Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng tại tỉnh Bình Định dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Yêu cầu bảo đảm áp dụng đúng quy định pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng
Bình Định là tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của miền Trung, có tổng diện tích đất lâm nghiệp là 383.621,87 ha, diện tích đất có rừng là 306.084,50 ha, gồm: Rừng tự nhiên là 216.412,85 ha, rừng trồng là 89.671,65 ha. Diện tích đất có rừng ngoài quy hoạch đất lâm nghiệp là 32.914,25 ha (rừng tự nhiên là 1.001,04 ha, rừng trồng là 31.913,21 ha); độ che phủ rừng là 53,95% (tính đến 31/12/2017).
Hiện tại, tỉnh Bình Định đang thực hiện sáu chương trình, dự án lâm nghiệp. Cụ thể là: Dự án Bảo vệ và phát triển rừng; Chương trình 30a; Dự án Hỗ trợ phát triển ngành lâm nghiệp (Dự án WB3); Dự án Khôi phục rừng và quản lý rừng bền vững (Dự án KfW6); Dự án Phục hồi và quản lý bền vững rừng phòng hộ (Dự án JICA2); Dự án Hỗ trợ đầu tư xây dựng đường lâm nghiệp. Trong thời gian qua tình hình hủy hoại rừng xảy ra nhiều tại các huyện miền núi và trung du như An Lão, Vân Canh, Hoài Ân, Vĩnh Thạnh, Tây Sơn, đặc biệt có những vụ phá rừng với mức độ nghiêm trọng tại xã An Hưng, huyện An Lão; xã Đăk Mang, huyện Hoài Ân và xã Canh Thuận, huyện Vân Canh vào năm 2017 nhưng lực lượng chức năng chậm phát hiện, rừng bị phá với diện tích lớn, khi phát hiện, xử lý thì gặp nhiều khó khăn.
Trước tình hình trên, để bảo đảm áp dụng đúng quy định pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng của các địa phương nói chung và tại tỉnh Bình Định riêng thì cần phải bảo đảm các điều kiện, tiêu chuẩn, các quy định phải xuất phát từ những yêu cầu trong thực tế, dựa trên các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; công tác đấu tranh phòng, chống tội hủy hoại rừng phải bằng pháp luật hình sự; thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội hủy hoại rừng trong giai đoạn hiện nay có nhiều diễn biến phức tạp, quy mô cần phải có sự phối hợp của cả hệ thống chính trị.
- Thứ nhất, dựa trên các chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo vệ môi trường, bảo vệ và phát triển rừng.
Thực hiện chủ trương cải cách tư pháp, trong đó có nhiệm vụ tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, ứng phó với biển đổi khí hậu, trong thời gian qua Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều quy định như:
Nghị quyết số 41 ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã nêu rõ việc tăng cường công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường là: “Hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về bảo vệ môi trường…”. Luận văn: Giải pháp pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.
Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã thể hiện: “Hoàn thiện pháp luật về tài nguyên và môi trường theo nguyên tắc quản lý chặt chẽ, phát triển bền vững, bảo đảm kết hợp hài hoà giữa việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên”.
Nghị quyết số 24/NQ-TW ngày 03/6/2013 của Bộ Chính trị về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường đã nêu rõ: “Chú trọng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và các lĩnh vực có liên quan như đầu tư, thuế, xử lý vi phạm hành chính, dân sự… theo hướng bổ sung, kết hợp khắc phục các chồng chéo, xung đột pháp luật nhằm tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho việc thực hiện các nhiệm vụ. Hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp, xung đột trong ứng phó với biến đổi khí hậu, khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường. Sửa đổi, bổ sung các chế tài hành chính, kinh tế, hình sự… về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, bảo đảm đủ sức răn đe. Đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật”.
Đặc biệt, tại Điều 43 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường”; khoản 3 Điều 63 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại”.
Như vậy, Đảng và Nhà nước ta đã xác định rõ trong đường lối, chủ trương chỉ đạo của mình về tầm quan trọng của nguồn tài nguyên, của việc bảo vệ và phát triển môi trường; quy định việc xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật nhằm bảo vệ môi trường trước các hành vi vi phạm đáp ứng với yêu cầu thực tiễn đặt ra.
