Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Một số giải pháp góp phần phát triển du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An, tỉnh Ninh Bình dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

Ngày 25/6/2023, Quần thể Danh thắng Tràng An đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới. Đây là Di sản Thế giới hỗn hợp đầu tiên ở Việt Nam và Đông Nam Á.  Khu du lịch Tràng An là một khu du lịch tổng hợp gồm: Du lịch sinh thái, văn hóa, lịch sử, tâm linh…. Tràng An là khu du lịch gắn liền với kinh thành xưa của cố đô Hoa Lư. Theo quyết định số 865/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ Việt Nam ban hành năm 2017, Tràng An sẽ cùng Hạ Long, Cát Bà ở miền Bắc là những địa danh du lịch mang tầm cỡ quốc tế. Trong tương lai Tràng An sẽ trở thành khu du lịch tổng hợp nhất Ninh Bình. Trong khu du lịch này có nhiều thắng cảnh đẹp với núi rừng, hang động, sông suối, đền chùa, phủ… Hang động Tràng An là một phần quan trọng ở phía nam kinh đô Hoa Lư, là hậu cứ để bảo vệ kinh đô Hoa Lư xưa. Nơi đây có núi non trùng điệp, hang động kỳ ảo, sông ngòi gấp khúc, thung lũng đan xen hòa quyện vào nhau tạo nên một cảnh quan thiên nhiên độc đáo, mỹ lệ.

3.1. Tiềm năng du lịch ở Tràng An

3.1.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên

  • Cảnh quan karst

Khu vực Tràng An – Bích Động thuộc tiểu vùng cảnh quan Karst Trường Yên. Khối Karst này điển hình cho Karst nhiệt đới với các đỉnh dạng tháp, chuông điển hình; sườn rửa lũa – đổ lở dốc đứng; các thung lũng kéo dài và liên kết với nhau. Quá trình Karst nhiệt đới đã tạo nên các cảnh quan Karst trên mặt và Karst ngầm với hệ thống hang động đa dạng, độc đáo.

Địa hình Karst trên mặt: bao gồm những khối karst sót với đỉnh dạng tháp, vòm, chuông và sườn vách dốc đứng. Phần rìa núi là các thung lũng và đồng bằng Karst rộng lớn, địa hình phẳng, dễ ngập úng vào mùa mưa. Cảnh quan Karst trên mặt vừa có sự trùng điệp, hùng vĩ của những khối núi đá vôi phần trung tâm chạy nối tiếp nhau, vừa có sự nên thơ, non xanh nước biếc của những khối núi sót nhô lên trên bề mặt đồng bằng trũng, soi bóng xuống hồ nước và có cả sự đặc sắc về hình thù như hòn Cá, hòn Ông Rùa, đàn Hải Cẩu và những hình khối mang chiều sâu văn hóa như: hòn Ông Trạng, hòn Tập Sách.

Hang động Karst: gồm những hang đang hoạt động và những hang đã ngừng hoạt động. Vào mùa mưa, nước có thể ngập kín hang, tạo ra các vết sóng trần. Đồng thời, nước Karst từ các khe nứt đổ xuống cũng tạo nên những “vú đá” với kích thước nhỏ. Ở đây tồn tại nhiều loại hình hang động xuyên thủy, một số hang đã từng là ngôi nhà chung của bầy người nguyên thủy và nhiều hang động gắn với sự tích, huyền thoại. Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

Khu du lịch sinh thái Tràng An hiện chưa có đánh giá chính xác được số lượng hang động, chỉ riêng số hang xuyên thủy đã được đo khảo sát là 48 hang với tổng chiều dài là 12.226m. Quần thể hang động, núi, thung, hồ, suối,… đã tạo nên một sinh cảnh Tràng An thơ mộng, “độc nhất vô nhị” ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, “một vùng non nước hữu tình” quần hội nhiều danh lam thắng cảnh độc đáo, đa dạng.

Trong khu hang động Tràng An  không có sông mà chỉ có các thung (hồ lớn), có lạch nhỏ. Tại đây có tới 30 thung (hồ lớn), trong đó thung rộng nhất là thung Đền Trần có diện tích là 2214.600m2, nhỏ nhất là thung Sáng có diện tích là 15.400m2. Hiện nay có một số thung trước là vùng trồng lúa của cư dân, nay đã được nạo vét bùn trở thành một vùng sinh thái ngập nước, thuận lợi cho việc chèo thuyền đưa du khách tham quan quần thể hang động Tràng An.

Tuy nhiên vào mùa mưa, nước tại khu du lịch Tràng An dâng cao, còn mùa khô lại thiếu nước. Đây là một hạn chế về thủy văn của khu du lịch Tràng An. Để khắc phục hạn chế trên, có một dự án xây dựng các trạm bơm, cụm cống và đập nhằm tiêu nước từ khu hang động ra các con sông nằm trong khu vực này vào mùa mưa và lấy nước từ sông cung cấp cho hệ thống giao thông thủy vào mùa khô nhằm giữ nước cho hệ thống giao thông này.

  • Tài nguyên sinh vật

Khu du lịch Tràng An có hai hệ sinh thái chính là: Hệ sinh thái trên núi đá vôi và hệ sinh thái thủy vực. Do đặc điểm môi trường tự nhiên, khu du lịch sinh  thái Tràng An có hệ động, thực vật phong phú, tính đa dạng sinh học cao. Sự đa dạng sinh học là một trong những yếu tố quan trọng của một Tràng An vô cùng hấp dẫn du khách, rất thuận lợi cho phát triển du lịch.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

3.1.2. Tài nguyên du lịch nhân văn: Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

3.1.2.1. Các di chỉ khảo cổ học

Việc phát lộ ra hệ thống hang động Tràng An trong quần thể cố đô Hoa Lư có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Sự kiện này xảy ra đồng thời với việc phát lộ ra Hoàng thành Thăng long, đồng thời đã khẳng định sự đúng đắn của việc định đô của vua Đinh Tiên Hoàng tại Hoa Lư thời kỳ đầu của một nhà nước phong kiến tập quyền. Đó là căn cứ quan trọng để vua khẳng định độc lập chủ quyền của dân tộc trên cơ sở sức mạnh của dân tộc . Đây là gạch nối giữa Hoa Lư và Thăng Long, làm cho dân Ninh Bình và dân cả nước nói chung đều có sự hồi tưởng lại những sự kiện lịch sử đã diễn ra tại kinh đô Hoa Lư và những sự nối tiếp ở kinh thành Thăng Long cho đến Hà Nội hôm nay. Tại các hang động trong quần thể xuyên thủy động Tràng An còn lưu giữ nhiều chứng tích lịch sử của một kinh đô với ba triều đại kế tiếp : Đinh, Tiền Lê, Lý. Có khu vực với rất nhiều phế tích quan trọng khẳng định nơi đó từng là nơi sinh hoạt của các phân quyền ngày xưa ở thế kỷ XIV dưới nhà Trần như: nồi gốm, các bát đĩa cổ. Điều đặc biệt là các phế tích này rất giống các phế tích thấy ở Hoàng thành Thăng Long.

Năm 2016 các nhà khảo cổ học đầu ngành của nước Anh và các nhà khoa học của Việt Nam đã có những chuyến khảo sát Hang Báng- một trong những hang động thuộc khu du lịch Tràng An, đã phát hiện ra những công cụ chặt bằng đá cuội thuộc thời kỳ văn hóa Sơn Vi, những mảnh gốm thuộc thời kỳ văn hóa Đa. Có thể nói, đây là những tư liệu quý để các nhà khoa học tìm hiểu về thời đại đồ đá cũ, về đời sống của người nguyên thủy, về môi trường, quá trình biến đổi tự nhiên trong quá khứ, tìm hiểu về các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần. Đồng thời những phát hiện này sẽ là tiền đề quan trọng để Ninh Bình có hướng khoanh vùng bảo vệ quy hoạch và có hướng đầu tư lớn cho khu du lịch Tràng An.

3.1.2.2. Các giá trị văn hóa

 Khu du lịch Tràng An không chỉ có giá trị về mặt sinh thái, tự nhiên, các giá trị về khảo cổ học mà còn chứa đựng nhiều yếu tố văn hóa. Mỗi hang động mang một tên riêng, không biết từ bao giờ các tiền nhân đã đặt cho các hang động nơi đây những cái tên rất gợi cảm như: hang Seo Lớn, hang Seo bé, hang Si, hang Ao Trai, hang Nấu Rượu, hang Nấu Cơm, hang Sơn Dương, thung Láng, thung Mây, thung Khống, núi Vua, núi Chúa, núi Ông Trạng…Mỗi hang động lại gắn với một truyền thuyết, mang đậm tính văn hóa. Hang Nấu Cơm, Nấu Rượu có truyền thuyết xa xưa có ông khổng lồ nấu rượu và cơm ở đây, mang rượu và cơm ra núi ngồi ăn. Tương truyền nơi đây có dòng nước ngọt tinh khiết, người xưa vào đây lấy nước về để nấu rượu tiến vua thì rượu rất thơm và ngon. Hay hang Ba Giọt có truyền thuyết là: Xưa kia có ba dòng nước chảy tụ về hang. Theo cư dân nơi đây thì cứ đi dọc hang Ba Giọt mà hứng được ba giọt nước từ nhũ đá rơi xuống thì sẽ gặp nhiều may mắn, sự nghiệp sẽ công thành, danh toại. Nếu hứng tiếp ba giọt vào lòng bàn tay để uống thì tình yêu sẽ chung thủy, vẹn tròn. Thiền sư Nguyễn Minh Không khi đến đây tìm thuốc đã phát hiện ra động và từ đó đã biến động thành động thờ Phật, như vậy văn hoá Phật giáo đã được thể thiện đậm nét. Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

Khu du lịch Tràng An có những hang động và những dãy núi đá tự nhiên không chỉ chứa đựng giá trị về cảnh quan thiên nhiên mà còn ẩn chứa nhiều dấu ấn lịch sử và văn hóa truyền thống. Đó là những hang động luôn gắn bó mật thiết với tín ngưỡng của người Việt mà Phật giáo là yếu tố đóng vai trò quan trọng.

  • Nhóm các di tích lịch sử- văn hóa

Cố đô Hoa Lư: Là kinh đô của nhà nước phong kiến tập quyền ở nước ta, thuộc xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, nằm trên một diện tích trải rộng khoảng 400ha.

Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế, hiệu là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt và chọn Hoa Lư là kinh đô. Kinh đô Hoa Lư tồn tại 41 năm (từ năm 968 đến năm 1009) trong đó 12 năm là triều đại nhà Đinh và 29 năm kế tiếp là triều đại nhà Tiền Lê (người đầu tiên là Lê Hoàn lên ngôi Hoàng Đế hiệu là Lê Đại Hành). Trước khi rời đô về kinh thành Thăng Long, Lý Công Uẩn lên ngôi vua tại Hoa Lư, lấy đế hiệu là Lý Thái Tổ.

Hơn ngàn năm trước, Hoa Lư là đế đô thật nguy nga, tráng lệ. Những núi đồi trùng điệp xung quanh vòng đai kinh đô như tấm bình phong; sông Hoàng Long uốn khúc và cánh đồng Hoa Lư Nho Quan, Gia Viễn mênh mông là hào sâu thiên nhiên rất thuận lợi về mặt quân sự. Khu thành Hoa Lư rộng đến 300ha. Thành gồm hai khu là khu trong và khu ngoài, thông với nhau bằng một lối đi nhỏ hẹp và hiểm trở. Mỗi khu gồm có nhiều vòng, nhiều tuyến nhỏ. Theo truyền thuyết, cung điện được xây ở thành ngoài. ở phía Đông có lối đi chính vào thành. Đến năm 1010 Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, từ đó kinh đô Hoa Lư trở thành cố đô. Ngày nay trên nền cung điện năm xưa là hai ngôi đền cách nhau chừng 500m. Một đền thờ Đinh Tiên Hoàng và một đền thờ Lê Đại Hành. Về thăm lại đất Hoa Lư là dịp để chúng ta chiêm ngưỡng các công trình kiến trúc, những nét đẹp của toàn bộ khu di tích, ghi dấu thời kỳ mở nước huy hoàng, độc lập, tự chủ của đất nước Đại Cồ Việt từ ngàn năm về trước…

Đền vua Đinh (làng Trường Yên Thượng, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư): Đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng. Đền toạ lạc trên khuôn viên diện tích chừng 5 ha, thờ vua Đinh Tiên Hoàng. Đền được xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ 17, theo kiểu “nội công, ngoại quốc”. Lớp ngoài là Ngọ môn quan (cổng ngoài) có 3 gian lợp ngói. Qua một sân ngắn vào đến lớp thứ hai là đến Nghi môn (cổng trong) 3 gian dựng bằng gỗ lim kiến trúc theo 3 hàng chân cột. Bốn góc ngoài của Nghi môn nội có xây bốn cột trụ cao. Đi hết chính đạo, qua hai cột trụ lớn là đến sân rồng. Giữa sân rồng có một long sàng bằng đá xung quanh chạm nổi, dài 1,8m, rộng 1,4m. Hai bên sập rồng có 2 con nghê đá chầu, được tạc trên hai tảng đá xanh nguyên khối đẹp.

Từ sân rồng bước lên là Bái đường 5 gian, kiến trúc độc đáo. Tiếp đến là Thiêu hương, kiến trúc theo kiểu ống muống, nơi thờ tứ trụ triều đình nhà Đinh. Đi hết toà Thiêu hương du khách bước vào chính cung 5 gian. Gian giữa thờ tượng vua Đinh được đúc bằng đồng đặt trên bệ thờ bằng đá xanh nguyên khối. Hai bên bệ đá có hai con rồng chầu bằng đá, tạc theo kiểu yên ngựa. Gian bên phải thờ tượng Đinh Hạng Lang (ngoài), Đinh Toàn (trong) đều quay mặt về phía Bắc, là hai con thứ của vua Đinh Tiên Hoàng. Gian bên trái thờ tượng Đinh Liễn quay mặt về phía nam là con trưởng của vua Đinh Tiên Hoàng.

Đền Đinh Tiên Hoàng là một kiến trúc độc đáo trong nghệ thuật chạm khắc gỗ và đá của các nghệ sĩ dân gian Việt Nam ở thế kỷ 17 – 19. Đền vua Đinh nằm giữa các tán cây đại thụ, các vườn cây ăn quả, cây cảnh đan xen nhau càng tạo nên vẻ bề thế, hoành tráng tôn nghiêm của ngôi đền. Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

Đền vua Lê (làng Trường Yên Hạ, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư): Đền thờ vua Lê Đại Hành cách đền vua Đinh chừng 300m. Đền nằm ở làng Trường Yên Hạ nên còn gọi là đền Hạ. Trước mặt đền là núi Đèn, sau lưng là núi Đìa. Đền có qui mô nhỏ hơn đền vua Đinh. Qua Nghi môn ngoại (cửa ngoài) theo đường chính đạo lát gạch, phía bên trái là một hòn non bộ lớn, cao 3m tượng hình chim phượng múa, mỏ quay vào đền, hai cánh như đang bay. Bên tay phải là nhà Tiền bái, ở mặt tiền có hòn non bộ “Hổ phục” gồm gốc cây duối thân to có 9 núi, tuổi thọ trên 300 năm. Bên trái nhà Tiền bái có hòn non bộ có dáng “voi quỳ” được khắc hai chữ Hán “Bất di”.

Qua Nghi môn nội (cửa trong) cũng 3 gian, theo chính đạo kiến trúc đăng đối là hai vườn hoa, tiếp đó là hai dãy nhà vọng. ở giữa vườn hoa bên phải có hai non bộ “Phượng ấp”, bên trái là hòn non bộ “Long Mã”. Ở sân rồng gần gian giữa của Bái đường có long sàng bằng đá. Đền có ba toà: toà ngoài là Bái đường; toà giữa là Thiêu hương thờ Phạm Cự Lượng (người có công với vua Lê Đại Hành) và Chính cung nơi đặt tượng vua Lê Đại Hành (gian giữa), tượng thái hậu Dương Vân Nga (bên trái) và tượng Lê Long Đĩnh con thứ 5 của vua Lê (bên phải). Điều đặc biệt ở đền thờ vua Lê Đại Hành là nghệ thuật chạm khắc gỗ ở thế kỷ 17 đã đạt đến trình độ điêu luyện, tinh xảo. Đền được xây dựng để tỏ lòng biết ơn của nhân dân đối với ông vua đã có công lớn lao trong việc xây dựng đất nước vào thế kỷ thứ 10.

Chùa Bích Động (thôn Đam Khê trong, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư): Chùa Bích Động là một công trình kiến trúc cổ được xây dựng trên sườn núi Bích Động. Điều độc đáo là chùa được xây cất ở sườn núi cao, dựa vào thế núi. Núi, động và chùa đan quyện, hài hòa bổ sung cho nhau, ẩn hiện giữa những cây đại thụ hòa nhập với cảnh trí thiên nhiên. Toàn công trình chùa Bích Động bao gồm 3 ngôi chùa: chùa Hạ, chùa Trung và chùa Thượng.

