Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng đạo đức học sinh trường THPT Quan Lạn hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở trường trung học phổ thông Quan Lạn huyện Vân Đồn, Quảng Ninh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.3. Thực trạng đạo đức học sinh trường THPT Quan Lạn huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh
2.3.1. Kết quả xếp loại hạnh kiểm học sinh trường THPT Quan Lạn
Căn cứ vào kết quả học tập và rèn luyện, hàng năm nhà trường tổ chức xếp loại hạnh kiểm đạo đức cho học sinh, kết quả xếp loại trong 3 năm 2013 – 2016 như sau: Luận văn: Thực trạng đạo đức học sinh trường THPT Quan Lạn
Bảng 2.3: Kết quả xếp loại hạnh kiểm của học sinh
Từ kết quả xếp loại đạo đức HS trường THPT Quan Lạn cho thấy: tỷ lệ HS bị xếp loại hạnh kiểm trung bình và yếu tương đối cao: cụ thể năm học 2013 – 2014 có 11,80 %; năm học 2014-2015 có 8,83% và năm học 2015 – 2016 có 12,56%, tỷ lệ này không giảm qua các năm mà còn có xu hướng tăng lên. Tỷ lệ HS được xếp loại Tốt cũng không cao, cụ thể năm học 2014 – 2015 cao nhất cũng chỉ có 64,44%. Như vậy, theo kết quả xếp loại của Nhà trường có thể đánh giá: HS trường THPT Quan Lạn còn nhiều vi phạm trong học tập, rèn luyện và cuộc sống, tỷ lệ HS chưa được đánh giá đạo đức Tốt còn nhiều, vậy nguyên nhân này từ đâu? Chúng tôi thiết nghĩ nhà trường cần có các phương pháp và hình thức GDĐĐ cho học sinh phù hợp.
2.3.2. Thực trạng vi phạm đạo đức học sinh trường THPT Quan Lạn
Để tìm hiểu về mức độ vi phạm và những nội dung vi phạm đạo đức của HS dẫn đến kết quả xếp loại hạnh kiểm đạo đức thấp, chúng tôi tiến hành khảo sát ý kiến của CBGV, PHHS và HS về thực trạng vi phạm đạo đức HS, kết quả thu được trên bảng 2.4:
Bảng 2.4: Kết quả khảo sát thực trạng vi phạm đạo đức HS
Qua bảng khảo sát trên bảng 2.4 cho thấy CBQL, GV, PH và HS đánh giá HS trường THPT Quan Lạn, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh vi phạm đạo đức ở mức độ thỉnh thoảng, điểm trung bình lần lượt là: 2,29; 2,26; 2,28.
Cả 3 đối tượng tham gia đánh giá là CBQL, GV; PH và HS đều đánh giá ở mức độ ngang nhau.
Xét về các nhóm vi phạm có thể thấy: xếp hạng ở mức cao nhất chủ yếu thuộc về những vi phạm trong học tập, thực hiện nề nếp của nhà trường.., cụ thể như: các nội dung “Ý thức học tập chưa cao, lười học, không học bài ở nhà”, “Nghỉ học không lý do, bỏ giờ trốn tiết, muộn giờ”; “Dối trá, gian lận trong kiểm tra và thi cử”, … được đánh giá ở mức độ thường xuyên vi phạm (điểm trung bình từ 2,5 – 3,25). Nhóm các hành vi vi phạm chuẩn mực văn hóa, lối sống, ý thức trong cuộc sống có điểm trung bình đánh giá ở mức độ thỉnh thoảng (1,7 -2,5), các nội dung vi phạm như: “Vô lễ với thầy cô giáo và người lớn”, “Nói tục, chửi bậy, ăn nói thiếu văn hoá”, “Không giữ gìn vệ sinh nơi công cộng”, thậm chí là những hành vi vi phạm pháp luật như: “Trộm cắp, trấn lột tài sản, cắm xe”, “vi phạm luật giao thông”, “Hút thuốc lá, uống bia rượu” cũng được đánh giá thỉnh thoảng vẫn có những HS vi phạm. Hành sử dụng ma túy, chất gây nghiện được đánh giá không diễn ra ở cả ba đối tượng đánh giá, để làm rõ hơn nội dung này, chúng tôi phỏng vấn sâu thầy Nguyễn Văn H., kết quả như sau: “Quan Lạn là xã nghèo, điều kiện kinh tế khó khăn, mớ phát triển do vậy các dịch vụ chưa nở rộ, tình trạng HS nghiện hút chưa thấy, tuy nhiên Nhà trường vẫn rất quan tâm vấn đề này”.
Kết luận: HS trường THPT Quan Lạn, huyện Vân Đồn còn nhiều vi phạm so với chuẩn mực đạo đức, đặc biệt HS vi phạm trong học tập, chấp hành nội quy nề nếp của nhà trường diễn ra thường xuyên, tình trạng HS vi phạm chuẩn mực văn hóa, lối sống và ý thức công dân vẫn còn diễn ra nhiều. Cá biệt vẫn có những HS vi phạm pháp luật, đạo đức lối sống. Kết quả phân tích trên cho thấy, trường THPT Quan Lạn cần có các biện pháp phù hợp nhằm tổ chức các hoạt động GDĐĐ cho HS tốt hơn nữa.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Giáo Dục
2.3.3. Các nguyên nhân ảnh hưởng đến vi phạm đạo đức học sinh Luận văn: Thực trạng đạo đức học sinh trường THPT Quan Lạn
Để tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến những hành vi vi phạm nội quy nêu trên của học sinh, chúng tôi tiến hành thăm dò ý kiến đánh giá của các đối tượng khảo sát, kết quả thu được như sau:
Bảng 2.5: Thực trạng nguyên nhân ảnh hưởng đến vi phạm đạo đức học sinh
Kết quả khảo sát cho thấy: 100% CBQL, GV; PH và HS đều cho rằng tất cả các nguyên nhân trên đều gây ảnh hưởng đến hành vi vi phạm đạo đức HS ở mức độ rất ảnh hưởng đến ảnh hưởng ( điểm trung bình cao nhất là 3,7; thấp nhất là 2,4).