- Thứ hai, công tác đấu tranh phòng, chống, xử lý tội phạm hủy hoại rừng bằng pháp luật hình sự.
Để công tác quản lý của Nhà nước về môi trường nói chung, quản lý rừng nói riêng hoạt động và đạt kết quả tốt, khi có một hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng xảy ra trong thực tế thì sẽ chịu sự điều chỉnh bởi các quy định pháp luật như: Pháp luật hành chính về Xử phạt hành chính, pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại và cao nhất là pháp luật hình sự với các chế tài nghiêm khắc. Luận văn: Giải pháp pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.
Theo số liệu thống kê của Chi Cục Kiểm lâm tỉnh Bình Định, trong thời gian từ năm 2013 đến năm 2017 thì trung bình mỗi năm Bình Định có hơn 609 vụ vi phạm pháp luật bảo vệ rừng (Bảng 2.7), trong đó các vụ Xử phạt hành chính trung bình mỗi năm khoảng 480 vụ (Bảng 2.9). Tuy nhiên, các biện pháp Xử phạt hành chính chưa mang lại hiệu quả cao, chưa đủ tính răn đe nên vẫn còn nhiều vi phạm. Do đó, việc xử lý các hành vi hủy hoại rừng bằng pháp luật hình sự sẽ mang tính nghiêm khắc, tính trừng trị, răn đe đạt được hiệu quả cao hơn. Yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm hủy hoại rừng bằng pháp luật hình sự càng được Đảng và Nhà nước ta quan tâm bằng các chủ trương, đường lối chỉ đạo cụ thể chính là cơ sở, căn cứ giúp định hướng, hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về tội phạm hủy hoại rừng, nhằm đáp ứng, đảm bảo sự phù hợp với hoạt động thực tiễn.
- Thứ ba, thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm hủy hoại rừng trong giai đoạn hiện nay có nhiều diễn biến phức tạp, khó khăn.
Hiện nay, tội phạm hủy hoại rừng của cả nước nói chung và của tỉnh Bình Định nói riêng đang diễn biến hết sức phức tạp với những phương thức, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Số lượng tội phạm hủy hoại rừng luôn có xu hướng tăng, nghiêm trọng hơn cả về quy mô, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Cụ thể, theo số liệu thống kê của cơ quan tố tụng tại Bình Định cho thấy, từ năm 2013 đến năm 2017, Tòa án nhân dân hai cấp đã đưa ra xét xử 28 vụ án hình sự về tội hủy hoại rừng, với 34 bị cáo (Bảng 2.10). Trong đó, hiện nay có nhiều vụ án hủy hoại rừng còn nhiều vướng mắc, diện tích rừng bị thiệt hại lớn, nằm trên nhiều địa phương, trách nhiệm liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành. Do đó, yêu cầu các quy định pháp luật hình sự về tội phạm hủy hoại rừng phải có sự sửa đổi, bổ sung, cập nhật liên tục để hoàn thiện hơn, phù hợp hơn với thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm này.
3.2. Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng trong thực tiễn Luận văn: Giải pháp pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.