Chùa Hạ có 5 gian xây trên một nền cao dưới chân núi. Gian giữa phía ngoài treo bức đại tự “Mạo cổ Thần Thanh”, nghĩa là hình dáng ngôi chùa này từ xưa đến nay có tiếng thanh bạch. Trong chùa thờ phật như các ngôi chùa khác. Chùa Trung được xây ở lưng chừng núi cách chùa Hạ khoảng 80 bậc đá, có kiến trúc bán mái phía ngoài. Đây là ngôi chùa rất độc đáo: một cửa gắn vào hang động, một cửa lộ thiên. Toàn bộ phần sau của chùa nằm gọn trong một động to. Phía trên ngôi chùa có hai chữ “Bích Động” viết theo lối đại tự chân phương khuôn chữ dài 1,5m được khắc vào vách đá ngay trước cửa động. Chùa Thượng cách chùa Trung khoảng 30 bậc đá còn được gọi là chùa Đông. Trong chùa chỉ thờ tượng Phật Bà Quan Âm. Hai bên chùa có 2 miếu thờ, bên phải thờ Sơn Thần, bên trái thờ Thổ Địa.

Đền Thái Vy (thôn Văn Lâm, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư): Đền thờ Trần Nhân Tông, hoàng hậu Thuận Thiên và Trần Thánh Tôn. Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

Đền Thái Vy được xây dựng theo kiểu “nội công, ngoại quốc”. Trước đền có giếng Ngọc xây bằng đá xanh. Qua nghi môn phía bên phải là gác chuông hai tầng, tám mái, xây theo kiểu chồng diêm. Gác chuông làm bằng gỗ lim, mái lợp ngói mũi hài, các đầu đao cong vút như đuôi chim phượng. Bên hông có quả chuông đúc năm 1698. Từ sân rồng bước theo các bậc đá có độ cao 1,2m là đến Ngũ Đại môn (5 cửa lớn), có 6 cột đá tròn song song đều được chạm khắc nổi chầu và chính điện. Qua 5 cửa lớn là đến Bái Đường 5 gian uy nghi cũng có 6 cột đá vuông chạm khắc câu đối ở mặt ngoài, các mặt khác chạm khắc nổi: long, ly, quy, phượng, cá chép hoá long. Tiếp theo 4 hàng cột, đều được chạm khắc nổi long vân. Qua Trung đường vào 5 gian Chính tẩm cũng có 8 cột đá tròn được chạm khắc nổi: cầm, kỳ, thi, họa. Trong cung khám của Chính Tẩm giữa là tượng Trần Thánh Tông, bên trái là tượng Trần Thái Tông, bên phải là tượng hoàng hậu Thuận Thiên. Ngoài ra, trong Chính Tẩm còn phối thờ Trần Nhân Tông (bài vị thờ), Trần Anh Tông.

Hàng năm cứ đến ngày 14 tháng 3 (âm lịch), lễ hội đền Thái Vy được tổ chức, gọi là quốc lễ. Đây là dịp để nhân dân Ninh Bình và nhân dân cả nước tưởng nhớ công lao các vua Trần – những người có công lớn với dân, với nước. Hình thức tổ chức lễ hội gồm hai phần: phần lễ và phần hội. Phần lễ được tiến hành hai hình thức: rước kiệu và tế. Phần hội ở đền Thái Vy thực sự là phần vui chơi giải trí của nhân dân và những người đến dự với các trò múa lân, múa rồng, đánh cờ người, đấu vật, bơi thuyền…

  • Nhóm các lễ hội

Lễ hội cũng là một tài nguyên rất quan trọng của khu du lịch Tràng An cần được trú trọng đầu tư phát triển. Do được hình thành trong một không gian văn hóa, lại nằm trên một mảnh đất truyền thống hàng nghìn năm lịch sử – Cố đô Hoa Lư nên khu du lịch Tràng An là nơi được chứng kiến và tham gia nhiều lễ hội truyền thống gắn với các di tích lịch sử rất có ý nghĩa như :

Lễ hội cố đô Hoa Lư (Lễ hội Trường Yên): tổ chức từ ngày mùng  8 đến ngày 13/3 âm lịch hàng năm tại xã Trường Yên. Lễ hội cố đô Hoa Lư là một lễ hội truyền thống được mở ra để suy tôn công lao của các vị anh hùng dân tộc đã xây dựng kinh đô Hoa Lư, lập ra nhà nước Đại Cồ Việt thế kỷ X mà tiêu biểu là hai vị vua Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành. Lễ hội diễn ra tại quảng trường trung tâm khu du tích cố đô Hoa Lư và các di tích. Đây là một lễ hội truyền thống hướng về cội nguồn của dân tộc.

Lễ hội chùa Bái Đính: Lễ hội được tổ chức từ ngày mùng 6 tháng giêng đến hết tháng 3 (âm lịch) hàng năm, khởi đầu cho những lễ hội hành hương về vùng đất cố đô Hoa Lư. Lễ hội được tổ chức tại thôn Sinh Dược, xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Lễ hội tổ chức để tưởng nhớ các vị anh hùng dân tộc có công với nước, với dân.

Lễ hội đền Thái Vi: Được tổ chức vào từ ngày 14-17/3 âm lịch hàng năm tại thôn Văn Lâm – xã Ninh Hải – huyện Hoa Lư. Đây là dịp để nhân dân Ninh Bình và nhân dân cả nước tưởng nhớ công lao của các vị vua Trần, những người có công lớn đối với đất nước. Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

Ngoài ra còn có một số lễ hội khác tại các di tích lịch sử nằm trong khu du lịch Tràng An như: lễ hội chùa Bàn Long, lễ hội đền Trần, lễ hội phủ Khống…Việc tổ chức các lễ hội truyền thống góp phần vào việc khai thác các giá trị văn hóa đưa vào phục vụ du lịch, giao lưu văn hóa với các nơi khác.

  • Các làng nghề truyền thống:

Làng nghề thêu ren Văn Lâm: Tương truyền, từ năm 1285, khi vua Trần Thái Tông tròn 40 tuổi, nhường ngôi cho con lên làm Thái Thượng Hoàng đã về vùng núi Vũ Lâm tu hành (xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư), bà Trần Thị Dung là vợ Thái sư Trần Thủ Độ theo triều đình nhà Trần về đây đã truyền dạy cho nhân dân thôn Văn Lâm nghề thêu ren. Như thế, nghề này đến nay đã có trên 700 năm. Hiện nay ở Ninh Hải, gia đình nào cũng có nhiều loại khung thêu. Bằng những sợi chỉ mảnh mai, cùng những miếng vải rộng, hẹp, đủ mọi mầu sắc, với đôi bàn tay khéo léo, người thêu ren đã tạo nên những tác phẩm nghệ thuật. Đường nét thêu ren rất tinh xảo, uyển chuyển, mềm mại, thanh tú, nhưng lại sống động, mịn màng như những nét vẽ. Sản phẩm thêu ren rất phong phú: ga trải giường, rèm cửa, gối, khăn bàn, tranh, ảnh…

Làng nghề chạm khắc đá Ninh Vân: Nói đến xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư, nhân dân cả nước đều biết đến nghề cổ truyền chạm khắc đá. Từ những hòn đá sù sì, qua bàn tay của người thợ đã thành những tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo. Sản phẩm đá gồm các loại: tượng, chim thú, bể cảnh, bia, thống, chậu hoa, bàn, ghế, sập, hương án, ngai, cầu, cổng, ngưỡng cửa, xà nhà… Tất cả đều được chạm khắc tinh tế, sống động, đường nét tao nhã, uyển chuyển, mềm mại, bởi đôi bàn tay và khối óc của các nghệ nhân.

  • Ẩm thực

Tái dê Hoa Lư: Huyện Hoa Lư có nhiều dãy núi đá vôi nên nghề nuôi dê ở Hoa Lư rất phát triển. Người ta bắt dê núi về làm lông, thui vàng, mổ ra ướp với lá hương nhu hoặc lá cúc tần hơn chục phút, rồi lọc lấy thịt (để cả da) đem nhúng vào nước sôi cho chín tái sau đó thái nhỏ, mỏng đều. Lấy vừng đã rang giã dập, sả thái nhỏ, lá chanh, gừng, ớt tươi thái nhỏ, nước chanh, bột ngọt đổ vào thịt dê tái đã thái, tất cả trộn đều thành món tái dê vô cùng hấp dẫn. Tái dê phải ăn kèm với lá sung, chuối xanh, khế lá mơ và không thể thiếu tương gừng để chấm. Nếu có thêm chén rượu Lai Thành để uống thì quả là điều thú vị.

Nhất hưởng thiên kim (cơm cháy): Cơm cháy được làm từ cơm đã nấu chín, dàn mỏng ra thành hình tròn, để cho nguội, khô rồi bỏ vào chảo dầu rán cho đền khi giòn vàng, lấy ra bẻ thành từng tảng nhỏ và để vào bát to. Thịt bò thăn thái lát, tim cật lợn thái mỏng, ướp gia vị cùng với cà chua, cà rốt, hành tây, nấm hương trộn đều, xào cho chín rồi đổ vào bát. Cơm cháy bốc khói tỏa mùi thơm. Cơm cháy giòn tơi chứa nhiều hương vị của món ăn thập cẩm nóng sốt, đậm đà không bao giờ quên được.

Mắm tép Gia Viễn: Ngày nay người ta đã chế biến nhiều loại nước mắm nổi tiếng nhưng có lẽ mắm tép Gia Viễn vẫn là loại mắm đặc sản và độc đáo của người dân NinhBình. Là huyện đồng bằng chiêm trũng, nên người dân Gia Viễn đã có nghề riu tép từ lâu. Người ta dùng tép riu làm mắm, gọi là mắm tép. Tép riu phải là tép già, thân tròn, nhỏ con, màu xanh lam. Điều quan trọng là tép phải tươi, đem rửa sạch, để khô. Sau đó lấy thính gạo rang vàng, giã nhỏ cùng với muối trộn đều với tép theo tỷ lệ, bỏ vào hũ có thể đổ thêm ít nước đã đun sôi để nguội, rồi bịt kín, để từ một tháng trở lên mới đem nấu chín ăn. Bát mắm tép có màu đỏ tươi, có mùi thơm ngọt rất hấp dẫn.Người ta có thể rang mắm tép với thịt ba chỉ. Ăn mắm tép Gia Viễn không cần cho thêm bột ngọt vẫn có vị ngon ngọt đậm đà. Ngày nay mắm tép Gia Viễn đã trở thành đặc sản của các bữa tiệc khi có thêm đĩa rau ngon. Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

3.1.5. Đánh giá chung về tài nguyên du lịch tại khu du lịch Tràng An.

Qua nghiên cứu, khảo sát, đánh giá tài nguyên du lịch tại khu du lịch Tràng An, trên cơ sở so sánh với các địa phương phụ cận, các điểm và các khu du lịch trong toàn tỉnh có thể thấy những điểm chính của tài nguyên du lịch Tràng An gồm:

Tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng, có giá trị về thẩm mĩ và văn hóa. Địa hình đa dạng có sự kết hợp các yếu tố tự nhiên khác. Đồng thời lại nằm trên một vùng đất cố đô của nước Đại Việt đã tạo cho khu du lịch sự nổi trội về tính đa dạng và phong phú của tài nguyên du lịch được xét trong cả hai nhóm: Tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn.

Vị trí địa lý rất thuận lợi trong việc khai thác các giá trị tài nguyên phục vụ việc phát triển du lịch. Vị trí địa lý kết hợp cùng các yếu tố địa chất, địa hình, khí hậu, thủy văn và sinh vật cùng tài nguyên du lịch nhân văn rất thuận lợi để phát triển cả loại hình du lịch tự nhiên và du lịch nhân văn.

Cảnh quan trong khu du lịch Tràng An hầu như còn rất mới mẻ, tài nguyên còn tương đối nguyên vẹn chưa chịu nhiều sự tác động của con người. Môi trường sinh thái trong lành, chưa bị ô nhiễm cả về nguồn nước và không khí. Dân cư chưa bị thương mại hóa bởi hoạt động du lịch. Tuy nhiên, do đặc điểm về tự nhiên và nhân văn nên khá nhạy cảm và dễ bị “ tổn thương” nên cần có biện pháp để giữ gìn và phát triển bền vững.

Khu du lịch Tràng An có nhiều tài nguyên du lịch đặc sắc, độc đáo có khả năng khai thác làm sản phẩm du lịch. Nếu quy hoạch và khai thác tốt có thể trở thành điểm du lịch hấp dẫn có khả năng cạnh tranh cao không chỉ trong khu vực Ninh Bình mà còn có tầm vóc quốc gia và quốc tế với phong cảnh nguyên sơ của núi rừng, hang động, kết hợp với dòng sông xanh biếc trong veo tạo cho du khách một cảm giác vô cùng thích thú và mới lạ khi du thuyền tham quan quang cảnh nơi đây.

3.2. Hiện trạng phát triển du lịch tại Tràng An Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

3.2.1. Lượng khách du lịch và doanh thu:

Với những thuận lợi về vị trí địa lý cũng như bởi sự hấp dẫn của vẻ đẹp tự nhiên, nền văn hóa và con người Tràng An, lượng khách du lịch đến Ninh Bình nói chung và khu du lịch Tràng An nói riêng liên tục có chiều hướng tăng lên trong những năm gần đây.

Bảng 3.1: Số liệu kinh doanh du lịch trong Quần thể danh thắng Tràng An

STT Các chỉ tiêu Năm
2019 2020 2021 2022 2023 6/2024
1 Lượt khách 2.141.170 2.478.280 3.214.426 3.647.003 3.514.457 3.464.166
2 Quốc tế 258.217 269.730 574.676 434.331 423.155 218.839
3 Nội địa 1.882.953 2.208.550 2.639.750 3.212.672 3.091.302 3.245.327

Nguồn: Ban quản lý quần thể danh thắng Tràng An

Tuy nhiên qua thống kê, sự tăng lên này giữa các tháng trong năm không đồng đều. Lượng khách tại khu du lịch Tràng An tăng từ tháng 1 cho đến tháng 6.  Nguyên nhân là do thời tiết những tháng này thuận lợi cho hoạt động du lịch tham quan hang động. Từ tháng 7 số lượng khách giảm dần  do đây là mùa mưa lũ nước dâng cao ngập hang động không thuận lợi cho hoạt động du lịch, đồng thời khí hậu vào mùa hè, lượng khách tập trung đi tắm biển nhiều hơn.

Bảng 3.2. Kết quả kinh doanh của khu du lịch Tràng An năm 2018  

Tháng Số lượng khách (lượt) Doanh thu (triệu đồng)
1 11920 715200
2 23600 1416000
3 32701 1962060
4 45801 2748066
5 31602 1896120
6 35181 2110860
7 29016 1740960
8 8324 499440
9 9072 544320
10 21180 1270800
11 29382 1762920
12 25194 1511640

Nguồn: Sở Văn hóa thể thao và Du lịch Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

Qua bảng số liệu ta thấy từ tháng 1 đến tháng 4 số lượng khách tăng rất nhanh từ 11920 lượt lên 45801 lượt tức là tăng 2,7 lần. Nguyên nhân của sự tăng mạnh này là do từ sau tết, tức là tháng 2 du khách thường đi lễ chùa đầu năm ở chùa Bái Đính sau đó về thăm hang động Tràng An. Thời tiết lại thuận lợi cho hoạt động du lịch. Tháng 5, tháng 6 số lượng khách giảm dần nhưng giảm không nhiều.Tháng 7, 8, 9 lượng khách giảm mạnh từ 35181 xuống 9072 lượt tức là giảm 3,8 lần. Nguyên nhân là do các tháng này là mùa mưa, các hang động bị ngập nước, không thuận lợi cho hoạt động kinh doanh du lịch. Các tháng cuối năm số lượng khách tăng dần từ 9072 lượt lên 29382 lượt tức là tăng 3,2 lần. Sau thời gian lụt các hang lại hoạt động bình thường nhưng do thời tiết vào mùa đông lạnh nên khách cũng ít đến so với những tháng đầu năm.Tương tự như số lượng khách doanh thu của Tràng An cũng tăng dần từ tháng 4 đến tháng 6 tăng từ 715200 triệu đồng lên 2748066 triệu đồng tức là tăng 3,4 lần, tháng 5, tháng 6 giảm dần từ 2748060 triệu đồng xuống 2110860 triệu đồng tức là giảm 1,3 lần.Tháng 7,8,9 doanh thu giảm mạnh từ 1740960 triệu đồng xuống 544320 triệu đồng giảm 3,1 lần. Tháng 10,11,12 doanh thu lại tăng lên theo số lượng khách từ 544320 lên 1511640 triệu đồng.