Xếp ở vị trí cao nhất với hầu hết CBGV, PH và HS được hỏi cho rằng nguyên nhân ảnh hưởng lớn nhất dẫn đến việc học sinh vi phạm đạo đức đó là: Gia đình, XH buông lỏng quản lý với điểm đánh giá từ 3.5 ở HS đến 3.7 ở CB-GV. Xếp vị trí tiếp theo là những nguyên nhân “Người lớn chưa gương mẫu”, “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức chưa chặt chẽ”; “Một bộ phận CBGV chưa quan tâm tới GDĐĐ học sinh”; “Chưa có sự phối hợp các lực lượng trong giáo dục đạo đức học sinh”; “Phim ảnh sách báo không lành mạnh”…Tất cả các nguyên nhân này được đánh giá ở mức độ rất có ảnh hưởng với mức điểm đánh giá từ 2.8 đến 3.4.
Với những nguyên nhân: “Ảnh hưởng của sự bùng nổ thông tin, truyền thông”; “Điều hành pháp luật chưa nghiêm”; “Tệ nạn xã hội” được đánh giá ở mức “có ảnh hưởng”, tuy nhiên HS đánh giá nguyên nhân: do tệ nạn xã hội dẫn đến HS vi phạm đạo đức ở mức điểm ảnh hưởng tương đối cao (3.1). Phỏng vấn sâu HS về vấn đề này, chúng tôi được biết “hầu hết những học sinh vi phạm đạo đức đều có dính líu đến các tệ nạn xã hội như trộm cắp, uống rượu bia, hút thuốc, gây gổ đánh nhau vì do đua đòi, một số học sinh nhà nghèo, không có tiền vì thế sinh ra trộm cắp trong nhà trường, ngoài xã hội,…”. Nội dung “ điều hành pháp luật chưa nghiêm” và “nhiều đoàn thể xã hội chưa quan tâm đến GDĐĐ” được đánh giá ở mức “có ảnh hưởng” và xếp loại ở mức cuối cùng trong các nguyên nhân khảo sát.
Kết luận: các nguyên nhân chúng tôi khảo sát đều có ảnh hưởng đến hành vi phạm đạo đức của HS ở các mức độ ảnh hưởng khác nhau. Các nguyên nhân ảnh hưởng nhiều đến hành vi vi phạm đạo đức của HS bao gồm: người lớn chưa gương mẫu; Gia đình, xã hội buông lỏng quản lý , Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức chưa chặt chẽ; Một bộ phận CBGV chưa quan tâm tới GDĐĐ học sinh; Chưa có sự phối hợp các lực lượng trong giáo dục đạo đức học sinh; Phim ảnh sách báo không lành mạnh …. Theo chúng tôi, để thực hiện tốt hoạt động giáo dục đạo đức HS cần có các biện pháp cụ thể, trong đó phải phối hợp chặt chẽ gia đình – nhà trường – xã hội, từng bước loại bỏ những yếu tố ảnh hưởng, những nguyên nhân ảnh hưởng ra khỏi môi trường giáo dục HS.
2.4. Hoạt động GDĐĐ HS tại trường THPT Quan Lạn huyện Vân Đồn Luận văn: Thực trạng đạo đức học sinh trường THPT Quan Lạn
2.4.1. Nhận thức vai trò của hoạt động GDĐĐ HS
Để tiến hành tìm hiểu về vai trò của GDĐĐ trong nhà trường, chúng tôi tiến hành khảo sát ý kiến đánh giá của các khách thể, kết quả cụ thể như sau:
Bảng 2.6: Kết quả khảo sát nhận thức của CBGV, PH và HS về tầm quan trọng của hoạt động GDĐĐ trong trường THPT
Qua kết quả khảo sát bảng 2.6 cho thấy: 100% CBGV và PH, HS cho rằng GDĐĐ là một trong những mục tiêu rất quan trọng và quan trọng trong công tác giáo dục toàn diện cho học sinh THPT trong giai đoạn hiện nay, như vậy có thể thấy CBGV và PH, HS nhà trường đã chú trọng tới công tác GDĐĐ trong nhà trường. Với HS thì có 69.4% được hỏi cho rằng công tác GDĐĐ là rất quan trọng và 25% cho rằng quan trọng, tuy nhiên vẫn còn 10 HS (5.6%) cho rằng công tác này ít quan trọng, qua trao đổi trực tiếp, một số HS cho rằng việc chính của nhà trường đó là truyền thụ kiến thức cho HS và HS có nhiệm vụ là học tập thật tốt còn đạo đức thì mỗi người HS phải tự rèn luyện cho bản thân mình. Như vậy có thể thấy trong thời gian tới nhà trường cùng với PHHS và các ban ngành đoàn thể cần làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục đạo đức HS để toàn bộ HS hiểu được rằng để làm người công dân có ích cho gia đình, cho xã hội thì không chỉ có kiến thức văn hóa mà còn phải có đạo đức tốt, biết kính trên nhường dưới, biết tránh xa các tệ nạn xã hội…
2.4.2. Thực trạng hoạt động GDĐĐ học sinh ở trường THPT Quan Lạn huyện Vân Đồn Luận văn: Thực trạng đạo đức học sinh trường THPT Quan Lạn
2.4.2.1. Nội dung giáo dục đạo đức
Tìm hiểu những nội dung GDĐĐ học sinh và mức độ nhà trường đã triển khai, chúng tôi tiến hành khảo sát ý kiến đánh giá của CBGV, PH và HS nhà trường, kết quả cụ thể trên bảng 2.7.
