Luận văn: Thực trạng du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An

Một số giải pháp góp phần phát triển du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An, tỉnh Ninh Bình

2.1. Địa điểm nghiên cứu:

Khu du lịch Tràng An- Tỉnh Ninh Bình

2.1.1 Vị trí địa lý:

Khu du lịch Tràng An nằm về phía Đông Bắc tỉnh Ninh Bình, cách Hà Nội hơn 90 km về phía nam, gần trục đường sắt Bắc Nam, cách quốc lộ 1A gần 10km, phía bắc giáp Gia Viễn, phía tây giáp Nho Quan, phía nam giáp Tam Cốc – Bích Động, phía đông giáp quốc lộ 1A. Theo quy hoạch thì khu du lịch Tràng An được quy hoạch với 4 khu chức năng sau:

Khu bảo tồn đặc biệt Cố đô Hoa Lư: Có tổng diện tích là 366,7 ha là khu bảo tồn đặc biệt đã được Sở Văn hóa- Thể thao và Du lịch Ninh Bình triển khai thực hiện quy hoạch chi tiết năm 2013 với các loại hình du lịch như: văn hóa, lịch sử, du lịch lễ hội, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái…

Khu trung tâm: Được xây dựng trên khu đất có diện tích 80,9 ha (theo quy hoạch chi tiết là 99.31 ha). Vị trí tại thung Áng Mương, thung Đồng Sắn và thung Xa Liễn. Đây là trung tâm của khu du lịch Tràng An-có chức năng đón tiếp, hướng dẫn khách vào khu du lịch, xác định chương trình du lịch, giới thiệu và hướng dẫn khách tham gia các lộ trình du lịch (9 lộ trình đường thủy và 2 lộ trình đường bộ ), phục vụ các nhu cầu ăn nghỉ, và các dịch vụ du lịch của du khách…Hàng năm ở đây có tổ chức các lễ hội văn hóa, thương mại như: Lễ hội cây cảnh, lễ hội làng nghề truyền thống…Nơi đây còn là địa điểm lý tưởng để tổ chức các hội nghị, hội thảo tầm cỡ quốc gia và quốc tế.

Khu hệ hang động: Có tổng diện tích là 555,2 ha, bao gồm 31 thung và 48 hang động dài khoảng 12 km được bố trí thành 3 phân khu:

Khu 1: Là khu tập hợp các hang động thung lũng chính nằm xung quanh khu trung tâm. Với diện tích là 380,29 ha, là nơi lý tưởng trong hành trình tham quan tại hang động Tràng An.

Khu 2: Diện tích gồm 59,86 ha, gồm thung Đá Bàn, các hang động và thung phía đông thung Sào Khê. Chức năng của khu này là đón tiếp khách du lịch, tham gia các lộ trình du lịch phía đông sông Sào Khê.

Khu 3: Diện tích là 115 ha, vị trí tại khu hồ Đàm Thị, được quy hoạch nằm trên đường giao thông ĐT491.

Khu chùa Bái Đính: Có diện tích là 107,6 ha (Theo quy hoạch chi tiết khu núi chùa Bái Đính được mở rộng thành 390 ha). Theo lịch sử triều Đinh-Lê đến triều Lý- Trần, đạo phật ở Việt Nam rất phát triển và được coi là quốc đạo. Khu du lịch Tràng An nằm về phía Đông Bắc của tỉnh Ninh Bình, lại nằm gần khu di tích cố đô Hoa Lư nên càng thêm lộng lẫy, góp phần tô điểm và khẳng định giá trị lịch sử của cố đô Hoa Lư.

Toàn khu có 47 hạng mục di tích lịch sử với nhiều hang động chạy dài khoảng 20 km theo hướng Bắc – Nam. Bên cạnh đó Khu du lịch Tràng An nằm rất gần với các điểm du lịch hấp dẫn như: Tam Cốc – Bích Động, vườn quốc gia Cúc Phương, nhà thờ đá Phát Diệm, Cố đô Hoa Lư…. Khoảng cách từ khu du lịch đến các điểm du lịch trên chỉ khoảng 10km – 40km. Do đó, khu du lịch Tràng An gần như trở thành cầu nối giữa các điểm du lịch nổi tiếng của Ninh Bình. Tất cả những yếu tố thuận lợi trên làm tiền đề đảm bảo sự phát triển du lịch của khu du lịch

2.1.2 Địa hình:

Tràng An là khu du lịch có địa hình chủ yếu là núi rừng, thung lũng và hang động. Địa hình được chia làm 2 vùng rõ rệt: Vùng đồng bằng và vùng núi.

