Luận văn: Biện pháp NC giáo dục đạo đực ở THPT Quan Lạn

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Biện pháp NC giáo dục đạo đực ở THPT Quan Lạn hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở trường trung học phổ thông Quan Lạn huyện Vân Đồn, Quảng Ninh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Một số nguyên tắc đề xuất biện pháp

3.1.1. Nguyên tắc bảo đảm tính đồng bộ

Biện pháp chính là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể. Để đạt được mục tiêu quản lý, các biện pháp phải được thực hiện đồng bộ; các biện pháp phải hỗ trợ bổ sung cho nhau, không được xem nhẹ biện pháp nào.

Đảm bảo tính đồng bộ trong các biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ là phải coi trọng mọi hoạt động GD của giáo viên, từ hoạt động dạy của GV bộ môn đến hoạt động GDĐĐ của GVCN, hoạt động của Đoàn TNCSHCM và các lực lượng GD khác trong và ngoài nhà trường cũng như đảm bảo các điều kiện thiết yếu về cơ sở vật chất và tài chính cho các hoạt động GD đó.

Các biện pháp phải tác động vào các khâu của quá trình quản lý giáo dục, phải tác động vào các yếu tố của hoạt động GDĐĐ học sinh.

3.1.2. Nguyên tắc bảo đảm tính thực tiễn Luận văn: Biện pháp NC giáo dục đạo đực ở THPT Quan Lạn

Để đảm bảo cho các biện pháp quản lý GDĐĐ học sinh của trường đưa ra đi đến được thành công thì các biện pháp phải được xây dựng trên cơ sở thực tiễn của nhà trường chứ không thể xây dựng trên các lý thuyết chung chung. Do vậy, khi xây dựng các biện pháp phải luôn tuân thủ nguyên tắc này.

3.1.3. Nguyên tắc bảo đảm tính khả thi

Mỗi đơn vị nhà trường, mỗi địa phương có đặc thù riêng biệt, có những điểm mạnh và điểm yếu không giống nhau. Đối tượng học sinh của mỗi trường, mỗi địa phương cũng mang đặc thù riêng, tính vùng miền, đặc thù riêng biệt. Việc đề xuất các biện pháp cần chú trọng đến tình hình, điều kiện cụ thể của đơn vị, địa phương. Các biện pháp đề ra phải đảm bảo yếu tố phù hợp với đặc điểm học sinh của trường, của địa phương và các nguồn lực hiện có của nhà trường và địa phương.

Trong hệ thống quản lý, biện pháp quản lý là cách thức linh hoạt và năng động. Việc đề xuất các biện pháp quản lý đòi hỏi sự sáng tạo không ngừng của chủ thể quản lý, giúp cho việc áp dụng vào thực tiễn được thuận lợi có hiệu quả thiết thực.

Các biện pháp quản lý phải được xây dựng trên theo quy trình khoa học đảm bảo chính xác, phù hợp với đối tượng. Việc thăm dò kiểm chứng mức độ khả thi của các biện pháp là căn cứ khách quan đánh giá hiệu quả áp dụng vào thực tiễn quản lý. Trên cơ sở này, các biện pháp đề ra có thể áp dụng cho các đơn vị khác, địa phương khác đồng thời bổ sung điều chỉnh để ngày một hoàn thiện hơn.

3.1.4. Nguyên tắc bảo đảm tính hiệu quả

Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy khi xây dựng các biện pháp GDĐĐ học sinh phải bảo đảm được tính hiệu quả theo các mục tiêu trên.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Giáo Dục

3.2. Biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ học sinh của hiệu trưởng trường THPT Quan Lạn huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh Luận văn: Biện pháp NC giáo dục đạo đực ở THPT Quan Lạn

3.2.1. Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức của các thành viên trong nhà trường về hoạt động GDĐĐ học sinh.

3.2.1.1. Mục tiêu của biện pháp

Làm cho CBQL, giáo viên, phụ huynh, học sinh nhận thức rõ tầm quan trọng của hoạt động GDĐĐ; hiểu rõ vai trò, trách nhiệm của của mỗi cá nhân trong công tác giáo dục và rèn luyện đạo đức học sinh; giúp cho việc phối hợp các lực lượng GDĐĐ học sinh được tiến hành một cách đồng bộ, chặt chẽ và có hiệu quả.

3.2.1.2. Nội dung thực hiện biện pháp

Nhà trường (Hiệu trưởng) chỉ đạo tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục cho CBQL, GV, nhân viên, phụ huynh, học sinh qua các hình thức sau:

  • Lồng ghép các nội dung tuyên truyền giáo dục thông qua các hoạt động mít tinh, kỷ niệm nhân các ngày lễ lớn của dân tộc.
  • Chỉ đạo các tập thể trong trường: hội đồng giáo viên, hội phụ huynh, đoàn thanh niên … thường xuyên tổ chức các hoạt động tuyên truyền về vai trò của công tác GDĐĐ học sinh.
  • Chỉ đạo việc treo các băng rôn, áp phích tuyên truyền về đạo đức, giữ gìn phẩm chất đạo đức học sinh, tuyên truyền pháp luật, các tệ nạn xã hội, … trong khuôn viên nhà trường.
  • Chỉ đạo nhà trường tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị đầu năm, nhân các ngày lễ lớn, qua đó tuyên truyền các hoạt động GDĐĐ học sinh cho tất cả mọi người.

Các nội dung tuyên truyền, giáo dục cần tập trung trọng điểm vào các nội dung sau:

  • Các giá trị đạo đức của con người Việt Nam từ xưa tới nay, tầm quan trọng của việc GDĐĐ học sinh.
  • Vai trò, trách nhiệm của từng cá nhân, tập thể trong công tác giáo dục và rèn luyện đạo đức học sinh.
  • Nắm rõ nhiệm vụ cụ thể của từng cá nhân, tập thể trong công tác giáo dục và rèn luyện đạo đức học sinh.

3.2.1.3. Các bước tiến hành Luận văn: Biện pháp NC giáo dục đạo đực ở THPT Quan Lạn

Hiệu trưởng nhà trường chỉ đạo các tổ chức, cá nhân trong trường xây dựng kế hoạch tuyên truyền cụ thể, chi tiết, phân công, giao trách nhiệm cụ thể cho từng cá nhân, tổ chức lập kế hoạch thực hiện, dự kiến các nguồn lực tham gia thực hiện. Kế hoạch phải xác định rõ: mục tiêu, đối tượng, nội dung, biện pháp, người thực hiện, thời gian thực hiện, công tác báo cáo và kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện, …

Báo cáo với chi bộ Đảng về kế hoạch tổ chức các hoạt động nói chung, hoạt động tuyên truyền nói riêng để tranh thủ sự quan tâm chỉ đạo của chi bộ đảng trong nhà trường.

Chỉ đạo các cá nhân, tập thể trong trường triển khai thực hiện có hiệu quả các nội dung trong kế hoạch:

Đối với cán bộ quản lý: Phải được bồi dưỡng nâng cao nhận thức để nắm vững cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động GDĐĐ học sinh, từ đó thực hiện tốt chức năng quản lý và chỉ đạo công tác GDĐĐ.