3.2.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch

Do khu du lịch Tràng An mới được khai thác phục vụ du lịch nên nhìn chung cơ sở vật chất kỹ thuật cũng còn có những hạn chế. Hiện tại, Tràng An chỉ đáp ứng được nhu cầu tham quan, khám phá của du khách chứ chưa đáp ứng được nhu cầu ăn, nghỉ, vui chơi giải trí của khách khi đến Tràng An. Do đó việc lưu giữ chân khách ở lại dài ngày hay quay trở lại cũng gặp nhiều khó khăn.

Trong thời gian qua, với sự đầu tư của nhà nước và các đơn vị tư nhân, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch đã được cải thiện đáng kể. Tuy chưa thể đáp ứng được nhu cầu của khách mong được nghỉ ngơi và tận hưởng không khí trong lành, vẻ đẹp nên thơ ngay tại trung tâm khu du lịch nhưng với vị trí thuận lợi, cách TP Ninh Bình 7km, cách khu tâm linh núi chùa Bái Đính 17 km nên nếu khách du lịch đến khu du lịch Tràng An vẫn có thể lưu lại dài ngày tại các cơ sở lưu trú trong địa bàn TP Ninh Bình hoặc các huyện lân cận như Hoa Lư, Gia Viễn. Nếu như năm 2019, toàn tỉnh có 187 cơ sở lưu trú với 3041 phòng nghỉ thì đến tháng 12/2023 năng lực lưu trú của ngành du lịch Ninh Bình đã đạt 286 cơ sở lưu trú với 4.508 buồng nghỉ, trong đó có 10 khách sạn 1 sao, 28 khách sạn 2 sao, 01 khách sạn 3 sao và 03 khách sạn 4 sao.

3.2.3. Nguồn lực lao động Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

Trong hoạt động du lịch thì nguồn nhân lực đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của khu du lịch. Nguồn nhân lực bao gồm đội ngũ cán bộ quản lý, hướng dẫn viên, những người dân địa phương tham gia hoạt động du lịch, những người trực tiếp tham gia phục vụ du lịch…

Tại khu du lịch Tràng An, hiện nay doanh nghiệp Xuân Trường được UBND tỉnh Ninh Bình tạm giao cho quản lý và thu phí từ hoạt động du lịch. Đây là một doanh nghiệp có uy tín và có sự đầu tư khá lớn vào khu du lịch. Hiện nay khu du lịch Tràng An đã thành lập được ban tổ chức với bộ phận điều hành và bộ phận bán vé tham quan du lịch. Khách đến khu du lịch sẽ không phải chờ đợi lâu để mua vé và sắp xếp thuyền tham quan.

Về cộng đồng dân cư địa phương hoạt động du lịch: Gồm dân cư của 8 xã thuộc 2 huyện và 1 xã thuộc thành phố Ninh Bình. Nhìn tổng thể tại khu du lịch có người dân tham gia thì phần lớn là những người có độ tuổi từ 30-55 tuổi. Sự phân chia giới tính cũng thể hiện rõ ràng. Hầu hết lao động hoạt động tại khu du lịch là nữ giới. Người dân tham gia làm du lịch phần đông là lao động phổ thông, trước đây làm nông nghiệp, sau bán ruộng mua thuyền của doanh nghiệp Xuân Trường tham gia chở thuyền cho khách tham quan vì vậy cuộc sống của họ phụ thuộc rất nhiều vào du lịch. Bên cạnh đó còn một bộ phận những người dân tham gia phục vụ ăn uống và bán đồ lưu niệm cho khách. Những người dân địa phương nơi đây cũng được tham gia các lớp tập huấn đơn giản về du lịch, bước đầu họ cũng được trang bị những kiến thức cơ bản về du lịch và ý thức bảo vệ môi trường nên khi chở thuyền đưa khách tham quan họ có trách nhiệm nhắc nhở khách không vứt rác bừa bãi và bảo vệ môi trường sinh thái tại khu du lịch. Tuy nhiên, những kỹ năng về nghề nghiệp và nhận thức về du lịch còn hạn chế, đặc biệt là ứng xử và phục vụ khách. Vẫn còn một số hiện tượng gợi ý xin tiền khách, chưa thể hiện được sự nhiệt tình, lòng hiếu khách của con người Tràng An vì vậy mà chưa gây được ấn tượng mạnh mẽ đối với khách du lịch khi họ đến Tràng An.

Vì là khu du lịch mới nên đội ngũ hướng dẫn viên chưa đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch về số lượng cũng như chất lượng. Đây là bộ phận quan trọng đối với mỗi khu du lịch, điểm du lịch để hướng dẫn tham quan cho du khách. Khi muốn tìm hiểu những thông tin về khu du lịch du khách có thể hỏi những người chèo thuyền nhưng vì họ không phải là hướng dẫn viên nên họ chỉ có thể đáp ứng những thông tin cơ bản chứ không thể thuyết minh để du khách thấy hết được nét hấp dẫn của khu du lịch. Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

Nhìn chung nguồn lao động tại khu du lịch Tràng An còn rất hạn chế về mặt trình độ và nghiệp vụ du lịch, nguồn lực đang trở thành vấn đề bức xúc cần được giải quyết để du lịch phát triển tương xứng với tiềm năng của khu du lịch.

3.2.4. Hoạt động quảng bá du lịch

Ninh Bình là một tỉnh được thiên nhiên khá ưu đãi về tài nguyên du lịch, được sự quan tâm của Trung ương đã đầu tư xây dựng ở Ninh Bình với rất nhiều những điểm du lịch hấp dẫn. Tràng An là khu du lịch còn khá nguyên sơ và có tiềm năng du lịch rất lớn. Sau khi hoàn thành đầu tư xây dựng Tràng An sẽ trở thành sức bật mới của du lịch Ninh Bình. Trong khi cả nước thực hiện chương trình hành động quốc gia về du lịch nhằm đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước thì việc khai thác hiệu quả trong kinh doanh du lịch có ý nghĩa vô cùng to lớn. Chính vì thế việc nghiên cứu thăm dò thị trường, tìm hiểu nhu cầu thị hiếu của khách để đưa ra một chính sách marketing phù hợp được các doanh nghiệp vận dụng một cách linh hoạt để đạt được kết quả cao nhất trong kinh doanh du lịch. Khu du lịch Tràng An cũng đã từng bước sử dụng chính sách marketing quảng bá rộng rãi hình ảnh của Tràng An bằng nhiều phương tiện khác nhau, qua đó để Tràng An trở thành điểm đến của du khách trong nước và quốc tế.

Hiện nay Tràng An cũng đã sử dụng nhiều hình thức quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng như : Trương trình du lịch cuối tuần trên đài truyền hình, giới thiệu khu du lịch có cả hình ảnh và thuyết minh trên một số trang Web như trang Web của du lịch Ninh Bình và một số trang Web của các bạn trẻ Ninh Bình giới thiệu về tài nguyên và nét hấp dẫn của Ninh Bình. Ngoài ra Tràng An cũng đã xuất hiện trên các tạp chí du lịch Việt Nam có cả lời giới thiệu không chỉ bằng tiếng Việt để phục vụ nhu cầu tìm hiểu của du khách trong và ngoài nước.

Nhìn chung khu du lịch Tràng An cũng đã thu được một số những kết quả đáng kể trong chiến dịch quản bá khu du lịch nên lượng khách du lịch biết đến Tràng An ngày càng nhiều. Điều này thể hiện rõ nét qua lượng khách đến du lịch tại Tràng An năm sau cao hơn năm trước. Ban quản lý dự án nên đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền quảng cáo để du lịch Tràng An trở thành điểm nhấn của du lịch Ninh Bình tương xứng với tiềm năng của khu du lịch.

3.2.5. Công tác đầu tư nghiên cứu khoa học, trùng tu, tôn tạo các di tích: 

Trong những năm qua, tỉnh Ninh Bình đã dành và huy động một nguồn kinh phí tương đối lớn cho hoạt động nghiên cứu khoa học, trùng tu, tôn tạo các di tích, bảo tồn di sản và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc quản lý, bảo vệ và phát huy các giá trị di sản của quần thể danh thắng Tràng An. Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

Bảng 3.3. Một số nguồn vốn đầu tư gần đây cho quần thể danh thắng Tràng An

Dự án / hoạt động Nguồn/ Đơn vị thực hiện Năm Số vốn (nghìnVNĐ)
Dự án thành phần của Kế hoạch tổng thể Bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của khu di tích văn hóa lịch sử cố đô Hoa Lư tỉnh Ninh Bình, giai đoạn từ năm 2000 đến 2024 Sở VHTTDL Ninh Bình 2012-2021 7.500.000
Dự án đầu tư xây dựng các cửa Bắc, Đông, Nam dẫn vào khu bảo vệ đặc biệt trung tâm cố đô Hoa Lư Sở VHTTDL Ninh Bình 2014-2019 24581.000
Dự án nạo vét tuyến giao thông thủy Bích Động- hang Bụt và Thạch Bích- thung Nắng Ban quản lý quần thể danh thắng Tràng An 2012-2015 78.341.000
Dự án đầu tư tôn tạo, phục hồi di tích cố đô Hoa Lư Sở VHTTDL Ninh Bình 2014-2015 26.339.000
Dự án đầu tư tôn tạo, phục hồi công trình sân gạch lễ hội trước đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng và vua Lê Đại Hành Sở VHTTDL Ninh Bình 2018-2019 61.850.000
Dự án đầu tư tôn tạo, phục hồi khu sinh thái Tràng An Doanh nghiệp xây dựng Xuân Trường 2014-2020 2.614.000.0 00
Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng khu quần thể hang Am Tiên, bãi đỗ xe và khu dịch vụ cố đô Hoa Lư- Tràng An Ban quản lý quần thể danh thắng Tràng An 2020-2022 1.300.848
Dự án nghiên cứu về giá trị thẩm mĩ, địa chất, địa mạo của Quần thể danh thắng Tràng An Ban quản lý quần thể danh thắng Tràng An 2021 6.669.784
Dự án nghiên cứu, thăm dò và khai quật khảo cổ để cho bằng chứng rõ rang về sự tương tác giữa con người và cảnh quan môi trường tự nhiên Ban quản lý quần thể danh thắng Tràng An 2021 3.817.000
Tuyên truyền về bảo vệ di sản cho người dân ở trong khu quần thể di sản được đề cử Ban quản lý quần thể danh thắng Tràng An 2021 100.000

Nguồn: Ban quản lý quần thể danh thắng Tràng An Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

Dự kiến trong giai đoạn 2025-2030, Tại khu du lịch Tràng An sẽ huy động khoảng 2.329 tỷ đồng cho công tác đầu tư, tu bổ, tôn tạo, phục hồi các di tích, di dời, tái định cư, giãn dân ra khỏi vùng lõi của di sản, nghiên cứu khoa học, chỉnh trang, nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật.

Như vậy có thể nói, công tác đầu tư, tu bổ, tôn tạo, phục hồi các di tích, nghiên cứu khoa học, chỉnh trang nâng cấp cơ sở hạ tầng trong khu du lịch Tràng An đã được quan tâm, đảm bảo càng gần với mục tiêu phát triển bền vững.

3.2.6. Hiện trạng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch

Dự án xây dựng CSHT khu du lịch sinh thái Tràng An do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh Bình làm chủ đầu tư; cơ quan quản lý trực tiếp là UBND tỉnh. Dự án này bao gồm các dự án thành phần: xây dựng CSHT khu dịch vụ; xây dựng CSHT khu núi chùa Bái Đính; cải tạo núi Rạch, núi Nghẽn – huyện Hoa Lư; xây dựng khu Công viên văn hóa Tràng An; xây dựng CSHT khu động Am Tiên, bãi đỗ xe và khu dịch vụ phục vụ khu Cố đô Hoa Lư – Tràng An.

  • Hệ thống cung cấp điện

Hiện tại khu vực Tràng An đang được cấp điện chủ yếu qua 03 đường dây thuộc các trạm Trung gian Yên Bình – Yên Mô, Hợp Bình – Hoa Lư và Trung gian Rịa – Nho Quan thông qua các trạm biến áp 10/0,4KV cấp điện cho các trạm bơm tưới tiêu, trạm điện phục vụ sinh hoạt nông thôn qua hệ thống lưới điện 0,4 KV cấp cho các hộ tiêu dùng điện. Hệ thống lưới điện này được xây dựng từ những năm 80 với kết cấu chắp vá và năng lực công suất truyền tải, phân phối với quy mô nhỏ chỉ đủ đáp ứng nhu cầu cơ bản cho điện sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp. Ngoài ra, theo quy hoạch được duyệt, đã hoàn thiện các hạng mục điện chiếu sáng từ quốc lộ 1A  đến chùa Bái Đính (1000 cột), điện chiếu sáng hang động, khu nhà chờ, nhà hàng, chùa Bái Đính.

  • Hệ thống cấp, thoát nước

Hệ thống điều tiết nước ở Tràng An gồm ba trạm bơm: Lò Đá; Áng Mương; Thung Rồng và cống đập Bậc Bài. Hệ thống trên có nhiệm vụ tiêu nước vào mùa mưa, cấp nước vào mùa khô, điều tiết nước giữa hai khu du lịch sinh thái Tràng An và khu du lịch Tam Cốc – Bích Động. Hệ thống này tạo điều kiện cho khu du lịch có thể hoạt động quanh năm mà không bị ảnh hưởng bởi hiện tượng lũ vào mùa mưa và kiệt vào mùa khô. Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

  • Hệ thống cung cấp nước sạch

Tại khu du lịch, nguồn nước mặt chủ yếu lấy từ sông Hoàng Long và trong các khe nước lùng trong núi ra ở các thung Khống, thung Nấu Rượu. Tuy vậy, nước sạch mới chỉ cung cấp một phần cho nhu cầu dân sinh một số khu vực, nhiều hang động, đền, đình, chùa còn phải sử dụng nước mưa.

  • Hệ thống thoát nước

Tại khu du lịch sinh thái Tràng An, nước mưa và nước thải dùng hệ thống thoát nước riêng. Đường cống thoát được bố trí đi ở hè đường trước các công trình. Toàn bộ lượng nước mưa được thu vào hệ thống thoát nước bố trí dọc theo các trục đường rồi dẫn về hệ thống thoát nước chính. Tuy nhiên vẫn còn một số điểm du lịch quan trọng như khu vực chùa Bái Đính chưa có hệ thống thu thoát nước mưa, chưa có hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt.

Hệ thống thu gom rác thải: Các công trình vệ sinh công cộng, các thùng chứa rác thải đã được lắp đặt và xây dựng. Tuy nhiên tại một số điểm dừng chân thì cần bổ sung thêm thùng rác (phủ Khống, phủ Đột, đền Trần…) đảm bảo sự tiện lợi cho khách du lịch đồng thời giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi trường. Cũng cần trang bị thêm những thùng rác nhỏ trên thuyền cho du khách vứt rác thải, tránh tình trạng vứt rác bừa bãi khi tham quan. Hiện nay khi đi trên thuyền tham quan các hang động du khách bắt gặp một số thuyền nhỏ đi vớt rác thải và xác của động vật chết làm sạch môi trường nước. Đây là một việc làm cụ thể và khá thiết thực không những góp phần rất lớn vào việc bảo vệ môi trường mà còn nâng cao ý thức, trách nhiệm của du khách đối với khu vực này. Hoạt động này có ảnh hưởng rất lớn tới ý thức của du khách khi tham gia du lịch. Hệ thống thu gom và xử lý rác thải là một vấn đề quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái, cảm nhận của du khách và đảm bảo việc phát triển bền vững đối với khu du lịch này.

Bến bãi đỗ xe: Đi từ ngoài vào khu du lịch Tràng An phía bên phải, gần bến thuyền có một bãi đỗ xe dành riêng cho khách. Bãi đỗ xe được chia làm hai khu riêng biệt là bãi đỗ xe ô tô và bãi đỗ xe máy, xe đạp. Bãi đỗ xe ô tô có sức chứa khoảng 50-60 chiếc xe ô tô loại 45-50 chỗ ngồi. Tuy nhiên lối vào bãi đỗ xe máy, xe đạp còn hơi nhỏ hẹp làm cho du khách không thuận tiện nhất là vào những ngày đông khách như dịp tết, ngày lễ 30/4-1/5.

  • Hệ thống thông tin liên lạc: Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

Hệ thống thông tin liên lạc trong khu du lịch Tràng An đã được trang bị nhưng vẫn chưa đầy đủ. Hiện chỉ có các mạng điện thoại được lắp đặt phục vụ nhu cầu sử dụng điện thoại di động của khách du lịch. Ngoài ra hệ thống mạng Internet thì chưa được rộng rãi lắm trong khu du lịch. Đây cũng là một yếu tố cần phải xem xét để hoàn thiện trong thời gian tới

  • Hệ thống giao thông

Xét về CSHT giao thông vận tải của khu du lịch sinh thái Tràng An, ngoài việc nghiên cứu CSHT trong nội bộ khu du lịch, ta còn phải đặt nó trong mối quan hệ với giao thông Ninh Bình. Trong đó, giao thông toàn tỉnh với tư cách là hạ tầng bên ngoài, quyết định việc đáp ứng được hay không nhu cầu du lịch tới địa bàn.