3.2.1 Hoàn thiện quy định pháp luật hình sự của tội hủy hoại rừng
Như đã phân tích ở các phần trên, quy định và áp dụng các quy định về tội hủy hoại rừng còn nhiều bất cập, làm cho hiệu quả của hoạt động đấu tranh phòng, chống loại tội phạm hủy hoại rừng chưa đạt hiệu quả cao. Trong đó, nguyên nhân quan trọng xuất phát từ chính những quy định bất cập, chưa rõ ràng, chưa hợp lý của pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng. Mặc dù, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã đáp ứng được những yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới của đất nước, phần nào đã khắc phục được những vướng mắc, tồn tại của Bộ luật Hình sự năm 1999 trong đó có tội hủy hoại rừng. Tuy nhiên, do Bộ luật Hình sự năm 2015 mới có hiệu lực thi hành, thực tiễn áp dụng chưa nhiều, về quy định cũng có những hạn chế nhất định. Do đó, tác giả xin đưa ra một số giải pháp nhằm bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng quy định tại Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau:
3.2.1.1 Hoàn thiện quy định về đối tượng tác động của tội hủy hoại rừng
Việc quy định đối tượng tác động của tội hủy hoại rừng trong Điều 243 BLHS năm 2015 mặc dù quy định cụ thể diện tích bị thiệt hại đối với các loại cây trồng chưa thành rừng hoặc rừng khoanh nuôi tái sinh, rừng thuộc rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất, giá trị lâm sản bị thiệt hại và các loài thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm bị thiệt hại theo mức định lượng quy định. Tuy nhiên, Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 (BLHS năm 1999 và các văn bản hướng dẫn Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999 đã hết hiệu lực thi hành) nhưng hiện nay chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể. Đồng thời, việc quy định các căn cứ giúp xác định rừng thuộc đối tượng tác động của tội hủy hoại rừng hay đối tượng tác động của tội hủy hoại tài sản trong Bộ luật Hình sự hiện hành là chưa có cũng như Luật Lâm nghiệp năm 2017 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2019 sẽ thay thế cho Luật BV&PTR năm 2004) cũng không đề cập, nêu rõ và giải quyết được hạn chế này.
Do đó, khi áp dụng quy định về tội hủy hoại rừng, các cơ quan tiến hành tố tụng ở một số địa phương áp dụng chưa thống nhất các yếu tố để cấu thành tội phạm hủy hoại rừng. Có địa phương cơ quan áp dụng pháp luật xem các loài cây cỏ, bụi cây, dây leo là đối tượng tác động của tội hủy hoại rừng và truy cứu Trách nhiệm hình sự, có địa phương không xem là đối tượng tác động của tội hủy hoại rừng nên không truy cứu Trách nhiệm hình sự mà áp dụng Xử phạt hành chính. Hiện nay, việc lựa chọn cách giải quyết nào do ý chí chủ quan của cơ quan áp dụng pháp luật. Đồng thời, thực tiễn áp dụng quy định về tội hủy hoại rừng, trong một số trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng đã định tội danh chưa đúng do xác định đối tượng tác động thuộc tội phạm cụ thể chưa chính xác, đó là giữa tội hủy hoại rừng với tội hủy hoại tài sản. Nguyên nhân của việc không thống nhất này là do xuất phát từ lý luận về đối tượng tác động của tội hủy hoại rừng còn nhiều điểm chưa rõ. Do đó, tác giả đưa ra giải pháp sau:
Thứ nhất, các cơ quan lập pháp cần có quy định rõ các loại cây cỏ, bụi cây, dây leo là đối tượng tác động của tội hủy hoại rừng, cụ thể hóa hơn nữa Điều 243 vào trong văn bản hướng dẫn, hướng dẫn về đối tượng tác động của tội hủy hoại rừng bao gồm các loại cây cỏ, bụi cây, dây leo. Do đó, tác giả cho rằng cần quy định thêm nội dung trong văn bản hướng dẫn:
Trường hợp diện tích rừng bị thiệt hại bao gồm cả diện tích các loại cây cỏ, bụi cây, dây leo thì xác định diện tích bị thiệt hại hoặc giá trị lâm sản bị thiệt hại bao gồm cả các loại cây cỏ, bụi cây, dây leo để làm căn cứ truy cứu Trách nhiệm hình sự.
Trường hợp diện tích rừng bị thiệt hại chỉ có các loại cây cỏ, bụi cây, dây leo và hiện tại trên diện tích đất lâm nghiệp đã được cải tạo, trồng mới lại bằng các loại cây rừng khác thì chỉ bị Xử phạt hành chính do hành vi phát dọn cây rừng trái phép. Nhưng nếu trước đó đã bị Xử phạt hành chính về hành vi này mà còn tiếp tục vi phạm thì phải truy cứu Trách nhiệm hình sự.