Bảng 2.7: Thực trạng các nội dung GDĐĐ cho HS
Thông qua kết quả phân tích trên bảng 2.7 cho thấy: 12 nội dung GDĐĐ cho HS đều được Nhà trường, GV tổ chức thực hiện, các nội dung GDĐĐ cho HS được thực hiện ở mức độ rất thường xuyên và thường xuyên, không có nội dung nào được đánh giá ở mức độ “ít thực hiện” và “không thực hiện”.
Các nội dung được tổ chức thực hiện ở mức độ “rất thường xuyên” bao gồm: trung thực, thật thà; đoàn kết, hiếu thảo với ông bà cha mẹ; tôn trọng nội quy pháp luật; Yêu nước, yêu hoà bình ,yêu CNXH; Tinh thần đoàn kết, ý thức tập thể … được đánh giá với mức điểm trung bình từ 3,5 đến 3,7. Các nội dung còn lại: giáo dục giới tính; lòng nhân ái vị tha; ý thức vượt khó vươn lên trong học tập; Giáo dục lối sống văn hoá; …. được đánh giá ở mức độ “thường xuyên thực hiện” với mức điểm đánh giá trung bình từ 3.0 đến 3.4.
So sánh kết quả đánh giá giữa CBGV với PH và HS thấy rằng: PH đánh giá thấp hơn so với đánh giá của CBGV và HS, nguyên nhân có thể là do PH ít tham gia các hoạt động GDĐĐ cùng với nhà trường. Người thực hiện và người tiếp thu những nội dung này là CBGV và HS, do vậy họ có những đánh giá tương đối chính xác hơn so với PH.
Thông qua kết quả khảo sát có thể nhận thấy, trong thời gian qua trường THPT Quan Lạn đã thực hiện tương đối đa dạng các nội dung GDĐĐ cho học sinh và mức độ tổ chức được đánh giá ở mức thường xuyên và rất thường xuyên. Tuy nhiên, tỷ lệ HS vi phạm đạo đức còn cao, câu hỏi đặt ra là nguyên nhân từ đâu? Để giải đáp những nội dung trên chúng tôi tiếp tục tìm hiểu các hình thức và phương pháp tổ chức giáo dục.
2.4.2.2. Các hình thức giáo dục đạo đức Luận văn: Thực trạng đạo đức học sinh trường THPT Quan Lạn
Để kết làm tốt hoạt động GDĐĐ học sinh đòi hỏi người CBGV và các tổ chức phối hợp phải không ngừng sáng tạo, tìm tòi các biện pháp, hình thức tổ chức phong phú, có như vậy mới thu hút được sự quan tâm của học sinh. Tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi tiến hành trưng cầu ý kiến của CBGV, PHHS và HS nhà trường, kết quả thu được như sau:
Bảng 2.8: Thực trạng các hình thức GDĐĐ học sinh
Phân tích kết quả trên bảng 2.8: Các hình thức GDĐĐ học sinh đều được trường THPT Quan Lạn tổ chức thực hiện song ở các mức độ khác nhau và chủ yếu được đánh giá ở mức độ “thường xuyên” và “thi thoảng”.
Các hình thức giáo dục truyền thống như: tích hợp GDĐĐ học sinh thông qua các giờ dạy văn hóa trên lớp; Giáo dục thông qua giờ sinh hoạt, tiết học ngoài giờ lên lớp (theo chủ đề trong tuần, trong tháng); Giáo dục thông qua các buổi tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, qua các buổi mít tinh kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm; Giáo dục thông qua các hoạt động của Đoàn thanh niên; Giáo dục đạo đức thông qua các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, trò chơi .. được đánh giá với mức điểm cao nhất, xếp từ vị trí 1 đến 5. Đây là những hình thức truyền thống được thực hiện qua nhiều năm, nhiều thế hệ học trò và cũng là những quy định nằm trong chương trình bắt buộc của ngành giáo dục.
Các hình thức giáo dục mang tính đổi mới so với một xã đảo như: các hoạt động thực tế, thăm quan dã ngoại; Giáo dục đạo đức thông qua các hoạt động xã hội, hoạt động từ thiện nhân đạo; Giáo dục thông qua tổ chức các cuộc thi, tìm hiểu theo chủ đề về đạo đức học sinh … thì được đánh giá ở mức thực hiện thấp nhất, qua trao đổi phỏng vấn sâu Thầy giáo Nguyễn Văn H cho rằng: các hình thức này nhà trường ít khi thực hiện nếu có thực hiện thì cũng không ở diện rộng mà chỉ có thể tổ chức cho các em là học sinh giỏi được đi tham quan hoặc thực hiện theo chủ để với nhóm nhỏ, ngoài ra một phần cũng do kinh phí nhà trường hạn hẹp, đời sống kinh tế của nhân dân địa phương còn khó khăn, ngoài ra còn vấn đề an toàn của các em khi tham gia. Vì vậy nhà trường chưa thường xuyên tổ chức hình thức này trong GDĐĐ cho học sinh.