  • Mạng lưới giao thông trên địa bàn tỉnh Ninh Bình

Mạng lưới giao thông đường bộ trong tỉnh gồm hệ thống đường quốc lộ, tỉnh lộ, đường huyện, liên huyện, đường xã và liên xã với tổng chiều dài 2.278,2 km. Quốc lộ 1A chạy trên địa phận tỉnh Ninh Bình khoảng trên 50 km. Bên cạnh đó còn có các tuyến quốc lộ chạy qua như: 10, 12B, 45. Ninh Bình còn là địa phương nằm trên tuyến đường sắt Bắc – Nam. Toàn tỉnh có 4 ga là: ga Ghềnh, ga Đồng Dao, ga Cầu Yên, ga Ninh Bình. Ngoài ra, Ninh Bình có 22 sông, kênh với 2 cảng lớn do trung ương quản lý là: cảng Ninh Bình và cảng Ninh Phúc.

  • Mạng lưới giao thông của khu du lịch Tràng An

Do Tràng An là khu vực bắt đầu được xây dựng mới, nằm sâu trong khu vực núi đá vôi ít được khai thác trước đây nên khi thành lập khu du lịch, giao thông ở đây được xây dựng một cách hoàn thiện bao gồm hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy.

  • Đường bộ

Trên cơ sở dự án được duyệt, đến nay đơn vị thi công đã cơ bản hoàn thành tuyến giao thông từ quốc lộ 1A đến chùa Bái Đính bao gồm: tuyến giao thông trục chính, tuyến giao thông số 1, tuyến số 4, tuyến số 8 và toàn bộ các cầu (cầu Ghềnh Tháp, cầu Liên Hoa, cầu Đá Bàn, cầu Huệ Lâm), hầm đường bộ (hầm Ngô Ngã, hầm Vụng Quao) trên toàn tuyến phục vụ khách du lịch và nhu cầu đi lại của người dân. Ngoài ra cũng đã hoàn thành tuyến đường nối liền các điểm tham quan trong khu du lịch từ cầu Đá Bàn đến khu bến thuyền, tuyến từ cầu Ghềnh Tháp đến khu hồ Đàm Thị; các tuyến giao thông nội bộ trong khu dịch vụ du lịch, khu núi chùa Bái Đính, khu sinh thái hang động, khu công viên văn hóa, khu trung tâm; hoàn thành các hạng mục cây xanh, thảm cỏ tuyến đường số 4, tuyến số 8, tuyến trục chính,…và tiếp tục thi công hoàn thiện các tuyến đường bộ từ chùa Bái Đính đến đền Trần, tuyến đường số 9, tuyến đường giao thông 1-1,…

  • Đường thủy

Trước khi khai thác vào hoạt động du lịch, hầu hết các con kênh, rạch dẫn đến cửa hang đều ở tình trạng nhỏ hẹp. Các hang động ở tình trạng nguyên sơ, phần lớn bị bùn rác lấp đầy chỉ hở ra cửa hang rất nhỏ. Hiện nay, hệ thống giao thông đường thủy đang từng bước được xây dựng, các thung được nạo vét, các hang động được đục thông với nhau, cải tạo, mở rộng và đắp thêm các đảo nhân tạo, hoàn thành việc nạo vét và đưa vào khai thác với 15 trên tổng số 18 thung hang của khu du lịch hang động Tràng An theo quy hoạch giai đoạn I từ cuối năm 2017 phục vụ khách đi tham quan các hang động, thưởng ngoạn vẻ đẹp tự nhiên và nét đẹp văn hóa tinh thần của người Việt tại đây. Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

  • Đánh giá chung về cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch ở Tràng An:

Nhìn chung cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng của khu du lịch Tràng An vẫn đang trong quá trình thi công chưa hoàn thành. Bước đầu mới chỉ đáp ứng được nhu cầu tham quan du lịch của du khách. Tại khu du lịch mới chỉ có một số nhà hàng đặc sản phục vụ nhu cầu ăn uống của du khách khi đến Tràng An. Song phần lớn lại là những quán ăn kinh doanh cá thể còn nhỏ lẻ, chưa mang tính chuyên nghiệp. Trong khu du lịch gần bến thuyền cũng có một số bộ phận phục vụ một số món ăn đơn giản cho du khách, nhưng quy mô còn nhỏ, số lượng món ăn ít, chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của khách. Khách du lịch có nhu cầu nghỉ lại cũng phải sử dụng dịch vụ ở một số khu vực lân cận xung quanh khu du lịch Tràng An hoặc vào trong thành phố, chất lượng dịch vụ không cao, không đáp ứng được nhu cầu của du khách.

Hiện nay một số tuyến đường vẫn còn trong dự án, một số tuyến đã được hoàn thành đáp ứng nhu cầu đi lại trước mắt của khách du lịch. Tuy nhiên qua thực tế nhận thấy chất lượng các công trình chưa thực sự đảm bảo theo yêu cầu đặt ra. Nhiều đoạn đường chỉ sau một thời gian ngắn đi vào sử dụng đã bị sụt lún, tạo nên các ổ trâu, ổ gà hay những sóng trâu, sóng bò không chỉ gây mất mĩ quan, ảnh hưởng đến an toàn giao thông mà còn ảnh hưởng đến chất lượng và cảm nhận của người du lịch.

Muốn khai thác tối ưu hiệu quả kinh doanh, thu hút được ngày càng nhiều khách du lịch đến với Tràng An, đặc biệt là khách du lịch quốc tế thì công tác xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cần được tiến hành một cách nhanh chóng, đảm bảo chất lượng công trình… đáp ứng nhu cầu của khách, trước hết là nhu cầu thiết yếu về ăn nghỉ cho khách, tiếp đến là nhu cầu tìm hiểu văn hóa, đời sống của nhân dân trong khu vực.

3.2.7. Hiện trạng tổ chức quản lý và cường độ hoạt động du lịch ở Tràng An.

  • Hiện trạng tổ chức quản lý:

Tại mỗi khu du lịch, điểm du lịch vì là những nơi diễn ra rất nhiều hoạt động của cả những người tham gia tham quan du lịch và cả những người phục vụ du lịch nên công tác quản lý là vô cùng quan trọng và cần thiết. Nếu công tác quản lý tốt sẽ tạo nên sự chặt chẽ, nhất quán, đảm bảo cho du lịch phát triển một cách ổn định, toàn diện, mang lại hiệu quả khai thác cao và thu hút được số lượng khách đông đảo và thường xuyên. Vì vậy công tác quản lý được các khu, điểm du lịch rất được trú trọng.

Tại khu du lịch Tràng An: Khu du lịch Tràng An có quy mô khá lớn hiện nay tạm giao cho doanh nghiệp Xuân Trường ( chủ thầu chính của khu) tổ chức quản lý để tránh sự chồng chéo. Khu du lịch Tràng An vẫn đang trong giai đoạn khai thác và xây dựng, nên công tác quản lý của nhà nước về du lịch của Sở Văn hóa- Thể thao và Du lịch tỉnh Ninh Bình mới chỉ dừng lại ở mức độ quy hoạch. Trong hiện tại thì doanh nghiệp Xuân Trường là doanh nghiệp đang trực tiếp quản lý và khai thác khá hiệu quả tại khu du lịch Tràng An. Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

Đối với hoạt động bán vé tham quan quần thể hang động Tràng An: Tổ chức khu bán vé riêng gần bến thuyền, quy định giá vé cụ thể, quy định số người trên một thuyền…Phân công đội ngũ nhân viên an ninh làm nhiệm vụ bảo vệ giám sát các hoạt động tác nghiệp của những người tham gia trực tiếp phục vụ du lịch.

Việc đánh số các thuyền chở khách nhằm mục đích tạo sự công bằng tron phân chia quyền lợi giữa những người dân địa phương tham gia chở khách tham quan, ngoài ra còn giúp phát hiện những trường hợp vi phạm những quy tắc của ban quản lý. Với những người chèo thuyền đưa khách tham quan thì họ phải mặc đồng phục màu xanh và có đeo thẻ nếu không sẽ không được tham gia làm việc.

  • Cường độ hoạt động du lịch

Khu du lịch Tràng An là một khu du lịch chứa đựng nhiều giá trị về tự nhiên và văn hóa lịch sử, hiện nay Tràng An đang trở thành một điểm nhấn của du lịch Ninh Bình. Với lợi thế là khu du lịch có cảnh quan tự nhiên đẹp đồng thời có sự đầu tư của doanh nghiệp Xuân Trường và Sở du lịch Ninh Bình với những chính sách quảng bá sâu rộng, Tràng An đã bước đầu tạo dựng được hình ảnh và thu hút một lượng khách khá lớn kể từ khi đưa vào khai thác du lịch. Đây là một bước khởi đầu tương đối thuận lợi để khu DL Tràng An dần trở thành một thế mạnh của du lịch Ninh Bình, là điểm đến hấp dẫn của khách du lịch trong và ngoài nước. Tuy nhiên có những thời điểm lượng khách quá đông tập trung vào cùng một thời điểm đã gây nhưng tác động không tốt đến sự phát triển bền vững của khu du lịch. Lượng khách tập trung quá đông vào một thời điểm gây ra hiện tượng quá tải về chất thải làm môi trường khu du lịch mất khả năng tự làm sạch, sự khai thác quá mức nguồn tài nguyên sinh học gây nên sự tuyệt chủng của một số loài đặc hữu.

Do đó cần nghiên cứu và có những quy định nghiêm ngặt về giới hạn lượng khách đến trong một chu kỳ phát triển. Điều này sẽ giúp cho việc duy trì và bảo vệ sự đa dạng sinh học, đảm bảo cung cấp đủ nguồn năng lượng vừa phục vụ sinh hoạt của cộng đồng vừa đảm bảo phục vụ du khách

3.2.8. Công tác hỗ trợ bảo tồn, chia sẻ lợi ích du lịch với cộng đồng địa phương phát triển tài nguyên Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

Công tác bảo tồn, phát triển tài nguyên đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với việc phát triển du lịch bền vững vì vậy công tác bảo tồn phải được thực hiện tốt để đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững

  • Hỗ trợ bảo tồn và chia sẻ lợi ích du lịch với cộng đồng địa phương

Đối với tự tự nhiên: Hiện nay ở Tràng An đang trong giai đoạn xây dựn nên mọi công tác quy hoạch vẫn đang được tiến hành. Số tiền thu được từ hoạt động du lịch như tiền vé tham quan, tiền vệ sinh…vẫn đang được dùng để làm vốn đầu tư xây dựng và làm công tác vệ sinh cho khu du lịch. Tại các thung và các hang động của Tràng An thường xuyên có một đội thuyền nhỏ đi vớt rác dưới nước và xác của động vật chết bảo vệ môi trường nước. Việc làm này có ý nghĩa rất lớn đối với việc bảo vệ môi trường và hệ sinh thái tại đây.

Như vậy công tác bảo tồn phát triển tài nguyên và bảo vệ môi trường ở đây cũng đã được quan tâm và mang lại hiệu quả tích cực.

Đối với cộng đồng dân cư địa phương: Theo điều tra phỏng vấn một số người chở thuyền đưa khách tham quan khu hang động cho biết tại khu du lịch có khoảng 2000 thuyền chở khách. Vào những ngày lễ mỗi thuyền chở trung bình hai chuyến/ngày, tiền vé tham quan là 150.000đồng/người. Mỗi thuyền tham quan nếu đi hết 9 hang và 3 đền thì mất khoảng 3 giờ đồng hồ. Nếu không phải vào ngày lễ thì cứ 3 ngày một thuyền mới chở một chuyến. Mỗi chuyến chở như vậy người chở thuyền được trả 150.000 đồng. Ngoài ra người dân địa phương không có thêm một khoản hỗ trợ nào khác từ doanh nghiệp. Như vậy thu nhập từ du lịch của những người dân là không cao, chưa cải thiện nhiều được đời sống cho họ. Còn những người bán đồ lưu niệm thì vì những mặt hàng ở đây cò ít lại không phong phú, không có nét đặc trưng của vùng nên lượng khách mua cũng ít. Nhìn chung người dân địa phương ở đây cũng chưa được chia sẻ lợi ích từ hoạt động du lịch.

Hiệu quả hỗ trợ bảo tồn tại khu du lịch Tràng An cũng được trú trọng quan tâm và cũng đạt được một số kết quả đáng kể nhưng cần xem xét vấn đề hỗ trợ cộng đồng dân cư làm du lịch vì họ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát triển du lịch bền vững.

3.2.9. Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương

Điểm hấp dẫn của KDL không chỉ là môi trường trong lành, cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn mà còn vì các khu du lịch có sự tham gia của cộng đồng địa phương. Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

Qua những người dân sống tại khu du lịch và làm du lịch du khách có thể tìm hiểu những nét hấp dẫn của khu du lịch về cả tự nhiên và văn hóa bản địa. Tràn An cũng thu hút được đông đảo người dân làm du lịch. Họ vừa là những người phục vụ du lịch vừa là những hướng dẫn viên cho du khách nếu họ có nhu cầu tìm hiểu khu du lịch.

Doanh nghiệp Xuân Trường – chủ thầu chính của khu du lịch Tràng An đã mua lại ruộng của những người dân những xã sống trong địa bàn khu du lịch đặc biệt là xã Trường Yên của huyện Hoa Lư sau đó bán thuyền chở khách cho họ để lấy phương tiện làm du lịch, tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương. Một số hộ bỏ tiền ra kinh doanh những nhà hàng ăn uống trong khu du lịch để phục vụ nhu cầu ăn uống cho du khách đặc biệt là những món đặc sản của vùng như: thịt dê Trường Yên, cơm cháy. Một bộ phận khác thì được giao việc trông giữ xe cho khách hay bán các quầy hàng lưu niệm, các hàng quán phục vụ nước giải khát. Những công việc này góp phần tăng thêm thu nhập cho người dân.

Ở khu du lịch Tràng An tổ chức dân cư hoạt động du lịch tương đối tốt.Vì khu du lịch ở đây vẫn khá thuần chất chưa bị thương mại hóa. Những người bán hàng không có hiện tượng chèo kéo khách mua hàng như một số khu, điểm du lịch khác. Ở đây cũng không có tình trạng lừa đảo hay chặt chém khách du lịch. Trẻ em ở đây cũng không xuất hiện để bán đồ hay xin tiền của khách. Điều này đã để lại ấn tượng khá tốt trong lòng khách du lịch.

Tuy nhiên vì chưa có chính sách ưu đãi nhiều cho cộng đồng địa phương và chưa có sự chia sẻ lợi ích từ du lịch cho người dân nên thu nhập từ du lịch của họ vẫn chưa cao. Ngoài việc phục vụ du lịch họ còn phải kiếm việc khác làm thêm để có thêm thu nhập đảm bảo cho cuộc sống nên họ vẫn chưa chuyên tâm vào làm du lịch. Trong thời gian tới Sở Du lịch Ninh Bình và doanh nghiệp Xuân Trường cần trú trọng vấn đề thu hút người dân vào làm du lịch tốt hơn để mang lại hiệu quả du lịch cao hơn.

3.2.10. Vấn đề bảo vệ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

Là một khu du lịch còn tương đối mới mẻ nên Tràng An chưa bị ảnh hưởng bởi những tác động tiêu cực của du lịch. Nét văn hóa của cư dân bản địa vẫn chưa bị thương mại hóa. Người dân địa phương tham gia làm du lịch mới chỉ là bắt đầu.

Họ vẫn giữ được bản chất thật thà chân chất của những người quanh năm gắn bó với mảnh ruộng, miếng vườn. Họ làm du lịch chỉ đơn thuần là phục vụ du khách thay cho công việc đồng áng hằng ngày nên họ không chèo kéo, chặt chém hay lừa đảo du khách như những điểm, khu du lịch khác. Những người dân nơi đây tuy chưa có nhiều kinh nghiệm cũng như nghiệp vụ du lịch nhưng họ luôn làm cho du khách cảm thấy gần gũi và thoải mái bởi tinh thần làm du lịch của họ, sự thân thiện, nhiệt tình, hiếu khách của những người dân bản địa giúp cho du khách có cơ hội tìm hiểu những nét đẹp về cả tự nhiên và văn hóa của khu du lịch. Đến đây du khách có cơ hội được thấy một khu du lịch còn rất nhiều nét hoang sơ chưa bị biến đổi bởi con người và cả nét mộc mạc của nếp sống thôn quê chưa bị du lịch làm bão hòa, con người chưa bị sự tiêu cực của du lịch làm biến đổi. Trẻ em tại khu du lịch Tràng An không giống như những điểm du lịch khác, không có hiện tượng trẻ em bán đồ lưu niệm chèo kéo khách du lịch mua hàng hay xin tiền của khách đặc biệt là khách nước ngoài. Những lễ hội truyền thống được tổ chức ở đây vẫn không bị biến đổi để phục vụ nhu cầu của du lịch. Lễ hội tổ chức là để thỏa mãn đời sống tâm linh của những người dân bản địa có truyền thống văn hóa lâu đời. Những nghi lễ của lễ hội không hề thay đổi mà vẫn giữ nguyên như lễ hội Trường Yên, lễ hội chùa Bái Đính, lễ hội đền Thái Vi…Tệ nạn xã hội do mặt trái của du lịch gây ra như trộm cắp, cờ bạc… hầu như vẫn chưa xuất hiện ở khu du lịch Tràng An. Để đạt được những thành quả như vậy trong hoạt động du lịch không những do sự cố gắng, nỗ lực của ban quản lý khu du lịch mà còn do ý thức của những người dân nơi đây.

