự ràng buộc; (ii) Gởi đến bên được đề nghị xác định hoặc đến công chúng.
Đối với việc thể hiện rõ ý định giao kết và chịu sự ràng buộc. Theo đó, không có bất kỳ quy định nào cũng như không có bất kỳ pháp luật quốc gia nào có thể định nghĩa được thế nào là sự thể hiện ý định giao kết, nhưng thông qua những thói quen, tập quán thương mại cũng như thiện chí của bên đề nghị mà cơ quan tài phán sẽ xem xét, liệu một bên có ý định giao kết, tham gia vào hợp đồng không hay chỉ là một lời chào mời, lời quảng cáo thông thường. Thông qua đó, một số yếu tố để xác định ý chí mong muốn giao kết hợp đồng là nội dung được thể hiện trong đề nghị hoặc thói quen giao kết hợp đồng. Chẳng hạn đối với đề nghị trong hợp đồng mua bán hàng hoá thương mại điện tử thì đề nghị phải thể hiện được một số nội dung chủ yếu như: loại hàng hoá, số lượng, giá cả, phương thức thanh toán và địa điểm giao hàng; đối với hợp đồng dịch vụ thì bao gồm một số nội dung chủ yếu như: công việc thực hiện, giá dịch vụ, phương thức thanh toán, thời hạn hoàn thành công việc,… Thể hiện rõ ý định giao kết còn được thực hiện không phải bằng một lời hứa, một lời chào mời đơn thuần, mà việc thể hiện ý định giao kết còn tồn tại dưới dạng thức, nếu bên còn lại chấp nhận đề nghị hợp đồng thì một số quyền, nghĩa vụ rõ ràng trong đề nghị được trực tiếp áp dụng và mang tính chất đối ứng lẫn nhau. Ngoài ra, một yếu tố khác cũng được xem xét đến như địa chỉ nhận đề nghị của bên được đề nghị (địa chỉ email), nhằm xác định ý định chịu sự ràng buộc với người đó và lý giải tại sao không phải là một chủ thể nào khác mà là địa chỉ của bên nhận đề nghị – đáp ứng được điều kiện về bên đề nghị xác định ở tiêu chí thứ hai của quy định pháp luật hợp đồng. Luận văn: Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.
Một vấn đề khác có liên quan đến ý định giao kết và chịu sự ràng buộc đó chính là đề nghị được thực hiện thông qua các kênh bán hàng trực tuyến – một trong những dạng thức thương mại điện tử đang được áp dụng phổ biến và gần gũi nhất với người tiêu dùng trên thị trường hiện nay. Theo đó, có sự phân biệt giữa một thông báo về đề nghị giao kết hợp đồng và lời đề nghị giao kết hợp đồng. Dựa vào những đặc trưng của một lời đề nghị giao kết như đã phân tích bên trên, có thể thấy thông báo về đề nghị giao kết không đáp ứng được 02 yếu tố luật định do vậy không ràng buộc quyền lợi và nghĩa vụ của bên nhận được thông báo. Cụ thể, nếu một website thương mại điện tử có chức năng đặt hàng trực tuyến áp dụng cho từng hàng hóa hoặc dịch vụ cụ thể được giới thiệu trên website đó, thì các thông tin giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ và các điều khoản liên quan được coi là thông báo mời đề nghị giao kết hợp đồng của thương nhân, tổ chức, cá nhân bán hàng. Và chứng từ điện tử do khách hàng khởi tạo và gửi đi bằng cách sử dụng chức năng đặt hàng trực tuyến được coi là đề nghị giao kết hợp đồng của khách hàng đối với hàng hóa hoặc dịch vụ. Có sự tương đồng giữa cách nhìn nhận về một lời chào mời đề nghị giao kết (invitation to make offer, invitation to treat) với một đề nghị giao kết hợp đồng thông qua một số nguồn pháp luật đang được áp dụng trên thế giới. Chẳng hạn Điều 14 CISG 1980 quy định: “Một đề nghị gửi cho những người không xác định chỉ được coi là một lời mời làm chào hàng, trừ phi người đề nghị đã phát biểu rõ ràng điều trái lại”. Theo cách quy định đó, việc cung cấp những thông tin về hàng hoá, dịch vụ trên website thương mại trực tuyến chỉ mang tính chất tham khảo, do vậy khi người sử dụng chọn hàng hoá, dịch vụ nhưng chưa tiến hành lệnh đặt hàng, hoặc đã tiến hành đặt hàng nhưng chưa được gởi đến bên cung ứng hàng hoá, dịch vụ hay gọi chung là bên nhận lệnh thì việc hiển thị hàng hóa, dịch vụ trên website vẫn chỉ được xem là một lời mời đề nghị giao kết hợp đồng. Một cách lý giải về vấn đề này được chỉ ra, theo đó việc chọn lựa hàng hoá trên website thương mại trực tuyến không cấu thành một lời đề nghị, bởi vì người chọn có thể thay đổi suy nghĩ về những món hàng mình chọn và thay đổi những lựa chọn đó, so với lời đề nghị giao kết thể hiện sự ràng buộc chính mình và trong lời đề nghị giao kết đó cũng thể hiện đối tượng giao kết một cách rõ ràng và xác định. Một phán quyết khác của cơ quan tài phán cũng cùng nhận định khi chỉ ra, những hàng hoá thể hiện trên website thương mại trực tuyến cấu thành một lời mời đề nghị giao kết, giống như các biển hiệu quảng cáo trưng bày ở các cửa hàng, và có sự khác biệt so với một đề nghị giao kết. Do vậy, lời mời đề nghị giao kết hợp đồng như một cách thức để quảng cáo, marketing nhằm thúc đẩy những giao dịch thương mại điện tử có cơ hội được diễn ra so với ý định ràng buộc quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng được thực hiện thông qua lời nghị giao kết.
2.1.2 Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng thương mại điện tử Luận văn: Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.
Một đề nghị giao kết hợp đồng không được xem là hợp đồng nếu như không được sự chấp nhận từ bên còn lại. Điều 393.1 BLDS 2015 quy định: “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị”. Và điều 19.1 Nghị định 52/2013/NĐ-CP quy định: “Trả lời chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng phải được thực hiện dưới hình thức phù hợp để thông tin có thể lưu trữ, in và hiển thị được tại hệ thống thông tin của khách hàng”. Vấn đề được đặt ra là chấp nhận đề nghị tuy không được quy định trong pháp luật chuyên ngành là chấp nhận toàn bộ hay một phần, nhưng thông qua tính chất pháp luật hợp đồng nền tảng, việc chấp nhận phải được thực hiện với tính chất là chấp nhận toàn bộ nội dung đề nghị. Thông qua đó, việc chấp nhận một phần nhưng có sự thay đổi, bổ sung những điều khoản trong lời đề nghị giao kết ban đầu được xem là một chào hàng ngược hay một đề nghị giao kết ngược lại (counter-offer).
Quay trở lại với trường hợp chấp nhận lời đề nghị giao kết trong trường hợp lời đề nghị được thực hiện thông qua những kênh bán hàng trực tuyến. Theo đó, trên những trang bán hàng thương mại trực tuyến thông qua website hiện nay thì việc chấp nhận lời đề nghị (lệnh đặt hàng) được thực hiện một cách tự động thông qua việc lưu trữ, chấp nhận, phản hồi của hệ thống thông tin điện tử đến người đặt hàng. Nhiều trường hợp chỉ ra rằng trang bán hàng trực tuyến cho phép khách hàng lựa chọn hàng hoá, cung cấp thông tin và hoàn tất việc thanh toán, dường như hoàn tất việc giao kết một hợp đồng thương mại điện tử. Do vậy, vấn đề pháp lý được đặt ra là việc chấp nhận tự động không có sự can thiệp ý chí của con người cũng như tự nguyện giao kết có được xem là chấp thuận toàn bộ đề nghị theo quy định pháp luật hiện hành hay không? Điều 13 Nghị định 52/2013/NĐ-CP quy định: “Hợp đồng được giao kết từ sự tương tác giữa một hệ thống thông tin tự động với một người hoặc giữa các hệ thống thông tin tự động với nhau không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì không có sự kiểm tra hay can thiệp của con người vào từng hành động cụ thể do các hệ thống thông tin tự động thực hiện hay hợp đồng được giao kết”. Thông qua quy định trên thì việc chấp nhận lời đề nghị thực hiện một cách tự động và không bị phủ nhận giá trị pháp lý về hình thức. Tuy nhiên vấn đề năng lực hành vi, sự tự nguyện của bên chấp nhận đề nghị được thể hiện như thế nào thì không được pháp luật thực định hiện hành làm rõ. Thông qua đó, do tính chất đặc thù của việc mua bán thông qua kênh bán hàng trực tuyến nói riêng cũng như thương mại điện tử nói chung, việc chấp nhận đề nghị tự động được xem là một ngoại lệ của chế định đề nghị giao kết và nên được quy định một cách chi tiết bởi pháp luật chuyên ngành. Bởi lẽ, một trong những nguyên tắc cơ bản của chế định đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị là bên nhận được đề nghị phải biết rõ về lời đề nghị để đề nghị được xem là có hiệu lực. Và vấn đề này được đề cập chi tiết hơn ở phần năng lực chủ thể được phân tích ở những phần dưới đây. Luận văn: Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.
Cùng với những phân tích liên quan đến chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng ở trên, có hai trường hợp mà chúng ta cần xem xét dựa trên việc chấp nhận tự động lời đề nghị giao kết trên những kênh bán hàng thương mại trực tuyến. Trường hợp đầu tiên, việc chấp nhận tự động được thực hiện có sự can thiệp của nhân viên công ty thông qua việc xử lý đơn hàng từ hệ thống dữ liệu, đây được xem như một sự nhân danh và thay mặt công ty chấp nhận lời đề nghị giao kết. Và việc chấp nhận đó được hiểu là bên cung ứng thương mại trực tuyến sử dụng chế định uỷ quyền ngầm định hay uỷ quyền nội bộ. Bằng cách nhân viên xử lý đơn hàng là bên nhận uỷ quyền nội bộ để chấp nhận lời đề nghị giao kết, và từ đó hợp đồng thương mại điện tử được hình thành nhưng vẫn đảm bảo tính hình thức của hợp đồng, ý chí của các bên tham gia cũng như thẩm quyền đại diện ký kết hợp đồng theo những nguyên tắc pháp luật nền tảng. Trường hợp thứ hai được đề cập đến là trường hợp hệ thống chấp nhận hoàn toàn tự động mà không thông qua việc xử lý đơn hàng của nhân viên, khi mà giao dịch gần như hoàn thành và bên mua, người tiêu dùng cũng đã thực hiện việc thanh toán. Có thể thấy bản chất của trang bán hàng trực tuyến lúc này vừa mang bản chất của đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết, vừa mang bản chất của hợp đồng mẫu hay điều kiện giao dịch chung trong giao kết hợp đồng. Khi đó, trong trường hợp này bên cung ứng trang thương mại trực tuyến đưa ra lời đề nghị giao kết đến với công chúng, và việc người tiêu dùng chấp nhận những điều khoản hay những điều kiện giao dịch của trang bán hàng thông qua việc chấp nhận lời đề nghị thì vấn đề chấp nhận đề nghị không còn nằm ở vị trí của bên cung ứng trang thương mại trực tuyến mà nằm ở người tiêu dùng, và việc chứng minh ý chí của đối tượng này là tương đối dễ do việc thể hiện ý chí là minh thị thông qua những sự chấp thuận trên trang bán hàng và trong trường hợp này là đáp ứng các yêu cầu mà pháp luật đề ra.
Một vấn đề khác là, việc chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng thương mại điện tử được thực hiện bằng hình thức như thế nào? Điều 19.1 Nghị định 52/2013/NĐ-CP quy định: “Trả lời chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng phải được thực hiện dưới hình thức phù hợp để thông tin có thể lưu trữ, in và hiển thị được tại hệ thống thông tin của khách hàng”. Nhận thấy, nghị định hướng dẫn đã không rõ ràng trong việc quy định một cách chung nhất về hình thức của chấp nhận đề nghị mà chỉ quy định riêng lẻ chấp nhận đề nghị giao kết trong trường hợp giao dịch thông qua kênh bán hàng trực tuyến website. Và tinh thần của quy định trên cho thấy chấp nhận đề nghị phải được thực hiện bằng phương tiện điện tử, thông qua việc quy định thông tin chấp nhận đề nghị có thể lưu trữ, in và hiển thị được tại hệ thống thông tin của khách hàng. Một điều dễ nhận thấy, trong hoạt động thương mại điện tử thì chấp nhận phần lớn được thực hiện dưới dạng thông tin điện tử và bằng phương tiện điện tử, tuy nhiên, đó không phải là hình thức duy nhất. Theo quan điểm của người viết, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng thương mại điện tử được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào, lời nói, bằng văn bản, kể cả hành vi trên thực tế. Chẳng hạn, nếu đề nghị được thực hiện trên kênh bán hàng trực tuyến thông qua khởi tạo đề nghị của người tiêu dùng, không có lý do gì một chấp nhận đề nghị từ bên bán hàng, bên cung ứng dịch vụ của trang thương mại điện tử trực tuyến phải được thực hiện thông qua phương tiện và dữ liệu điện tử. Tương tự, một đề nghị giao kết được bên đề nghị khởi tạo bằng email thì không có lý do gì để bắt buộc việc chấp nhận phúc đáp cũng được thực hiện thông qua email. Thay vào đó, sẽ là hợp lý hơn cho các bên tham gia khi các bên có quyền tuỳ chọn hình thức phúc đáp việc chấp nhận đề nghị, miễn sao nội dung chấp nhận đề nghị đó truyền đến bên đề nghị một cách chính xác và đầy đủ. Việc quy định hình thức chấp nhận như cách trên không những tạo ra sự hạn chế trong cách thức giao kết hợp đồng thương mại điện tử mà còn khiến vai trò nền tảng chung của pháp luật bị hạn chế, không bảo vệ được quyền lợi chính đáng của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng.