Vùng đồng bằng: Có diện tích không nhiều, địa hình tương đối bằng phẳng, đất đai khá màu mỡ nhưng lại xen kẽ nhiều vùng núi thấp trũng do đó chỉ có thể canh tác một vụ lúa.

Vùng núi: Bao gồm những dải núi đá vôi, chủ yếu nằm ở phía Tây Nam của huyện Hoa Lư và Đông Bắc của huyện Gia Viễn. Địa hình phức tạp, có nhiều hang động, núi xen kẽ với đầm lầy, ruộng trũng ven núi. Hang động được coi là tài nguyên thiên nhiên vô giá của khu du lịch Tràng An. Hệ thống hang động trong khu vực này khá đa dạng, tạo nên cảnh đẹp đặc sắc. Hang động nơi đây không chỉ có vẻ đẹp thiên nhiên kỳ thú mà mỗi hang động lại gắn với những gián trị lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng riêng.

2.1.3 Khí hậu, thủy văn:

Khu du lịch sinh thái Tràng An mang đặc điểm chung của khí hậu Ninh Bình. Địa danh này nói riêng và Ninh Bình nói chung thuộc tiểu vùng khí hậu của đồng bằng sông Hồng. Thời tiết trong năm chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11, 12 năm trước đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 24,2o Tổng số giờ nắng trung bình năm trên 1400 giờ. Độ ẩm trung bình năm là 83% và có sự chênh lệch không nhiều giữa các tháng trong năm: tháng 2 cao nhất là 89%, tháng 11 thấp nhất là 75%. Lượng mưa trung bình năm đạt từ 1.860-1.950 mm và thường tập trung vào các tháng từ tháng 5 đến tháng 10.

Khu du lịch sinh thái Tràng An nằm trong khu vực có hệ thống sông ngòi dày đặc. Cần lưu ý nhất đến hệ thống các hồ, thung, hang động nước nằm giữa các dãy núi đá vôi trong khu vực quần thể hang động Tràng An. Đây chính là sản phẩm du lịch độc đáo, hiếm có của hành trình du lịch về miền đất Cố đô.

2.1.4 Tài nguyên sinh vật:

Khu du lịch Tràng An có hai hệ sinh thái chính là: Hệ sinh thái trên núi đá vôi và hệ sinh thái thủy vực . Ở đây sự đa dạng sinh học là yếu tố chủ yếu cấu thành hai hệ sinh thái này.

  • Hệ sinh thái trên núi đá vôi:

Hệ thực vật: Các dãy núi đá vôi được tạo thành qua nhiều thế kỷ. Trên thung có các hốc đá và các khe đá tạo thành nơi chứa nhiều bùn để cho các loài thực vật bám rễ và phát triển. Điều kiện tại khu du lịch Tràng An rất thích hợp cho các loài thực vật sống trên núi đá vôi do khí hậu nằm trong vùng nóng ẩm nhiệt đới gió mùa nên kéo theo động vật và thực vật sống trong rừng núi đá.  Thảm thực vật bao gồm: Trảng cây bụi thứ sinh trên núi đá vôi: Trước đây khi chưa bị khai thác thì trên núi đá vôi có rừng kín xanh nhiệt đới ẩm cây lá rộng với các loài cây gỗ điển hình như: Nghiến, Trai, Đinh hương, Lát hoa…nhưng quá trình sói mòn đất xảy ra quá mạnh, các cây gỗ lớn bị triệt hạ nên hiện tại chỉ là các trảng cây bụi hiện tại cao từ 2m-4m, độ che phủ khoảng từ 30-40% Trảng cây bụi thứ sinh trên đất dày, ẩm phân bố rải rác khắp các khu vực ở các chân núi hoặc cây bụi gần hồ gồm các loài như cỏ Lào, lau, lách, cỏ Trấu, cỏ Tranh… Trảng cây trồng gồm : Gồm các cây lương thực, bóng mát, cây làm vật liệu xây dựng, cây cảnh và cây ăn quả.