  • Đánh giá chung Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

Qua điều tra cho thấy rằng khu du lịch sinh thái Tràng An được du khách đánh giá rất cao về cảnh quan thiên nhiên và mức độ trong lành của môi trường. Mặc dù du lịch Tràng An mới đưa vào khai thác nhưng đã thu hút một lượng khách khá lớn mỗi năm, trong tương lai sẽ trở thành trung tâm du lịch của Ninh Bình. Hầu hết du khách đánh giá Tràng An đều cho rằng Tràng An còn giữ được môi trường trong lành và có cảnh quan thiên nhiên đa dạng hấp dẫn. Tuy nhiên do mới đưa vào khai thác nên du lịch cộng đồng ở Tràng An tổ chức chưa tốt lắm, hơn nữa cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng còn chưa hoàn thiện, các dịch vụ khác hầu như chưa có gì nhiều, chưa đáp ứng được nhu cầu ăn nghỉ, vui chơi giải trí của khách du lịch nên lượng khách ở lại nhiều ngày là rất ít.  Như vậy Tràng An mới chỉ đáp ứng được nhu cầu tham quan cho du khách chứ chưa đáp ứng được nhu cầu tổng hợp của du khách.

Trong thời gian tới cần nhanh chóng hoàn thiện khu du lịch về mọi mặt để thu hút đông đảo lượng khách đến tham quan và trong thời gian dài để tăng thêm doanh thu cho khu du lịch. Để Tràng An trở thành sức bật mới của du lịch Ninh Bình và phát huy tối đa tiềm năng vốn có thì cần đẩy mạnh công tác quản lý, đào tạo tốt nguồn nhân lực, khắc phục những hạn chế còn gặp phải trong quá trình tổ chức hoạt động du lịch. Cần trú trọng công tác bảo tồn tài nguyên du lịch tự nhiên, môi trường và những giá trị nhân văn của vùng. Khai thác phải đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững.

3.3. Những yếu tố ảnh hưởng tới phát triển du lịch bền vững tại khu du lịch Tràng An hiện nay Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

Thông qua phân tích những nguyên tắc, dấu hiệu của phát triển du lịch bền vững kết hợp việc đánh giá hiện trạng phát triển du lịch tại Tràng An, có thể nhận thấy những yếu tố ảnh hưởng nhất tới phát triển du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An ở thời điểm hiện tại.

3.3.1. Phân tích ma trận SWOT về phát triển du lịch bền vững tại khu du lịch Tràng An 

Bảng 3.4. Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong phát triển du lịch bền vững tại Tràng An

1. Điểm mạnh (Strengths) 2. Điểm yếu (Weaknesses)
 S1: Ở vị trí thuận lợi, cách quốc lộ 1A 7km về phía Đông, cách Hà Nội hơn 90 km về phía Nam, nằm trong tam giác tăng trưởng du lịch đồng bằng sông Hồng

S2: Tài nguyên du lịch đa dạng, phong phú, rất thích hợp với việc phát triển nhiều sản phẩm DLST

S3: Tập trung nhiều loại tài nguyên du lịch nhân văn tiêu biểu cho du lịch Ninh Bình S4: Nguồn lao động dồi dào, nhất là nữ

S5: Môi trường tự nhiên chưa bị ô nhiễm; cảnh quan, công trình công cộng sạch sẽ, vệ sinh

S6: Môi trường xã hội thân thiện, an ninh trật tự được đảm bảo

S7: Ý thức tự giác, kỉ luật của người lao động tốt

S8: Các công trình được cấp giấy phép xây dựng phù hợp

S9: CSHT-CSVC kỹ thuật đang được đầu tư xây dựng phù hợp với tiêu chuẩn DLST S10: Quy hoạch khu du lịch Tràng An rõ ràng, phù hợp với đặc điểm của đối tượng quy hoạch và đảm bảo tính bền vững trong phát triển du lịch

 W1: CSHT-CSVC kỹ thuật phục vụ du lịch chưa hoàn thiện, khách du lịch ít có cơ hội tiêu dùng các dịch vụ khác ngoài vé tham quan nên doanh thu từ du lịch còn hạn chế

W2: Kinh nghiệm quản lý, tổ chức phát triển du lịch của các đơn vị chủ quản còn nhiều bất cập vì vậy hoạt động du lịch ở đây còn mang tính chất tự phát

W3: Đội ngũ lao động thiếu chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm làm việc

W4: Trình độ dân trí của địa phương còn thấp, người dân thiếu vốn và kỹ năng làm du lịch

W5: Việc thu thập thông tin của khách du lịch còn nhiều bất cập nên khó xác định thị trường mục tiêu của Tràng An W6: Chất lượng sản phẩm du lịch chưa cao, các dịch vụ nghèo nàn, chất lượng thấp

W7: Chưa có chương trình hoạt động cụ thể nên hiệu quả du lịch còn hạn chế

3. Cơ hội (Oppotunities) 4. Thách thức (Threats)
 O1: DLST đã và đang phát triển nhanh chóng ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam và ngày càng thu hút được sự quan tâm rộng rãi của các tầng lớp xã hội  O2: Du lịch được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của Ninh Bình

O3: DLST là một trong hai loại hình du lịch làm nên sản phẩm du lịch đặc trưng của tỉnh, trong đó Tràng An là khu du lịch trọng điểm trong chiến lược phát triển này O4: Thu nhập và thời gian rỗi của người dân ngày càng cao

O5: Được sự quan tâm đầu tư của Chính phủ, của tỉnh và các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn

O6: Được sự chú ý, quan tâm của rất nhiều các vị lãnh đạo Đảng và Nhà Nước, các nhà khoa học, các nhà báo, khách du lịch, …

O7: Gần thị trường lao động dồi dào: Hà Nội và các tỉnh phụ cận

O8: Việc thành lập ban quản lý Quần thể Danh thắng Tràng An góp phần thúc đẩy các hoạt động bảo tồn, xúc tiến, quảng bá,… một cách bài bản và khoa học hơn.

O9: Tràng An hiện là đại diện của Việt Nam ứng cử di sản thiên nhiên thế giới

 T1: Phát triển du lịch làm sao phải đảm bảo an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội và bảo tồn tài nguyên du lịch sinh thái nơi đây

T2: Khó khăn trong việc thu hút cộng đồng dân cư địa phương tham gia tích cực và hiệu quả hơn vào hoạt động du lịch

T3: Chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố thời tiết

T4: Phải cạnh tranh với các khu, điểm DLST khác trong tỉnh như: VQG Cúc Phương, khu bảo tồn đất ngập nước Vân Long,…

T5: Phần lớn khách đi tham quan trong ngày, khó khăn trong việc thu hút khách du lịch lưu trú qua đêm tại đây

T6: Cần đầu tư lớn và liên tục

Kết hợp giữa điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức tôi một số ý kiến, đề xuất như sau:

Chỉ tiêu 1. Điểm mạnh (Strengths) 2. Điểm yếu (Weaknesses)

3. Cơ hội (Oppotunities)

 S1, S2, S3 + O1, O2, O3, O4: Lợi thế đó sẽ tạo điều kiện cho Tràng An được biết đến nhiều hơn và lượng khách đến đây ngày càng nhiều hơn S4, S7 + O7: Sẽ tuyển dụng và đào tạo được nguồn nhân lực có chất lượng

S2, S5, S6, S8, S9, S10 + O1, O3, O8: Tạo điều kiện phát triển DLBV một cách bài bản và khoa học, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững

S10 + O5, O6, O8, O9: Một lần nữa khẳng định tiềm năng du lịch và vị trí, vai trò của Tràng An cả hiện tại lẫn tương lai

S1, S2, S3 + O1, O4, O9: Mở ra cơ hội cho Tràng An thu hút ngày càng nhiều hơn khách du lịch trong và ngoài nước

 W2, W3, W4 + O5, O6, O7, O8: Mở ra những cơ hội cho Tràng An để nâng cao chất lượng quản lý, chất lượng chuyên môn nghiệp vụ của người lao động nơi đây

W1, W6 + O5, O8: Sẽ thu hút và tranh thủ được nguồn vốn để cải thiện tình trạng CSHT-CSVC hiện tại, đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ du lịch

W5, W7, W8 + O2, O3, O8, O9: Hoàn thiện công tác tổ chức quản lý và hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch Tràng An

4. Thách thức (Threats)

 S1, S2, S3, S5, S6, S10 + T1, T3: Vấn đề khó khăn là phát triển du lịch vừa đảm bảo an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, vừa bảo tồn, tận dụng tối đa nguồn lực tài nguyên DLST

S4, S7 + T2: Khó khăn trong việc vận động, khuyến khích người dân tham gia vào hoạt động du lịch tích cực hơn Vấn đề này sẽ dần được khắc phục nếu có được sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp chính quyền và đơn vị chủ quản

S8, S9 + T5, T6: Cần đầu tư lớn và liên tục vào việc xây dựng và hoàn thiện CSHT-CSVC nhằm thỏa mãn nhu cầu và kéo dài thời gian lưu trú của khách

 W1, W6 + T5, T6: Cần đầu tư lớn và liên tục vào CSHT-CSVC, đa dạng hóa các sản phẩm du lịch nhằm tối đa hóa sự lựa chọn của du khách.

W2, W3, W4 + T2: Cần có biện pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhằm đảm bảo mục tiêu phát triển DLBV

W5, W7, W8 + T4, T5: Cần có chương trình hoạt động cụ thể trong việc xuc tiến, quảng bá du lịch Tràng An nhằm thu hút ngày càng nhiều hơn khách du lịch và tăng khả năng cạnh tranh của Tràng An với các khu, điểm du lịch khác trên địa bàn

3.3.2. Lượng khách du lịch và doanh thu chưa đều, chưa tương xứng với tiềm năng của Khu du lịch Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

  • Lượng khách đến Khu du lịch trong thời gian qua đã tăng lên tuy nhiên chưa ổn định giữa các năm và còn theo mùa. Lượng khách này chủ yếu là khách nội địa đến thăm quan trong ngày, thời gian lưu trú rất ít do đó ảnh hưởng tới nguồn thu.
  • Tổng lượng khách đến Khu du lịch đã vượt mức so với quy mô công suất dự án đầu tư xây dựng khu du lịch sinh thái Tràng An (Phục vụ 2.065.550 lượt khách du lịch/năm). Trong khi đó khách tập trung chủ yếu vào mùa xuân, mùa lễ hội nên có khả năng vượt qua ngưỡng chịu tải của KDL, gây ảnh hưởng xấu tới môi trường.

3.3.3. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật còn nhiều hạn chế

Do hệ thống nhà nghỉ cũng như các dịch vụ khách du lịch còn nhiều hạn chế nên việc lưu giữ khách ở dài ngày và khách quay trở lại gặp rất nhiều khó khăn, ảnh hưởng trực tiếp tới doanh thu. Hệ thống thông tin còn chưa được đẩy mạnh, chưa có kết nối Internet sâu rộng phục vụ khách du lịch. Bên cạnh đó hệ thống giao thông được đầu tư chưa đảm bảo chất lượng. Vẫn còn hiện tượng chỉ sau một thời gian ngắn đưa vào sử dụng đã phải sửa chữa, chắp vá ảnh hưởng đến mĩ quan và chất lượng du lịch.

3.3.4. Nguồn nhân lực phục vụ du lịch chưa đảm bảo

Nguồn nhân lực tham gia phục vụ du lịch còn chưa được đào tạo tập huấn thường xuyên về kỹ năng phục vụ khách du lịch. Những kỹ năng về nghề nghiệp và nhận thức về du lịch còn hạn chế, đặc biệt là ứng xử và phục vụ khách. Các khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh vẫn còn rất hạn chế trong cả hướng dẫn viên du lịch và những người trở đò, những người phục vụ.Vẫn còn một số hiện tượng gợi ý xin tiền khách, chưa thể hiện được sự nhiệt tình, lòng hiếu khách của con người Tràng An  vì vậy mà chưa gây được ấn tượng mạnh mẽ đối với khách du lịch khi họ đến Tràng An. Nguồn nhân lực phục vụ du lịch ở đây chủ yếu là phụ nữ. Họ là những người trụ cột trong gia đình, phải lo lắng về tất cả các vấn đề trong cuộc sống hàng ngày như con cái, chi tiêu hàng ngày, kiếm tiền… Tuy nhiên mức thu nhập của họ còn rất thấp, chưa đủ cho các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Mặc dù vậy họ chưa có tiếng nói trong việc đảm bảo quyền lợi, tiếng nói chưa được coi trọng, lắng nghe.

3.3.5. Mức độ đóng góp cho công tác bảo tồn, phát triển tài nguyên và đóng góp vào phát triển kinh tế xã hội của địa phương còn chưa thỏa đáng.

Hiện chưa có một cơ chế hay chính sách nào của tỉnh quy định rõ ràng việc chia sẻ lợi ích, doanh thu của KDL cho công tác bảo tồn, phát triển tài nguyên và đóng góp vào phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Hầu hết các dự án tu bổ, tôn tạo cảnh quan các điểm du lịch được thực hiện bởi các dự án lấy tiền nhà nước. Điều này làm cho các doanh nghiệp khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên du lịch không có trách nhiệm với khu du lịch, với thế hệ tương lai. Đây là một vấn đề bất hợp lý và có thể gây ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch bền vững tại đây. Bởi chỉ khi công tác bảo tồn, phát triển tài nguyên được thực hiện thường xuyên bởi doanh thu từ du lịch thì mới gần đến của sụ phát triển du lịch. Chỉ khi nào nền kinh tế xã hội của địa phương được đưa lên, dẫn đến sự hài lòng của địa phương thì mới có sự ủng hộ lâu dài góp phần phát triển du lịch bền vững.

3.3.6. Áp lực lên môi trường và tài nguyên tại các khu, điểm du lịch ngày càng tăng:

Lượng khách du lịch ngày càng tăng lên trong khi công tác đánh giá và quản lý tác động đến môi trường chưa được chú trọng thích đáng. Đến thời điểm  này, mặc dù đã đưa vào sử dụng được 7 năm nhưng chưa có một điểm du lịch nào thực hiện việc lập báo cáo đánh giá tác động môi trường hay đề án bảo vệ môi trường trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Qua ý kiến của cử tri hội đồng nhân dân về việc mất vệ sinh môi trường tại một số điểm trong khu du lịch Tràng An, Sở Tài nguyên và Môi trường đã thành lập đoàn kiểm tra trực tiếp xuống hiện trường và xác minh ý kiến của nhân dân là có thật. Cụ thể như điểm du lịch núi chùa Bái Đính chưa có hệ thống thu thoát nước mưa, chưa có hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt, rác thải không được thu gom tập kết đúng nơi quy định…dẫn đến phát sinh mùi hôi ảnh hưởng đến môi trường xung quanh. Bên cạnh đó là việc nghiên cứu  đưa ra các các giải pháp nhằm giải quyết một số vấn đề cấp bách về môi trường như việc phân loại rác tại nguồn, xử lý ô nhiễm các bãi rác ở khu vực nông thôn, việc đốt rơm rạ sau mùa thu hoạch gây ô nhiễm môi trường không khí, ảnh hưởng đến giao thông và cảnh quan….

Vấn đề quản lý áp lực lên tài nguyên môi trường tại các khu, điểm du lịch cũng liên quan đến khả năng sức chứa. Đó là việc quản lý số lượng khách đến không vượt quá khả năng đáp ứng về tài nguyên và không làm ảnh hưởng đến khả năng phát triển của các hệ sinh thái trong khu vực. Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

3.4. Một số giải pháp góp phần phát triển du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An:

Để phát triển du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An, điều quan trọng nhất là phải kiên trì với mục tiêu, định hướng  phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Thực hiện tốt quy hoạch phát triển du lịch trong đó cần đặc biệt chú ý thực hiện tốt các nguyên tắc của phát triển du lịch bền vững.

3.4.1. Quan điểm, định hướng phát triển du lịch bền vững tại khu du lịch Tràng An

Phát triển phải có tính hệ thống: Phát triển du lịch tại khu du lịch Tràng An phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển du lịch, quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Ninh Bình và phải đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với du lịch cả nước và các tỉnh lân cận.