Người cán bộ làm công tác quản lý phải chọn được đội ngũ GVCN có năng lực chuyên môn tốt, có khả năng tổ chức hoạt động tập thể, có khả năng giáo dục, thuyết phục nhiệt tình và bồi dưỡng cho họ hiểu rõ nhiệm vụ quyền hạn, phương pháp xây dựng tập thể, tổ chức các hoạt động GDĐĐ học sinh.

Xác định cơ chế quan hệ giữa giáo viên chủ nhiệm với các giáo viên bộ môn và tổ chức Đoàn thanh niên. Đặc biệt là quan hệ giữa GVCN với chi hội cha mẹ học sinh, là cầu nối gia đình với nhà trường, xã hội.

  • Đối với giáo viên chủ nhiệm: Phải hiểu được vai trò trách nhiệm của mình, thương yêu, quan tâm đến sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Phải mẫu mực trong lối sống, cách cư xử. GVCN thực sự là người thầy, người cha, người mẹ của học sinh.
  • Đối với các giáo viên bộ môn: Phải được tuyên truyền hiểu rõ vai trò bộ môn mình giảng dạy từ đó nâng cao được trách nhiệm của mình đối với việc hình thành nhân cách cho học sinh. Tránh quan niệm sai lầm cho đó là nhiệm vụ của giáo viên giáo dục công dân hay của Đoàn thanh niên.
  • Đối với Đoàn thanh niên: Cần tạo điều kiện để Bí thư được tham gia bàn bạc về những mục tiêu giáo dục toàn diện trong nhà trường, đặc biệt là giáo dục đạo đức đoàn viên học sinh, chủ động đề ra kế hoạch hoạt động.
  • Đối với cha mẹ học sinh: Phải phối hợp thường xuyên và chặt chẽ với giáo viên chủ nhiệm để kịp thời nắm bắt thông tin về việc học tập và rèn luyện của con mình.
  • Đối với chính quyền địa phương: Hiệu trưởng cần báo cáo cấp ủy, chính quyền địa phương biết được mục tiêu đào tạo của nhà trường, biết được các hoạt động giáo dục đạo đức của nhà trường để có sự quan tâm và tạo điều kiện giúp đỡ.

3.2.1.4. Điều kiện thực hiện biện pháp

Mỗi CBGV phải nhất quán quan điểm, đường lối của Đảng, các quy định của Bộ, Sở GD về công tác GDĐĐ, GD chính trị tư tưởng, về công tác quản lý GDĐĐ, về chỉ đạo phối hợp các lực lượng GDĐĐ cho HS trong nhà trường và các lực lượng ngoài xã hội tạo nên sự chăm lo của toàn xã hội đến công tác GDĐĐ cho HS trong giai đoạn hiện nay

Nhà trường tạo điều kiện về thời gian, vật chất để CBGV thực hiện công tác GDĐĐ cho học sinh.

3.2.2. Biện pháp 2: Xây dựng môi trường sư phạm mẫu mực trong nhà trường Luận văn: Biện pháp NC giáo dục đạo đực ở THPT Quan Lạn

3.2.2.1. Mục tiêu của biện pháp

Hiệu trưởng chỉ đạo các tổ chức, cá nhân trong nhà trường xây dựng môi trường sư phạm mẫu mực trong nhà trường, qua đó:

  • Học sinh thấy được môi trường cuộc sống lành mạnh mang tính nhân văn cao, an toàn và thân thiện, những tấm gương sáng của thầy cô, của bạn bè giúp các em học tập, noi theo và rèn luyện đạo đức.
  • Học sinh thấy được cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, trong sáng, giúp các em ý thức được cảnh đẹp của thiên nhiên, biết yêu quý cái đẹp, chăm sóc và bảo vệ môi trường, yêu lao động…

3.2.2.2. Nội dung biện pháp

Hiệu trưởng chỉ đạo việc xây dựng môi trường sư phạm mẫu mực:

  • Xây dựng môi trường cảnh quan xanh – sạch – đẹp trong và ngoài khuôn viên nhà trường
  • Xây dựng môi trường giáo dục, môi trường sư phạm mẫu mực: mỗi thầy cô giáo là tấm gương đạo đức cho học sinh noi theo; xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực, …
  • Chỉ đạo Đoàn thanh niên nhà trường xây dựng các phong trào, câu lạc bộ Kỹ năng sống, qua đó xây dựng các phong trào “nói lời hay, làm việc tốt”; “tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng”; phát động các phong trào “Nói không với thuốc lá, chất gây nghiện; nói không với vi phạm an toàn giao thông, vi phạm pháp luật …

3.2.2.3. Các bước tiến hành Luận văn: Biện pháp NC giáo dục đạo đực ở THPT Quan Lạn

Nhà quản lý cần chỉ đạo công tác xây dựng môi trường sư phạm cụ thể qua những việc sau:

  • Quán triệt đầy đủ các nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của ngành Giáo dục và đào tạo về xây dựng Trường học thân thiện, học sinh tích cực, xây dựng môi trường giáo dục trong hệ thống giáo dục.
  • Chỉ đạo việc Xây dựng và củng cố khối đoàn kết nhất trí trong tập thể sư phạm. Công đoàn tổ chức, giáo dục giáo viên, nhân viên, thường xuyên duy trì, phát huy các phong trào thi đua, đặc biệt là phong trào “Kỷ cương, tình thương, trách nhiệm”.
  • Bồi dưỡng tư tưởng chính trị, đạo đức, lý tưởng nghề nghiệp, lòng nhân ái, tình thương yêu con người, thương yêu học sinh, tinh thần trách nhiệm, tôn trọng sẵn sàng giúp đỡ những học sinh cho toàn thể CBQL, giáo viên, nhân viên.
  • Chỉ đạo Đoàn thanh niên, các khối lớp:
  • Phân công việc cho từng lớp thi đua đảm nhận, chịu trách nhiệm trồng cây, trông nom, chăm sóc các cây bóng mát, khuôn viên của nhà trường.
  • Tuyên truyền giữ gìn vệ sinh chung, không xã rác bừa bãi.
  • Tuyên truyền giữ gìn và bảo vệ của công, tài sản của cá nhân, của tập thể…
  • Tuyên truyền, giáo dục học sinh tinh thần đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, thể hiện hành vi văn hoá trong giao tiếp với bạn bè, nhất là bạn khác giới. Với thầy cô phải lễ phép, kính trọng, với cha mẹ phải hiếu thảo…

Tóm lại môi trường: “tự nhiên” và “xã hội” trong khuôn viên trường học được tốt đẹp sẽ có tác dụng tốt đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh.

3.2.2.4. Điều kiện thực hiện biện pháp

Cán bộ giáo viên và học sinh trong trường thực hiện tốt nhiệm vụ, vai trò của mình đã được quy định.

Nhà trường dành một phần kinh phí để xây dựng môi trường Xanh – Sạch – Đẹp trong khuôn viên mỗi lớp học trong trường.