Trường hợp diện tích rừng phòng hộ hoặc rừng đặc dụng không có cây lớn mà chỉ có cây cỏ, bụi cây, dây Nếu diện tích rừng bị thiệt hại là cây cỏ, bụi cây, dây leo thì phải truy cứu Trách nhiệm hình sự vì tính chất quan trọng của rừng phòng hộ và rừng đặc dụng. Luận văn: Giải pháp pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.
Thứ hai, cần bổ sung thêm quy định nhằm xác định đối tượng tác động thuộc loại tội nào như một số quy định khác của Bộ luật Hình sự, đưa quy định này vào trong Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015 như: “Nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 178 của Bộ luật này” để tạo điều kiện thuận lợi trong xác định đối tượng tác động nhằm áp dụng chính xác điều luật về tội hủy hoại rừng.
Do đó, Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015 cần sớm có quy định hướng dẫn phần đối tượng tác động giữa tội hủy hoại rừng và tội hủy hoại tài sản, cụ thể:
Trường hợp đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng trồng, rừng khoanh nuôi tái sinh đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định giao cho tổ chức, tập thể, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp mà người được giao đã bỏ vốn đầu tư trồng rừng, chăm sóc, bảo vệ… thì bị xử lý như sau: Nếu chủ rừng đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015. Nếu người đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác hủy hoại rừng mà không phải là chủ rừng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các điều luật tương ứng quy định tại Chương XVI – Các tội xâm phạm sở hữu của Bộ luật Hình sự. [1, tr. 8].
3.2.1.2 Hoàn thiện quy định về tình tiết định khung hình phạt của tội hủy hoại rừng
Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã khắc phục được hạn chế đối với Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999 khi xét xử hành vi hủy hoại rừng phải viện dẫn và căn cứ vào định lượng quy định tại Thông tư số 19/2007/TTLT và Nghị định 157/2013/NĐ-CP, Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã quy định trực tiếp định lượng về diện tích, giá trị lâm sản bị thiệt hại khi xây dựng các khung hình phạt cơ bản của mình.
Thực tế, rừng phòng hộ và rừng đặc dụng có giá trị và ý nghĩa cho sự phát triển của đất nước và đời sống con người vô cùng to lớn, cần được bảo vệ đặc biệt. Luận văn: Giải pháp pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.
Hiện nay, diện tích các loại rừng ngày càng giảm sút nhanh chóng, trong đó rừng phòng hộ, rừng đặc dụng liên tục bị xâm hại nên diện tích ngày càng suy giảm. Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định rừng phòng hộ và rừng đặc dụng có định lượng để xác định khung hình phạt cao hơn so với quy định tại Điều 189 Bộ luật Hình sự 1999 sẽ dẫn tới nhiều hệ lụy nghiêm trọng, trong đó nguy hiểm nhất là khả năng bảo vệ môi trường, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu của rừng phòng hộ bị đe dọa nghiêm trọng; mất di tài sản quốc gia, mất di tích lịch sử, văn hóa… của rừng phòng hộ và rừng đặc dụng. Việc Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định các yếu tố định khung cơ bản đối với 02 loại rừng này là chưa phù hợp. Vì vậy, tác giả kiến nghị cần phải sửa đổi Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015 theo hướng giảm về định lượng diện tích bị thiệt hại của rừng phòng hộ và rừng đặc dụng trong các quy định của khung hình phạt, như sau:
- Bảng 3.1. Đề nghị mức định lượng mới của rừng phòng hộ và rừng đặc dụng
3.2.1.3 Hoàn thiện quy định về hình phạt của tội hủy hoại rừng
Việc quy định hình phạt tại Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội hủy hoại rừng vẫn còn tồn tại một số bất cập, như:
- Thứ nhất, hình phạt tiền vừa là hình phạt chính vừa là hình phạt bổ sung hiện nay chưa tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
- Thứ hai, hình phạt tù có thời hạn quy định với mức dao động của khung hình phạt lớn (khoản 1 thì từ 01 đến 05 năm, khoản 2 thì từ 03 đến 07 năm, khoản 3 thì từ 07 đến 15 năm), nên việc quyết định hình phạt chưa thể hiện sự khách quan mà dựa trên ý chí chủ quan của các cơ quan xét xử.