Phát triển bền vững và hài hòa với môi trường: Cơ bản của phát triển du lịch bền vững và hài hòa với môi trường là cần đánh giá được các tác động đến môi trường và xã hội của mỗi dự án. Phát triển DL phải đi đôi với việc bảo vệ môi trường sinh thái bền vững, từ đó đặt ra các kế hoạch và cơ chế quản lý phù hợp với việc khai thác, tôn tạo các loại tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái. Đối với tất cả các hoạt động phát triển, kế hoạch khoanh vùng là hết sức cần thiết để xác định được khu vực nào có thể phát triển du lịch được, khu vực nào cần giữ nguyên hiện trạng, vừa để bảo vệ thiên nhiên, vừa đảm bảo sinh kế cho người dân địa phương. Một điều hết sức lưu ý là tác động đến môi trường không chỉ liên quan trực tiếp đến lượng khách tại Tràng An mà còn liên quan đến cơ sở hạ tầng được xây dựng cũng như các hoạt động của du khách và người dân địa phương. Do đó, phát triển du lịch bền vững và hài hòa với môi trường có nghĩa là:

Khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, khoanh nuôi, tái sinh phục hồi và giữ gìn toàn vẹn sinh thái. Điều đó có nghĩa là phải phát triển bền vững và lâu dài các nguồn tài nguyên để sau này các thế hệ sau có thể gìn giữ và phát huy.

Đảm bảo đến mức tối thiểu các tác động tiêu cực từ du lịch đến môi trường: Hoạt động du lịch có mối quan hệ qua lại mật thiết với môi trường, khai thác đặc tính của môi trường để phục vụ mục đích phát triển và tác động trở lại góp phần làm thay đổi đặc tính của môi trường. Vì vậy, phát triển DL bền vững ở Tràng An phải đảm bảo sự phát triển môi trường sinh thái tự nhiên, nhân văn, xã hội bền vững với quan điểm phát triển đạt hiệu quả kinh tế cao nhưng phải gắn với việc bảo tồn và tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, cảnh quan môi trường bền vững, đồng thời phát huy truyền thống bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, tránh du nhập những luồng văn hóa độc hại.

Phát triển du lịch theo hướng cộng đồng: Hiện tại, cuộc sống của người dân tại khu du lịch sinh thái Tràng An còn nhiều khó khăn, phần lớn đều hoạt động trong lĩnh vực lao động phổ thông, vì vậy phát triển du lịch nơi đây có ý nghĩa rất lớn đối với cộng đồng địa phương. Người dân có lợi thì mới tham gia tích cực hơn trong việc bảo tồn tài nguyên. Do đó, cần nâng cao nhận thức về công tác bảo tồn, bảo vệ môi trường cũng như bồi dưỡng kiến thức cơ bản về DL cho người dân tại đây nhằm góp phần vào nỗ lực xóa đói giảm nghèo với môi trường thuận lợi cho sự tham gia của cộng đồng.

Có cơ chế chính sách rõ ràng, hợp lý trong việc trích lại một phần doanh thu, lợi nhuận từ du lịch nhằm phát triển cơ sở hạ tầng, kinh tế của địa phương. Đưa địa phương trở thành một điểm điển hình về phát triển kinh tế theo mô hình phát triển du lịch bền vững. Đây cũng là cơ sở để nhân dân tin tưởng và ủng hộ du lịch nhiều hơn.

Phát triển phải mang tính đồng bộ: Phát triển DLST tại khu du lịch sinh thái Tràng An phải gắn với việc phát triển đồng bộ CSHT, CSVC-KT phục vụ nhu cầu của khách du lịch. Sự phát triển hoàn chỉnh của hệ thống CSHT càng hợp lý thì việc khai thác các điểm đến càng tối ưu bởi vì yếu tố thuận tiện luôn là một trong những tiêu chuẩn hấp dẫn, quan trọng nhất của du lịch. Bên cạnh đó, việc đầu tư xây dựng hệ thống khách sạn, nhà hàng, các công trình kĩ thuật phục vụ du lịch cũng góp phần thu hút ngày càng nhiều hơn khách du lịch đến với Tràng An. Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

Phát triển du lịch gắn với đảm bào an ninh, trật tự an toàn xã hội: Quan điểm trên cần được quán triệt trong việc đưa ra các định hướng chiến lược, các đề xuất, giải pháp về tổ chức quản lý phát triển du lịch, trong thiết kế quy hoạch không gian du lịch, trong việc phân tích, đánh giá và quảng bá xúc tiến du lịch Tràng An.

3.4.2. Một số giải pháp nhằm phát triển du lịch bền vững tại khu du lịch Tràng An

3.4.2.1. Giải pháp về công tác tổ chức quản lý

Hoạt động du lịch tại khu du lịch Tràng An hiện nay chịu sự quản lý của doanh nghiệp xây dựng Xuân Trường vốn là đơn vị thi công chính toàn bộ gói thầu xây dựng CSHT, CSVC-KT của khu du lịch này. Điều này ảnh hưởng khá lớn đến sự phát triển du lịch của khu vực trong hiện tại và định hướng phát triển trong tương lai. Do đó, cần có công  tác tổ chức quản lý một cách cụ thể từ các cơ quan chức năng và cơ quan chuyên môn về du lịch. Cụ thể là:

Thời điểm hiện tại: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) Ninh Bình, Ban chỉ đạo về phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình cùng bắt tay, phối hợp với doanh nghiệp xây dựng Xuân Trường trong công tác quản lý và phát triển đồng thời với việc bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái ở khu du lịch Tràng An. Trong đó, Sở VHTTDL Ninh Bình đại diện cho quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn phải đóng vai trò chủ đạo trong việc xây dựng và định hướng phát triển. Cụ thể là giúp đỡ đơn vị chủ quản xây dựng chương trình du lịch, đào tạo tay nghề, nâng cao hiểu biết về đặc trưng nghề nghiệp cho người lao động, nâng cao tính chuyên nghiệp trong hoạt động du lịch ngay từ giai đoạn đầu hình thành và phát triển,…; chuẩn bị phương án, chương trình hoạt động, mô hình quản lý khu du lịch trong những năm tiếp theo. Đối với doanh nghiệp xây dựng Xuân Trường, việc làm hết sức cấp thiết hiện nay là phải nâng cao tính chuyên nghiệp trong công tác tổ chức quản lý, bổ sung thêm lực lượng bảo vệ tại các điểm tham quan, giám sát chặt chẽ các hoạt động diễn ra thường ngày cũng như nắm bắt những nhu cầu, nguyện vọng của khách du lịch và người lao động tại đây.

Trong tương lai: Thực hiện công tác quản lý chung về du lịch cho đến khi dự án xây dựng CSHT và CSVC-KT hoàn thành và bàn giao lại cho cơ quan quản lý nhà nước. Trong thời gian này, tích cực nghiên cứu thực tiễn và lý luận phát triển du lịch bền vững tại khu du lịch Tràng An, xây dựng quy hoạch chi tiết, cụ thể cho sự phát triển khu du lịch.

Với phương châm đó, cần tiếp tục thực hiện cải cách hành chính, hoàn thiện và nâng cao hiệu lực của bộ máy quản lý nhà nước về du lịch từ tỉnh đến các huyện có địa bàn quản lý là khu du lịch; hoàn thiện hệ thống các cơ quan chuyên môn giúp UBND, HĐND các huyện Hoa Lư, Gia Viễn, TP Ninh Bình thuận tiện trong quản lý quy hoạch và phát triển du lịch.

Kiện toàn Ban quản lý Quần thể Danh thắng Tràng An trực thuộc UBND tỉnh trên cơ sở kinh nghiệm và mô hình quản lý thành công của Ban quản lý khu du lịch Tam Cốc – Bích Động với các chức năng, nhiệm vụ chủ yếu như: quản lý và bảo vệ tài nguyên du lịch theo quy hoạch; quản lý quy hoạch và các hoạt động đầu tư xây dựng trong khu du lịch; quản lý các hoạt động khai thác tài nguyên kinh doanh du lịch; quản lý và điều tiết các nguồn thu từ vé danh lam, phí khai thác tài nguyên; cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ du lịch cho các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch đủ điều kiện. Bên cạnh đó, cần nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban chỉ đạo về phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình tại khu du lịch Tràng An.

3.4.2.2. Giải pháp về tổ chức quy hoạch và công tác thực hiện quy hoạch

Trên cơ sở quy hoạch khu du lịch Tràng An đã được phê duyệt, trong quá trình thực hiện dự án đã khám phá nhiều hang động, thung lũng mới tuyệt đẹp, ngoài phạm vi quy hoạch (từ 18 thung và 21 hang động lên 31 thung và 48 hang động). Vì thế, việc mở rộng phạm vi quy hoạch, điều chỉnh một số khu chức năng là điều cần thiết để phù hợp với điều kiện thực tế của khu du lịch, đồng thời chủ đầu tư có thể đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án, sớm đưa khu du lịch vào khai thác, sử dụng. Bên cạnh đó, cần lồng ghép quy hoạch, dự án phát triển khu du lịch với các ngành có liên quan như quy hoạch giao thông, phát triển đô thị; bảo tồn và phát triển văn hóa; trồng rừng; xóa đói giảm nghèo; chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất, cơ cấu lao động, cơ cấu ngành kinh tế,…để tháo gỡ những khó khăn hiện nay về nguồn vốn ngân sách nhằm đảm bảo chất lượng và tính khả thi của đồ án quy hoạch khu du lịch. Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

Về quản lý quy hoạch: Ban quản lý Quần thể Danh thắng Tràng An có trách nhiệm quản lý, giám sát và đề xuất UBND tỉnh để quản lý hoạt động kinh doanh du lịch trong khu du lịch mình quản lý theo quy hoạch đã được duyệt nhằm phát huy hiệu quả kinh doanh dịch vụ du lịch. Sở VHTTDL, Ban quản lý Quần thể Danh thắng Tràng An phải có trách nhiệm giám sát các hoạt động đầu tư, xây dựng, kinh doanh dịch vụ du lịch,… trên địa bàn, nếu có các hành vi làm trái với quy hoạch và xâm hại đến tài nguyên du lịch phải phối hợp với chính quyền địa phương các cấp, các ban ngành có liên quan xử lý nghiêm các hành vi đó và báo cáo ngay bằng văn bản tới UBND tỉnh để giải quyết triệt để.

Công tác thực hiện quy hoạch diễn ra trong sự phối hợp giữa nhiều cơ quan chức năng cả về lĩnh vực chuyên môn và quản lý hành chính nhà nước. Cụ thể như sau:

  • UBND tỉnh chỉ đạo UBND huyện Gia Viễn, huyện Hoa Lư và thành phố Ninh Bình thực hiện quản lý chặt chẽ lãnh thổ được quy hoạch. Trước mắt, nghiêm cấm việc xây mới, cơi nới hoặc cải tạo các công trình trên phạm vi lãnh thổ được quy hoạch.
  • UBND tỉnh chỉ đạo và có các biện pháp thích hợp để chấm dứt tình trạng “chia ô” trong đầu tư xây dựng tại khu du lịch này
  • Xây dựng dự án có khả năng thực thi cao nhằm bảo vệ, tôn tạo và khai thác có hiệu quả các tiềm năng du lịch tự nhiên của khu sinh thái hang động và tài nguyên du lịch nhân văn của khu núi Chùa Bái Đính. Mục tiêu là hình thành vùng trọng điểm du lịch với nhiều tuyến du lịch đa dạng bao gồm nhiều loại hình, sản phẩm du lịch đặc sắc và hấp dẫn, mang bản sắc riêng của Ninh Bình.

Khi thực hiện quy hoạch cần phải có định hướng phát triển theo lãnh thổ. Theo đó, cần tập trung hoàn chỉnh khu du lịch sinh thái Tràng An trong mối quan hệ chặt chẽ với khu du lịch Tam Cốc – Bích Động, Cố đô Hoa Lư tạo thành một quần thể du lịch có khả năng cạnh tranh không chỉ trong nước mà cả trong khu vực. Bên cạnh đó, cần khẩn trương nạo vét các hang, cải tạo các thung và xây dựng các đảo sinh thái nhằm góp phần tăng trải nghiệm của khách du lịch khi tham quan khu du lịch này.

3.4.2.3. Giải pháp về đầu tư phát triển Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

 Đối với khu du lịch sinh thái Tràng An, việc đầu tư phát triển du lịch là một hướng đầu tư có hiệu quả rất lớn không chỉ về mặt kinh tế mà còn về mặt kinh tế xã hội, không chỉ có lợi cho nhà đầu tư mà còn có lợi cho cả cộng đồng dân cư, vùng kinh tế các khu vực nằm trong ranh giới khu du lịch. Trong giai đoạn đầu phát triển, cần rất nhiều vốn đầu tư, tuy nhiên nên tập trung vào từng mảng cụ thể sau:

Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch: Cần đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án xây dựng CSHT tại khu du lịch Tràng An. Để làm được điều này, trước hết cần tăng nguồn vốn đã cấp và vốn giải ngân từ ngân sách Nhà nước đối với dự án xây dựng CSHT tại Tràng An.

Đầu tư phát triển hệ thống cơ sở lưu trú và các công trình dịch vụ du lịch: Cần ưu tiên xem xét các dự án đầu tư xây dựng các khách sạn, nhà nghỉ, các nhà hàng, các khu triển lãm thương mại phù hợp với xu thế chung của sự phát triển du lịch thế giới và đáp ứng nhu cầu của khách du lịch tại đây.

Đầu tư phát triển hệ thống các công trình vui chơi, giải trí: Một trong những khâu còn hạn chế trong hoạt động phát triển du lịch Ninh Bình là sự nghèo nàn của hệ thống các công trình vui chơi, giải trí. Do đó, để khắc phục tình trạng trên, ở khu du lịch sinh thái Tràng An cần xem xét đầu tư xây dựng phát triển các công trình vui chơi, giải trí để kéo dài thời gian tham quan của khách tại Tràng An. Để giải quyết được nhu cầu đầu tư lớn, đảm bảo sự phát triển của du lịch Ninh Bình cần xem xét một số giải pháp lớn về vốn sau:

Vốn ngân sách Nhà nước: Tập trung đầu tư phát triển dứt điểm CSHT khu du lịch Tràng An – khâu đột phá của du lịch Ninh Bình trong thời gian tới; đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch; đẩy mạnh hoạt động xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá du lịch.

Huy động vốn từ nguồn tích lũy trong tỉnh: Đây thực sự sẽ là giải pháp tích cực về vốn, mở ra một khả năng cho phép ngành du lịch của tỉnh chủ động phối hợp cùng các ngành chức năng xây dựng các kế hoạch phát triển cụ thể trên cơ sở quy hoạch tổng thể phát triển khu du lịch sinh thái Tràng An đã được phê duyệt.

Thực hiện xã hội hóa hoạt động đầu tư: Thực hiện xã hội hóa đầu tư vào công cuộc bảo vệ, tôn tạo di tích, thắng cảnh, các lễ hội,…Tiếp tục hoàn chỉnh cơ chế quản lý đầu tư, tạo môi trường thông thoáng về đầu tư phát triển du lịch, đơn giản hóa các thủ tục hành chính và phát triển các dịch vụ hỗ trợ đầu tư để thu hút các nhà đầu tư. Tạo sự bình đẳng giữa đầu tư trong nước và nước ngoài, giữa tư nhân với Nhà nước,…

3.4.2.4. Giải pháp về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật

Về cơ sở hạ tầng: Dự án xây dựng CSHT khu du lịch Tràng An được thực hiện trong khoảng thời gian tương đối dài, nguồn vốn cấp hàng năm chưa đủ để đảm bảo tiến độ của dự án. Hơn nữa, dự án được thực hiện trên địa bàn nhiều xã, phường trong tỉnh, diện tích thu hồi đất rất lớn nên gặp rất nhiều khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng dẫn đến tốc độ thực hiện dự án chậm. Vì vậy, Chính phủ, các Bộ, ngành trung ương cần quan tâm hơn nữa đến dự án này, bố trí ngân sách hàng năm để đảm bảo tiến độ thực hiện và nâng cao hiệu quả đầu tư của dự án. Để đảm bảo tiến độ thi công các hạng mục công trình của các dự án thành phần thuộc dự án xây dựng CSHT khu du lịch Tràng An, UBND tỉnh cần chỉ đạo các cấp chính quyền, hội đồng giải phóng mặt bằng các địa phương thực hiện tốt hơn nữa công tác thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, giao đất cho chủ đầu tư thực hiện dự án. Bên cạnh đó, cần giáo dục nhận thức về pháp luật, ý thức cộng đồng cho người dân địa phương về việc giao đất giải phóng mặt bằng. Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

Về cơ sở vật chất kỹ thuật: Cần đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án xây dựng CSVC-KT tại Tràng An theo đúng quy hoạch được duyệt. Toàn bộ khu vực nên được thiết kế phù hợp với cảnh quan tự nhiên, tạo không gian thoáng, môi trường sinh thái trong lành, mật độ xây dựng dưới 10%, tầng cao trung bình không quá hai tầng. Hệ thống cổng vào, hệ thống giao thông nội bộ, hệ cây xanh, hệ thảm cỏ, hệ thống hạ tầng cần được thiết kế đồng bộ, mang đậm kiến trúc cổ của bản sắc dân tộc và kiến trúc hiện đại của thời đại mới. Tại khu Trung tâm, việc làm cấp bách hiện nay là xây dựng khu nhà đón tiếp khách du lịch để tư vấn, hướng dẫn khách tham quan các điểm, tham gia các tour và loại hình du lịch đặc sắc tại đây. Bên cạnh đó, cần kiến thiết lại khu bán đồ lưu niệm, thay thế và làm mới biển chỉ dẫn đến phòng bán vé, nhà vệ sinh theo cả 2 ngôn ngữ tiếng Việt lẫn tiếng Anh với hình dáng thân thiện với môi trường như hình cây xanh, thảm cỏ, … Ngoài ra, cần đẩy nhanh tiến độ xây dựng khu dịch vụ du lịch gồm các hạng mục công trình như hệ thống khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng nổi, nhà điều hành, khu làng ẩm thực, khu thương mại, khu vui chơi, giải trí phục vụ nhu cầu đa dạng của khách du lịch.