Mỗi CBGV và học sinh trong trường cần thực hiện tốt Chỉ thị 40/2008/CT-BGDĐT ngày 22 tháng 7 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” và các phong trào thi đua dạy tốt, học tốt trong nhà trường.

3.2.3. Biện pháp 3: Xây dựng cơ chế quản lý chỉ đạo, phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để giáo dục đạo đức học sinh Luận văn: Biện pháp NC giáo dục đạo đực ở THPT Quan Lạn

3.2.3.1. Mục tiêu của biện pháp

Để thực hiện được các nội dung và nhiệm vụ phối hợp các lực lượng GDĐĐ cho học sinh cần thiết phải có một cơ chế quản lý và chỉ đạo phối hợp phù hợp.

Mục tiêu của việc xây dựng cơ chế quản lý và chỉ đạo phối hợp là xây dựng được những quy định về trách nhiệm, quyền hạn, quyền lợi và nghĩa vụ của các thành viên tham gia hoạt động giáo dục đạo đức học sinh; xác định được cách thức phối hợp, ai chịu trách nhiệm quản lý, điều hành? ai phối hợp hoạt động? những việc phải làm theo quy trình….

Việc xây dựng cơ chế là xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp trong các lĩnh vực của đời sống xã hội tạo ra quá trình GD thống nhất và liên tục trong không gian và theo thời gian. Xây dựng được cơ chế phối hợp là tạo ra thể thống nhất về nhận thức và hành động, tạo ra đồng thuận trong hoạt động thì hiệu quả hoạt động sẽ được nâng cao và hoạt động có chất lượng.

3.2.3.2. Nội dung của biện pháp

Cơ chế tổ chức phối hợp giữa các lực lượng trong GDĐĐ học sinh thực chất là cách tổ chức việc phối hợp thông qua đó thực hiện sự tác động qua lại giữa các lực lượng tham gia nhằm thực hiện mục đích, nhiệm vụ, nội dung đặt ra. Nó bao gồm những mối quan hệ đa dạng nhiều chiều, cơ chế tổ chức các lực lượng tham gia GD và phối hợp GD thể hiện qua các nội dung sau:

  • Trước hết nhà trường phải làm tốt công tác GDĐĐ cho học sinh để tạo niềm tin của phụ huynh, của Đảng, của chính quyền và nhân dân địa phương đối với nhà trường; đó là tiền đề quan trọng cho sự phối hợp các lực lượng.
  • Gắn nhà trường với gia đình và các lực lượng xã hội trong việc GDĐĐ cho học sinh, đảm bảo việc GD HS được diễn ra đồng bộ, trong mọi hoàn cảnh và mọi thời gian khác nhau.
  • Có cơ chế phối hợp hoạt động, phân công nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn cụ thể đến từng thành viên tham gia phối hợp hoạt động.
  • Tăng cường kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm và khen thưởng kịp thời.

3.2.3.3. Cách thực hiện biện pháp Luận văn: Biện pháp NC giáo dục đạo đực ở THPT Quan Lạn

Hiệu trưởng tổ chức hội nghị đầu năm học bàn về việc xây dựng cơ chế phối hợp giữa Nhà trường, Gia đình và Xã hội về việc GDĐĐ cho học sinh.

Thành phần tham dự:

  • Đại diện lãnh đạo địa phương và các tổ chức Chính trị xã hội trên địa bàn
  • Đại diện hội cha mẹ học sinh các khối lớp
  • Hội đồng sư phạm nhà trường và các tổ chức Đoàn thể trong trường Nội dung hội nghị:

Xây dựng cơ chế phối hợp giữa nhà trường và gia đình

Gia đình có một vị trí rất quan trọng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách nói chung và đạo đức nói riêng của học sinh. Vì vậy việc phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc GD học sinh là một đòi hỏi tất yếu và trách nhiệm của cả hai phía gia đình và nhà trường. Song thực tế của quá trình phối hợp chỉ ra rằng: Nhà trường phải đóng vai trò chủ đạo hạt nhân, chủ trì sự phối hợp này là GVCN lớp. Tất nhiên mọi GV ở mức độ nào đó cũng phải phối hợp với CMHS, nhưng mối liên hệ đó không thường xuyên.

Các nội dung Nhà trường cần thực hiên để phối hợp giữa gia đình và nhà trường:

  • Thăm gia đình học sinh: Là một hình thức phổ biến được sử dụng rộng rãi và có hiệu quả tới từng học sinh. Trong khi thăm hỏi gia đình, GVCN có thể tìm hiểu được cụ thể hoàn cảnh sống, lao động, học tập và tu dưỡng của học sinh, hiểu được sự GD của gia đình, cùng gia đình kịp thời giải quyết những vấn đề nảy sinh trong quá trình GD.
  • Mời CMHS đến trường: Thường được BGH hay GVCN lớp sử dụng trong trường hợp học sinh vi phạm kỉ luật học tập, vi phạm đạo đức thường xuyên hoặc vi phạm ở mức độ trầm trọng. Nhà trường có thể mời CMHS tới thông báo tình hình, cùng CMHS tìm những biện pháp thích hợp để GD học sinh có hiệu quả. Luận văn: Biện pháp NC giáo dục đạo đực ở THPT Quan Lạn
  • Thông qua sổ liên lạc giữa nhà trường và gia đình: Sổ liên lạc giữa nhà trường và gia đình là biện pháp hữu hiệu, là phương tiện trao đổi thông tin hai chiều giữa gia đình và nhà trường.
  • Trao đổi thư từ, điện thoại với cha mẹ học sinh: Trao đổi thư từ, điện thoại với CMHS cũng là một hình thức phối hợp giữa gia đình và nhà trường. Hình thức này được sử dụng để thông báo tình hình học tập, tu dưỡng đạo đức của học sinh giữa GVCN và CMHS đặc biệt là khi có những biến động, những biểu hiện đột xuất.
  • Phối hợp với gia đình thông qua cơ quan CMHS làm việc: Đây là một hình thức sẽ mang lại hiệu quả cao trong GD, song thực tế lại ít được quan tâm đúng mức, thậm chí còn ở nhiều nơi còn chưa hề thực hiện. Hình thức này nên được sử dụng với mọi trường hợp kể cả thường kỳ lẫn đột xuất, với cả học sinh ngoan, học sinh bình thường và học sinh hư. Đặc biệt có hiệu quả với các bậc CMHS có thành tích trong công tác giáo dục con cái, xây dựng gia đình hạnh phúc.
  • Phối hợp với gia đình thông qua việc tổ chức hội CMHS: Hội CMHS là một tổ chức quần chúng của CMHS được thành lập với sự tư vấn của nhà trường. Hội có vai trò to lớn trong việc liên kết với những tác động GD của nhà trường với gia đình và xã hội.