Việc quy định về hình phạt trong tội hủy hoại rừng chưa thể hiện được mức tương ứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội hủy hoại rừng gây ra, cách xây dựng quy định của nhà lập pháp chưa phù hợp với biên độ dao động lớn, cùng như khả năng dự liệu cho quy định hình phạt và mức hình phạt chưa cao. Khi xây dựng Bộ luật Hình sự năm 2015, nhà lập pháp còn theo tư duy của Bộ luật Hình sự năm 1999, chưa xây dựng, so sánh hậu quả thiệt hại của hành vi hủy hoại rừng với mức độ ảnh hưởng đến đời sống xã hội, ảnh hưởng đến môi trường như hiện nay.
Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, về hình phạt và mức hình phạt có sự điều chỉnh so với Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999. Tuy nhiên, xét về mặt toàn diện thì vẫn chưa phù hợp trong tình hình kinh tế, xã hội của đất nước phát triển, tình hình tội phạm về hủy hoại rừng diễn biến ngày càng phức tạp, quy mô như hiện nay. Khi xây dựng Điều 243 Bộ luật Hình sự 2015, nhà làm luật vẫn xây dựng mức giao động của khung hình phạt giữa khoản 1 và khoản 2 còn rất lớn.
- Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định về hình phạt trong tội hủy hoại rừng như sau:
Thứ nhất, về mức phạt tiền quy định tại khoản 4 Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015: Mức phạt tiền tại khoản 1 giữa Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999 và Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015 tăng gấp 05 lần, trong khi tại khoản 4 Điều 189 và Điều 243 chỉ tăng gấp 04 lần so với mức tối thiểu và 02 lần so với mức tối đa. Do đó, trong thời gian tới cần phải có sự điều chỉnh lại cho phù hợp. Luận văn: Giải pháp pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.
Thứ hai, việc quy định mức hình phạt tù giữa khoản 2 và khoản 3 Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015 có sự phân định rõ ràng. Tuy nhiên, quy định của khoản 1 là từ 01 năm đến 05 năm và khoản 2 từ 03 năm đến 07 năm của điều luật này hình phạt có sự chồng, trùng nhau trong khoản thời gian 03 năm đến 05 năm. Từ thực tiễn tố tụng của tỉnh Bình Định, những đối tượng có hành vi hủy hoại rừng thường đi cùng với rất nhiều tình tiết giảm nhẹ như: Nhận thức kém về pháp luật, là người dân tộc thiểu số; sinh sống tại vùng đặc biệt khó khăn; gia đình có hoàn cảnh khó khăn; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải… Như vậy, sẽ xảy ra những trường hợp đối tượng mặc dù phạm tội tại khoản 1 nhưng lại bị xử nặng hơn đối tượng khác phạm tội ở khoản 2. Việc áp dụng pháp luật để quyết định hình phạt ở các địa phương sẽ không có sự thống nhất. Do đó, cần phải có sự phân định, điều chỉnh mức hình phạt giữa khoản 1 và khoản 2 Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015 giống như quy định giữa khoản 2 và khoản 3 điều này. Cụ thể sửa đổi như sau: Mức phạt tù tại khoản 1 từ 01 đến 03 năm, khoản 2 từ 03 năm đến 07 năm thì sẽ hợp lý hơn.
3.2.2 Hướng dẫn, giải thích quy định của pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng Luận văn: Giải pháp pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.
Hướng dẫn, giải thích quy định của pháp luật hình sự là một trong những biện pháp chủ đạo mang tính chiến lược trong việc bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng. Tình hình áp dụng pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng hiện nay còn nhiều mâu thuẫn, không thống nhất trong luật và các văn bản pháp luật dưới luật; cách hiểu và áp dụng pháp luật của chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật còn có sự khác nhau; các quy định pháp luật chưa rõ ràng, có sự chồng chéo giữa luật nội dung và luật chuyên ngành, nhiều quy định chưa thể hiện tính răn đe, nghiêm trị hành vi phạm tội, tạo kẻ hở cho tội phạm và các chủ thể áp dụng pháp luật phát sinh sự thiếu khách quan, dễ nảy sinh tiêu cực.