Đề nghị giao kết và chấp nhận đề nghị giao kết là một chế định được áp dụng một cách xuyên suốt trong chuỗi quá trình giao kết hợp đồng thương mại điện tử nói chung. Việc tìm hiểu đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết thông qua những cách thức giao dịch kể trên và những quy định pháp luật góp phần tìm ra những giải pháp nhằm củng cố pháp luật hiện hành. Và những phần dưới đây sẽ đề cập đến những nội dung khác có liên quan đến việc đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
2.1.3 Thay đổi, rút lại, huỷ bỏ, chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng thương mại điện tử Luận văn: Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.
Nếu như việc đề nghị giao kết và chấp nhận đề nghị giao kết được thực hiện một cách suôn sẻ sẽ cấu thành nên một hợp đồng ràng buộc các bên tham gia. Tuy nhiên, trong quá trình giao kết, không phải lúc nào ý chí cũng như mục tiêu của các bên đều có thể gặp được nhau. Do vậy, sự điều chỉnh ý chí, thay đổi dự định giao kết là một điều không thể tránh khỏi trong quá trình giao kết một hợp đồng nói chung cũng như một hợp đồng thương mại điện tử nói riêng. Và trong những phần bên dưới đây, việc tìm hiểu những quy định có liên quan đến việc thay đổi, huỷ bỏ, rút lại hoặc chấm dứt đề nghị giao kết cũng nhằm phân tích những cách thức thay đổi ý định và những quy định pháp luật hiện hành có liên quan.
2.1.3.1 Thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng thương mại điện tử
Trong thực tiễn lập pháp của một số quốc gia trên thế giới và một số công ước về thương mại đều quy định đối trường hợp rút lại đề nghị giao kết. Thông qua đó, hợp lý hơn khi pháp luật Việt Nam nên quy định đối với trường hợp rút lại đề nghị giao kết tương tự như quy định các quốc gia và công ước thương mại kể trên. Bởi, theo cách làm luật của các quốc gia cũng như công ước về thương mại đó, sự sửa đổi đề nghị giao kết đồng nghĩa với việc đề nghị gởi trước đó không có hiệu lực, và đề nghị đã được thay đổi có hiệu lực, tương tự như trường hợp rút lại đề nghị giao kết. Việc pháp luật Việt Nam phân định 02 trường hợp là thay đổi và rút lại đề nghị như Điều 389 BLDS 2015 nhưng không làm rõ liệu một sự thay đổi đề nghị thì đề nghị cũ có ràng buộc tiếp tục hay không, và nếu những điều khoản thay đổi tương ứng có hiệu lực, việc thay đổi “không đáng kể” được giải quyết như thế nào hoặc việc thay đổi đề nghị có huỷ bỏ hiệu lực hoàn toàn của đề nghị trước đó hay không đều không được pháp luật thực định Việt Nam làm rõ. Sẽ thuyết phục hơn nếu pháp luật chỉ quy định đối với trường hợp rút lại đề nghị giao kết. Điều đó đồng nghĩa với đề nghị được gởi trước khi sửa đổi hoàn toàn không có hiệu lực và chỉ đề nghị sau khi sửa đổi có hiệu lực và qua đó đề nghị sau khi sửa đổi ràng buộc quyền lợi, nghĩa vụ của các bên tham gia nếu hợp đồng được cấu thành từ sự chấp nhận lời đề nghị giao kết đó. Luận văn: Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.
Đối với trường hợp rút lại đề nghị giao kết hợp đồng thương mại điện tử thì Điều 389.1 BLDS 2015 quy định: “Bên đề nghị giao kết có thể thay đổi, rút lại đề nghị trong trường hợp: a) Bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị trước hoặc cùng với thời điểm nhận được đề nghị; b) Điều kiện thay đổi hoặc rút lại đề nghị phát sinh trong trường hợp bên đề nghị có nêu rõ về việc được thay đổi hoặc rút lại đề nghị khi điều kiện đó phát sinh”. Nhận thấy, văn bản pháp luật chuyên ngành cụ thể là Nghị định 52/2013/NĐ-CP không có quy định trường hợp liên quan đến thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng thương mại điện tử, do vậy những quy định pháp luật dân sự liên quan được áp dụng để điều chỉnh trong trường hợp này. Căn cứ quy định đã nêu ở trên thì có hai trường hợp bên đề nghị có thể thay đổi và rút lại đề nghị giao kết. Đối với trường hợp đầu tiên là đề nghị có điều kiện, nếu điều kiện đó được thể hiện một cách rõ ràng trong đề nghị giao kết và khi điều kiện đó phát sinh thì bên đề nghị có quyền thay đổi hoặc rút lại theo đúng nội dung mà bên đề nghị đã thể hiện. Chẳng hạn điều kiện về thời gian trả lời chấp nhận cũng được xem là một điều kiện để rút lại hoặc thay đổi đề nghị giao kết như: “Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ thời điểm bên được đề nghị nhận được email và có phản hồi về việc nhận được đề nghị giao kết hợp đồng, nếu bên được đề nghị không có ý kiến về việc chấp nhận thì bên đề nghị có quyền thay đổi hoặc rút lại lời đề nghị đã gửi”. Đây được xem là trường hợp tạo điều kiện thuận lợi cho bên đề nghị chủ động về mặt thời gian cũng như tăng khả năng tương thích với những chủ thể khác nhằm mục đích giao kết hợp đồng thay vì chỉ trong chờ vào ý định chấp nhận không rõ ràng của bên được đề nghị. Thứ hai, vấn đề được đặt ra như sau, bên đề nghị có thể thay đổi hoặc rút lại đề nghị trong khi bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị “trước hoặc cùng với thời điểm” nhận được đề nghị. Một cách khách quan nhận thấy, đây là trường hợp này rất ít xảy ra trong hoạt động thương mại điện tử. Bởi, việc đề nghị được thực hiện bằng phương tiện cũng như thông điệp dữ liệu điện tử do vậy, trừ trường hợp có những sự cố liên quan đến việc truyền dẫn dữ liệu thì việc bên nhận đề nghị nhận được đề nghị là tức thời, thông qua việc truyền dẫn dữ liệu điện tử rất nhanh chóng trên thực tế. Do đó, một thông báo thay đổi hoặc rút lại đề nghị đến sau lời đề nghị thì dĩ nhiên thông báo đó không có hiệu lực theo quy định, và lời đề nghị đó nếu được chấp nhận theo đúng cách thức cũng như pháp luật yêu cầu vẫn cấu thành nên hợp đồng và ràng buộc các bên. Do vậy, bên đề nghị liệu có sử dụng cơ chế huỷ bỏ đề nghị giao kết nhằm thay đổi ý định của chính mình được không?
2.1.3.2 Huỷ bỏ đề nghị giao kết hợp đồng thương mại điện tử Luận văn: Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.
Đối với trường hợp hủy bỏ đề nghị giao kết thì Điều 390 BLDS 2015 quy định: “Bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể hủy bỏ đề nghị nếu đã nêu rõ quyền này trong đề nghị và bên được đề nghị nhận được thông báo về việc hủy bỏ đề nghị trước khi người này gửi thông báo chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng”. Nhận thấy, để một đề nghị được huỷ bỏ thì điều kiện huỷ bỏ phải được thể hiện trong đề nghị như một yêu cầu mà quy định trên đề ra. Nói cách khác nếu như bên đề nghị không nêu rõ điều kiện huỷ bỏ trong đề nghị thì bên đề nghị cũng không thể huỷ ngang đề nghị mà mình đã gởi trước đó. Đây được xem là một quy định khá cứng rắn mà theo quan điểm của người viết hạn chế quyền tự do hợp đồng của chủ thể tham gia giao kết. Bởi lẽ, không có bất cứ lý do gì cho thấy một đề nghị chỉ có thể huỷ bỏ khi trong đề nghị đó kèm theo điều kiện được phép huỷ bỏ như pháp luật Việt Nam. Sẽ là hợp lý hơn khi bên đề nghị có thể huỷ bỏ đề nghị giao kết nếu đáp ứng được 02 điều kiện: (i) huỷ bỏ được thực hiện trước khi bên được đề nghị chấp nhận đề nghi giao kết; (ii) một số trường hợp ngoại lệ không thể huỷ ngang lời đề nghị giao kết.
Ngoài ra, Điều 18.3 Nghị định 52/2013/NĐ-CP quy định về việc rà soát và xác nhận nội dung hợp đồng thể hiện: “Website thương mại điện tử phải có cơ chế cho phép khách hàng rà soát, bổ sung, sửa đổi và xác nhận nội dung giao dịch trước khi sử dụng chức năng đặt hàng trực tuyến để gửi đề nghị giao kết hợp đồng. Cho phép khách hàng sau khi rà soát những thông tin nói trên được lựa chọn hủy giao dịch hoặc xác nhận việc đề nghị giao kết hợp đồng”. Thông qua đó, pháp luật chuyên ngành lại càng muốn minh chứng thêm một điều, phải tạo cơ hội cho bên đề nghị có thể rà soát, bổ sung, kiểm tra, sửa đổi,… hoặc hơn hết là có thể huỷ bỏ những dự định mà mình đang tiến hành. Tuy nhiên, khi những dự định này được gởi đi và được xem như một đề nghị giao kết hợp đồng thì quyền huỷ bỏ của bên đề nghị cũng mất đi nếu như trang thương mại trực tuyến không nêu ra quyền đó trên website của mình cho bên đề nghị được lựa chọn, thể hiện sự cứng nhắc trong quy định pháp luật hiện hành của nước ta hiện nay. Và thực tế hiện nay, các trang bán hàng trực tuyến cho phép khách hàng huỷ bỏ đề nghị sau khi đề nghị được gởi đi (mặc dù bên bán hàng đã chấp nhận hoặc chưa chấp nhận đề nghị giao kết) thông qua việc gọi điện thoại xác nhận việc huỷ bỏ đề nghị với tổng đài của trang bán hàng trực tuyến, huỷ bỏ trực tiếp trên chính trang bán hàng hoặc huỷ bỏ thông qua email cá nhân của bên đề nghị được gởi đến bên cung ứng hàng hóa, dịch vụ,… Chúng ta có thể tìm thấy thuật ngữ “cooling-off period” trong hệ thống pháp luật về thương mại điện tử của một số quốc gia, chẳng hạn pháp luật Nam Phi. Theo đó, người tiêu dùng có một khoảng thời gian để huỷ bỏ giao dịch mà không cần lý do, không áp dụng chế tài phạt vi phạm và được trả lại số tiền đã thanh toán, việc huỷ bỏ giao dịch bao gồm cả việc huỷ bỏ những giao dịch có liên quan như tín dụng, ngân hàng. Và thông qua thuật ngữ “cooling-off” cũng là một vấn đề khá hay mà pháp luật nước ta cần bổ sung để phù hợp với những tập quán giao dịch trên thị trường. Một môi trường thương mại trực tuyến cạnh tranh như hiện nay thì việc tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng một cách tối đa khi tiến hành giao dịch thương mại điện tử cũng là mục tiêu mà nhà bán lẻ trực tuyến hướng đến so với việc áp dụng những quy định một cách đặc thù. Do vậy, việc huỷ bỏ đề nghị giao kết trong thương mại điện tử trực tuyến hiện nay chỉ phù hợp về mặt hình thức, còn trên thực tế kinh tế thương mại điện tử đang tự diễn tiến theo một cách thức hoàn toàn khác, và pháp luật cần có sự điều chỉnh nếu không muốn nằm ngoài sự vận động của chuỗi giao dịch thương mại điện tử trên thị trường hiện nay. Luận văn: Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.