3.4.2.5. Giải pháp về bảo vệ môi trường sinh thái

Hiện nay, doanh nghiệp xây dựng Xuân Trường đã và đang quan tâm rất nhiều đến việc giữ gìn vệ sinh chung của khu du lịch. Hầu hết khách du lịch đều đồng ý rằng hệ thống nhà vệ sinh tại đây rất sạch sẽ, tiện nghi; cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp. Tuy nhiên, để làm tốt hơn nữa công tác bảo vệ môi trường sinh thái tại đây, cần chú trọng vào các biện pháp cụ thể sau:

Thường xuyên theo dõi, đánh giá tác động môi trường của dự án. Cần chú ý đến khả năng chịu tải của khu du lịch, tránh gây tiếng ồn làm ảnh hưởng đến đời sống của các loài động, thực vật trên cạn cũng như thủy sinh trong khu vực.

Khi tiến hành nạo vét các hang động cần phải rửa sạch các hang để có nguồn nước trong, thuyền bè đi lại dễ dàng, làm nổi bật hệ sinh thái dưới nước, trả lại màu sắc tự nhiên cho các nhũ đá trong hang, tạo sự thoáng mát của các hang động. Khi nạo vét các thung, tuyệt đối không được đổ đất vào chân núi mà ngược lại phải nạo vét thật sạch. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành các hòn non bộ tuyệt đẹp của thiên nhiên, góp phần làm tăng giá trị cảnh quan của khu du lịch.

Các công trình hạ tầng kỹ thuật cần được thiết kế và xây dựng thân thiện với môi trường, phù hợp với cảnh quan, tôn trọng văn hóa bản địa tại đây. Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

Đối với khu bảo tồn thiên nhiên: cần có biện pháp bảo vệ rừng, trồng rừng, bảo vệ động vật hoang dã như khỉ, trăn, rắn, bói cá,…;trồng cây có hiệu quả kinh tế cao xen lẫn thảm thực vật, cây cảnh (đào, nhãn, vải, hồng,…) tạo cảnh quan cho toàn khu vực. Đồng thời cần có kế hoạch mở rộng độ che phủ rừng tạo môi trường bền vững cho toàn bộ khu quy hoạch.

Cần giáo dục cho người dân địa phương nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của sinh thái, môi trường và trách nhiệm của họ trong việc bảo vệ môi trường sinh thái tại đây.

Có bảng hướng dẫn và bảng nội quy về bảo vệ tài nguyên thiên thiên, giữ gìn vệ sinh chung tại các điểm tham quan trong khu du lịch. Bên cạnh đó, cần thiết kế và bố trí các biển báo, biển chỉ dẫn có minh họa bằng hình ảnh sinh động về việc bảo tồn đa dạng sinh học, cảnh quan, môi trường trên tuyến hành trình xuyên thủy và tại các điểm tham quan trong khu du lịch. Thực hiện nghiêm túc các quy định về việc cấm vứt rác bừa bãi, đi vệ sinh không đúng nơi quy định. Có hình thức xử phạt đích đáng cho những hành vi vi phạm.

Bố trí thêm các thùng rác công cộng thuận tiện, dễ nhìn, có hình dáng thân thiện với môi trường như: gốc cây, các con vật,… với dòng chữ “Xin cho tôi rác”.

Xây dựng quỹ bảo vệ môi trường trích từ một phần doanh thu du lịch hàng năm và từ sự ủng hộ của khách tham quan hay các tổ chức, cá nhân khác.

Tích cực đầu tư cho công tác nghiên cứu đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết một số vấn đề cấp bách về môi trường như việc phân loại rác tại nguồn, xử lý ô nhiễm các bãi rác ở khu vực nông thôn, việc đốt rơm rạ sau mùa thu hoạch gây ô nhiễm môi trường không khí, ảnh hưởng đến giao thông và cảnh quan…

3.4.2.6. Giải pháp về sản phẩm du lịch

Bên cạnh những lợi thế cho sự phát triển du lịch, hiện tại còn có những nguồn tài nguyên du lịch chưa được khai thác tốt làm cho sản phẩm du lịch ở Tràng An kém sức cạnh tranh, do đó việc xây dựng chính sách sản phẩm du lịch là một trong những vấn đề cấp bách hiện nay của du lịch Tràng An. Sản phẩm du lịch đặc thù của Tràng An là sản phẩm du lịch sinh thái; du lịch lịch sử, văn hóa; du lịch lễ hội, tâm linh. Ngoài ra, cần nhanh chóng thiết lập mối quan hệ mật thiết về hoạt động du lịch với các địa phương khác trong tỉnh, qua đó sẽ tạo ra được những sản phẩm du lịch mới có sức hấp dẫn lớn đối với du khách, tạo ra sự thúc đẩy tương hỗ nhằm phát triển du lịch các trọng điểm du lịch nói riêng và toàn tỉnh Ninh Bình nói chung.

  • Một số hoạt động du lịch có thể phát triển tại khu du lịch Tràng An

Thám hiểm núi rừng, hang động: Việc làm trước mắt là cần phải nhanh chóng hoàn thiện các tuyến du lịch trong khu sinh thái hang động để khách có thêm nhiều trải nghiệm thú vị khi được khám phá thiên nhiên độc đáo và hiếm có tại đây.

Phát triển các hoạt động du thuyền, lướt ván, đua thuyền, câu cá, leo núi, dã ngoại, sáng tác nghệ thuật như: vẽ tranh, chụp ảnh mĩ thuật. Xem xét việc phát triển các tuyến du thuyền ban đêm, thưởng thức cảnh núi non hùng vĩ về đêm, nghe người lái đò thuyết minh về Tràng An và kết hợp ăn tối trên thuyền. Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

Phát triển loại hình du lịch tham quan, nghiên cứu hệ sinh thái núi đá, rừng cây nguyên sinh, thăm vườn cây ăn quả tại các đảo sinh thái. Đây là tuyến du lịch đường bộ từ đền Trình theo lối mòn ven các quèn trên núi đến đền Trần, động Người Xưa,…và xuyên qua một hệ sinh thái tự nhiên có hệ động thực vật đa dạng, nhiều loài quý hiếm.

Tìm hiểu văn hóa bản địa: tham quan các di tích lịch sử văn hóa, tham gia vào các lễ hội tiêu biểu của người dân địa phương như lễ hội chùa Bái Đính, lễ hội đền Trần, mô hình home stay, tham quan du lịch và trải nghiệm cuộc sống tại các làng nghề, cuộc sống của dân cư bản địa…

  • Các dịch vụ du lịch

Mở các quán cà phê mang âm điệu của núi rừng, cỏ cây. Đặc biệt, dịch vụ cung cấp hàng lưu niệm cần phong phú hơn về chủng loại, chú trọng vào các sản vật của địa phương, tập trung tại một điểm có quy hoạch cụ thể chứ không phải rải rác dọc đường như hiện nay.

  • Đẩy nhanh tiến độ xây dựng khu vui chơi, giải trí; khu làng ẩm thực, hệ thống khách sạn, nhà hàng, khu thương mại tại khu Dịch vụ du lịch.
  • Đào tạo đội ngũ nhân viên chuyên tư vấn những thông tin về chuyến tham quan tại Tràng An cho khách du lịch nhằm triển khai có hiệu quả dịch vụ tư vấn và hướng dẫn khách tại khu Trung tâm.
  • Cần một khu vực riêng có quy mô rõ ràng để tổ chức nơi bán hàng lưu niệm, nơi viết chữ thư pháp và thưởng thức văn hóa ẩm thực của người dân địa phương.

Nhận tổ chức các buổi hội thảo, hội nghị, triển lãm và các trò chơi dân gian định kỳ hàng tuần.

Ngoài ra, để đạt được tính hiệu quả trong kinh doanh du lịch, cần xem xét lựa chọn chiến lược sản phẩm, thị trường  cho phù hợp.

Chiến lược sản phẩm cũ, thị trường cũ: Trong thời gian qua, thị trường khách chủ yếu của Tràng An là Pháp và Hàn Quốc. Với chiến lược này, cần thiết phải có những biện pháp thích hợp và đầu tư thỏa đáng nhằm nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch hiện có. Ngoài ra, cũng cần có chính sách giá cả phù hợp để khuyến khích việc sử dụng các sản phẩm du lịch tại đây.

Chiến lược sản phẩm cũ, thị trường mới: Theo nghiên cứu đánh giá, thị trường tiềm năng lớn của Ninh Bình nói chung và Tràng An nói riêng sẽ là Nhật, Úc, các nước ASEAN. Vì vậy cần thu hút thị trường này để họ tận mắt chiêm ngưỡng những sản phẩm du lịch truyền thống mà rất đặc trưng, độc đáo và đa dạng của Tràng An. Tuy nhiên chiến lược này sẽ gặp khó khăn bởi thông tin quảng cáo du lịch ở Ninh Bình cũng như Tràng An còn nhiều hạn chế.

Chiến lược sản phẩm mới, thị trường cũ: Đây là chiến lược có tính thực thi hơn cả. Trong việc thực hiện chiến lược này, cần nghiên cứu phát triển những sản phẩm mà thị trường cần. Chiến lược này rất phù hợp với Tràng An, nơi có nhiều kỉ lục được xác lập và được xây dựng hoàn toàn mới mẻ và độc đáo.

Chiến lược sản phẩm mới, thị trường mới: Trong điều kiện cụ thể hiện nay ở Tràng An, chiến lược này ít có khả năng mang lại hiệu quả do đòi hỏi có sự đầu tư lớn về vốn cho việc đa dạng hóa các sản phẩm du lịch và công tác quảng bá tìm thị trường mới.

3.4.2.7. Giải pháp về nguồn nhân lực Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

Xây dựng và thực hiện chiến lược đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực. Từ kế hoạch đó, ta có thể lên được những kế hoạch ngắn và dài hạn để thực hiện.

Cần chú trọng vào công tác tuyển dụng nguồn nhân lực, ưu tiên đối với người dân địa phương. Có chính sách thu hút đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn về du lịch. Thực hiện chính sách “trải thảm đỏ” trong du lịch, chủ động đề xuất tuyển dụng những sinh viên tốt nghiệp loại giỏi vào công tác trong các đơn vị quản lý du lịch của tỉnh  hay trong  bộ phận quản lý chung  tại khu du lịch. Bên cạnh đó, cần bổ sung thêm đội ngũ bảo vệ tại các điểm tham quan để đảm bảo an ninh, an toàn cho khách.

Hiện tại, trình độ dân trí của người dân tại khu du lịch còn thấp, do đó việc đào tạo các kiến thức, kĩ năng nghiệp vụ du lịch cho dân cư địa phương là điều hết sức cần thiết. Các lớp đào tạo này cần được tổ chức bởi những chuyên viên đào tạo chuyên nghiệp có kiến thức thực tế chứ không phải là các hội thảo của các tổ chức phi chính phủ hay các học viện.

Trước mắt cần tập trung đào tạo người dân các nội dung sau: Bồi dưỡng đội ngũ lái đò thành hướng dẫn viên DLST; trau dồi các kiến thức về khu du lịch, tâm lý du khách, thức ăn và đồ uống; hình thành ý thức chấp hành nghiêm chỉnh quy định của khu du lịch cũng như việc bảo vệ môi trường sinh thái nơi đây; khả năng giao tiếp cho cộng đồng tham gia vào hoạt động du lịch tại bến thuyền và các điểm di tích.

Các chuyên viên có thể là các giảng viên có kinh nghiệm trong ngành và các chuyên gia từ các trường chuyên ngành du lịch. Trường hợp đặc biệt, có thể mời chuyên gia từ một số nước có ngành công nghiệp du lịch phát triển như Singapo, Thái Lan, Malaysia.

Chuẩn hóa công tác đào tạo, bồi dưỡng cho từng đối tượng phục vụ du lịch, cả trực tiếp và gián tiếp, sau đó nâng lên thành yêu cầu bắt buộc đối với một số đối tượng trực tiếp. Chú trọng đến công tác đào tạo và đào tạo lại đội ngũ phục vụ du lịch cũng như những đối tượng liên quan đến hoạt động du lịch tại khu du lịch, bồi dưỡng năng lực làm việc cho đội ngũ cán bộ tại Ban quản lý Danh thắng Tràng An và bộ phận quản lý chung tại khu du lịch. Công tác trên nên được thực hiện dưới nhiều hình thức: đào tạo tại chỗ, chính quy, trong nước và ngoài nước.

Thường xuyên tổ chức các cuộc thi chuyên môn nghiệp vụ để khuyến khích việc rèn luyện nâng cao tay nghề của các cán bộ, nhân viên đang làm việc trong khu du lịch; có chế độ khen thưởng hàng năm đối với người lao động giỏi; tiến cử các cán bộ nguồn có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao về quản lý tại khu du lịch.

Tăng cường hợp tác, trao đổi kinh nghiêm, nghiệp vụ thông qua các chuyến công tác, khảo sát và tham gia hội nghị, hội thảo khoa học ở các khu du lịch khác trong tỉnh hay ở các tỉnh khác trong nước và ở các nước có ngành du lịch phát triển

3.4.2.8. Giải pháp về phát triển cộng đồng Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

Trên  cơ sở  quy hoạch được duyệt, tỉnh Ninh Bình cần tiếp tục kêu gọi  đầu tư các dự án du lịch ở các khu vực cho phép phát triển trên địa bàn các xã, phường, huyện nằm trong ranh giới quy hoạch khu du lịch Tràng An để từng bước thúc đẩy ngành kinh tế này phát triển. Xây dựng và ban hành các cơ chế khuyến khích, hỗ trợ phát triển du lịch dựa vào cộng đồng. Phát triển du lịch phải đảm bảo sinh kế cho người dân địa phương bằng các biện pháp như:

  • Ưu tiên tuyển dụng người lao động địa phương vào các vị trí như: lái đò, bán hàng lưu niệm, thuyết minh viên, thợ chụp ảnh, bán vé, bảo vệ, người điều đò,…Khuyến khích, đào tạo và tạo điều kiện cho người dân tham gia vào công tác quản lý khu du lịch.
  • Chú trọng đến công tác đào tạo các kiến thức, kỹ năng cơ bản về du lịch; nâng cao nhận thức của cộng đồng về vai trò và tầm quan trọng của phát triển du lịch.
  • Hỗ trợ, khuyến khích, đào tạo người dân kinh doanh hình thức lưu trú tại gia đình (Homestay), nhà nghỉ sinh thái; kinh doanh dịch vụ ăn uống; bán hàng lưu niệm.
  • Tạo ra những mặt hàng lưu niệm có thương hiệu từ những sản vật địa phương với điều kiện là phải quy hoạch riêng cho vùng được khai thác; tạo điều kiện cho người dân có thể cung ứng lương thực, thực phẩm cho các nhà hàng, khách sạn,… trên địa bàn.
  • Lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của người dân để đưa ra các hình thức hỗ trợ cần thiết như hỗ trợ về tín dụng cho người dân có nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống của họ.
  • Vận động người dân tham gia trồng cây, góp phần làm đẹp cảnh quan; nâng cao ý thức bảo vệ môi trường sinh thái tại khu du lịch.

3.4.2.9. Giải pháp về đảm bảo an ninh, an toàn cho khách du lịch

Tăng cường phối hợp liên ngành, các cấp chính quyền để làm rõ trách nhiệm trong việc giữ gìn an ninh, an toàn, văn minh cho khách du lịch tại các điểm tham quan trong khu du lịch. Cần có sự chuẩn bị tốt, đảm bảo an ninh, trật tự nhất là nơi tập trung đông người như phòng bán vé, bến thuyền, nhà hàng, nhà chờ.