2.4.2.3. Các phương pháp giáo dục đạo đức Luận văn: Thực trạng đạo đức học sinh trường THPT Quan Lạn
Cũng như các hình thức, các phương pháp giáo dục cũng là một trong các yếu tố hàng đầu ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả GDĐĐ cho học sinh. Kết quả khảo sát các phương pháp GDĐĐ cho học sinh được thể hiện trên bảng 2.9
Bảng 2.9: Thực trạng các phương pháp GDĐĐ cho học sinh
Cán bộ, giáo viên trường THPT Quan Lạn chủ yếu sử dụng nhóm phương pháp tuyên truyền, thuyết phục bao gồm các phương pháp: phương pháp khuyên giải; trao đổi, đối thoại; phương pháp nêu gương, làm gương. Kết quả đánh giá của CBGV, PH và HS tương đối giống nhau với điểm trung bình lần lượt là: 3,5; 3,3; 3,3. Hai nhóm phương pháp cón lại được đánh giá ở mức thấp hơn, điểm trung bình gần tiệm cận với mức “thỉnh thoảng”, điều đó cho thấy hiệu quả, tần suất thực hiện chưa cao.
Tìm hiêu sâu hơn, chúng tôi được biêt: hầu hết CBGV nhà trường đã sử dụng nhóm phương pháp thuyết phục trong giáo dục đạo đức cho HS như: thường xuyên khuyên giải, trao đổi, đối thoại với học sinh từ đó tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của các em để có phương pháp, hình thức giáo dục đạt hiệu quả, ngoài ra bản thân các thày cô giáo cũng tự trau dồi bản lĩnh nghề nghiệp, đạo đức để làm gương cho các em học sinh trong trường (theo số liệu báo cáo và tham khảo trong hồ sơ lưu trữ của nhà trường mà chúng tôi nắm được, trong nhiều năm qua CBGV trong nhà trường không có ai vi phạm đạo đức nhà giáo).
Với truyền thống văn hóa của người Á Đông thì đây là phương pháp giáo dục đạo đức không những dễ thực hiện nhất, có hiệu quả nhất mà còn mang tính nhân văn sâu sắc, tuy nhiên nếu không có những hình thức giáo dục phong phú và không phối hợp với các phương pháp khác thì hiệu quả giáo dục sẽ không cao. Chúng tôi đề xuất: cần thực hiện phối hợp với hai nhóm phương pháp còn lại, đặc biệt là các phương pháp: Phương pháp tổ chức rèn luyện hành vi, thói quen đạo đức; phương pháp đưa học sinh tham gia các hoạt động thực tiễn; phương pháp khen thưởng; phương pháp trách phạt; phương pháp thi đua.
2.4.2.4. Các lực lượng tham gia giáo dục đạo đức học sinh
Để công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường đạt hiệu quả cao thì không thể thiếu sự tham gia phối kết hợp của gia đình và các tổ chức, cá nhân trong toàn xã hội, vậy việc phối kết hợp được thực hiện như thế nào ở trường THPT Quan Lạn trong thời gian qua, chúng tôi tiến hành trưng cầu ý kiến của CBGV, PH và HS nhà trường, kết quả thu được như sau:
Bảng 2.10: Thực trạng công tác phối kết hợp các lực lượng trong việc giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT Quan Lạn
Qua khảo sát cho thấy: Cả ba đối tượng khảo sát cho rằng các lực lượng như: Gia đình, BGH, CBGV trong trường đã rất thường xuyên phối hợp trong việc GDĐĐ cho học sinh với mức điểm đánh giá từ 3,5 đến 3,6, sau đó là việc phối hợp với tổ chức Đoàn thanh niên.
Việc phối hợp với Cấp ủy, chính quyền địa phương trong GDĐĐ cho học sinh được CBGV đánh giá khá cao với mức điểm 3,0, tuy nhiên PH và HS đánh giá việc phối hợp với lực lượng này chưa cao. Đặc biệt là việc phối hợp với các tổ chức xã hội, với các ban ngành như: Tuyên giáo, Hội khuyến học… được PH và HS đánh giá ở mức thỉnh thoảng mới thực hiện với điểm đánh giá thấp từ 1,8 đến 2,2, khi tìm hiểu nguyên nhân chúng tôi nhận thấy: Các lực lượng này ít khi tới trường, thậm chí có ý kiến cho rằng việc GDĐĐ cho học sinh là công việc của các gia đình và nhà trường. Như vậy, có thể thấy trong thời gian tới nhà trường THPT Quan Lạn cần làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền cho các tổ chức, cá nhân trong xã hội hiểu vai trò của các lực lượng trong việc phối kết hợp giáo dục đạo đức cho học sinh.