Hệ động vật: Có 73 loài chim, trong đó bộ Sẻ có số lượng họ và loài sống trong sinh cảnh rừng, trảng cây bụi lớn nhất. Có 03 loài quý hiếm có tên trong sách đỏ của Việt Nam năm 2016. Trong đó có 2 loài đặc hữu chỉ có ở Việt Nam là : Gà tiền mặt vàng và Riệc nâu. Ngoài ra còn có 41 loài thú, 32 loài bò sát, ếch nhái thuộc 13 họ, 4 bộ, 2 lớp. Trong thành phần nhóm bò sát lưỡng cư thì nhóm rắn có số loài đông nhất, tiếp đến là thằn lằn, nhóm Rùa là thấp nhất.

Hệ sinh thái thủy vực: Hệ sinh thái thủy vực được hình thành bởi các thung, hàng năm đủ nước. Nước tại khu du lịch Tràng An nhìn chung còn khá sạch, ít bị tác động của con người đảm bảo được chức năng của một hệ sinh thái thủy vực bão hòa. Trong các thung có nhiều loài thủy sinh thực vật và động vật.

Hệ thực vật thủy sinh: Có 19 loài sống chìm trong nước, 11 loài sống trôi nổi, 30 loài có dễ ăn sâu trong lòng đất, thân và lá nhô lên trên mặt nước. Đa số loài thực vật thủy sinh ở đây là những loài mọc tự nhiên trong các thủy vực nguyên sơ chưa bị con người tác động. Đa số các loài thực vật là những loài phổ biến ngoài tự nhiên nên ít bị đe dọa. Những loài thực vật ngoi trên mặt nước có dễ, hoặc thân ngầm mọc xen với những thực vật ngoi trên mặt nước như: Súng, Trang. Các loại Bèo Ong, Bèo Tấm, Bèo Cái, Bèo Hoa Dâu… là những loài điển hình nổi trên mặt nước, chúng thường mọc xen kẽ trong đám thực vật ven bờ. Phân bố của các nhóm thực vật thủy sinh theo thứ tự sau: Vùng ven bờ thường có nhiều lài thực vật sống ngoi trên mặt nước và thực vật có lá nổi, tiếp theo là các loài thực vật sống chìm dưới nước ( như loài rong đuôi chuồn) chúng tạo thành một thảm thực vật dưới làn nước trong vắt.

Động vật thủy sinh: các loài thuộc nhóm trùng bánh xe và chân mái chèo, chủ yếu xuất hiện nhiều các loài thủy vật tự nhiên sạch, chưa bị tác động của con người và nước thải sinh hoạt. Tại đây cũng có một số loài thân mềm hai mảnh vỏ như: Trai, hến nước ngọt; lớp chân bụng,ốc vặn, ốc đá; nhóm giáp xác: tôm, cua… Ngoài ra tại đây còn có 53 loài thuộc 20 họ. Trong đó nhiều nhất là cá chép và các loài cá mại, cá giếc, cá trắm đen, cá chuối hoa, cá chày, cá rô đồng…

Sự phong phú đa dạng tài nguyên tự nhiên tại khu du lịch Tràng An đã tạo nên một Tràng An vô cùng hấp dẫn du khách, đây cũng là cơ sở rất thuận lợi phát triển du lịch.

2.1.5 Điều kiện kinh tế – xã hội

Khu du lịch sinh thái Tràng An nằm trên địa bàn của 8 xã, phường thuộc huyện Hoa Lư, huyện Gia Viễn và TP Ninh Bình. Xét về cấu trúc kinh tế của dân cư, người dân ở đây chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực lao động thuần túy, chỉ một số ít dân cư có nghề phụ trong lúc nông nhàn. Đây chính là lực lượng lao động quan trọng cho sự phát triển kinh tế nói chung và ngành du lịch nói riêng. Đặc biệt, đối với những người dân có đất nông nghiệp nằm trong vùng quy hoạch, mất nghề nông, họ có thể chuyển sang hoạt động trong lĩnh vực du lịch dưới sự hỗ trợ về đào tạo của chính quyền địa phương, các doanh nghiệp du lịch.

2.2. Thời gian nghiên cứu

  • Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2024

2.3. Phạm vi nghiên cứu (phạm vi nội dung nghiên cứu)

  • Thực trạng phát triển du lịch tại Tràng An
  • Các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.
  • Giải pháp phát triển du lịch bền vững tại khu du lịch Tràng An

2.4. Các phương pháp nghiên cứu:

2.4.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát:

Đề tài lựa chọn xã Trường Yên và xã Ninh Xuân là hai xã nằm trong vùng lõi của khu du lịch và có diện tích lớn nhất để tiến hành điều tra khảo sát. Đây cũng là hai xã có các khu chức năng chính: Khu Trung tâm và Khu hang động.