Xây dựng cơ chế phối hợp giữa nhà trường và các lực lượng xã hội:

  • Nhà trường và các tổ chức xã hội ở địa phương phối hợp xây dựng môi trường GD lành mạnh ở trong cộng đồng dân cư.
  • Chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể phải quan tâm xây dựng gia đình văn hóa mới thông qua các phong trào gia đình văn hóa. Việc đó là vô cùng cần thiết bởi lẽ không khí gia đình êm đềm hòa thuận, người lớn mẫu mực trong cuộc sống, lao động cần cù nghiêm túc, say mê học tập, luôn quan tâm đến con em sẽ ảnh hưởng rất lớn đến ý thức động cơ, thái độ, nghị lực học tập và rèn luyện của con em và chính điều đó là động lực thôi thúc các em vươn lên trong học tập, rèn luyện tốt hơn để xứng đáng với gia đình và góp phần phát huy truyền thống gia đình.
  • Xây dựng môi trường lành mạnh còn thực hiện thông qua việc tổ chức phối hợp với các cơ quan công an, y tế các tổ chức hội… bằng nhiều hình thức như kết nghĩa đỡ đầu, bảo trợ tham gia tổ chức hoạt động GD học sinh.
  • Xây dựng môi trường GD lành mạnh bằng cách nhà trường kết hợp với chính quyền địa phương và các cơ quan có thẩm quyền giải quyết, xóa bỏ và kiểm soát các tụ điểm vui chơi không lành mạnh ở khu vực trường đóng và nơi các em sinh sống. Bên cạnh đó tạo điều kiện tổ chức nhiều sân chơi phù hợp với các em trong nhà trường, cả khu dân cư.
  • Nhà trường và xã hội phối hợp tạo ra quá trình GD thống nhất và liên tục trong không gian và theo thời gian.

Thống nhất những quy định GD giữa nhà trường và xã hội.

Thống nhất những hoạt động ở cộng đồng để học sinh tham gia tại cộng đồng như: Vui chơi, giữ gìn an ninh, phòng chống các tệ nạn xã hội (cờ bạc, số đề, rượu chè, nghiện hút…), bảo vệ môi trường.

Nhà trường phối hợp với xã hội nhằm phát huy tiềm năng về vật chất và tinh thần thuận lợi cho việc GDĐĐ học sinh.

3.2.3.4. Điều kiện thực hiện biện pháp

Nhà trường thường xuyên liên kết chặt chẽ với Ban Chấp hành Hội PHHS, các tổ chức đoàn thể tại địa phương, tổ chức các cuộc họp định kỳ và họp đột xuất khi có vấn đề xảy ra liên quan đến việc học tập và đạo đức của HS.

Có kế hoạch phối kết hợp với các tổ chức đoàn thể nhà trường cũng như địa phương để chăm lo giáo dục cho HS.

Nhà trường có lịch hoạt động mỗi tháng một lần trong việc tiếp đón và phản hồi thông tin cho PHHS về kết quả học tập và rèn luyện đạo đức của HS.

3.2.4. Biện pháp 4: Nâng cao hiệu quả công tác tổ chức, chỉ đạo kế hoạch giáo dục đạo đức học sinh Luận văn: Biện pháp NC giáo dục đạo đực ở THPT Quan Lạn

3.2.4.1. Mục tiêu của biện pháp

Làm tốt công tác tổ chức, giao nhiệm vụ cụ thể và chỉ đạo sát sao đội ngũ thực hiện theo kế hoạch đã đề ra sẽ giúp cho CBQL, các tổ chức trong nhà trường, GVCN, GV bộ môn nắm được và hiểu rõ các phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục để tổ chức các hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh một cách phù hợp, linh hoạt, sáng tạo và đạt hiệu quả cao.

3.2.4.2. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp

Hiệu trưởng phải lưu ý đến công tác lựa chọn giáo viên, cán bộ để giao việc sao cho “đúng người đúng việc”. Vì vậy Hiệu trưởng phải biết rõ năng lực chuyên môn cũng như điểm mạnh, điểm yếu của từng người. Khi đã chọn người nào phải tạo mọi điều kiện để họ được bồi dưỡng năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm và phẩm chất chính trị.

Tuỳ theo đặc điểm của nhà trường trường ( trường có 01 phó Hiệu trưởng, 2 phó Hiệu trưởng), Hiệu trưởng có thể trực tiếp chỉ đạo công tác giáo dục đạo đức hoặc phân cấp quản lý cho một phó Hiệu trưởng.

Yêu cầu của công tác tổ chức thực hiện:

  • Phải bảo đảm thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện của Sở GD& ĐT và của trường THPT.
  • Các tổ chức, tổ chuyên môn, tổ chủ nhiệm, cần xác định rõ vị trí, chức năng và vai trò cụ thể trong hệ thống giáo dục đạo đức của trường.
  • Có sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức, tổ chuyên môn, tổ chủ nhiệm, và các bộ phận trong trường: thiết bị, thư viện, phòng hành chính, để mọi hoạt động đều hướng về việc giáo dục đạo đức cho học sinh.

Hiệu trưởng chỉ đạo Phó Hiệu trưởng chuyên môn

Phó Hiệu trưởng chuyên môn ngoài việc quản lý chất lượng văn hoá, còn quản lý chất lượng giáo dục đạo đức thông qua bộ môn đặc biệt là môn giáo dục công dân và các môn xã hội khác.

Hầu hết các học sinh đều xem nhẹ những môn như Sử, Địa, Giáo dục công dân. Các em thường cho rằng những môn này là những môn phụ. Mặt khác với phương pháp giảng dạy nặng nề lý thuyết, khô khan, trừu tượng, khiến các em thiếu hứng thú khi tiếp thu kiến thức các môn học này. Phó Hiệu trưởng chuyên môn chỉ đạo giáo viên bộ môn soạn giáo án và lên lớp phải nêu bật được trọng tâm kiến thức khoa học và tính tư tưởng, giáo dục đạo đức thông qua bài học. Chỉ đạo tổ chuyên môn kiểm tra, đánh giá coi đây là một trong những tiêu chuẩn đánh giá xếp loại cuối năm của giáo viên.

Hiệu trưởng chỉ đạo Phó Hiệu trưởng phụ trách giáo dục đạo đức, truyền thống, hoạt động ngoài giờ lên lớp và cơ sở vật chất

Dựa vào kế hoạch của trường, cụ thể hoá kế hoạch giáo dục đạo đức theo từng tuần, tháng và học kỳ. Phân công trách nhiệm các bộ phận kiểm tra tiến độ thực hiện, đánh giá và điều chỉnh kịp thời.

Tổ chức các hoạt động ngoài giờ, cần chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm phải phối hợp chặt chẽ với Đoàn thanh niên và các tổ chức trong trường như: Hội Chữ thập đỏ, Hội phụ huynh…Các hoạt động này phải đa dạng, phong phú, phù hợp với lứa tuổi học sinh.

Cần thực hiện xã hội hoá trong giáo dục đạo đức cho học sinh, tạo điều kiện tài chính, cơ sở vật chất thuận lợi, thu hút học sinh tham gia.

Tổ chức các buổi giao lưu với cựu học sinh trường đạt thành tích cao trong học tập và thành đạt trong cuộc sống, hoặc giao lưu với các điển hình tiên tiến trong chiến đấu, trong lao động và sản xuất ở địa phương.