2.5. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh Luận văn: Thực trạng đạo đức học sinh trường THPT Quan Lạn
Để hiểu rõ được thực trạng quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh của nhà trường, chúng tôi đã tiến hành khảo sát cán bộ quản lý và giáo viên về các mặt cụ thể sau đây:
2.5.1. Công tác xây dựng kế hoạch
Bảng 2.11: Thực trạng việc xây dựng kế hoạch GDĐĐ cho học sinh ở trường THPT Quan Lạn
Qua khảo sát ý kiến của CBQL và GV, kết quả bảng 2.11 cho thấy: 100% số ý kiến được hỏi cho rằng nhà trường đã thực hiện việc xây dựng kế hoạch GDĐĐ học sinh, điểm trung bình từ 3,21 đến 3,48; các nội dung số 1,2 thực hiện mức độ Tốt, các nội dung 3,4,5,6 thực hiện ở mức độ khá; cụ thể như sau:
- Nội dung số 1, “Xây dựng kế hoạch hoạt động GDĐĐ học sinh đầy đủ mục tiêu, nội dung, hình thức .. cho cả năm học” có 57,57% CBGV đánh giá thực hiện tốt; 33.33% đánh giá ở mức khá và có 9,09% đánh giá ở mức trung bình, không có ý kiến nào đánh giá ở mức yếu.
- Nội dung số 2 “Xây dựng kế hoạch GDĐĐ theo chủ điểm”: 45,45% đánh giá mức tốt; 45,45% đánh giá mức khá, tuy nhiên vẫn còn 9,09% cho rằng việc thực hiện công tác này chỉ dừng lại ở mức độ trung bình.
- Với các nội dung: Xây dựng kế hoạch sử dụng kinh phí, trang thiết bị cần thiết cho hoạt động GDĐĐ; Xây dựng kế hoạch phối hợp các lực lượng trong GDĐĐ cho học sinh, có cùng 42,42% CBGV cho rằng nhà trường đã thực hiện tốt và 39.39% đánh giá thực hiện ở mức khá ngoài ra còn tới 18,18% ý kiến cho rằng mức độ thực hiện công tác này của nhà trường chỉ ở mức trung bình. Luận văn: Thực trạng đạo đức học sinh trường THPT Quan Lạn
Kết quả phân tích trên cho thấy: công tác xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động GDĐĐ HS ở trường THPT Quan Lạn được đánh giá không cao, tỷ lệ GV đánh giá mức độ Tốt ở các nội dung đều dưới 50 %, còn lại là mức độ Khá và Trung bình, không có mức độ yếu. Trao đổi với cán bộ, giáo viên trong trường, có nhiều ý kiến cho rằng: việc xây dựng mục tiêu, kế hoạch GDĐĐ chỉ là hình thức, lãnh đạo phê duyệt rồi để đấy, hoạt động GDĐĐ do GV chủ động theo kinh nghiệm mà chưa có sự được triển khai, hướng dẫn cụ thể của nhà trường, nhiều GV tập trung vào dạy kiến thức cho HS để ứng phó với thi cử. Trao đổi với Ban Giám hiệu nhà trường, chúng tôi được biết: Việc xác định mục tiêu giáo dục đạo đức và xây dựng kế hoạch cụ thể từng năm học, từng học kỳ do đồng chí Hiệu trưởng trực tiếp xây dựng sau đó triển khai đến các tổ chuyên môn, các ban ngành trong trường và các giáo viên chủ nhiệm cùng các giáo viên bộ môn. Do đó các mục tiêu GDĐĐ cho học sinh rất sát thực và có tính khả thi cao vì đã cân đối được các thuận lợi, khó khăn, mặt mạnh, mặt yếu, các nguồn lực về con người và tài chính…Kế hoạch cũng được đồng chí Hiệu trưởng phân định thời gian, phân công người phụ trách cho từng nội dung giáo dục cụ thể trong từng giai đoạn và cả năm học.
2.5.2. Công tác tổ chức
Đây là một nội dung quản lý được đánh giá rất quan trọng ở trường THPT Quan Lạn trong những năm qua. Kết quả khảo sát về thực trạng công tác tổ chức được thể hiện trên bảng 2.12.
Bảng 2.12: Thực trạng công tác tổ chức hoạt động GDĐĐ học sinh
Kết quả trên bảng 2.12: công tác tổ chức được CB-GV trường THPT Quan Lạn đánh giá ở các mức độ Tốt, điểm trung bình từ 3,30 đến 3,57.
Xếp ở vị trí số 1, nội dung “Thành lập Ban chỉ đạo thực hiện GDĐĐ học sinh”; xếp vị trí thứ 2 là nội dung số 2 và số 4: “Xây dựng các lực lượng tham gia GDĐĐ cho học sinh” và “Phân cấp cho tổ chuyên môn triển khai và thực hiện tích hợp GDĐĐ thông qua các hoạt động dạy học”; xếp vị trí cuối là nội dung số 3: “Sắp xếp bố trí nhân sự, phân công trách nhiệm quản lý, huy động cơ sở vật chất, tài chính ..”.
Xét về tổng thể (điểm trung bình) được đánh giá ở mức độ Tốt, tuy nhiên độ phân tán các phương án trả lời cao, tỷ lệ CB-GV đánh giá ở mức độ khá và trung bình nhiều, cụ thể: ở tất cả các tiêu chí đánh giá, tỷ lệ CB-GV đánh giá ở mức độ khá và trung bình đạt gần 50 %. Theo chúng tôi, trong thời gian tới trường THPT Quan Lạn cần tiếp tục quan tâm nội dung này, để đạt được hiệu quả cao trong quản lý, Nhà trường cần có biện pháp quản lý tốt hơn trong thời gian tới.