BLHS năm 2015 đã cập nhật đổi mới, phần nào khắc phục được những hạn chế, vướng mắc, khó khăn của Bộ luật Hình sự năm 1999. Tuy nhiên, so với Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999 có Thông tư 19/2007/TTLT hướng dẫn áp dụng một số điều của Bộ luật Hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản nhưng Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018) với nhiều tiến bộ trong kỹ thuật lập pháp, quy định cụ thể mức định lượng về diện tích, giá trị lâm sản bị thiệt hại nhưng Điều 243 hiện nay chưa có bất kỳ một văn bản nào hướng dẫn, giải thích chi tiết, rõ ràng hơn các quy định trong điều luật.
Trong tội phạm môi trường nói chung, không có tội phạm nào được phân loại là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, trong khi hậu quả của tội phạm này gây ra cho môi trường, cho tài sản, cho sức khỏe con người là rất lớn. Việc phân loại tội phạm môi trường theo quy định tại Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhưng vẫn chưa cụ thể đối với loại tội phạm môi trường này. Mặt khác, đối với chủ thể pháp nhân thương mại là một chủ thể mới, lần đầu tiên được Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định và điều luật quy định chủ thể pháp nhân thương mại phạm tội hủy hoại rừng chỉ bị áp dụng hình phạt tiền. Đồng thời, việc xử lý hình sự đối với pháp nhân thương mại hoạt động trong lĩnh vực môi trường là vấn đề mới được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2015 nên việc thực thi sẽ gặp nhiều lúng túng, khó khăn. Nhiều pháp nhân thương mại là những công ty trách nhiệm hữu hạn do các cá nhân lập ra, quyền và nghĩa vụ của công ty gắn với quyền và nghĩa vụ của cá nhân (người đại diện theo pháp luật) cũng như việc giải thể pháp nhân do cá nhân (người đại diện theo pháp luật) quyết định. Việc truy cứu Trách nhiệm hình sự chỉ có thể tiến hành nếu chủ thể của tội phạm là cá nhân còn sống và pháp nhân còn tồn tại. Khi phát hiện được hành vi vi phạm pháp luật thì pháp nhân đó không còn tồn tại trên thực tế nên không thể truy cứu Trách nhiệm hình sự. Vì vậy, nhà lập pháp cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể các vấn đề liên quan đến chủ thể pháp nhân thương mại đối với quy định tại khoản 5 Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015 để việc áp dụng pháp luật vào thực tế được thuận lợi, dễ dàng và đạt hiệu quả.
3.2.3 Tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự
Việc tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với việc xử lý các hành vi hủy hoại rừng tại các cơ quan ban ngành ở Trung ương và địa phương cũng như việc tổ chức các hội thảo chuyên đề có sự tham gia và tư vấn của các nhà chuyên gia, nhà khoa học, nhà nghiên cứu, cán bộ hoạt động thực tiễn… nhằm phân tích, làm rõ tình hình như kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân trong việc xử lý các hành vi hủy hoại rừng hiện nay là hết sức cần thiết và bổ ích.
Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống xã hội ngày càng nâng cao dẫn đến nhiều mặt trái của xã hội, tồn tại nhiều bất cập, hạn chế trong công tác quản lý Nhà nước, quản lý xã hội; bất cập, hạn chế trong hệ thống chính sách, pháp luật và công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật; bất cập, hạn chế trong công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật là những nguyên nhân chính và chủ yếu dẫn đến việc áp dụng pháp luật hình sự nói chung và áp dụng Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015 nói riêng chưa thống nhất, chưa đảm bảo được việc xử lý tội phạm công bằng, đúng với bản chất của hành vi phạm tội. Do đó, công tác tổng kết thực tiễn rất quan trọng, mặc dù Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015 mới được áp dụng, thời gian thực tiễn chưa có. Tuy nhiên, các nhà lập pháp, các nhà áp dụng pháp luật trong thời gian đến cần quyết liệt hơn trong việc đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế, khắc phục trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm hủy hoại rừng, trong việc áp dụng pháp luật của các các chủ thể có thẩm quyền. Đồng thời, việc tổng kết thực tiễn là rất cần thiết, đó là bước chuẩn bị, tiền đề trong việc đưa ra định hướng, đề xuất những sửa đổi, bổ sung trong các quy định của pháp luật hình sự về tội phạm hủy hoại rừng cho thời gian tiếp theo.