Giờ sinh hoạt dưới cờ đầu tuần nên sử dụng hợp lý, khoa học sẽ có tác dụng nhiều trong giáo dục đạo đức. Cần phối hợp với Đoàn thanh niên chuẩn bị chương trình sinh hoạt dưới cờ hàng tuần, tránh lập đi lập lại điệp khúc “Hát Quốc Ca – sơ kết thi đua – nhắc nhở thực hiện nội quy” sẽ gây nhàm chán mà sau khi thực hiện các bước trên nên thêm vào chương trình mục tuyên dương học sinh tiêu biểu trong học tập, rèn luyện, đọc một câu chuyện hay trong sách rút ra ý nghĩa giáo dục, đố vui hàng tuần về lĩnh vực khoa học, văn hoá, xã hội…

Đánh giá thi đua cuối năm ở các lớp, qua đó đánh giá những thành quả đạt được, những mặt hạn chế trong công tác chủ nhiệm, nguyên nhân dẫn đến những kết quả trên và đưa ra biện pháp trong năm học mới. Việc đánh giá thi đua phải kèm theo sự động viên khen thưởng, mức độ tuỳ từng trường hợp nhưng qua đó nói lên được sự quan tâm của Hiệu trưởng đối với công tác chủ nhiệm.

Vào đầu năm học giáo dục cho học sinh ý thức chấp hành nội quy nhà trường, giữ gìn, bảo vệ tài sản chung, dán tên học sinh vào bàn, giao trách nhiệm cụ thể cho từng học sinh. Hàng tuần trong buổi hợp giao ban, giáo viên chủ nhiệm sẽ báo cáo nếu có vấn đề đặc biệt từ phía học sinh hoặc cơ sở vật chất của lớp học bị hư hỏng để nhà trường sửa chữa kịp thời. Luận văn: Biện pháp NC giáo dục đạo đực ở THPT Quan Lạn

Phối hợp với Đoàn thanh niên đưa chỉ tiêu lớp học sạch sẽ, bảo quản cơ sở vật chất tốt vào trong kế hoạch thi đua của Đoàn, kiểm tra và đánh giá hàng tuần, tháng và học kỳ.

Phân công từng lớp chịu trách nhiệm vệ sinh, chăm sóc cây cảnh ở các khu vực trong khuôn viên trường.

Cuối năm học kiểm tra, đánh giá về công tác cơ sở vật chất, qua đó biết được số tài sản còn sử dụng được, số tài sản cần phải tu bổ, ngân sách chi cho sửa chữa, so với kế hoạch nhà nước cho phép để từ đó đánh giá hiệu quả sử dụng.

Công tác chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm được thực hiện qua buổi họp giao ban với giáo viên chủ nhiệm đầu tuần hoặc qua bảng thông báo đặt ở phòng giáo viên.

Nội dung chỉ đạo gồm những việc sau:

  • Nắm vững tình hình, đặc điểm học sinh lớp mình, (khối 10, 11, 12 sự phát triển tâm lý lứa tuổi…) những yêu cầu của ngành, của trường trong công tác giáo dục đạo đức, từ đó xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức đặc trưng cho lớp mình.
  • Theo dõi và phản ánh tình hình học tập rèn luyện của học sinh, những khó khăn của lớp mình.
  • Hiểu được hoàn cảnh, đặc điểm tâm lý của học sinh, đặc biệt của những học sinh cá biệt, từ đó có biện pháp giúp đỡ.
  • Phối hợp chặt chẽ với Đoàn thanh niên và cha mẹ học sinh để giáo dục học sinh lớp mình.
  • Phối hợp với giáo viên bộ môn để có thông tin và biện pháp kịp thời đối với lớp chủ nhiệm.
  • Đánh giá xếp loại hạnh kiểm học sinh công bằng, khách quan chính xác. Tuỳ theo đặc điểm lớp học, khả năng giáo viên, Hiệu trưởng (phó Hiệu trưởng) sẽ phân công GVCN cho phù hợp.

Mỗi học kỳ, Hiệu trưởng (Phó Hiệu trưởng) thông qua khối trưởng chủ nhiệm để đánh giá kết quả công tác chủ nhiệm ở từng khối. Việc đánh giá này dựa vào kết quả thi đua của lớp và kế hoạch chủ nhiệm (sổ chủ nhiệm).Việc đánh giá này phải khách quan công bằng, thấy được những cố gắng nỗ lực của giáo viên đối với công tác chủ nhiệm và động viên nhắc nhở những giáo viên thiếu quan tâm đến lớp.

Mỗi tháng, Hiệu trưởng (Phó Hiệu trưởng) đều kiểm tra sổ liên lạc, đây là hình thức giúp Hiệu trưởng (Phó Hiệu trưởng) khái quát được tình hình học tập rèn luyện của mỗi lớp, cũng như đánh giá của GVCN có gì sai sót không để nhắc nhở sửa chữa kịp thời trước khi chuyển sổ liên lạc cho phụ huynh học sinh.

Cuối năm học, Hiệu trưởng (phó Hiệu trưởng) tổng kết công tác chủ nhiệm, cần khen thưởng những cá nhân đạt thành tích trong công tác chủ nhiệm, coi trọng việc nêu gương, nhân điển hình tiên tiến trong trường.

3.2.4.4. Điều kiện thực hiện biện pháp

Cán bộ giáo viên trực tiếp tham gia giáo dục học sinh phải là người có đủ năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm và phẩm chất chính trị tốt.

Cán bộ giáo viên trong trường phải nắm được các phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục đạo đức cho học sinh.

Có kế hoạch phối kết hợp với các tổ chức trong và ngoài nhà trường để tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục đạo đức cho học sinh.

Có kế hoạch về nguồn ngân sách để CBGV đặc biệt là GVCN được học tập, trao đổi kinh nghiệm với các trường bạn về công tác tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh.

3.2.5. Biện pháp5: Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục đạo đức, biểu dương kịp thời những tấm gương người tốt việc tốt Luận văn: Biện pháp NC giáo dục đạo đực ở THPT Quan Lạn

3.2.5.1. Mục tiêu của biện pháp

Kiểm tra, đánh giá kết quả là nội dung không thể thiếu trong quá trình tổ chức các hoạt động GD. Vấn đề kiểm tra đánh giá việc phối hợp các lực lượng nhằm GDĐĐ cho học sinh là khâu quan trọng cuối cùng của quá trình tổ chức phối hợp trên. Hoạt động kiểm tra, đánh giá là một hoạt động có nhiều khó khăn, còn nhiều điều mới mẻ mà khoa học GD đang tiếp tục nghiên cứu.

Hoạt động này đảm bảo tạo lập mối quan hệ ngược thường xuyên và vững bền trong quản lý, làm khép kín chu trình vận động của quá trình quản lý giáo dục. Do vậy, nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra đánh giá công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THPT là một biện pháp vô cùng quan trọng, mặt khác các biện pháp này còn vô cùng cần thiết ở chỗ kiểm tra đánh giá chính xác, chân thực sẽ có tác dụng trực tiếp đến việc tìm nguyên nhân và đề ra các biện pháp quản lý có hiệu quả.