2.1.3.3 Chấm dứt đề nghị giao kết hợp đồng thương mại điện tử
Theo những quy định pháp luật dân sự nền tảng thì có sự phân biệt giữa chấm dứt so với huỷ bỏ một đề nghị giao kết hợp đồng. Theo đó, việc huỷ bỏ không ràng buộc quyền lợi và nghĩa vụ của các bên từ ban đầu, hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết cũng như lời đề nghị huỷ bỏ sẽ không có hiệu lực từ thời điểm đưa ra đề nghị. Tuy nhiên, chấm dứt lại mang một hệ quả pháp lý tương đối khác biệt so với huỷ bỏ, chẳng hạn, chấm dứt khi quyền lợi và nghĩa vụ của các bên được hình thành dựa trên lời chấp nhận đề nghị, khi đó lời đề nghị có hiệu lực và mang một ý nghĩa xa hơn, đạt được mục đích cấu thành nên hợp đồng thương mại điện tử. Đây được xem là một trong những trường hợp mà pháp luật dân sự quy định liên quan đến chấm dứt đề nghị giao kết. Ngoài ra, Điều 391 BLDS 2015 quy định một số trường hợp khác như: “Đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt trong các trường hợp: Bên được đề nghị trả lời không chấp nhận; Hết thời hạn trả lời chấp nhận; Khi thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lực; Khi thông báo về việc hủy bỏ đề nghị có hiệu lực; Theo thỏa thuận của bên đề nghị và bên được đề nghị trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời”. Chi tiết hơn, pháp luật chuyên ngành cụ thể hoá trường hợp hết thời hạn trả lời chấp thuận tại Điều 20 Nghị định 52/2013/NĐ-CP. Theo đó, trường hợp có công bố thời hạn trả lời đề nghị giao kết hợp đồng, nếu hết thời hạn này mà khách hàng vẫn không được trả lời thì đề nghị giao kết hợp đồng của khách hàng chấm dứt hiệu lực; Trường hợp không công bố rõ thời hạn trả lời đề nghị giao kết hợp đồng, nếu trong vòng 12 giờ kể từ khi gửi đề nghị giao kết hợp đồng, khách hàng không nhận được trả lời đề nghị giao kết hợp đồng thì đề nghị giao kết hợp đồng của khách hàng được coi là chấm dứt hiệu lực. Có thể thấy được pháp luật chuyên ngành đã có một quy định khá phù hợp với thực tiễn giao dịch thương mại trên thị trường hiện hành. Bởi đối với những đề nghị không ấn định thời hạn trả lời, nhất là đối với những trang bán hàng trực tuyến, khách hàng không thể điều chỉnh nội dung trên website mà chỉ có thể chọn những trường nội dung được hiển thị sẵn. Câu chuyện trở nên khó khăn cho bên đề nghị, khách hàng khi việc mình đưa ra đề nghị không nhận được sự chấp thuận, hoặc sự chấp thuận một cách chậm trễ của tổ chức, cá nhân bán hàng, cung ứng dịch vụ qua website. Bên cạnh đó, đa phần những sản phẩm cung ứng thông qua thương mại điện tử trực tuyến là hàng hoá tiêu dùng, nhỏ lẻ nên nhu cầu giao kết hợp đồng phải được thực hiện một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, sự phản hồi chậm trễ dễ khiến thói quen tiêu dùng hiện đại, thông qua hợp đồng điện tử trực tuyến bị triệt tiêu nếu không có một công cụ pháp lý nào bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng bằng việc chấm dứt đề nghị giao kết. Pháp luật chuyên ngành ấn định một khoảng thời gian, 12 giờ được xem là khoảng thời gian tương đối ngắn nhưng đủ để bên được đề nghị có thể xem xét là liệu có hay không việc chấp nhận đề nghị giao kết. Và theo quan điểm người viết, việc ấn định thời gian như quy định tại nghị định trên là một điểm tiến bộ và phù hợp với thực tiễn hoạt động thương mại điện tử nói chung cũng như hoạt động thương mại trực tuyến nói chung, tạo được điều điện thuận lợi cho khách hàng, bên đề nghị được tiến hành thương mại trực tuyến dễ dàng, tăng khả năng lưu thông hàng hoá, dịch vụ.
2.1.4 Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thương mại điện tử Luận văn: Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.
Nếu ở phần trên đề cập đến đề nghị giao kết và chấp nhận đề nghị giao kết – một cách thức được áp phổ biến trong việc giao kết hợp đồng điện tử thì ở phần này, vấn đề được các bên tham gia quan tâm đó chính là khi nào hợp đồng giữa các bên có hiệu lực và ràng buộc quyền lợi, nghĩa vụ của các bên với nhau. Mà thông qua các giải thích của GS Vũ Văn Mẫu, sự kết lập khế ước hay giao kết hợp đồng sớm hay muộn tuỳ theo học thuyết chấp nhận, đều rất quan trọng về mặt pháp lý, vì thời điểm và nơi giao kết có nhiều hệ quả xảy ra.
Theo đó, thời điểm có hiệu lực được hiểu là thời điểm hợp đồng được hình thành nhằm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia. Và kể từ thời điểm này trở đi thì các bên có nghĩa vụ tuân thủ những điều khoản đã được thoả thuận. Nếu như một hợp đồng truyền thống thì thời điểm có hiệu lực thường rơi vào thời điểm hai bên thực hiện việc ký kết và hoàn chỉnh hợp đồng, còn đối với hợp đồng điện tử được thực hiện thông qua đề nghị và chấp nhận đề nghị thì Điều 400.1 BLDS 2015 quy định: “Hợp đồng được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận giao kết”; Điều 21 Nghị định 52/2013/NĐ-CP quy định: “Thời điểm giao kết hợp đồng khi sử dụng chức năng đặt hàng trực tuyến trên website thương mại điện tử là thời điểm khách hàng nhận được trả lời của thương nhân, tổ chức, cá nhân bán hàng chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo quy định”. Và Điều 10.2 Nghị định 52/2013/NĐ-CP quy định: “Thời điểm nhận một chứng từ điện tử là thời điểm chứng từ điện tử đó tới được địa chỉ điện tử do người nhận chỉ ra và có thể truy cập được”. Có thể thấy, thời điểm giao kết một hợp đồng thương mại điện tử đơn thuần không được pháp luật chuyên ngành quy định cụ thể mà nghị định chỉ đề cập đến duy nhất trường hợp thương mại điện tử được thực hiện qua kênh bán hàng trực tuyến. Thông qua, sự định nghĩa của pháp luật hợp đồng bằng những quy định dân sự cũng như những quy định pháp luật chuyên ngành thì có thể khái quát như sau: “Hợp đồng điện tử có hiệu lực kể từ thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận đề nghị giao kết và có khả năng truy cập vào chấp nhận đề nghị giao kết đó”. Do vậy, 02 điều kiện để hợp đồng thương mại điện tử có hiệu lực khi (i) bên đề nghị nhận được chấp nhận đề nghị, (ii) chấp nhận đề nghị nhập vào hệ thống thông tin của bên đề nghị nói riêng cũng như bên đề nghị nhận biết được sự chấp thuận từ bên được đề nghị nói chung. Ngoài ra, theo quan điểm của người viết, cần quy định bổ sung điều kiện thông báo về khả năng nhận biết chấp thuận của bên đề nghị. Chẳng hạn, đối với thương mại điện tử trực tuyến website thì việc chấp nhận đề nghị được thực hiện tự động là chủ yếu, do vậy bên đề nghị có thể biết ngay việc chấp nhận đó. Tuy nhiên, đối với thương mại điện tử theo cách thức thuần tuý như email, mạng xã hội, máy fax,… thì có thể chấp nhận đã nhập vào hệ thống của bên đề nghị nhưng bên đề nghị vô tình hay cố ý không nhận biết được sự chấp nhận đó, hoặc đã nhận biết được sự chấp nhận đề nghị nhưng không thể hiện cho bên còn lại biết, do vậy tạo nên những bất lợi cho bên được đề nghị trong trường hợp này. Trên thực tế, dựa trên tính chất thiện chí và trung thực khi giao kết hợp đồng thì việc thông báo không là bắt buộc, nhưng cách làm như vậy được xem như một sự thiện chí nhằm tiến đến một hợp đồng được giao kết giữa các bên. Luận văn: Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.
Thông qua những quy định cũng như những phân tích bên trên, nhận thấy pháp luật Việt Nam đang giải quyết vấn đề thời điểm có hiệu lực của hợp đồng theo học thuyết tiếp nhận, từ những nguồn học tuyết sau đây: 1) Theo lý thuyết tuyên bố ý chí, sự ưng thuận được coi như đã có từ ngày người thụ lãnh tuyên bố ý chí ưng thuận hoặc bằng thư thường hoặc bằng thư điện tín; 2)Theo lý thuyết vận tống, sự ưng thuận chỉ có kể từ ngày bức thư hay điện tín được gởi đi cho người đề ước; 3) Theo lý thuyết tiếp nhận, sự kết lập khế ước được hoãn đến lúc người đề ước nhận được bức thư hay điện tín nói trên; 4) Theo lý thuyết thông đạt, sự kết lập này được hoãn lui lại cho đến khi người đề ước thực sự được biết rõ sự ưng thuận đó. Dựa theo những quy định trên có thể nhận thấy một điều, pháp luật Việt Nam đang chấp nhận học thuyết tiếp nhận không chỉ đối với hợp đồng thương mại điện tử mà kể cả một hợp đồng truyền thống thông qua Điều 400.1 BLDS 2015. Theo quan điểm của người viết, việc chấp nhận học thuyết tiếp nhận là hoàn toàn thuyết phục, bởi nếu áp dụng học thuyết vận tống thì rủi ro được chuyển về cho bên được đề nghị, bên được nghị sẽ phải gánh chịu những rủi ro trong quá trình truyền đạt ý chí liên quan đến việc chấp nhận đề nghị của mình. Một cách khách quan để nhận định, chỉ vì những rủi ro liên quan đến việc truyền đạt ý chí thông qua thư điện tử, thư tín, đường truyền dữ liệu,… nhằm ràng buộc quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia là không phù hợp với thực tế. Và do vậy, trong thương mại điện tử, việc bên đề nghị nhận được chấp nhận đề nghị cũng như có khả năng truy cập, nhận biết được chấp nhận để hành động theo và cấu thành nên hợp đồng là hoàn toàn thích hợp với những điều kiện thương mại cũng như phù hợp với ý chí giao kết hợp đồng của các bên tham gia.
2.1.5 Năng lực chủ thể tham gia hợp đồng thương mại điện tử
Một trong những nội dung cũng được quan tâm khi xem xét đến việc giao kết hợp đồng thương mại điện tử đó chính là năng lực chủ thể của các bên tham gia giao dịch. Bởi, năng lực chủ thể chứa đựng sự thể hiện ý chí, nguyện vọng của các bên tham gia vào hợp đồng, cũng như khả năng chủ thể có các quyền, nghĩa vụ pháp lý mà nếu các chủ thể không đáp ứng được những điều kiện luật định về năng lực chủ thể thì hợp đồng có nguy cơ bị vô hiệu. Tuy vậy, ở hợp đồng thương mại điện tử, vấn đề xác định năng lực chủ thể trở nên khó khăn hơn bao giờ hết, bởi việc áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ vào quá trình giao kết hợp đồng, và trí tuệ nhân tạo (Aritificial Intellegence – AI) là một trong những ứng dụng được áp dụng phổ biến trong chuỗi các hoạt động giao lưu thương mại điện tử trên thị trường hiện nay. Thông qua việc phân tích những dữ liệu dựa vào những thuật toán trong quá trình đánh giá và xử lý thông tin, AI sẽ xem xét và quyết định liệu có chấp nhận giao kết một hợp đồng thương mại điện tử hay không khi thiếu vắng sự can thiệp ý chí của con người. Nhìn chung, AI đã phát huy được những vai trò vốn có của nó, bởi trí tuệ nhân tạo được cấu trúc và lập trình hoàn toàn có thể sánh với trí tuệ của con người, do vậy, AI được áp dụng như một sự thay mặt của con người trong việc quyết định những vấn đề có liên quan đến việc giao kết hợp đồng, giúp tiết kiệm thời gian, chi phí giao dịch cũng như làm gia tăng khả năng tương tác giữa những chủ thể với nhau thông qua việc đánh giá và phân tích những tiềm năng đạt được khi tham gia vào một mối quan hệ thương mại. Luận văn: Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.
Thứ nhất, vấn đề pháp lý được đặt ra trong trường hợp này là việc chứng minh về năng lực chủ thể khi có sử dụng việc chấp nhận tự động hoặc việc chấp nhận của AI có ràng buộc quyền lợi của các bên tham gia hay không?