Thành lập đội thuyền cứu hộ thường trực để tuần tra và cấp cứu những tai nạn trong tuyến du lịch tại khu sinh thái hang động

Hiện tại, khu du lịch đã trang bị áo phao cứu hộ nhưng với số lượng có hạn, chỉ dùng khi khách có yêu cầu. Vì vậy, để đảm bảo an toàn cho toàn bộ khách du lịch cần bổ sung thêm áo phao cứu hộ cho mỗi thuyền chở khách, coi đây là trang thiết bị cần thiết cho hoạt động của mỗi thuyền

Tổ chức đào tạo, hướng dẫn người lái đò các biện pháp cấp cứu tạm thời; kiểm tra định kỳ tay nghề; tuyệt đối nghiêm cấm việc sử dụng rượu bia khi làm việc

Tăng cường lực lượng bảo vệ để đảm bảo an ninh trật tự tại các điểm tham quan trong khu du lịch, nhất là khu núi chùa Bái Đính và bến thuyền; thường xuyên kiểm tra việc thực hiện các quy định của khu du lịch đối với người lái đò chở khách trên tuyến du lịch đường thủy. Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

Hạn chế việc neo đậu bừa bãi các thuyền trong phạm vi khu sinh thái hang động. Có biện pháp giữ gìn an ninh, trật tự tại khu bến thuyền trong những ngày đông khách như yêu cầu khách xếp hàng, tránh gây tiếng ồn, xả rác bừa bãi; người điều đò cần làm tốt hơn nữa nhiệm vụ của mình trong việc hướng dẫn người lái đò về thứ tự đò xuất bến nhằm đảm bảo an ninh, trật tự, giá trị cảnh quan của khu vực. – Bố trí các thông báo đề phòng kẻ gian tại một số điểm tập trung đông người như phòng bán vé, các đền, phủ, chùa, nhà chờ, khu bán đồ lưu niệm và thông báo đề nghị xếp hàng tại phòng bán vé và bến thuyền. 3.4.2.10. Giải pháp về tuyên truyền, xúc tiến, quảng bá du lịch

Hiện nay, chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2030 đã được Tổng cục Du lịch ban hành nhằm chỉ đạo các Sở VHTTDL triển khai đồng bộ trên cả nước. Đây là định hướng vô cùng quan trọng cho công tác xúc tiến, quảng bá du lịch Ninh Bình nói chung và du lịch Tràng An nói riêng trong thời gian tới. Chương trình xúc tiến phải được tiến hành đồng bộ trên nhiều hình thức.

Trước hết, cần nâng cao nhận thức về du lịch trong các cấp, các ngành và nhân dân; tạo lập và nâng cao hình ảnh của du lịch Tràng An trên toàn quốc, vươn ra khu vực và trên thế giới để qua đó thu hút khách du lịch và nguồn vốn đầu tư vào khu du lịch. Thực hiện xúc tiến, quảng bá du lịch chuyên nghiệp, nhắm vào thị trường mục tiêu, lấy điểm đến, sản phẩm du lịch, thương hiệu du lịch làm đối tượng xúc tiến. Đầu tư  ứng dụng công nghệ cao cho hoạt động xúc tiến quảng bá; khai thác tối ưu công nghệ thông tin và truyền thông; phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng, các lực lượng thông tin đối ngoại; đặt các văn phòng xúc tiến tại các thị trường trọng điểm; tranh thủ sự hỗ trợ của tỉnh và Nhà nước để xúc tiến, quảng bá du lịch.

Hiện nay, đa số khách du lịch đến Ninh Bình còn thiếu thông tin về du lịch địa phương. Các nguồn thông tin chính được phát hành không được phong phú và còn hạn chế về số lượng cũng như chất lượng. Những thông tin không chính thức qua kinh nghiệm và truyền miệng hiện nay được đánh giá là những nguồn thông tin quan trọng để khách du lịch biết đến Tràng An – Ninh Bình.Vì vậy trong thời gian tới cần tập trung đầu tư công tác tuyên truyền, xúc tiến, quảng bá du lịch để công tác này thực sự trở thành một nội dung hoạt động quan trọng.

Các hoạt động xúc tiến cho Tràng An không nên chỉ giới hạn trong tỉnh Ninh Bình mà cần tập trung vào các đối tượng chủ yếu sau:

  • Các hãng lữ hành: tập trung vào các hãng lữ hành như: Viettravel, Hanoitour, Saigontourist và một số chi nhánh của các hãng lữ hành quốc tế tại Hà Nội
  • Các cơ quan công đoàn, tổ chức, doanh nghiệp trong nước. Đây là những tổ chức có ảnh hưởng lớn đến khách nội địa, do đó cần chú trọng bằng thư mời.
  • Các phóng viên báo chí: tổ chức các tour farmtrip và mời họ đến tham dự

Ngoài ra, cần chú trọng đến các công ty vận tải, các khách sạn, nhà hàng,…

Cần đưa ra một câu khẩu hiệu (slogan) riêng nhằm quảng bá hình ảnh điểm đến Tràng An và việc bảo vệ môi trường sinh thái tại đây. Ngoài ra, thông điệp cổ động phải thay đổi theo từng chương trình du lịch cụ thể mới thu hút được du khách và phản ánh được nội dung của chương trình. Có thể đưa ra các câu slogan như: “Tràng An – Trải nghiệm đích thực”, “Khám phá non nước Tràng An”, … Bên cạnh đó, cần nâng cao hiệu quả và tính hữu dụng của logo Tràng An trong việc xúc tiến, quảng bá hình ảnh điểm đến bằng việc đính kèm với các ấn phẩm quảng bá, các đoạn video,…Hơn nữa, cần chú ý đến việc quảng bá tạo nhận thức đúng đắn của du khách đối với các phân khu chức năng của khu du lịch. Nhiều khách du lịch vẫn lầm tưởng khu sinh thái hang động là khu du lịch Tràng An mà không biết rằng đây chỉ là một trong những phân khu chức năng của khu du lịch này.

  • Cách thức, phương tiện quảng bá Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

Tổ chức các tour farmtrip cho các phóng viên báo chí, các chủ hãng lữ hành, đại diện các tổ chức, doanh nghiệp trong nước

Thường xuyên tổ chức phát phiếu trưng cầu ý kiến để có cái nhìn khách quan về du lịch Tràng An, từ đó đưa ra các chính sách phù hợp để phát triển du lịch bền vững tại đây

Nhanh chóng phát hành các ấn phẩm có chất lượng và thông tin chính thức về du lịch Tràng An như tuyến hành trình, điểm lưu trú, hệ thống các điểm tham quan, nhà hàng, các điểm vui chơi giải trí, giá cả dịch vụ,… và địa chỉ của phòng Xúc tiến, Hợp tác Quốc tế thuộc Ban quản lý Quần thể Danh thắng Tràng An để tiện tư vấn và cung cấp thông tin cho khách du lịch. Đối với các tờ chỉ dẫn và thông tin sơ lược, có thể kết hợp với ngành Giao thông vận tải cung cấp miễn phí cho khách trên các lộ trình đến với khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.

Các ấn phẩm, tài liệu quảng bá (sách, báo, tạp chí, tờ rơi, tập gấp,…) phải vừa đảm bảo mục đích quảng bá du lịch vừa mang tính chất giáo dục, trong đó tên gọi của khu du lịch phải được thống nhất là “Khu du lịch sinh thái Tràng An”. Quan trọng nhất là cần phải xuất bản bản đồ du lịch giới thiệu tuyến hành trình, các điểm tham quan, điểm lưu trú, các nhà hàng, khu công viên vui chơi giải trí bằng cả Tiếng Việt lẫn Tiếng Anh. Tràng An cũng cần được giới thiệu trong các tập gấp quảng cáo các thắng đẹp của vùng đồng bằng sông Hồng. Ngoài ra, vé tham quan nên được thiết kế với chức năng bổ sung như một phương tiện quảng bá du lịch bằng việc in kèm hình ảnh về Tràng An. Một phần của tấm vé với chức năng là tấm bưu thiếp có in sẵn tem, địa chỉ người nhận, người gửi. Bởi lẽ, vé tham quan cũng chính là món quà lưu niệm sau mỗi chuyến đi của du khách.

Xúc tiến việc xây dựng và phát hành rộng rãi các phim ảnh, tư liệu về lịch sử văn hóa, các công trình kiến trúc, các danh lam thắng cảnh, các lễ hội,… và cả những cơ hội, khả năng đầu tư phát triển tại khu du lịch trọng điểm của Ninh Bình này.

Cần nhanh chóng thiết kế website cho du lịch Tràng An. Trong website du lịch Ninh Bình cần dành riêng một mục giới thiệu về điểm đến Tràng An. Bên cạnh đó, cần liên kết với các website du lịch khác để quảng bá hình ảnh Tràng An

Cần tận dụng các cơ hội tham gia vào hội nghị, hội thảo và hội chợ du lịch quốc gia, quốc tế để có điều kiện tuyên truyền, tiếp thị những sản phẩm đặc du lịch sắc của Tràng An

Nhận đăng cai, tổ chức các sự kiện của tỉnh để thu hút sự quan tâm của khán giả và sâu hơn nữa là hình ảnh Tràng An đọng lại trong tâm trí của họ

Trong điều kiện thuận lợi có thể mở các văn phòng đại diện tại Hà Nội và Tp.HCM để thực hiện chức năng về dịch vụ lữ hành và xúc tiến, quảng bá du lịch.

  • Chính sách giá

Giá cả các dịch vụ ở khu du lịch sinh thái Tràng An hiện nay có nhiều bất hợp lý, do đó nên vận dụng chính sách giá phân biệt theo mùa (giá trong mùa cao điểm và giá trong mùa thấp điểm).

Cần niêm yết lại giá bán các món ăn trong nhà hàng cũng như giá của các sản phẩm trong khu bán đồ lưu niệm cho phù hợp. Không nên thu phí sử dụng nhà vệ sinh mà phí đó nên bao gồm trong vé tham quan để tránh gây phiền toái cho khách.

Ban quản lý khu du lịch nên sử dụng loại giá hợp đồng đối với khách của trung gian du lịch gửi đến và giá đối với khách lẻ tự tìm đến. Giá hợp đồng nên giảm khoảng 10 – 15% so với giá niêm yết.

Cần hỗ trợ một số tàu đò hoặc sử dụng giá ưu đãi với việc vận chuyển các nhà sư đến các đình, đền trong nội bộ khu sinh thái hang động.

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

  1. KẾT LUẬN

Qua quá trình nghiên cứu, phân tích tiềm năng, thực trạng phát triển du lịch tại khu du lịch Tràng An, có thể đưa ra các kết luận cơ bản sau:

Khu du lịch Tràng An là một vùng có vị trí thuận lợi, đóng vai trò quan trọng trong quy hoạch phát triển du lịch Ninh Bình nói riêng và vùng du lịch Bắc Bộ nói chung. Đây là địa bàn có tài nguyên du lịch rất phong phú, đa dạng và đặc sắc. Tiềm năng này cho phép Tràng An có thể phát triển đồng thời nhiều loại hình du lịch hấp dẫn khách du lịch.

Mặc dù chưa hoàn thiện nhưng khu du lịch này cũng đã bước đầu bắt tay vào khai thác một số tuyến du lịch và đạt được những thành tựu to lớn, mang lại hiệu quả kinh tế cao, tạo công ăn việc làm cho người lao động. Tuy nhiên hoạt động tại khu du lịch vẫn còn tồn tại những hạn chế về cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch, chất lượng nguồn lao động hay mức độ đóng góp cho công tác bảo tồn, phát triển tài nguyên và đóng góp vào phát triển kinh tế xã hội của địa phương còn chưa thỏa đáng,…Để phát triển du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An, cần phải kiên trì với mục tiêu, định hướng  phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Thực hiện tốt quy hoạch phát triển du lịch trong đó cần đặc biệt chú ý thực hiện tốt các nguyên tắc của phát triển du lịch bền vững, khắc phục nhanh chóng những tồn tại, hạn chế gây ảnh hưởng tới du lịch bền vững.

Những giải pháp nêu trên không phải làm trong ngày một ngày hai mà cần phải có những chiến lược lâu dài, liên tục vừa phát triển vừa học tập kinh nghiệm, bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với yêu cầu thực tế. Việc này không phải do một đơn vị hay một địa phương đảm trách mà cần có sự tham gia tích cực của các cấp, các ngành có liên quan, xây dựng được mối quan hệ gắn bó giữa nhân dân và các cơ quan quản lý Nhà nước, phát huy tốt vai trò của nhân dân, gắn với lợi ích cộng đồng dân cư.

Tôi tin tưởng rằng với sự nỗ lực của mỗi ngành, địa phương, sự hưởng ứng của cộng đồng dân cư, nhất là sự hỗ trợ thiết thực của dự án xây dựng CSHT, xây dựng CSVC-KT ngành du lịch, chắc chắn du lịch Tràng An sẽ có những bước phát triển mạnh trong tương lai. Đây sẽ là khu du lịch có vai trò và ý nghĩa lớn nhất trong ngành du lịch Ninh Bình, mang tầm cỡ quốc gia và quốc tế.

2. KIẾN NGHỊ

  • Đối với Chính phủ, Tổng cục Du lịch Việt Nam và các Bộ, ban ngành có liên quan:

Tổng cục Du lịch Việt Nam cần tiến hành xây dựng “Chiến lược phát triển du lịch sinh thái quốc gia” để định hướng cho hoạt động du lịch bền vững gắn với du lịch cộng đồng nói chung ở Việt Nam và các vùng tiềm năng nói riêng.

Chính phủ cần chỉ đạo Bộ VHTTDL, UBND tỉnh Ninh Bình tập trung mọi nguồn lực nhằm bảo vệ, giữ vững danh hiệu Quần thể Danh thắng Tràng An là Di sản thiên nhiên thế giới do UNESCO công nhận.

Chính phủ và Bộ Tài chính cần quan tâm, tạo điều kiện hỗ trợ đầy đủ, kịp thời nguồn tài chính cho việc xây dựng CSHT tại khu du lịch sinh thái Tràng An, Ninh Bình. Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

  • Đối với UBND tỉnh, các Sở, Ban ngành và chính quyền huyện Gia Viễn, huyện Hoa Lư và TP Ninh Bình.

UBND tỉnh cần ban hành các chính sách khuyến khích đầu tư tại khu du lịch Tràng An và chỉ đạo các chính quyền cấp huyện, xã, phường thực hiện quản lý chặt chẽ lãnh thổ được quy hoạch.

Sở Khoa học – Công nghệ: Tổ chức triển khai và nghiên cứu khoa học nhằm phục hồi và bảo vệ đa dạng sinh học; triển khai các chương trình, dự án chuyển giao ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật góp phần chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp của cộng đồng dân cư, giảm thiểu các tác động có hại đến tài nguyên, sinh cảnh tại khu du lịch.

Sở Tài nguyên Môi trường: Triển khai các quy định và biện pháp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, quản lý bảo vệ môi trường tại khu du lịch Tràng An. Phối hợp với các cơ quan liên quan định kỳ quan trắc, đánh giá diễn biến môi trường tại đây.

Sở VHTTDL Ninh Bình: Tổ chức xây dựng quy hoạch chi tiết, quy chế quản lý, khai thác Quần thể Danh thắng Tràng An và hướng dẫn các hoạt động du lịch hợp lý tại khu du lịch; thực hiện chương trình đào tạo ngành nghề phục vụ du lịch, từng bước chuyển đổi nghề nghiệp hợp lý cho cộng đồng dân cư tại đây; phối hợp với Ban quản lý Quần thể Danh thắng Tràng An tuyên truyền, nâng cao nhận thức về bảo tồn tài nguyên tự nhiên và nhân văn cho cộng đồng, các đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch và khách du lịch.

  • Đối với UBND huyện Hoa Lư, huyện Gia Viễn, TP Ninh Bình và cộng đồng dân cư tại khu du lịch sinh thái Tràng An:

UBND huyện Gia Viễn, huyện Hoa Lư và TP Ninh Bình cần phối hợp với Sở VHTTDL trong việc quản lý khai thác và bảo vệ tài nguyên môi trường du lịch tại khu du lịch Tràng An.

Phòng Văn hóa Thông tin huyện Hoa Lư, huyện Gia Viễn và TP Ninh Bình kết hợp với các Ban, ngành khác hỗ trợ và hướng dẫn người dân làm du lịch, bảo vệ tài nguyên du lịch tại khu du lịch.

Phát triển kế hoạch quản lý du lịch ở Tràng An trong sự cộng tác với Ban Quản lý Quần thể Danh thắng Tràng An theo cơ chế phối kết hợp để đảm bảo rằng các lợi ích về du lịch được chia sẻ với người dân địa phương và giảm thiểu tác động tiêu cực từ sự phát triển du lịch.

Cần nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên môi trường, nhận thức đúng đắn của cộng đồng trong việc tham gia vào những hoạt động du lịch tại khu du lịch. Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Phát triển du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An

One thought on “Luận văn: Giải pháp du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An

  1. Pingback: Luận văn: Thực trạng du lịch bền vững tại Khu du lịch Tràng An

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464