2.4.2 Phương pháp thu thập tài liệu

  • Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp.

Phương pháp kế thừa tài liệu: Các thông tin được thu thập bằng phương pháp kế thừa tư liệu đã được đăng tải trên sách, báo, tạp chí và các công trình nghiên cứu, điều tra đã được công bố. Những thông tin thu thập gồm: Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, các thông tin có liên quan đến hoạt động du lịch sinh thái và bảo vệ môi trường ở Việt Nam nói chung và khu vực nghiên cứu nói riêng; sự phát triển của du lịch sinh thái, quản lý du lịch sinh thái; kinh nghiệm tổ chức quản lý du lịch sinh thái; vai trò của hoạt động du lịch sinh thái với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững; Luật du lịch áp dụng với Khu du lịch sinh thái…

  • Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp.

Phương pháp khảo sát thực địa: Đề tài tiến hành khảo sát khu vực nghiên cứu nhằm xác minh, đánh giá các thông tin thu thập trong quá trình kế thừa tài liệu, đồng thời bổ sung, cập nhật các thông tin mới. Trong quá trình khảo sát, đề tài tổ chức đi theo tuyến du lịch, đến các điểm du lịch, phối hợp phỏng vấn nhanh và điều tra xã hội học.

Phương pháp điều tra xã hội học: Đối với du lịch sinh thái, một yếu tố quan trọng đó là nắm được tâm lý, nguyện vọng của khách du lịch, cộng đồng dân cư khu du lịch và cách thức quản lý, tổ chức, hoạt động của các cơ quan, các doanh nghiệp liên quan đến du lịch và môi trường tại khu vực nghiên cứu. Để làm được điều này, cần phải thực hiện phỏng vấn nhanh và điều tra xã hội học.

Đề tài sẽ xây dựng 3 mẫu phiếu điều tra (mỗi mẫu phiếu từ 15 – 20 chỉ tiêu tập trung vào các vấn đề quan tâm của đề tài) dành cho 3 đối tượng:

  • + 50 phiếu dành cho du khách bao gồm cả khách quốc tế và khách nội địa.
  • + 30 phiếu dành cho cộng đồng dân cư.
  • + 10 phiếu dành cho các cơ quan và doanh nghiệp liên quan đến du lịch và môi trường tại khu vực nghiên cứu.

Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc: trong quá trình điều tra có những nội dung phát sinh không có trong mẫu phiếu, do vậy tác giả sẽ sử dụng phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc, đây là phương pháp hữu hiệu để bổ sung các thông tin, đồng thời giúp người điều tra tiếp cận hơn với các đối tượng điều tra nhằm xác minh tính chính xác của các thông tin thu thập được trong mẫu phiếu điều tra.

Phương pháp thảo luận nhóm: Mục đích nhằm thu được các thông tin sâu về các khái niệm, nhận thức, niềm tin cuả nhóm đối tượng nghiên cứu; Xác định trọng tâm nghiên cứu và xây dựng các giả thuyết nghiên cứu. Cung cấp thông tin sâu, nhạy cảm, bản chất của một vấn đề, hiện tượng; Làm sáng tỏ chủ đề đang được tranh luận, kiểm tra chéo thông tin.

2.4.3. Phương pháp xử lý số liệu

  • Phương pháp thống kê mô tả: Dùng đánh giá thực trạng tài nguyên thiên nhiên, hệ sinh thái và thực trạng phát triển tại Khu du lịch Tràng An
  • Phương pháp so sánh: So sánh các yếu tố về lượng khách đến Tràng An và doanh thu từ hoạt động du lịch giữa các năm từ năm 2019 đến năm 2023;
  • Phương pháp phân tích SWOT (còn gọi là ma trận SWOT): Là phương pháp phân tích các điểm mạnh (Strengths), điểm yếu (Weaknesses), cơ hội (Opportunities) và thách thức (Threats) từ đó đề ra các giải pháp phát triển du lịch bền vững tại khu du lịch Tràng An

2.4.4. Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài

  • Chỉ tiêu về số lượng khách, thời gian lưu trú, doanh thu du lịch, thu nhập từ hoạt động du lịch.
  • Hiệu quả kinh tế; hiệu quả xã hội; hiệu quả về môi trường.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464