Nhìn sơ lược qua một số quốc gia trên thế giới thì rất hiếm nếu như không muốn nói là chỉ có một quốc gia duy nhất thừa nhận AI là một chủ thể tham gia giao dịch thông qua robot mang tên Sophia, một trong những robot đầu tiên trên thế giới được cấp quyền công dân. Tuy vậy, việc giải quyết những vấn đề có liên quan đến AI trong trường hợp này như thế nào đều chưa được làm rõ bởi những cơ quan cũng như giới học thuật có liên quan. Chẳng hạn, trách nhiệm pháp lý của AI trong trường hợp này được giải quyết như thế nào nếu có yếu tố lỗi xảy ra, nếu chế tài bồi thường hoặc phạt vi phạm được áp dụng thì khả năng chịu trách nhiệm đối với AI được thực hiện ra sao đều không được làm rõ và là một vấn đề đang gây nhiều tranh cãi hiện nay. Do vậy, hầu hết những quốc gia còn lại trên thế giới nhìn nhận AI như một phương tiện của con người, bởi việc xây dựng trách nhiệm pháp lý cho AI còn gây nhiều tranh cãi và gặp không ít những khó khăn. Có thể nhận thấy, việc chứng minh trong trường hợp giao kết hợp đồng thương mại điện tử có sử dụng hệ thống chấp nhận tự động (Autonomous machines – AM) hoặc AI trở nên khó khăn hơn bao giờ hết. Và theo quan điểm của người viết, trong trường hợp này, pháp luật nên chấp nhận AI hoặc AM như một sự ngoại lệ của năng lực chủ thể. Khi đó hợp đồng không vì không có sự can thiệp ý chí của con người mà dẫn đến khả năng vô hiệu, và có nguy cơ bị huỷ bỏ. Thông qua đó, trừ những trường hợp bên đưa ra đề nghị giao kết nại ra rằng việc chấp nhận bằng những áp dụng khoa học công nghệ hoặc áp dụng những yếu tố công nghệ đó gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của họ thì cơ quan tài phán sẽ xem xét về hiệu lực pháp lý của hợp đồng đó và đồng thời họ có nghĩa vụ chứng minh những sự thiệt hại mà mình gánh chịu theo những nguyên tắc chung của pháp luật tố tụng.
Thứ hai, vấn đề liên quan đến chữ ký trong thương mại điện tử. Nếu ở một hợp đồng truyền thống thì chữ ký, điểm chỉ hoặc con dấu là những phương thức bày tỏ sự đồng ý gia nhập vào hợp đồng. Tuy nhiên, ở hợp đồng điện tử được thực hiện thông qua phương tiện và thông điệp dữ liệu điện tử do vậy mà chữ ký số ra đời như một quy luật tất yếu. Chữ ký số là một dạng chữ ký điện tử được tạo ra bằng sự biến đổi một thông điệp dữ liệu sử dụng hệ thống mật mã không đối xứng, theo đó người có được thông điệp dữ liệu ban đầu và khóa công khai của người ký có thể xác định được chính xác. Dễ thấy một điều, chữ ký số do những tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số, mà những đơn vị này hoạt động dưới mô hình đơn vị sự nghiệp công lập dưới sự quản lý của cơ quan nhà nước. Thông qua đó, việc đăng ký chữ ký số và chứng thực chữ ký như một dạng đảm bảo từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền về tính xác thực tư cách chủ thể tham gia giao dịch. Do vậy, giá trị pháp lý của chữ ký số không bị phủ nhận, cũng như giá trị của văn bản mà chữ ký số đính kèm nhằm thể hiện ý chí của chủ thể trong việc giao kết hợp đồng một hợp đồng thương mại điện tử. Một trường hợp khó khăn hiện nay chính là việc một chủ thể trong nước tiến hành giao dịch với một chủ thể nước ngoài, và chính sự chứng thực chữ ký số ở mỗi quốc gia khác nhau không tạo nên sự tin tưởng lẫn nhau trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại điện tử, trừ những trường hợp được công nhận chữ ký số lẫn nhau giữa các quốc gia. Việc gia nhập Luật mẫu về chữ ký điện tử của Uỷ ban Liên hiệp quốc về thương mại quốc tế (UNCITRAL Model Law on Electronic Signatures) cũng là một xu hướng hội nhập của Việt Nam nhằm tiến đến những sự giao lưu, dịch chuyển thương mại phi biên giới một cách thuận tiện hơn, giảm chi phí vào gia tăng cơ hội được tiếp cận đến những thị trường nước ngoài. Luận văn: Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.
Thứ ba, vấn đề lỗi trong giao kết hợp đồng thương mại điện tử. Theo đó, trong giao kết hợp đồng thương mại điện tử thì yếu tố lỗi xuất phát từ nhận thức của bên tham gia cũng như những thao tác kỹ thuật trong quá trình tạo lập đề nghị là điều không thể tránh khỏi. Nhận thấy, việc bên đề nghị đề nghị giao kết hợp đồng dựa vào những thông tin có sẵn, về uy tín, thương hiệu, chất lượng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, giá cả hoặc là những giá trị tài sản vô hình mà bản thân tin chắc rằng mình sẽ được lợi khi tiến hành giao kết và thực hiện giao dịch. Vấn đề được đặt ra trong trường hợp này là liệu một trong hai bên không nhận thức được vấn đề lỗi xuất hiện trong giao dịch thì hợp đồng có ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hay không? Một án lệ có liên quan cũng được cơ quan tài phán đưa ra những góc nhìn trong trường hợp này. Bị đơn, sở hữu trang trực tuyến “Dgilandmall.com” – là một công ty về công nghệ thông tin chuyên bán online những sản phẩm có liên quan đến phần cứng và phần mềm tin học tại Singapore. Theo đó, họ có bán sản phẩm máy in laser hiệu HP và nhân viên công ty đã mắc lỗi trong việc đưa giá máy in lên website. Trang website thể hiện giá của mỗi chiếc máy in là 66 USD, trong khi giá chính thức được quảng cáo trên trang website chính thức của HP là 3,854 USD. Và không có bất kỳ thông báo nào được thực hiện bởi công ty cho đến khi có hơn 4000 chiếc máy in được đặt hàng. Nguyên đơn đã đặt 100 chiếc máy in cho mỗi giá. Khi bị đơn phát hiện được lỗi hiển thị trên website, họ tiến hành gởi email cho nguyên đơn để không hoàn thành đơn hàng này. Vấn đề được đặt ra là liệu việc chấp nhận tự động của công ty đã hoàn thành thì công ty có quyền huỷ bỏ việc thực hiện đối với hợp đồng hay không? Phán quyết của Toà án chỉ ra rằng, hợp đồng giữa các bên bị huỷ bỏ, bởi điều khoản giá được cấu thành do yếu tố lỗi, được xem là một lỗi cơ bản trong hợp đồng và nguyên đơn phải biết mức giá hiển thị là một mức giá “thấp vô lý – absurdly low”, cấu thành một lỗi cơ bản trong hợp đồng. Và do vậy hợp đồng không ràng buộc quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia. Thông qua án lệ có thể rút ra được một số vấn đề, (i) Pháp luật hợp đồng nói chung cũng như hợp đồng thương mại điện tử nói riêng cho phép các bên có thể huỷ bỏ hợp đồng thông qua một số yếu tố được xem xét đến dưới dạng “lỗi cơ bản” xuất hiện trong hợp đồng. Ở pháp luật Việt Nam chúng ta còn có thể áp dụng trường hợp hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được nhằm phá vỡ hiệu lực của hợp đồng, (ii) Yếu tố lỗi được đề cập đến phải là lỗi vô ý, khiến cho bên còn lại tin vào những giá trị mà mình có được thông qua hợp đồng, đồng thời thông qua phán quyết, thẩm phán cho rằng niềm tin về những giá trị có được đó phải có căn cứ. Rõ ràng, để phân biệt thế nào là giá trị thực của sản phẩm, do chính sách giảm giá hàng bán, khuyến mãi, hay lỗi hệ thống để phá vỡ hợp đồng trong trường nêu trên hoàn toàn khó cho người tiêu dùng nhận thức được. Nhưng đứng trước việc thiệt hại nặng nề của một công ty cũng như không mất mát gì của nguyên đơn mà người viết cho rằng phán quyết của cơ quan xét xử là hợp lý. Luận văn: Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.
Điều 14 Nghị định 52/2013/NĐ-CP cũng đề cập đến trường hợp lỗi nhập thông tin trong chứng từ điện tử. Và việc rút lại phần chứng từ có lỗi đáp ứng điều kiện luật định, bao gồm: (i) Ngay khi biết có lỗi, người đó thông báo cho bên kia về lỗi và nêu rõ đã mắc phải lỗi trong chứng từ điện tử này; (ii) Người đó vẫn chưa sử dụng hoặc có được bất kỳ lợi ích vật chất hay giá trị nào từ hàng hóa, dịch vụ nhận được từ bên kia. Theo đó, pháp luật nước ta cũng đã có sự dự liệu đối với vấn đề lỗi do nhập thông tin trong chứng từ điện tử và quyền rút lại phần chứng từ nhập lỗi đó. Cùng với những cơ chế pháp luật hợp đồng nền tảng liên quan đến cơ chế vô hiệu thông qua việc xem xét đến yếu tố lỗi, có thể thấy rằng cũng khá đầy đủ khi một chủ thể nhận thấy quyền lợi cũng như lợi ích của mình trong hợp đồng bị thiệt hại đáng kể có quyền được phá vỡ hiệu lực của hợp đồng. Tuy nhiên, cũng cần xem xét đến cơ chế bồi thường thiệt hại nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của bên còn lại, tránh việc lạm dụng cơ chế huỷ bỏ hợp đồng như một công cụ nhằm thoát khỏi hợp đồng của một bên khi không có thiện chí trong giao kết và thực hiện.
Có thể thấy, những phân tích bên trên đã khái quát phần nào những vấn đề có liên quan đến năng lực hành vi của chủ thể, mà thông qua đó, nếu kiểm soát tốt những vấn đề nêu trên thì các bên tham gia tránh được nguy cơ phá vỡ hiệu lực của một hợp đồng. Một hợp đồng có hiệu lực ngoài những tiêu chí về hình thức, năng lực chủ thể thì vấn đề nội dung hay đối tượng của hợp đồng cũng là một phần chúng ta cần xem xét khi đề cập đến việc giao kết và thực hiện một hợp đồng thương mại điện tử.
2.1.6 Đối tượng của hợp đồng thương mại điện tử
Nhận thấy, không phải tất cả những loại tài sản đều có thể trở thành đối tượng của hợp đồng thương mại điện tử. Về nguyên tắc, các chủ thể được tự do tiến hành giao kết đối với những loại tài sản theo quy định pháp luật dân sự chung, tuy nhiên, do tính chất đặc thù mà một số loại tài sản đã bị loại trừ bởi những văn bản pháp luật khác có liên quan. Chẳng hạn, quyền sử dụng đất, nhà ở riêng lẻ, tài sản hình thành trong tương lai là nhà ở hoặc công trình xây dựng mà các bên chủ thể không phải là tổ chức kinh doanh bất động sản, pháp luật yêu cầu các bên giao kết phải thực hiện việc giao kết trước sự chứng kiến của công chứng viên hoặc cán bộ tư pháp cấp xã, nhằm đảm bảo tính xác thực, tính hợp pháp về chủ thể cũng như những nội dung được thoả thuận trong văn bản. Nhận thấy, về nguyên tắc tự do giao kết, tự do thoả thuận thì các chủ thể trong hợp đồng thương mại điện tử có thể giao kết đối với các loại tài sản, tuy nhiên, việc giao kết đó đảm bảo 02 điều kiện về luật định như: (i) Tài sản không thuộc trường hợp cấm hoặc không được phép giao dịch (vũ khí quân dụng, động vật quý hiếm, bộ phận cơ thể con người,…); (ii) Tài sản trở thành đối tương của hợp đồng phải đáp ứng những yêu cầu về mặt hình thức theo những quy định khác có liên quan (công chứng, chứng thực). Nếu đáp ứng được những điều kiện trên, các chủ thể có thể tự do tiến hành hoạt động thương mại điện tử mà không có nguy cơ bị vô hiệu hợp đồng. Mặc khác, phổ biến và dễ nhận thấy trong giai đoạn hiện nay đó là tài sản vô hình – một loại tài sản mà dường như pháp luật Việt Nam còn điều chỉnh một cách khá lỏng lẻo trong hệ thống pháp luật thực định hiện nay. Chẳng hạn như, ứng dụng trả tiền trên điện thoại di động, kinh doanh ứng dụng lưu trữ (điện toán đám mây – cloud computing), những bản nhạc, phim ảnh có thu phí trên các thiết bị công nghệ, các ý tưởng, ứng dụng mà những loại tài sản này đang được nhìn nhận dưới góc độ là quyền tài sản, quyền trị giá được bằng tiền theo những quy định chung của pháp luật dân sự. Một số vấn đề kéo theo nhóm tài sản nêu trên trong thương mại điện tử, chẳng hạn như, hợp đồng thương mại điện tử vô hiệu thì việc hoàn trả được thực hiện như thế nào khi vốn dĩ những loại tài sản nêu trên không thể hoàn trả như vật thông thường. Vấn đề có liên quan đến bảo mật và chỉ sử dụng và không phát tán được thực hiện ra sao vốn vẫn chưa được giải quyết một cách triệt để trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại điện tử ở nước ta hiện nay.