3.2.5.2. Nội dung của biện pháp

Xây dựng chuẩn nội dung của quá trình kiểm tra đánh giá 

Các tiêu chuẩn và nội dung của quá trình kiểm tra đánh giá công tác GDĐĐ chính là các chỉ tiêu thực hiện, mục tiêu kế hoạch về GDĐĐ cho học sinh trường THPT.

Có nhiều loại chuẩn trong đó tốt nhất là mục tiêu được phát triển dưới dạng số lượng hoặc chất lượng bởi vì kết quả cuối cùng mà người ta phải chịu trách nhiệm về chúng là những số đo tốt nhất về sự thành công của kết hoạch, cho nên chúng sẽ cho ta những tiêu chuẩn tốt nhất để kiểm tra.

Làm tốt việc xây dựng kế hoạch kiểm tra đánh giá: kế hoạch đảm bảo mục tiêu đánh giá, xây dựng các công cụ đánh giá, các nội dung đánh giá, phân công cụ thể công việc kiểm tra đánh giá cho các tổ chức, cá nhân trong trường. Kế hoạch được xây dựng cho cả năm học và từng giai đoạn, theo tiến trình thời gian trong năm học. Đây là quá trình đo lường việc thực hiện nhiệm vụ dựa theo các tiêu chuẩn ở các thời điểm khác nhau của quá trình kiểm tra qua đó người quản lý phát hiện những sai lệch và với sự đề phòng đôi khi có thể tiên đoán về những sai lệch so với tiêu chuẩn.

Chỉ đạo công tác kiểm tra đánh giá và có điều chỉnh kịp thời nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho các lực lượng tham gia hoạt động GDĐĐ cho học sinh hoạt động có hiệu quả và có tác dụng thúc đẩy cao nhất.

Xây dựng quy chế khen thưởng trong hoạt động GDĐĐ cho học sinh, kịp thời tuyên dương những cá nhân, tập thể có thành tích phấn đấu tốt, phê bình uốn nắn kịp thời những cá nhân có dấu hiệu vi phạm đạo đức, qua đó làm tốt công tác tuyên truyền, phòng ngừa từ xa đối với những cá nhân học sinh hay vi phạm.

3.2.5.3. Cách thực hiện biện pháp Luận văn: Biện pháp NC giáo dục đạo đực ở THPT Quan Lạn

Hiệu trưởng có kế hoạch chỉ đạo tổng thể các nội dung ngay từ đầu năm học, phân công một đồng chí phó hiệu trưởng phụ trách, xây dựng kế hoạch báo cáo Hiệu trưởng theo quy định từng giai đoạn cụ thể.

Giáo dục đạo đức học sinh là nhiệm vụ không chỉ của Nhà trưởng, để làm tốt công việc này, Hiệu trưởng phải xây dựng tốt cơ chế phối hợp về nội dung, hình thức, phương pháp kiểm tra, theo dõi giữa nhà trường, gia đình (Cha mẹ HS) và Xã hội (lãnh đạo địa phương, các tổ chức chính trị xã hội, …). Đó là:

  • Lực lượng tham gia kiểm tra đánh giá về việc tổ chức phối hợp trên phải có sự tham gia của nhà trường, đại diện CMHS và cán bộ quản lý xã hội địa phương tham gia.
  • Trong công tác kiểm tra phân công rõ trách nhiệm và sự phối hợp hoạt động của các lực lượng.

Khi tổ chức kiểm tra đánh giá cần phối hợp chặt chẽ các hình thức kiểm tra giữa gián tiếp, thường xuyên và đột xuất.

Người quản lý thường so sánh với chuẩn đặt ra để đánh giá điều chỉnh các sai lệch trong quá trình thực hiện.

Đánh giá cần coi trọng thực chất, không chạy theo hình thức.

Khi có kết quả đánh giá người quản lý cần thực hiện hành động điều chỉnh hoặc phát huy, hoặc uốn nắn, hoặc xử lý để cho quá trình thực hiện được tốt hơn.

Thi đua khen thưởng: Thi đua khen thưởng là hình thức động viên về mặt tinh thần có ý nghĩa GD rất lớn. Tuy nhiên nếu khen thưởng không đúng sẽ có tác dụng ngược lại, thi đua khen thưởng cần đa dạng về hình thức tổ chức: Tuyên dương ở trường, lớp, liên đội và tuyên truyền trong địa phương qua các cuộc họp xóm, thôn xã và loa truyền thanh, có thể thi đua khen thưởng qua dòng họ, gia đình. Trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, công tác thi đua khen thưởng, trách phạt cũng là một nội dung GD trong các nhà trường.

3.2.5.4. Điều kiện thực hiện biện pháp

Có kế hoạch kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh với các hình thức kiểm tra giữa gián tiếp, giữa thường xuyên và đột xuất theo tiến trình thời gian trong năm học từ đó có điều chỉnh kịp thời nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho các lực lượng tham gia hoạt động GDĐĐ cho học sinh hoạt động có hiệu quả và có tác dụng thúc đẩy cao nhất.

Có kế hoạch phối kết hợp giữa CBGV nhà trường với PHHS và cán bộ địa phương trong kiểm tra đánh giá hoạt động GDĐĐ cho học sinh.

Dành một phần kinh phí để thực hiện tốt công tác thi đua khen thưởng trong nhà trường.

3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp

Các biện pháp QLGD nói chung và các biện pháp quản lý GDĐĐ học sinh nói riêng rất đa dạng phong phú. Mỗi biện pháp đều có thế mạnh riêng, không có biện pháp nào là biện pháp vạn năng. Tất cả các biện pháp mà tác giả đề xuất đều quan trọng và có mối quan hệ thống nhất biện chứng, tác động qua lại với nhau. Việc thực hiện có hiệu quả ở biện pháp này sẽ tạo điều kiện cho biện pháp khác phát huy và ngược lại một biện pháp nào đó triển khai kém hiệu quả sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện các biện pháp khác. Do vậy khi vận dụng, chúng ta phải thực hiện đồng bộ, có hệ thống các biện pháp quản lý giáo dục đạo đức học sinh. Luận văn: Biện pháp NC giáo dục đạo đực ở THPT Quan Lạn

Trong 5 biện pháp nêu trên thì biện pháp 3: Xây dựng cơ chế quản lý chỉ đạo, phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để giáo dục đạo đức học sinh được đánh giá là biện pháp then chốt vì việc GDĐĐ học sinh không phải chỉ là nhiệm vụ của nhà trường mà phải có sự phối hợp chặt chẽ của gia đình và xã hội. Biện pháp 4 “Nâng cao hiệu quả công tác tổ chức, chỉ đạo kế hoạch giáo dục đạo đức học sinh” được đánh giá là biện pháp trọng tâm của Nhà trường vì muốn làm tốt hơn nữa các nội dung trên, Nhà trường cần làm tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo, đổi mới công tác lãnh đạo chỉ đạo trong quản lý ở tất cả các khâu sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, xây dựng kế hoạch là khâu đầu tiên của hoạt động quản lý nói chung và quản lý giáo dục đạo đức nói riêng. Xây dựng kế hoạch có vai trò định hướng cho toàn bộ hoạt động quản lý, đó là quá trình quyết định một cách chính xác những gì muốn thực hiện và cách thức tốt nhất để đạt mục tiêu, đồng thời là cơ sở để huy động tối đa các nguồn lực cho việc thực hiện mục tiêu, là căn cứ để kiểm tra đánh giá quá trình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ

3.4. Khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp

Sau khi nghiên cứu có hệ thống Cơ sở lý luận về Quản lý hoạt động GDĐĐ học sinh THPT, nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ học sinh tại trường THPT Quan Lạn, trên cơ sở đánh giá thực trạng chúng tôi xây dựng 5 biện pháp quản lý và tiến hành khảo sát mức độ cấp thiết và mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất, kết quả khảo nghiệm như sau.