2.5.3. Thực trạng công tác chỉ đạo thực hiện Luận văn: Thực trạng đạo đức học sinh trường THPT Quan Lạn
Chỉ đạo đội ngũ thực hiện các nội dung GDĐĐ học sinh theo đúng kế hoạch, đúng nội dung và yêu cầu một cách sát sao là yếu tố quan trọng mang lại hiệu quả quản lý cho nhà trường. Để tìm hiểu thực trạng công tác chỉ đạo thực hiện hoạt động GDĐĐ cho học sinh ở trường THPT Quan Lạn, chúng tôi tiến hành khảo sát ý kiến đánh giá của CBGV nhà trường, kết quả thu được như sau:
Bảng 2.13: Thực trạng công tác chỉ đạo hoạt động GDĐĐ học sinh
Kết quả khảo sát trên bản 2.13 cho thấy: công tác chỉ đạo thực hiện hoạt động GDĐĐ học sinh đã được Hiệu trưởng quan tâm chỉ đạo, tuy nhiên kết quả thực hiện một số nội dung chưa cao. Các nội dung từ số 1 đến 4 có điểm trung bình từ 3,27 đến 3,42 trong khung đánh giá mức độ Tốt, tuy nhiên tiệm cận với mức độ Khá. Các nội dung số 5, 6 có điểm trung bình từ 3,09 đến 3,24 chỉ được đánh giá ở mức độ khá.
Tỷ lệ CB, GV đánh giá cao nhất là nội dung “Hiệu trưởng chỉ đạo tích hợp nội dung giáo dục GDĐĐ thông qua dạy học các môn học chiếm ưu thế” với 51,51% ý kiến được hỏi đánh giá ở mức độ tốt; 39,39% đánh giá ở mức độ khá; 9,09% đánh giá ở mức độ trung bình, không có đánh giá ở mức yếu. Các nội dung số 3, 4, 5 được đánh giá ở mức độ tốt tương đối ngang nhau; nội dung số 6 “Chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch kiểm tra đánh giá chất lượng đạt được của học sinh” được đánh giá ở mức độ thấp nhất với 30,3% ý kiến đánh giá thực hiện tốt; 48,48% đánh giá mức khá và 21,21% đánh gia ở mức trung bình.
2.5.4. Thực trạng công tác kiểm tra đánh giá
Thực hiện tốt chức năng kiểm tra giúp nhà quản lý đánh giá đúng chất lượng hoạt động, có tác dụng thúc đẩy và điều chỉnh hoạt động của đối tượng quản lý và điều chỉnh ngay cả tác động quản lý của chủ thể. Trong quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh cũng vậy, nếu nhà quản lý không tổ chức kiểm tra sẽ dẫn đến tình trạng “làm ít báo cáo nhiều”, hình thức đối phó trong tổ chức hoạt động. Do vậy để tìm hiểu về vấn đề này, chúng tôi tiến hành khảo sát ý kiến đánh giá của CBGV, kết quả thu được như sau:
Bảng 2.14: Thực trạng công tác kiểm tra đánh giá giáo dục đạo đức học sinh
Phân tích kết quả trên bảng 2.14: CB-GV đánh giá công tác kiểm tra hoạt động GDĐĐ ở trường THPT Quan lạn ở mức độ khá, điểm trung bình đạt được từ 3,15 đến 3,33. Tuy nhiên, tỷ lệ CB-GV đánh giá ở mức độ Trung bình tương đối cao, cụ thể: nội dung số 1, 3, 4 “ Xây dựng kế hoạch kiểm tra thường xuyên và định kỳ trong năm học”; “Có phương pháp hợp lý và tổ chức kiểm tra đánh giá kết quả đạo đức học sinh theo từng học kỳ và từng năm học” và “Kịp thời phê bình, nhắc nhở những cá nhân vi phạm và tuyên dương khen thưởng những tập thể, cá nhân xuất sắc” đều có tỷ lệ CB- GV đánh giá ở mức trung bình ở mức 21,21%; nội dung số 2 “Xây dựng các lực lượng kiểm tra, công cụ kiểm tra” có tới 24,24 % CB-GV đánh giá ở mức trung bình.
Như vậy có gần ¼ CBGV trường THPT Quan Lạn đánh giá công tác kiểm tra đánh giá hoạt động GDĐĐ học sinh ở mức độ trung bình, điều này chứng tỏ công tác quản lý được đánh giá chưa cao. Qua thực tế, trao đổi với cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh của nhà trường thì việc kiểm tra đánh giá công tác GDĐĐ học sinh của trường thường được thực hiện hàng tuần, cuối học kỳ và kết thúc năm học, tuy nhiên kết quả thực hiện sau kiểm tra, đánh giá chưa thường xuyên được rút kinh nghiệm, vì thế hiệu quả của công tác này ở trường THPT Quan Lạn trong thời gian qua là không cao.
2.6. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ học sinh ở trường THPT Quan Lạn huyện Vân Đồn Luận văn: Thực trạng đạo đức học sinh trường THPT Quan Lạn
2.6.1. Những kết quả đạt được
Trường THPT Quan Lạn đã có sự quan tâm quản lý hoạt động giáo GDĐĐ học sinh, kết quả việc GDĐĐ học sinh của trường tương đối cao, số học sinh có hạnh kiểm tốt, khá các năm chiếm tỷ lệ từ 84% đến 87.44%, đã đào tạo ra những công dân tốt cho xã hội.
Tuy nhiên, số học sinh có hạnh kiểm trung bình – yếu cũng là một con số không nhỏ (9% đến 13,0%). Tỷ lệ học sinh vi phạm đạo đức lối sống còn nhiều, công tác quản lý hoạt động GDĐĐ học sinh còn có những tồn tại hạn chế, cụ thể:
- Việc xây dựng kế hoạch GDĐĐ của nhà trường chưa được đánh giá cao, chưa phù hợp với đặc điểm tình hình địa phương, nhiều GV đánh giá hoạt động này còn hình thức.
- Việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện hoạt động GDĐĐ của Nhà trường được đánh giá ở mức độ Tốt, nhìn chung khá hợp lý. Tuy nhiên, việc phối hợp giữa các tổ chức và cá nhân trong các hoạt động chưa đồng bộ dẫn đến kết quả chưa cao.
- Nội dung các hoạt động GDĐĐ có thực hiện nhưng chỉ ở mức độ trung bình, chưa thu hút được học sinh thực sự muốn tham gia để rèn luyện.
- Tiến hành sử dụng các phương pháp GDĐĐ chưa được tốt, học sinh chưa thấy được tác dụng hiệu quả của các phương pháp trong việc rèn luyện của bản thân.
- Vai trò của các lực lượng đã được thể hiện thông qua các hoạt động giáo dục cụ thể nhưng vẫn chưa có được sự phối hợp nhịp nhàng, thống nhất và đồng bộ.
- Công tác kiểm tra đánh giá cũng đã thể hiện được bằng việc xây dựng được hệ thống kiểm tra đánh giá và được số hoá bằng điểm. Tuy nhiên, việc kiểm tra đánh giá nhiều lúc còn chiếu lệ, qua loa chưa mang tính động viên, khuyến khích, răn đe kịp thời. Việc đánh giá động viên khen thưởng hầu như nhà trường làm chưa tốt.
- Ý thức thực hiện nội quy của học sinh chưa cao, nhiều em thường xuyên vi phạm. Số học sinh thi thoảng vi phạm nội quy ở mức cao có nội dung đến 50%
2.6.2. Nguyên nhân thực trạng
Qua kết quả nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ ở trường THPT Quan Lạn có thể do một số nguyên nhân sau đây:
2.6.2.1. Nguyên nhân khách quan Luận văn: Thực trạng đạo đức học sinh trường THPT Quan Lạn
Do các cấp lãnh đạo và xã hội đánh giá việc giáo dục ở các trường thường nghiêng về chất lượng văn hoá (tỷ lệ đỗ tốt nghiệp lớp 12 và đại học, cao đẳng) nhiều hơn là chất lượng về đạo đức, vì thường quan niệm học lực kém, văn hoá kém sẽ đi đôi với ý thức kém. Điều này đã phần nào ảnh hưởng đến sự nhận thức của các cán bộ quản lý và ảnh hưởng đến việc xác định mục tiêu giáo dục của nhà trường.
- Do ảnh hưởng của gia đình và môi trường xã hội phần nào tác động đến hiệu quả giáo dục đạo đức của nhà trường.
- Do phần lớn GVCN mới ra trường, tuổi đời, tuổi nghề còn ít nên thiếu kinh nghiệm về cuộc sống lẫn biện pháp giáo dục.
- Mặt khác, do tiền lương khôn phù hợp với tình hình giá cả thị trường hiện nay, giáo viên phải làm thêm nghề phụ hoặc đi dạy một số trường nên ít quan tâm và đầu tư công sức vào công tác chủ nhiệm.
2.6.2.2. Nguyên nhân chủ quan
Cán bộ quản lý chưa đánh giá đúng vai trò của giáo dục nhà trường là chủ đạo và quyết định trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh, đặc biệt trong giáo dục đạo đức.Vì vậy việc xây dựng kế hoạch GDĐĐ cụ thể trong từng giai đoạn thường bị xem nhẹ và chưa đặt ngang tầm với việc xây dựng kế hoạch giảng dạy. Thường kế hoạch GDĐĐ chỉ đưa vào một phần kế hoạch của năm và sau đó ít được triển khai vào các hoạt động của trường.
- Công tác GDĐĐ chưa được tuyên truyền rộng rãi trong tập thể giáo viên, nên việc nhận thức đầy đủ về công tác này chưa nhiều .
- Do việc chỉ đạo quản lý GDĐĐ của nhà trường còn nhiều nhược điểm như: Chưa có sự thống nhất về hệ thống chỉ đạo, chưa có sự chỉ đạo chặt chẽ cho giáo viên bộ môn tham gia giáo dục đạo đức. Việc chỉ đạo GVCN làm công tác GDĐĐ cũng chưa thực sự sâu sắc (lấy giờ giáo dục đạo đức dạy văn hoá, hoặc không tận dụng hết giờ sinh hoạt chủ nhiệm, hoạt động của GVCN chủ nhiệm cũng chưa thực sự tập trung và đạt hiệu quả cao). Vì vậy công tác chủ nhiệm của trường nói chung chỉ đạt mức trung bình.
- Sự phối hợp của GVCN với phụ huynh và các lực lượng giáo dục trong trường chưa tốt do GVCN thiếu nhiệt tình và phụ huynh chưa quan tâm đúng mức (chỉ tiếp xúc khi được mời hoặc không tiếp xúc vì quá bận).
- Hoạt động của Đoàn thanh niên trong GDĐĐ chưa thật sự toàn diện và hiệu quả ở mức không cao.
- Thực hiện xã hội hoá giáo dục đạo đức nhà trường làm chưa tốt, một phần là do các CBQL chưa quyết tâm và sự nhận thức của xã hội về vấn đề này chưa nhiều.