Cùng với những sự phân tích trên, một điều chắc chắn là vai trò của cơ quan xét xử nói riêng và hệ thống tài phán nói chung nước ta hiện nay còn phải thực hiện khá nhiều trong việc giải thích và sáng tạo pháp luật nếu không muốn nói thương mại điện tử như một cơn lốc xoáy qua cuộc sống người dân mà hệ thống pháp luật thành văn dường trở nên hình thức trước thời cuộc.
2.2 THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Luận văn: Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.
Nếu như ở phần trên đề cập đến việc giao kết hợp đồng thương mại điện tử, một trong những nội dung được xem là cần thiết bởi cách thức giao kết đặc thù đã tạo ra nhiều vấn đề pháp lý và thực tiễn khác nhau mà pháp luật hiện hành cần giải quyết nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ thể tham gia giao dịch. Và không dừng lại ở đó, kể từ thời điểm một hợp đồng thương mại điện tử có hiệu lực, quyền lợi và nghĩa vụ các bên được các bên ứng xử thông qua quá trình thực hiện hợp đồng cũng đặt ra nhiều vấn đề pháp lý có liên quan khác nhau. Có thể khẳng định một điều, thương mại điện tử là một lĩnh vực luật chuyên ngành của pháp luật thương mại, do vậy quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng thương mại điện tử cũng là những quyền và nghĩa vụ truyền thống thường xuất hiện trong hợp đồng thương mại điển hình. Chẳng hạn, đối với hợp đồng mua bán hàng hoá thông qua thương mại điện tử thì quyền được nhận hàng, nghĩa vụ thanh toán, nghĩa vụ kiểm tra hàng hoá là những quyền và nghĩa vụ đặc trưng của một giao dịch mua bán nói chung. Hoặc đối với hợp đồng dịch vụ được thực hiện thông qua phương tiện điện tử thì quyền được sử dụng dịch vụ, nghĩa vụ thanh toán, nghĩa vụ cung cấp thông tin cho bên cung ứng dịch vụ được xem là những nội dung bắt buộc mà các bên tham gia có nghĩa vụ tuân thủ nhằm đảm bảo những yêu cầu của giao dịch. Ngoài những nội dung mang tính truyền thống vừa nêu, một số nội dung khác có liên quan trong việc thực hiện hợp đồng thương mại điện tử cũng được quan tâm tìm hiểu trong phạm vi nghiên cứu của phần này như: Vấn đề bất cân xứng thông tin và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Vấn đề bảo mật thông tin khách hàng trong trường hợp bên cung ứng hàng hoá, dịch vụ lưu giữ thông tin của khách hàng; Vấn đề liên quan đến bảo đảm thực hiện hợp đồng hoặc minh bạch thông tin về hàng hoá sản phẩm, dịch vụ và những vấn đề có liên quan đến quá trình thực hiện hợp đồng giữa các bên tham gia trong một hợp đồng thương mại điện tử.
2.2.1 Minh bạch thông tin và bảo đảm thực hiện hợp đồng thương mại điện tử
Có thể khẳng định một điều, thông tin trong bất cứ nền kinh tế nào, và nhất là trong xã hội hiện đại ngày nay đều trở nên cần thiết và quan trọng, bởi thông tin được nhìn nhận dưới dạng một quyền tài sản, một quyền trị giá được bằng tiền và đem lại lợi ích cho người nắm giữa thông tin. Một mảnh đất nông nghiệp khi có thông tin quy hoạch từ cơ quan hành chính nhà nước sẽ trở thành đất phi nông nghiệp, đất ở hoặc đất kinh doanh thì giá trị mảnh đất đó tăng lên gấp bội lần và như một vòng quay trong xã hội Việt Nam trong suốt những thập kỷ qua, khi mà người nắm giữ thông tin thường trục lợi thông qua việc nắm giữ những thông tin không được công khai đó. Một xã hội không minh bạch thông tin vốn dĩ trở nên khá quen thuộc và phổ biến của người kinh doanh nói chung, nhất là trong giai đoạn nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, khi mà người mua thường dễ nhầm lẫn về giá trị của sản phẩm, dịch vụ, giá trị của uy tín, thương hiệu đối phương trong quá trình đàm phán, giao kết một hợp đồng. Và câu chuyện được đặt ra trong trường hợp này đó chính là pháp luật hiện hành giải quyết câu chuyện minh bạch thông tin sản phẩm, minh bạch thông tin về chủ thể như thế nào khi mà các bên không có điều kiện gặp gỡ, tiếp xúc nhằm tiến hành giao kết và thực hiện một hợp đồng thương mại điện tử nói riêng cũng như trong một hợp đồng truyền thống nói chung. Luận văn: Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.
Nhận thấy, những quy định pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử hiện hành không quy định việc minh bạch thông tin như một nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch, nhất là không có một quy định nào được tìm thấy trong LGDĐT 2005, một trong những văn bản pháp luật chuyên ngành có vai trò điều chỉnh những vấn đề khái quát có liên quan đến giao dịch điện tử. Theo đó, chỉ tồn tại một số quy định riêng lẻ đề cập đến việc minh bạch thông tin trong hợp đồng thương mại điện tử như tại Điều 30 Nghị định 52/2013/NĐ-CP quy định: “Đối với hàng hóa, dịch vụ được giới thiệu trên website thương mại điện tử bán hàng, thương nhân, tổ chức, cá nhân phải cung cấp những thông tin để khách hàng có thể xác định chính xác các đặc tính của hàng hóa, dịch vụ nhằm tránh sự hiểu nhầm khi quyết định việc đề nghị giao kết hợp đồng”. Điều 29 Nghị định 52/2013/NĐ-CP quy định: “Thương nhân, tổ chức, cá nhân sở hữu website thương mại điện tử bán hàng phải công bố những thông tin tối thiểu sau trên trang chủ website: Tên và địa chỉ trụ sở của thương nhân, tổ chức hoặc tên và địa chỉ thường trú của cá nhân; Số, ngày cấp và nơi cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của thương nhân, hoặc số, ngày cấp và đơn vị cấp quyết định thành lập của tổ chức, hoặc mã số thuế cá nhân của cá nhân; Số điện thoại hoặc một phương thức liên hệ trực tuyến khác”. Và tại Điều 443 BLDS 2015 quy định: “Bên bán có nghĩa vụ cung cấp cho bên mua thông tin cần thiết về tài sản mua bán và hướng dẫn cách sử dụng tài sản đó”. Thông qua những quy định trên, minh bạch thông tin trong giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại điện tử được thể hiện dưới 02 khía cạnh: (i) Minh bạch thông tin về sản phẩm hàng hoá, dịch vụ hoặc đối tượng của hợp đồng; (ii) Minh bạch thông tin liên quan đến tư cách chủ thể của các bên tham gia giao dịch. Một cách phổ biến hiện nay là người tiêu dùng, bên gia nhập hợp đồng thương mại điện tử thường gánh chịu những rủi ro liên quan đến việc cung cấp không đầy đủ thông tin mà bên cung ứng hàng hoá, dịch vụ thường cố tình thực hiện nhằm đạt được mục đích giao kết giao hợp đồng nhưng đẩy những bất lợi về phía người tiêu dùng chứ không phải việc không cung cấp thông tin theo những quy phạm cấm của pháp luật hiện hành.
Và trong những trường hợp như vừa nêu, pháp luật dân sự hiện hành vẫn dành cho các bên được quyền huỷ bỏ giao dịch thông qua những chế định về vô hiệu hợp đồng. Theo đó, đối với việc cung cấp thông tin không đầy đủ khiến cho bên còn lại nhầm lẫn và có niềm tin vào sự cung cấp không đầy đủ đó dẫn đến việc giao kết hợp đồng thì pháp luật dân sự cho phép bên tham gia được huỷ bỏ hợp đồng theo trường hợp vô hiệu do nhầm lẫn (Điều 126.1 BLDS 2015). Và tương tự, đối việc cung cấp không đầy đủ những thông tin về sản phẩm, dịch vụ hoặc thông tin chủ thể giao dịch do một bên cố tình thực hiện thì pháp luật vẫn trao quyền cho bên còn lại được huỷ bỏ giao dịch tương ứng với trường hợp vô hiệu do lừa dối (Điều 127 BLDS 2015). Suy cho cùng bản chất của hợp đồng là cân bằng quyền và lợi ích của các bên tham gia trong một quan hệ nào đó, do vậy, yếu tố lỗi tồn tại trong hợp đồng thường thể hiện dưới dạng lỗi vô ý (nhầm lẫn) hay lỗi cố ý (lừa dối, đe doạ) thì pháp luật vẫn ưu tiên bảo vệ các bên bởi quyền năng được rút khỏi hợp đồng, trừ trường hợp các bên biết nhưng vẫn chấp nhận hợp đồng khi mục đích giao kết hợp vẫn đạt được (Điều 126.2 BLDS 2015). Luận văn: Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.
Nếu như cơ chế huỷ bỏ hợp đồng thông qua các trường hợp vô hiệu vừa nêu là câu chuyện giải quyết khi có tranh chấp phát sinh thì vấn đề được đặt ra là có những biện pháp nào ngay từ đầu có thể ràng buộc được trách nhiệm cung cấp và minh bạch thông tin của các bên tham gia. Theo đó, ngày nay đa phần những giao dịch thương mại điện tử được thực hiện thông qua trang bán hàng trực tuyến hoặc thông qua ứng dụng trên điện thoại di động. Cùng với đó, nhóm hàng tiêu dùng hoặc cung cấp dịch vụ nhỏ lẻ, có giá trị thấp thì vấn đề được các bên tham gia quan tâm hơn đó chính là những biện pháp bảo đảm được áp dụng nhằm ràng buộc sự tuân thủ của các bên so với việc giải quyết tranh chấp, vốn được xem là khá tốn kém thời gian và phức tạp. Và nhìn nhận dưới góc độ lợi ích, khi mà quyền lợi của người tiêu dùng bị ảnh hưởng nhỏ hơn so với chi phí bỏ ra để theo đuổi những vụ kiện kéo dài thì biện pháp áp dụng nhằm đảm bảo thực hiện hợp đồng thiết thực hơn bao giờ hết so với việc giải quyết những hậu quả phát sinh.
Thông qua những cách thức giao dịch trực tuyến hoặc ứng dụng di động mà có những biện pháp bảo đảm phù hợp với những loại hình giao dịch của các chủ thể. Thứ nhất, đối với vấn đề đảm bảo thông tin nhân thân chủ thể tham gia giao dịch và đảm bảo thực hiện hợp đồng. Theo đó, biện pháp được thực hiện trong trường hợp này là thúc đẩy việc thanh toán không dùng tiền mặt của những chủ thể tham gia giao dịch. Bởi, việc thanh toán không dùng tiền mặt khiến các chủ thể tham gia giao dịch phải thực hiện việc thanh toán trực tuyến, khi đó thẻ tín dụng ngân hàng hoặc thẻ thanh toán phát huy được vai trò. Bởi, những thông tin liên quan đến thẻ tín dụng hoặc thẻ thanh toán đã được ngân hàng kiểm tra trong quá trình đăng ký cấp tín dụng, và quá trình liên kết thẻ với những trang bán hàng thương mại trực tuyến, những ứng dụng bán hàng như một sự kiểm chứng từ bên thứ ba đối với những thông tin có liên quan về thông tin chủ thể của người tham gia giao dịch. Và do vậy, câu chuyện về thông tin chủ thể được minh bạch thông qua việc liên kết thanh toán trực tuyến. Không dừng lại ở đó, đối với việc liên kết thẻ thì một khoản tiền, một hạn mức tín dụng trong tài khoản thẻ như một khoản tiền bảo đảm khi bên người tiêu dùng không thực hiện đúng và đầy đủ những nội dung đã được giao kết trong hợp đồng. Chẳng hạn, việc đặt hàng trực tuyến của người tiêu dùng đã được hoàn tất nhưng đến lúc giao hàng thì người tiêu dùng cố tình không thực hiện việc nhận hàng và thanh toán thì một khoản tiền bảo đảm thực hiện hợp đồng thông qua việc liên kết thanh toán trực tuyến cũng khiến cho bên sử dụng kênh bán hàng tự giác và có trách nhiệm hơn đối với những nghĩa vụ của mình trong hợp đồng. Nếu như những biện pháp vừa nêu đề cập đến đảm bảo thực hiện hợp đồng của người tiêu dùng thì những biện pháp nào được áp dụng nhằm giải quyết câu chuyện của bên cung ứng hàng hoá, dịch vụ trong hợp đồng thương mại điện tử. Theo đó, Điều 82 Nghị định 124/2015/NĐ-CP sửa đổi bổ sung Nghị định 185/2013/NĐ-CP quy định vi phạm về thông tin và giao dịch trên website thương mại điện tử hoặc ứng dụng di động: “Không cung cấp đầy đủ cho khách hàng thông tin về thương nhân, tổ chức, cá nhân sở hữu website thương mại điện tử hoặc ứng dụng di động, thông tin về hàng hóa, dịch vụ, giá cả, vận chuyển, giao nhận, phương thức thanh toán, các điều khoản hợp đồng và điều kiện giao dịch chung trước khi khách hàng tiến hành giao kết hợp đồng sử dụng chức năng đặt hàng trực tuyến trên website thương mại điện tử hoặc ứng dụng di động” với mức hình phạt cao nhất là 05 triệu đồng và biện pháp khắc phục là cải chính những thông tin sai sự thật. Một mức chế tài thấp so với trị giá giao dịch cùng đội ngũ cơ quan quản lý nhà nước không minh bạch khiến quyền lợi của người tiêu dùng trong giai đoạn hiện nay phần lớn bị ảnh hưởng nếu như không có những sự điều chỉnh và can thiệp phù hợp từ những sự thay đổi luật định và trách nhiệm của cơ quan công quyền. Một hệ thống quy định pháp luật đầy đủ đến mức nào đi chăng nữa vẫn không thể thiếu vai trò thực thi pháp luật một cách công tâm, minh bạch từ cơ quan quản lý nhà nước, nếu như không muốn những tiêu cực và quyền lợi các bên giao dịch bị ảnh hưởng như thực tế đang diễn ra hiện nay. Luận văn: Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.