3.4.1. Mục đích, nội dung, cách thức khảo nghiệm

3.4.1.1. Mục đích khảo sát

Đánh giá hiệu quả của các biện pháp QL hoạt động GDĐĐ học sinh của trường THPT Quan Lạn huyện Vân Đồn.

3.4.1.2. Nội dung khảo nghiệm

Đánh giá mức độ cấp thiết, mức độ khả thi của các biện pháp QL hoạt động GDĐĐ học sinh của trường THPT Quan Lạn huyện Vân Đồn.

3.4.1.3. Đối tượng và cách thức khảo nghiệm

Đối tượng khảo sát:

Bảng 3.1: Đối tượng khảo sát

Cách thức khảo nghiệm: phát phiếu thăm dò ý kiến và kết hợp với trao đổi với các đối tượng khảo sát về 5 biện pháp QL hoạt động GDĐĐ học sinh mà tác giả đã đề xuất.

3.4.2. Kết quả khảo nghiệm Luận văn: Biện pháp NC giáo dục đạo đực ở THPT Quan Lạn

3.4.2.1. Khảo nghiệm tính cấp thiết

Bảng 3.2: Kết quả khảo nghiệm về mức độ cấp thiết của các biện pháp đề xuất

Kết quả thống kê trên bảng 3.2 cho thấy các biện pháp do tác giả đề xuất đều được đội ngũ CBQL, GV, PH đánh giá là rất cấp thiết, điểm trung bình cao nhất là 2,93 và thấp nhất là 2,78. Các biện pháp bước đầu hỗ trợ cho Hiệu trưởng trường THPT Quan Lạn trong việc quản lý hoạt động GDĐĐ học sinh, khắc phục những khó khăn, hạn chế trong quá trình quản lý, giáo dục của nhà trường.

Các biện pháp được đánh giá có điểm trung bình gần bằng nhau chứng tỏ các biện pháp đều có vai trò quan trọng trong việc quản lý hoạt động GDĐĐ học sinh. Biện pháp số 3 “Xây dựng cơ chế quản lý chỉ đạo, phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để giáo dục đạo đức học sinh” được đội ngũ CBQL, GV và Cán bộ địa phương, PH học sinh đánh giá cấp thiết nhất, nguyên nhân là do hoạt động GDĐĐ học sinh cần có sự phối hợp chặt chẽ của các lực lượng giáo dục.

Các biện pháp còn lại đều được đánh giá rất cấp thiết và quan trọng đối với hoạt động GDĐĐ học sinh của trường THPT Quan Lạn, Vân Đồn, Quảng Ninh.

3.4.2.2. Khảo nghiệm tính khả thi Luận văn: Biện pháp NC giáo dục đạo đực ở THPT Quan Lạn

Bảng 3.3: Kết quả khảo nghiệm mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất

Các biện pháp do chúng tôi đề xuất đều được đánh giá ở mức độ rất khả thi với phổ điểm trung bình thu được từ 2,76 đến 2,89.

Biện pháp 3 (Xây dựng cơ chế quản lý chỉ đạo, phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để giáo dục đạo đức học sinh); được đánh giá khả thi nhất với điểm trung bình đạt 2,89. Việc xây dựng cơ chế phối hợp giữa Nhà trường, gia đình và xã hội luôn nhận được sự quan tâm của các ngành, các cấp và sự mong mỏi của phụ huynh học sinh.

Biện pháp 2 “Xây dựng môi trường sư phạm mẫu mực trong nhà trường” được đánh giá gặp nhiều khó khăn hơn, điều này đòi hỏi sự phối kết hợp của tất cả các cá nhân trong nhà trường, Hiệu trưởng cần vận dụng tất cả các nguồn lực, chỉ đạo sát sao và bỏ nhiều công sức hơn thì mới thực hiện thành công biện pháp nay.

Các biện pháp còn lại có điểm trung bình ở mức độ rất khả thi và tương đối gần nhau.

3.4.2.3. Tương quan giữa mức độ cấp thiết và mức độ khả thi của các biện pháp đề xuất

Bảng 3.4: Mức độ tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp

Các biện pháp do chúng tôi đề xuất tương đối tương quan về mức độ cấp thiết và mức độ khả thi, biện pháp số 3 và số 4 có mức độ cấp thiết và mức độ khả thi cao nhất, đứng ở vị trí số 1 và số 2.

Biện pháp số 1 và số 2 đối ngược nhau về mức độ cấp thiết và mức độ khả thi, tìm hiểu nguyên nhân, chúng tôi được biết biện pháp số 2 cần sự phối kết hợp của tập thể sư phạm, cán bộ, giáo viên và học sinh trong toàn nhà trường. Để làm được điều đó, hiệu trưởng phải kiên quyết chỉ đạo, dùng các biện pháp cứng rắn, đầu tư nhân lực vật lực, tài lực, huy động sự xã hội hóa mới có thể thực hiện thành công biện pháp này.

Từ những kết quả kiểm chứng trên, chúng tôi có thể kết luận: Những biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh THPT Quan Lạn huyện Vân Đồn mà chúng tôi đề xuất đã được đa số các lực lượng giáo dục tán thành. Các biện pháp đưa ra có tính cấp thiết và tính khả thi cao. Việc thực hiện các biện pháp trên một cách có hệ thống, đồng bộ chắc chắn sẽ tạo ra sự chuyển biến tích cực trong công tác quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng GDĐĐ cho học sinh THPT Quan Lạn huyện Vân Đồn.

Tiểu kết chương 3 Luận văn: Biện pháp NC giáo dục đạo đực ở THPT Quan Lạn

Các biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh của trường THPT Quan Lạn huyện Vân Đồn được xây dựng trên cơ sở khoa học, đồng thời cũng xuất phát từ thực tiễn QLGD đạo đức học sinh THPT hiện nay ở huyện Vân Đồn. Hệ thống 5 biện pháp có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, tác động, phụ thuộc vào kết quả của nhau. Việc đề xuất các biện pháp này là một việc làm nhỏ bé góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện để thực hiện mục tiêu giáo dục THPT, đáp ứng với yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với giáo dục. Các biện pháp đã đề xuất muốn thực hiện có hiệu quả thì cần phải có hệ điều kiện đi kèm như: Cơ sở vật chất, môi trường sư phạm, điều kiện kinh tế xã hội ở địa phương, sự quan tâm chăm lo của cấp uỷ chính quyền địa phương…

Qua kết quả bước đầu khảo nghiệm 5 biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT Quan Lạn huyện Vân Đồn, các nhà quản lý, cán bộ, giáo viên và học sinh đánh giá cao, điều này cho thấy mức độ ý nghĩa, tác dụng, hiệu quả của đề tài nghiên cứu.