- Việc đánh giá, khen thưởng của trường còn nhiều hạn chế (chưa có tiêu chí đánh giá công tác của GVCN cụ thể, hoặc tiêu chí không rõ ràng). Vì vậy không có tác dụng kích thích động viên người làm nhiệm vụ.
2.6.3. Thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT Quan Lạn huyện Vân Đồn Luận văn: Thực trạng đạo đức học sinh trường THPT Quan Lạn
2.6.3.1. Thuận lợi
Trường đóng và tuyển sinh ở địa bàn xã đảo nên không có nhiều điều kiện và cơ hội cho học sinh bị lôi kéo hay bị thu hút vào các tệ nạn. Gia đình các em học sinh hầu hết là gia đình thuần nông chân chất, chưa chịu nhiều ảnh hưởng của cơ chế thị trường. Các em thường là ở cách xa nhau, đi học về phải giúp đỡ gia đình làm những việc nhà nông, do đó các em ít có điều kiện để tụ tập ảnh hưởng đến rèn luyện đạo đức.
Có các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Sở Giáo dục và Đào tạo Quảng Ninh hướng dẫn cụ thể về công tác quản lý cũng như đánh giá xếp loại học sinh: Thông tư 58/2011/TT – BG&ĐT của Bộ GD&ĐT về đánh giá, xếp loại học sinh; Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học…
Tập thể hội đồng sư phạm nhà trường đồng tâm chung sức trong công tác giáo dục đạo đức học sinh.
Cán bộ UBND các xã trong vùng tuyển sinh của trường và phụ huynh học sinh đều ủng hộ và giúp sức nhà trường trong các hoạt động quản lý giáo dục đạo đức học sinh: thông báo đến từng phụ huynh thông qua hệ thống loa truyền thanh và nhắc nhở trong thôn bởi các trưởng khu hành chính với gia đình có học sinh vi phạm; xử lý các quán hàng thực hiện kinh doanh không lành mạnh cho học sinh cầm đồ, chơi games, bi a, những thanh niên xấu lôi kéo học sinh hoặc các vụ gây rối mất trật tự trị an…
2.6.3.2. Khó khăn Luận văn: Thực trạng đạo đức học sinh trường THPT Quan Lạn
Trình độ dân trí thấp, nhận thức còn nhiều hạn chế nên nhiều phụ huynh chưa biết giáo dục con, dung túng con nói dối, cho tiền tiêu tự do, bất lực trước khi con đi vào con đường xấu. Tư tưởng “trăm sự nhờ thầy”, phó mặc cho các thầy cô giáo giáo dục con mà mải mê kiếm tiền không có thời gian giáo dục con.
Cơ chế thị trường thâm nhập, lôi kéo học sinh làm ảnh hưởng đến suy nghĩ, tạo nên những hành vi vi phạm của học sinh.
Nhiều thanh niên bên ngoài không có việc làm thường tụ tập, lôi kéo, ép buộc học sinh vi phạm mà chưa có các biện pháp phối hợp triệt để giữa các cơ quan, tổ chức bên ngoài nhà trường.
Cán bộ quản lý chưa thực sự tập trung vào công tác giáo dục đạo đức mà chủ yếu tập trung vào giáo dục văn hoá để đạt các chỉ tiêu thi đua hàng năm: học sinh giỏi, học sinh thi đỗ tốt nghiệp, học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng…
Một số giáo viên chưa thực sự nhận thức và thấy được vai trò của giáo dục đạo đức cho học sinh, do vậy các giờ lên lớp thường tập trung dạy văn hoá hoặc cắt xén giờ giáo dục đạo đức…
Tiểu kết chương 2
Trường THPT Quan Lạn là trường mới thành lập được 10 năm, cơ sở vật chất còn nhiều thiếu thốn, đội ngũ giáo viên còn thiếu, hầu hết vừa mới ra trường chưa có nhiều kinh nghiệm. Nhưng chất lượng giáo dục đào tạo của nhà trường đang dần được nâng cao, công tác GDĐĐ của nhà trường đã được quan tâm, triển khai, hoạt động quản lý với nội dung giáo dục đạo đức chính trị cho học sinh đã tiến hành theo đúng quy trình và chức năng của nó. Tuy nhiên bên cạnh đó có một số vấn đề các nhà quản lý cần xem xét:
Công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho học sinh chưa được tiến hành thường xuyên, nội dung giáo dục còn nghèo nàn, phương pháp giáo dục và hình thức tổ chức giáo dục còn đơn điệu và chưa thu hút được sự tham gia tích cực của học sinh.
Những thu hoạch của học sinh từ hoạt động giáo dục của nhà trường chưa cao, một trong những nguyên nhân là do: hoạt động giáo dục chưa được tiến hành đồng bộ; khâu kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động chưa thực hiện tốt; nhà trường chưa khai thác một cách triệt để sự tham gia của các nguồn lực vào công tác giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho học sinh.
Chính vì vậy mà tình hình học sinh gian lận trong thi cử, vi phạm nội quy nhà trường, tình trạng hút thuốc, uống rượu, đánh nhau, trộm cắp, đánh bạc, vô lễ. chơi game… trong học sinh vẫn còn tiếp diễn.
Để khắc phục thực trạng nêu trên, rất cần thiết phải xây dựng được một hệ thống các biện pháp quản lý nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho học sinh. Luận văn: Thực trạng đạo đức học sinh trường THPT Quan Lạn
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Biện pháp NC giáo dục đạo đực ở THPT Quan Lạn

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Khái quát về giáo dục ở trường THPT Quan Lạn