Ngoài ra, việc thanh toán không dùng tiền mặt còn mang đến nhiều lợi ích cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền nói chung cũng như cho những chủ thể tham gia giao dịch trên thị trường nói riêng. Dưới góc độ quản lý, cơ quan nhà nước sẽ kiểm soát được sự dịch chuyển của dòng tiền thông qua việc lưu trữ thông tin có liên quan trong hệ thống ngân hàng thương mại; Hạn chế việc lưu trữ tiền mặt trong nền kinh tế khi mà tiền được đưa vào kinh doanh, tiêu dùng tác động đến việc kích cầu và tăng trưởng của nền kinh tế; Ngân hàng thương mại bớt được nguy cơ mất khả năng thanh toán cũng như tăng hiệu quả bởi vòng xoay vốn được thực hiện một cách nhanh chóng và hiệu quả; Kiểm soát được việc nộp thuế nhà nước cũng như các gian lận thương mại liên quan đến việc trốn thuế và rửa tiền. Dưới góc độ doanh nghiệp thì việc thanh toán trực tuyến tạo điều kiện đảm bảo cho giao dịch được giao kết và thực hiện như một sự cam kết từ phía người tiêu dùng, kiểm tra thông tin về chủ thể, tiết kiệm được chi phí giao dịch,… Chính những lợi ích dưới góc độ kinh tế và quản lý, quốc gia không dùng tiền mặt đang là xu hướng và mục tiêu được nhiều nước trên thế giới kiên định theo đuổi trong đó có nước ta.
Thứ hai, vấn đề không minh bạch thông tin hàng hoá, dịch vụ từ phía nhà cung cấp. Nhận thấy, đây là một vấn đề thực tế diễn ra khá phổ biến khiến quyền lợi của người tiêu dùng bị ảnh hưởng nghiêm trọng mặc dù không thiếu những quy định pháp luật hiện hành ràng buộc trách nhiệm của nhà cung cấp. Chẳng hạn, Điều 12 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 (LBVQLNTD 2010) quy định: “Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có trách nhiệm trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng như: Ghi nhãn hàng hóa theo quy định của pháp luật; Niêm yết công khai giá hàng hóa, dịch vụ; Cảnh báo khả năng hàng hóa, dịch vụ có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tính mạng, tài sản của người tiêu dùng và các biện pháp phòng ngừa; Cung cấp thông tin về khả năng cung ứng linh kiện, phụ kiện thay thế của hàng hóa; Cung cấp hướng dẫn sử dụng; điều kiện, thời hạn, địa điểm, thủ tục bảo hành trong trường hợp hàng hóa, dịch vụ có bảo hành; Thông báo chính xác, đầy đủ cho người tiêu dùng về hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung trước khi giao dịch”. Thế nhưng, trên thực tế việc vi phạm vẫn diễn ra một cách công khai và ngày càng phổ biến. Do vậy, một số biện pháp mang tính chất quyết liệt hơn từ cơ quan quản lý nhà nước nhằm ngăn chặn hành vi vi phạm xảy ra. Theo đó, quy định bắt buộc về việc đóng góp ý kiến phản hồi sau khi chấm dứt việc thực hiện hợp đồng, và những đóng góp này được hiển thị nguyên bản không bị chỉnh sửa hoặc che dấu từ nhà cung ứng hàng hoá, dịch vụ. Như vậy, người tiêu dùng có cơ hội được thông tin đến những người tiêu dùng khác về hiệu quả cũng như chất lượng thật sự của hàng hoá, dịch vụ mà bản thân những người đóng góp ý kiến đã có những sự trải nghiệm. Ngoài ra, bằng thẩm quyền quản lý chuyên ngành, cơ quan quản lý nhà nước cần đưa ra danh sách cảnh báo những trang bán hàng, những ứng dụng di động có hành vi vi phạm về việc không minh bạch, che đậy thông tin sản phẩm lên những trang báo chí truyền thông, để người tiêu dùng không bị nhầm lẫn trong quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng và qua đó sẵn sàng rút giấy phép đăng ký kinh doanh, khoá trang bán hàng trực tuyến, ứng dụng điện thoại nếu thiệt hại nghiêm trọng đến quyền lợi người tiêu dùng. Nhìn chung, pháp luật hiện hành nước ta hiện nay không vắng bóng những quy định có liên quan đến chế tài xử lý bên cung ứng về vấn đề không minh bạch thông tin sản phẩm hàng hoá, dịch vụ. Tuy nhiên, như đã nêu, vấn đề nằm ở đội ngũ thực thi pháp luật cũng như mức chế tài có đủ răn đe bên vi phạm khi dưới góc độ lợi ích (mức lợi nhuận do vi phạm pháp luật cao hơn so với việc không tuân thủ mà chịu phạt vi phạm) cũng đặt ra nhiều thách thức mà cơ quan quản lý nhà nước cần giải quyết.
- Hợp đồng theo mẫu, điều khoản bất cân xứng và vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Trong hoạt động thương mại điện tử, cách thức giao dịch được thực hiện thông qua kênh bán hàng trực tuyến hoặc ứng dụng di động đang ngày càng phát huy được những tiện ích và tính năng của nó. Tuy vậy, cũng tồn tại không ít những khó khăn khiến lợi ích của người tiêu dùng bị ảnh hưởng nếu như không có những cơ chế phù nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Thông qua đó, nhận thấy cách thức giao dịch thương mại điện tử thông qua kênh bán hàng trực tuyến, thông qua ứng dụng di động ngày nay vừa mang bản chất của chế định đề nghị, chấp nhận đề nghị, vừa mang bản chất của hợp đồng mẫu, điều kiện giao dịch chung cũng như có sự phối trộn của nhiều chế định luật khác nhau có liên quan nhằm điều chỉnh một hợp đồng thương mại điện tử. Và do vậy, việc tìm hiểu những quy định có liên quan đến điều kiện giao dịch chung, những điều khoản mà người tiêu dùng không thể hoặc không có cơ hội đàm phán, thương lượng (take it or leave it) cũng góp phần đóng góp những góc nhìn thực tiễn nhằm cân bằng được lợi ích của các bên tham gia, nhất là lợi ích của người tiêu dùng – vốn dĩ được xem là bên yếu thế trong một quan hệ hợp đồng thương mại điện tử. Luận văn: Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.
Có thể thấy, từ những điều khoản được cung cấp và thể hiện trên trang bán hàng trực tuyến, trên ứng dụng di động với vô vàn những điều kiện thương mại mang bản chất chuyên ngành được soạn sẵn khiến người tiêu dùng tham gia vào hợp đồng trong trạng thái không kiểm soát được nội dung, và do vậy dẫn đến việc không đọc nhưng vẫn chấp nhận những điều khoản nhằm ràng buộc quyền, nghĩa vụ của mình với bên cung ứng hàng hoá, dịch vụ. Theo đó, người tiêu dùng với mong muốn duy nhất là được mua hàng, được cung ứng dịch vụ từ phương thức thương mại điện tử mà bỏ qua những vấn đề về pháp lý phát sinh hoặc rủi ro có liên quan trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng. Do vậy, việc xem xét đến những vấn đề pháp lý có liên quan đến bản thân đều không nhận được sự quan tâm đúng mức từ phía khách hàng hoặc người tiêu dùng. Chính vì vậy, pháp luật trong trường hợp này còn đóng vai trò lớn hơn là đảm bảo được lợi ích của đa số, của nhóm chủ thể yếu thế khi gia nhập vào một quan hệ hợp đồng, mà hợp đồng được giao kết từ trang bán hàng trực tuyến hoặc trên ứng dụng di động là một ví dụ điển hình.
Thứ nhất, đối với hợp đồng theo mẫu thì pháp luật dân sự cũng như pháp luật chuyên ngành dành một số quy định điều chỉnh vấn đề này như tại Điều 405.1 BLDS 2015 quy định: “Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng gồm những điều khoản do một bên đưa ra theo mẫu để bên kia trả lời trong một thời gian hợp lý; nếu bên được đề nghị trả lời chấp nhận thì coi như chấp nhận toàn bộ nội dung hợp đồng theo mẫu mà bên đề nghị đã đưa ra”. Và trong Nghị định hướng dẫn về thương mại điện tử cũng cùng nội dung trên nhưng chi tiết thêm cách thức chấp nhận bằng quy định, “Trong trường hợp website có chức năng đặt hàng trực tuyến, người bán phải có cơ chế để khách hàng đọc và bày tỏ sự đồng ý riêng với các điều kiện giao dịch chung trước khi gửi đề nghị giao kết hợp đồng”, Điều 32.3 Nghị định 52/2013/NĐ-CP. Từ những quy định trên, pháp luật hiện hành không cho phép khách hàng, người tiêu dùng được quyền rời khỏi hợp đồng khi có sự thay đổi ý định hoặc nhận thấy được những bất lợi của bản thân mình. Tuy nhiên, tồn tại một số quy định nhằm vô hiệu những điều khoản trong hợp đồng mẫu tại pháp luật bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Chẳng hạn, tại Điều 16.1 Luật BVQLNTD 2010 đưa ra một số trường hợp như: Điều khoản loại trừ trách nhiệm bên cung cứng hàng hoá, dịch vụ; Điều khoản hạn chế quyền khởi kiện, khiếu nại của người tiêu dùng; Điều khoản giải thích hợp đồng có lợi cho bên cung ứng hàng hoá, dịch vụ,… Việc vô hiệu những điều khoản trên tuân theo quy định pháp luật dân sự theo Điều 16.2 Luật BVQLNTD 2010. Trong những trường hợp như thế này, pháp luật về giao dịch điện tử cũng như văn bản hướng dẫn không làm rõ việc vô hiệu là vô hiệu toàn bộ hợp đồng hay vô hiệu một phần đối với những điều khoản hạn chế quyền của người tiêu dùng. Và căn cứ theo những nguyên tắc pháp luật dân sự nền tảng, không chỉ vì một điều khoản không có hiệu lực mà dẫn đến vô hiệu của cả một hợp đồng. Tuy nhiên, theo quan điểm của người viết, nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng một cách tối đa, pháp luật chuyên ngành về thương mại điện tử nên trao quyền và cơ hội cho người tiêu dùng được thoát khỏi hợp đồng nếu gặp phải những trường hợp vô hiệu điều khoản riêng lẻ như vừa nêu trên, hoặc rời khỏi hợp đồng mà không cần bất kỳ lý do nào như thuật ngữ “cooling-off period” đã được nhiều quốc gia trên thế giới cụ thể hoá bằng những quy định pháp luật thực định. Thông qua đó, pháp luật chuyên ngành cần trao quyền cho người tiêu dùng hoặc khách hàng bằng một quy định tuỳ nghi được lựa chọn giữa việc vô hiệu toàn bộ hoặc vô hiệu một phần hợp đồng thương mại điện tử. Việc lựa chọn đó thể hiện 02 hệ quả pháp lý có liên quan: (i) Tạo điều kiện cho người tiêu dùng vẫn tiếp tục ở lại hợp đồng bằng những sự điều chỉnh điều khoản vô hiệu, khi đó mục đích giao kết hợp đồng vẫn đạt được do giao dịch vẫn được diễn ra trên thực tế; (ii) Tạo điều kiện cho người tiêu dùng được thoát khỏi hợp đồng khi không còn muốn tiếp tục ràng buộc mà không cần bất kỳ điều kiện nào, cũng như việc giao quyền vô hiệu toàn bộ hợp đồng thể hiện sự gần gũi và thống nhất với những quy định của một số quốc gia trên thế giới, bảo vệ lợi ích tối đa của người tiêu dùng. Luận văn: Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.