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

1. Kết luận

Trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, học sinh THPT là lực lượng cơ bản chuẩn bị cho nguồn nhân lực của đất nước trong tương lai. Chăm lo cho giáo dục phổ thông là nhiệm vụ không những của nhà trường, của gia đình mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội. Học sinh THPT không những được trang bị những kiến thức trong nội dung chương trình giáo dục phổ thông mà còn được được giáo dục toàn diện để trong tương lai, các em chính là chủ nhân của đất nước. Trong đó giáo dục đạo đức là nền tảng, là gốc rễ và có vai trò quan trọng để hình thành nên nhân cách, bản lĩnh của con người Việt Nam.

Đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở trường THPT Quan Lạn, huyện Vân Đồn, Quảng ninh” bước đầu thu được những kết quả như sau:

  • Đề tài đã hệ thống hóa hệ thống cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh THPT, nêu nhứng yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý hoạt động GDĐĐ học sinh; hệ thống hóa được các nghiên cứu có liên quan đến nội dung đề tài.
  • Đề tài đã nghiên cứu thực trạng và trình bày được các nội dung: thực trạng vi phạm đạo đức học sinh tại trường THPT Quan Lạn, thực trạng quản lý GDĐĐ học sinh tại nhà trường; kết quả cho thấy, tỷ lệ học sinh tại trường THPT Quan Lạn vi phạm tệ nạn xã hội ở mức độ thấp (do đặc điểm địa phương) nhưng phạm đạo đức lối sống, vi phạm nội quy học tập của nhà trường còn cao. Hiệu trưởng trường THPT Quan Lạn đã quan tâm chỉ đạo, quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh, tuy nhiên nhiều nội dung được đánh giá chưa cao.
  • Đề tài xây dưng và đề xuất 5 biện pháp quản lý hoạt động GDĐĐ học sinh tại trường THPT Quan Lạn phù hợp với điều kiện và thực trạng tại nhà trường. Các biện pháp được đánh giá ở mức độ rất cấp thiết và rất khả thi.

Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức của các thành viên trong nhà trường về hoạt động GDĐĐ học sinh.

Biện pháp 2: Xây dựng môi trường sư phạm mẫu mực trong nhà trường Biện pháp 3: Xây dựng cơ chế quản lý chỉ đạo, phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để giáo dục đạo đức học sinh

Biện pháp 4: Nâng cao hiệu quả công tác tổ chức, chỉ đạo kế hoạch giáo dục đạo đức học sinh

Biện pháp 5: Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục đạo đức, biểu dương kịp thời các gương người tốt việc tốt

2. Khuyến nghị Luận văn: Biện pháp NC giáo dục đạo đực ở THPT Quan Lạn

2.1. Đối với Bộ GD&ĐT

Tăng cường chỉ đạo công tác giáo dục đạo đức học sinh.

Chương trình SGK còn quá tải về mặt kiến thức. Các điều kiện dạy học còn nhiều bất cập, ảnh hưởng đến thời lượng, giờ lên lớp, dẫn đến nhiều giáo viên chưa thật sự chú ý đến hoạt động giáo dục đạo đức. Vì vậy cần điều chỉnh chương trình SGK . Tăng thời gian cho những hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động giáo dục đạo đức.

Xây dựng mục tiêu, khung chương trình giáo dục đạo đức để triển khai thực hiện đồng bộ trong tất cả các trường THPT trên toàn quốc.

Nghiên cứu đưa vào giảng dạy chính khoá với các vấn đề: Giáo dục giá trị, chuẩn mực đạo đức, Giáo dục kỹ năng sống, Giáo dục kỹ năng ứng xử văn hoá cho học sinh.

Có chính sách, chế độ đãi ngộ với đội ngũ giáo viên làm công tác chủ nhiệm. Bổ sung các hình thức khen thưởng đối với giáo viên, nhất là giáo viên làm công tác chủ nhiệm, giáo viên tham gia giáo dục học sinh có khó khăn trong rèn luyện đạo đức.

2.2. Đối với Sở GD&ĐT tỉnh Quảng Ninh Luận văn: Biện pháp NC giáo dục đạo đực ở THPT Quan Lạn

Chỉ đạo, kiểm tra thường xuyên công tác giáo dục đạo đức của các nhà trường

Tổ chức các buổi hội thảo chuyên đề về giáo dục đạo đức học sinh để các nhà trường được học tập và trao đổi kinh nghiệm.

Khen thưởng biểu dương những giáo viên làm công tác chủ nhiệm giỏi, giáo viên chủ nhiệm có thành tích giáo dục học sinh hư, học sinh cá biệt.

Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng sư phạm và nghiệp vụ chủ nhiệm cho giáo viên, nhất là giáo viên mới tuyển dụng.

Xây dựng qui chế phối hợp giữa ngành GD&ĐT với các ngành Công An, Tuyên giáo, Giao thông… trong việc quản lý giáo dục học sinh.

2.3. Đối với trườngTHPT Quan Lạn

Tăng cường sự lãnh đạo của Chi bộ đảng, BGH với công tác giáo dục đạo đức học sinh. Hiệu trưởng cần năng động trong công tác xã hội hoá giáo dục để liên kết với các lực lượng bên ngoài nhà trường cùng chăm lo, đóng góp công sức cho công tác giáo dục và giáo dục đạo đức học sinh.

Thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tổ chức, phương pháp giáo dục đạo đức nhằm thu hút người học tích cực, tự giác tham gia rèn luyện đạo đức.

Thực hiện kiểm tra, đánh giá, xếp loại hạnh kiểm của học sinh công bằng, khách quan, chính xác. Làm tốt công tác khen thưởng, phê bình kịp thời đúng người đúng việc đúng thời điểm.

Chăm lo bồi dưỡng, tạo điều kiện về cả vật chất và tinh thần cho đội ngũ giáo viên làm công tác chủ nhiệm.

Phối hợp chặt chẽ với Gia đình và xã hội trong công tác giáo dục đạo đức học sinh

Tham mưu, đề xuất kịp thời với Sở GD&ĐT và UBND huyện, UBND Tỉnh trong công tác giáo dục đạo đức học sinh. Luận văn: Biện pháp NC giáo dục đạo đực ở THPT Quan Lạn

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Giáo dục đạo đức học sinh trường THPT Quan Lạn

One thought on “Luận văn: Biện pháp NC giáo dục đạo đực ở THPT Quan Lạn

  1. Pingback: Luận văn: Thực trạng đạo đức học sinh trường THPT Quan Lạn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464