Thứ hai, những cách thức kiểm soát tính công bằng đối với những điều khoản mẫu trong hợp đồng thương mại điện tử. Theo cách định nghĩa về hợp đồng theo mẫu tại Điều 405.1 BLDS 2015 và Điều 17.1 Luật BVQLNTD 2010 thì: (i) “Trả lời trong một thời gian hợp lý” được coi là một sự ấn định phù hợp nhằm tạo điều kiện cho bên gia nhập hợp đồng có điều kiện tham khảo, suy xét liệu có nên tham gia một giao dịch thương mại điện tử hay không? Chúng ta cũng có thể tìm thấy những quy định tương tự về khoảng thời gian hợp lý tại quy định pháp luật dân sự của một số quốc gia khác, chẳng hạn tại Điều 305.2 BLDS Đức. Theo đó, tính chất của thương mại trực tuyến là thể hiện những trường nội dung được soạn sẵn và thể hiện trên website hoặc trên phần mềm ứng dụng di động. Do vậy, khoảng thời gian hợp lý mà người tiêu dùng, bên gia nhập hợp đồng mẫu trong trường hợp như thế này là đáp ứng được, đáp ứng điều luật định khi mà người tiêu dùng có đủ thời gian để xem xét liệu có ràng buộc mình vào một quan hệ thương mại điện tử hay không. Tuy vậy, khoảng thời gian nêu trên còn hợp lý khi không những áp dụng đối với cách thức giao kết được thực hiện qua website hoặc ứng dụng di động, mà đối với những cách thức giao dịch thương mại điện tử qua mail, qua fax có sử dụng hợp đồng mẫu vẫn được xem xét nhằm tạo ra điều kiện nhằm loại trừ sự bất công bằng trong một hợp đồng được soạn sẵn. (ii) Đăng ký hợp đồng mẫu với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. Nhận thấy pháp luật dân sự nền tảng có quy định về việc công khai hợp đồng theo mẫu và giao quyền công khai chi tiết những hợp đồng theo mẫu cho pháp luật chuyên ngành. Chẳng hạn, Điều 12 Luật BVQLNTD 2010 quy định: “Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu do Thủ tướng Chính phủ ban hành phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”. Và tại Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg ngày 13/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc ban hành danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung, bao gồm một số lĩnh vực như: Điện, nước sinh hoạt, truyền hình trả tiền, thuê bao di động, internet, vận chuyển hàng không, đường sắt và mua bán căn hộ chung cư. Vậy ngoài những doanh mục được cơ quan nhà nước xem là thiết yếu như vậy, thì liệu có nên yêu cầu bên cung ứng hàng hoá, dịch vụ thực hiện việc thông báo hoặc đăng ký với cơ quan quản lý chuyên ngành về hợp đồng mẫu đối với những đối tượng hợp đồng khác hay không? Bởi nhìn chung mối quan hệ giữa người tiêu dùng và bên cung ứng hàng hoá dịch vụ hiện nay trên thị trường cũng đa phần là những nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống như: may mặc, thời trang, ăn uống, giải trí,… Theo quan điểm của người viết, pháp luật nên tạo điều kiện nhưng không bắt buộc cho các bên cung ứng hàng hoá, dịch vụ được thực hiện việc đăng ký hợp đồng mẫu và bằng một thủ tục đơn giản nhằm đăng ký hợp đồng mẫu đó. Việc thông báo và đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải đảm bảo những tiêu chí nhanh gọn, đơn giản và không làm phát sinh thêm chi phí giao dịch. Theo đó, chính việc đăng ký theo yêu cầu đối với những hợp đồng mẫu như thế này mang lại một số quyền lợi cho chủ thể thực hiện việc đăng ký như: Nhận được sự rà soát từ phía cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền từ giai đoạn ban đầu đối với những điều khoản mang tính chất bất công, gây thiệt hại cho lợi ích của người tiêu dùng; Cơ quan xét xử sẽ xem xét việc rà soát khi đăng ký hoặc thông báo đó như một căn cứ xét xử chính thức nhằm cân bằng lợi ích của các bên tham gia. (iii) Giải thích những điều khoản bất cân xứng như thế nào trong hợp đồng thương mại điện tử theo mẫu. Nhận thấy, pháp luật nước ta hiện nay đã có những sự tiếp thu tích cực đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích của người tiêu dùng trong những giao dịch như thế này. Bằng chứng cho thấy, Điều 405.2 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó” và tại Điều 15 của Luật BVQLNTD 2010 quy định: “Trong trường hợp hiểu khác nhau về nội dung hợp đồng thì tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp giải thích theo hướng có lợi cho người tiêu dùng”. Không dừng lại ở đó, Điều 16 Luật BVQLNTD 2010 còn đưa ra một danh mục những điều khoản mà nếu bên cung ứng hàng hoá, dịch vụ trong rơi vào những trường hợp tương tự như thế này thì pháp luật sẽ mặc nhiên vô hiệu mà không cần xem xét đến những hoàn cảnh khác. Và những điều khoản bất công mặc nhiên vô hiệu này cũng được nhìn nhận tương tự với “black list” trong Mô hình kiểm soát của Chỉ thị 93/13/EEC về các điều khoản không công bằng trong hợp đồng tiêu dùng. Tuy vậy, có thể nhìn nhận một điều vai trò của Toà án cũng như cơ quan xét xử trong trường hợp này là vô cùng quan trọng, bởi pháp luật thành văn không thể nào kiểm soát được hết những điều khoản mà bên cung ứng hàng hoá, dịch vụ đưa ra nhằm giao kết với người tiêu dùng. Do vậy vai trò giải thích pháp luật trong trường hợp này của thẩm phán hoặc trọng tài là vô cùng quan trọng góp phần bảo vệ tối đa lợi ích của người tiêu dùng. (iv) Minh bạch thông tin trong quá trình đề nghị giao kết hợp đồng, chẳng hạn như minh bạch thông tin về chủ thể, về sản phẩm hàng hoá, dịch vụ cũng như những thông tin có liên quan đến hợp đồng thương mại điện tử. Tóm lại, pháp luật hiện hành đã có những sự điều chỉnh bằng những quy định pháp luật có liên quan nhằm kiểm soát tính cân bằng đối với hợp đồng mẫu, hoặc đối với những điều khoản bất công. Tóm lại, đối với giai đoạn tiền hợp đồng, việc kiểm soát được thực hiện thông qua nghĩa vụ cung cấp thông tin trong hợp đồng của các bên tham gia, và nghĩa vụ đó ngày càng được thừa nhận rộng rãi như là nghĩa vụ cơ bản của hợp đồng nói chung cũng như hợp đồng thương mại điện tử nói riêng; Đối với giai đoạn thực hiện hợp đồng thì việc kiểm soát được thực hiện thông qua việc thông báo hoặc đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về hợp đồng mẫu; Và khi có tranh chấp phát sinh thì việc kiểm soát bất công được thực hiện thông qua thẩm quyền tài phán, bằng cách giải thích những điều khoản bất công theo hướng có lợi cho người tiêu dùng, tuyên bố những điều khoản trong hợp đồng mẫu vô hiệu (vô hiệu một phần) hoặc cho phép người tiêu dùng được rút khỏi hợp đồng thương mại điện tử (vô hiệu toàn bộ), thể hiện được pháp luật nước ta đã có những sự tương đồng và những sự điều chỉnh kịp thời trong hệ thống pháp luật thực định nhằm cân bằng quyền lợi của chủ thể giao dịch nói chung và người tiêu dùng nói riêng trong những trường hợp thiếu vắng sự đàm phán, thương lượng – vốn được xem là những những vấn đề then chốt của hệ thống pháp luật hợp đồng nền tảng. Luận văn: Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.
2.2.3 Bảo mật thông tin khách hàng và trách nhiệm của bên nắm giữ thông tin
Một xã hội vốn truyền thống đề cao những giá trị chung dẫn đến quan niệm và ý thức về quyền riêng tư không được đề cao trong ngần ấy thời gian, đã dấy lên nhiều sự lo ngại, cho chính những người trong cuộc bị xâm phạm cũng như cho sự vận động và phát triển của cả một xã hội nói chung. Theo đó, không khó để bắt gặp những hành vi tiết lộ thông tin dựa vào những mối quan hệ trong xã hội vốn xem những giá trị về thân tín trong cách đối nhân xử thế, và như một lẽ sống đời thường. Do vậy, pháp luật Việt Nam trong ngần ấy thời gian dường như đứng ngoài cuộc trong việc bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân, tổ chức bởi những cung cách hành xử đó tuân theo một quy luật khác, quy luật đạo đức – vốn vốn nặng nề và chịu sự ảnh hưởng sâu sắc từ quá khứ. Từ đó, dễ dàng để bắt gặp những việc mua bán, trao đổi thông tin của cá nhân, tổ chức tràn lan như hiện nay. Ví dụ, “data khách hàng” là một thuật ngữ quen thuộc để chỉ tập hợp dữ liệu thông tin cá nhân, khách hàng của doanh nghiệp được bán ra thị trường với mục tiêu lợi nhuận, đem lại nguồn lợi bất chính cho những người nắm giữ, vốn dĩ khá quen thuộc và gần gũi cho những doanh nghiệp mới gia nhập muốn tìm nguồn khách hàng với chi phí rẻ mà không phải tốn nhiều công sức64. Chính việc thông tin được rao bán tràn lan và một hệ thống cơ quan thực thi pháp luật chưa triệt để làm phát sinh nhiều hệ quả tiêu cực đến sự phát triển ổn định nền kinh tế mặc dù không thiếu những quy định điều chỉnh những chế tài có liên quan đến hành vi vi phạm. Điển hình cho sự tác động tiêu cực từ những hành vi vi phạm pháp luật về việc xâm phạm quyền riêng tư, quyền bảo mật những thông tin nhân thân là tạo ra sự e dè từ khách hàng và người tiêu dùng khi bản thân liên tục bị quấy rối nhằm chèo kéo để mua hàng hoặc để được cung ứng dịch vụ từ những doanh nghiệp đang nhắm đến. Và trong lĩnh vực thương mại điện tử nói riêng, khi mà cách thức giao dịch được thực hiện hoàn toàn thông qua các phương tiện điện tử thì thông tin là thành tố quan trọng nhất và quyết định liệu một giao dịch có được thực hay không, thông qua việc xem xét và đánh giá thông tin, những giá trị từ thông tin mang lại, cấu thành nên đối tượng của một hợp đồng thương mại điện tử. Từ lẽ đó, việc đánh giá những quy định pháp luật hiện hành và những cách thức như thế nào khiến các bên tôn trọng quyền riêng tư hơn vốn dĩ trở nên cần thiết trong giai đoạn kinh tế công nghệ đang ngày càng chiếm ưu thế trên thị trường như hiện nay.
Từ trước đến nay, giới hạn về quyền riêng tư trở nên khá mong manh khi mà khả năng lựa chọn những gì được tiết lộ hay tiếp cận bởi người khác và quyền kiểm soát, cách thức cũng như thời điểm của các thông tin liên quan trở nên nhạy cảm hơn bao giờ hết. Theo đó, thông tin dường như trở thành một công cụ trong xã hội hiện đại khi nhà quản trị bao gồm quản trị nhà nước hoặc quản trị doanh nghiệp lúc nào cũng muốn xâm phạm đến hoặc chiếm lấy những thông tin riêng tư của cá nhân nhằm đạt được mục đích riêng mình, bao gồm nhưng không giới hạn mục đích chính trị của nhà cầm quyền (tuyên truyền, định hướng dư luận, vận động tranh cử, trưng cầu dân ý,…); mục đích phát triển thị trường hoặc gia nhập thị trường của doanh nghiệp (thói quen, tâm lý, hành vi tiêu dùng, thị hiếu, sở thích, sự quan tâm,…). Trước những mục đích trên thì bản thân những cá nhân riêng lẻ cũng đang yếu ớt trong việc chống lại những sự xâm phạm đó, kể cả những thách thức về mặt đạo đức được đặt ra trong một xã hội vốn dĩ pháp luật trở nên không phát huy được vai trò mang tính xử sự chung nhằm bảo vệ được quyền lợi của chính bản thân mình. Nhìn lại lĩnh vực thương mại điện tử, sự tiện ích càng nhiều, giảm thiểu được chi phí giao dịch càng lớn thông qua những ứng dụng công nghệ hiện đại thì những rủi ro về quyền riêng tư, về thông tin cá nhân và những bất lợi bản thân người tiêu dùng, khách hàng gánh phải cũng gia tăng theo tương ứng với những sự thuận lợi đó. Do vậy, với vai trò chung của pháp luật là cân bằng lợi ích, những biện pháp như thế nào nhằm bảo vệ được bên yếu thế trong việc bảo mật thông tin trước làn sóng xâm phạm từ các bên khác nhau như hiện nay là điều đang cần xem xét đến. Luận văn: Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.
Pháp luật dân sự hiện hành không quy định trực tiếp về quyền riêng tư và bảo đảm thực hiện đối với những quyền riêng tư đó. Tuy vậy, với vai trò là pháp luật nền tảng thì cũng tồn tại quy định liên quan về quyền đối với thông tin cá nhân như tại Điều 38 BLDS 2015 quy định: “Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ; Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý; Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Điều 46.2 Luật GDĐT 2005 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân không được sử dụng, cung cấp hoặc tiết lộ thông tin về bí mật đời tư hoặc thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác mà mình tiếp cận hoặc kiểm soát được trong giao dịch điện tử nếu không được sự đồng ý của họ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Điều 6 Luật BVQLNTD 2010 quy định: “Người tiêu dùng được bảo đảm an toàn, bí mật thông tin của mình khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ, trừ trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu; Sử dụng thông tin phù hợp với mục đích đã thông báo với người tiêu dùng và phải được người tiêu dùng đồng ý; Chỉ được chuyển giao thông tin của người tiêu dùng cho bên thứ ba khi có sự đồng ý của người tiêu dùng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Và Điều 4.4 Nghị định 52/2013/NĐ-CP quy định: “Cấm sử dụng, tiết lộ, chuyển nhượng, bán các thông tin liên quan đến thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong thương mại điện tử khi chưa được sự đồng ý của các bên liên quan, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Tồn tại không ít những quy phạm thực định hiện hành trong những văn bản quy phạm khác nhau nhằm điều chỉnh hành vi của bên nắm giữ thông tin của khách hàng, người tiêu dùng dưới dạng những quy phạm cấm. Tuy nhiên, việc chi tiết hoá những hành vi có liên quan trong quá trình khai thác, sử dụng thông tin từ doanh nghiệp, tổ chức vẫn chưa được pháp luật Việt Nam làm rõ nhằm bảo vệ quyền riêng tư về thông tin của khách hàng và người tiêu dùng. Chẳng hạn, một trường hợp thực tế là những thông tin của khách hàng được doanh nghiệp xử lý sau khi thu thập, và việc xử lý thông tin nhằm đáp ứng được mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp thì vấn đề được đặt ra trong trường hợp này là những dữ liệu thông tin thuộc về ai? Cá nhân những khách hàng, người tiêu dùng liên quan đến những thông tin về nhân thân của chính bản thân mình có được những quyền năng gì từ thông tin đã qua xử lý doanh nghiệp và những vấn đề khác có liên quan chưa được pháp luật hiện hành làm rõ. Đó là một trong số những vấn đề có liên quan đến việc chi tiết hoá quyền riêng tư mà pháp luật Việt Nam cần phải thực hiện nhằm tạo ra một không gian thương mại điện tử lành mạnh. Ngoài những quy phạm nội dung điều chỉnh hành vi của chủ thể nắm giữ thông tin thì cũng tồn tại một số chế tài có liên quan đến việc cung cấp, khai thác, tiết lộ hoặc mua bán thông tin của khách hàng, người tiêu dùng khi có những hành vi vi phạm diễn ra. Chẳng hạn như, tại Nghị định 124/2015/NĐ-CP sửa đổi bổ sung Nghị định 185/2013/NĐ-CP quy định: “Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối hành vi: Đánh cắp, tiết lộ, chuyển nhượng, bán các thông tin liên quan đến thông tin cá nhân của người tiêu dùng trong thương mại điện tử khi chưa được sự đồng ý của các bên liên quan”. Và như đã phân tích ở những phần trên về góc độ chi phí giao dịch, một hệ thống những quy định chế tài chưa đủ sức răn đen và mức chế tài thấp hơn chi phí giao dịch trong giao lưu thương mại trên thực tế khiến hành vi vi phạm ngày càng diễn ra một cách phổ biến. Luận văn: Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.
Nhận thấy được tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền riêng tư đối với những thông tin cá nhân mà gần đây Liên minh châu Âu (EU) vừa thông qua Quy chế chung về bảo vệ dữ liệu (EU General Data Protection Regulation – GDPR), có hiệu lực thi hành từ tháng 05/2018 nhằm điều chỉnh những vấn đề có liên quan đến việc bảo vệ quyền riêng tư trong lĩnh vực không gian mạng, kể cả trong lĩnh vực thương mại điện tử nói riêng. Và trong mối tương quan với pháp luật Việt Nam, GDPR được xem như một khuôn mẫu pháp luật chung nhằm bảo vệ quyền riêng tư được áp dụng chung cho 28 quốc gia thành viên. Do vậy, việc xem xét trong mối quan hệ so sánh, đối chiếu cũng góp phần đưa ra những góc nhìn hoàn thiện pháp luật nước ta hiện nay.
Thứ nhất, pháp luật dân sự hiện nay quy định về quyền đối với đời sống riêng tư và khẳng định pháp luật dân sự thừa nhận và bảo vệ quyền năng đó đối với chủ thể pháp luật dân sự. Tuy vậy, để giải thích thế nào về quyền đối với đời sống riêng tư bao gồm những nội dung như thế nào đều chưa được làm rõ theo những quy định pháp luật trong nước hiện hành có liên quan. Chẳng hạn, mã số căn cước công dân hoặc mã số thuế cá nhân có được xem là một trong những nội dung quyền đối với đời sống riêng tư của cá nhân? Và nếu đã xem những thông tin đó thuộc quyền đối với đời sống riêng tư cá nhân theo quy định của pháp luật dân sự thì việc bảo vệ cũng như những quy định về khai thác và sử dụng chúng được thực hiện như thế nào nếu có sự tương tác và nắm giữa thông tin từ tổ chức, doanh nghiệp trong quá trình giao lưu thương mại? Có thể thấy, GDPR đưa ra khái niệm thế nào là thông tin cá nhân và dẫn giải về những nội dung cụ thể đối với dữ liệu cá nhân đó. Theo đó, Điều 4 GDPR định nghĩa: “Dữ liệu cá nhân bao gồm bất kỳ thông tin liên quan nào được xác định hoặc nhằm xác định một tư cách cá nhân”65. Bên cạnh đó, Điều 4 và Điều 9 của GDPR cũng đưa ra một danh sách những nội dung được xem là dữ liệu cá nhân, bao gồm: Họ và tên, mã số định danh, địa chỉ, dữ liệu trực tuyến, truy cập, một hoặc nhiều nhân tố nhằm xác định bản sắc vật lý, sinh lý, di truyền, kinh tế, văn hoá, xã hội được xác định đối với chủ thể đó. Và chính cách định nghĩa cũng như dẫn giải về dữ liệu cá nhân của GDPR là khá phù hợp với thực tế. Bởi những thành tố được xác định là dữ liệu cá nhân mà GDPR dẫn giải chính là những nguồn thông tin quan trọng của một cá nhân trong chuỗi những hoạt động công nghệ số nói chung cũng như trong giao lưu thương mại điện tử nói riêng. Mà chính cách đề ra những nội dung này tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể nhận thức được đúng và đủ về bản chất những thành tố nào được xem là dữ liệu cá nhân và từ đó có những hành động phù hợp nhằm bảo vệ những thông tin đó. Luận văn: Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.
Thứ hai, việc cụ thể hoá những quyền năng liên quan đến bảo vệ quyền riêng tư của cá nhân. Theo đó, pháp luật Việt Nam cũng dành những điều khoản trong những văn bản quy phạm khác nhau nhằm điều chỉnh việc bảo vệ thông tin cá nhân. Bao gồm những quy phạm cấm tiết lộ, cung cấp, lưu giữ, sử dụng, thu thập, bán hoặc chuyển nhượng những thông tin của khách hàng, người tiêu dùng mà mình có được. Tuy vậy, trong quá trình khai thác, sử dụng cũng như trong giao dịch thương mại lại phát sinh nhiều vấn đề có liên quan khác mà pháp luật Việt Nam vẫn chưa có sự dự liệu. Chẳng hạn, quyền được biết những thông tin mình được khai thác và sử dụng ra sao, mục đích của việc khai thác và xử lý thông tin cá nhân được dùng cho những mục đích như thế nào; hoặc sau khoảng thời gian bao lâu thì doanh nghiệp phải xoá bỏ những thông tin có liên quan đến cá nhân? Và đây cũng là những quyền năng liên quan đến dữ liệu cá nhân được đánh giá khá phù hợp với thực tiễn được Liên minh châu Âu áp dụng nhằm buộc doanh nghiệp, tổ chức nắm giữ thông tin phải thực hiện như một nghĩa vụ nhằm đảm bảo lợi ích của cá nhân cũng như tôn trọng những quyền năng mà họ được pháp luật thừa nhận. Không dừng lại ở đó, chúng ta có thể tìm thấy một số quyền năng khác như: Quyền được thông tin (Right to be Informed – Điều 13 GDPR); Quyền được truy cập (Right of access by the data subject – Điều 15 GDPR); Quyền lãng quên (Right to erasure, „right to be forgotten‟ – Điều 17 GDPR); Quyền được phản đối (Right to object – Điều 21 GDPR); Quyền được cải chính (Right to Rectification – Điều 16 GDPR) và những quyền năng khác có liên quan đến dữ liệu cá nhân đã được Luật khung cụ thể hoá nhằm bảo vệ thông tin chủ thể khi tham gia vào những chuỗi hoạt động điện tử trực tuyến. Nhìn một cách tổng quát, những quyền năng mà GDPR có đặc điểm chung là tạo điều kiện cho những cá nhân có quyền kiểm tra, được biết về thông tin cá nhân mình sử dụng như thế nào hoặc các quyền yêu cầu chấm dứt việc khai thác, sử dụng hoặc xoá bỏ những thông tin mà chính doanh nghiệp đã thu thập được.
Quay trở lại với lĩnh vực thương mại điện tử, khi khách hàng, người tiêu dùng cung cấp những thông tin cá nhân có liên quan nhằm tiến hành giao kết một hợp đồng thương mại điện tử. Vấn đề trách nhiệm của những doanh nghiệp bán hàng, cung ứng dịch vụ trong trường hợp này được áp dụng tương tự với những quyền năng mà GDPR đề cập ở trên. Theo đó, người tiêu dùng hoặc khách hàng được quyền yêu cầu tổ chức, doanh nghiệp cung cấp những thông tin có liên quan về cách thức thu thập dữ liệu, việc sử dụng dữ liệu cá nhân vào mục đích gì, và doanh nghiệp có trách nhiệm cung cấp trong vòng 72 giờ theo quy định của GDPR. Không dừng lại ở đó, người tiêu dùng còn những quyền năng khác như yêu cầu doanh nghiệp cải chính, đính chính thông tin sai sót; hoặc quyền yêu cầu xoá bỏ (quyền lãng quên) khi chính những người tiêu dùng không muốn doanh nghiệp sử dụng thông tin của bản thân mình nữa. Những điều khoản pháp lý dài và khó hiểu trong trường hợp bên cung ứng dịch vụ, bán hàng soạn sẵn nhằm buộc người tiêu dùng mặc nhiên đồng ý với những điều khoản được sử dụng thông tin cá nhân đều vô hiệu và không được xem xét đến. Pháp luật EU đã có những động thái mạnh mẽ nhằm bảo vệ tối đa thông tin của cá nhân trên cơ sở tôn trọng và dành cho họ được những quyền năng quyết định liệu một ai đó được hay không được phép sử dụng thông tin của chính mình trong quá trình tham gia giao dịch nói riêng cũng như trong lĩnh vực công nghệ số nói chung.
Thứ ba, đối với mức chế tài thì Điều 83.4 và 83.5 GDPR đưa ra 02 mức chế tài đối với những hành vi vi phạm. Theo đó, mức phạt đến 10 triệu euro hoặc 2% tổng doanh thu của năm tài chính trước đó và mức phạt đến 20 triệu euro hoặc 4% tổng doanh thu của năm tài chính trước đó, tuỳ theo giá trị nào cao hơn đối với từng hành vi khác nhau, cho thấy được mức chế tài nặng nề có nguy cơ ảnh hưởng đến sự tồn tại của doanh nghiệp mình trong trường hợp làm ăn không chân chính, thể hiện được sự nghiêm khắc trong quá trình thực thi pháp luật của Liên minh châu Âu. Bên cạnh đó, một bộ máy cơ quan nhà nước thực thi pháp luật rõ ràng và minh bạch cũng là điều khiến cho việc bảo vệ quyền riêng tư trong lĩnh vực thương mại điện tử nói riêng và trong các hoạt động thương mại khác nói chung được công bằng và tạo được thói quen tuân thủ pháp luật của chính các bên tham gia. Luận văn: Thực trạng giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Hoàn thiện giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại điện tử