3.2.4 Nâng cao năng lực, đạo đức của cán bộ áp dụng pháp luật hình sự Luận văn: Giải pháp pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.
Để đảm bảo chất lượng của hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nói chung và các quy định của Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015 về tội hủy hoại rừng nói riêng thì việc nâng cao năng lực và đạo đức của cán bộ áp dụng pháp luật hình sự có ý nghĩa hết sức quan trọng. Bởi suy cho cùng công tác cán bộ là yếu tố con người – chủ thể trực tiếp áp dụng pháp luật. Nâng cao trình độ năng lực, đạo đức, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ thuộc cơ quan CA, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, Kiểm lâm, Bội đội Biên phòng trong công tác đấu tranh, phòng chống, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng. Đổi mới mạnh mẽ phương thức chỉ đạo, điều hành và phối hợp trong hoạt động của cơ quan chức năng có trách nhiệm bảo vệ rừng theo hướng nhanh, gọn, hiệu quả; phân công, phân nhiệm và phân cấp rõ ràng trong từng lĩnh vực công tác… trong đó đặc biệt chú trọng đến giải pháp nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ trong công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
Có chính sách khuyến khích cán bộ áp dụng pháp luật hình sự học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng với nhiệm vụ được giao, kịp thời cập nhật văn bản pháp luật chuyên ngành, thường xuyên tổ chức tập huấn, hội thảo chuyên đề để rút kinh nghiệm trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Nâng cao công tác đào tạo, đào tạo lại, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao trình độ lý luận chính trị, ngoại ngữ, tin học cho cán bộ, công chức của các ngành tư pháp cần được tiến hành thường xuyên, trong đó chú trọng tập huấn các văn bản pháp luật mới, kỹ năng điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hủy hoại rừng phức tạp, dư luận xã hội quan tâm; thông báo rút kinh nghiệm về công tác điều tra, truy tố và xét xử cho đội ngũ cán bộ và tập huấn các kiến thức liên quan tới công tác giải quyết các vụ án hình sự. Nâng cao năng lực tư duy, lôgic cho đội ngũ cán bộ trong công tác điều tra,
truy tố, xét xử. Hoạt động chính và chủ yếu của đội ngũ cán bộ trong công tác điều tra, truy tố, xét xử là áp dụng pháp luật cũng là một dạng đặc biệt của thực hiện pháp luật, căn cứ vào các quy định pháp luật để ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý trong các quan hệ pháp luật hình sự cụ thể. Trong đó, đặc biệt là nâng cao trình độ năng lực tư duy, lôgic của đội ngũ Thẩm phán là yếu tố trực tiếp quyết định đến chất lượng áp dụng pháp luật hình sự của cơ quan xét xử. Luận văn: Giải pháp pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.
Bên cạnh nâng cao năng lực trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ thực hiện công tác điều tra, truy tố, xét xử, cần chú trọng giáo dục, rèn luyện phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức cho đội ngũ cán bộ này, cho lực lượng bảo vệ rừng tại địa phương; tăng cường công tác quản lý cán bộ, quản lý công việc, hạn chế những vi phạm, sai sót trong quá trình áp dụng pháp luật; kịp thời phát hiện và ngăn chặn các hành vi tiêu cực trong quá trình áp dụng pháp luật; biểu dương, khích lệ những việc làm tích cực trong công tác phòng chống tham nhũng. Đồng thời, đẩy mạnh tinh thần hợp tác giữa các ban, ngành, các cấp… trong quá trình áp dụng pháp luật; đặc biệt là sự phối hợp chặt chẽ của lực lượng chức năng có trách nhiệm bảo vệ rừng để rút kinh nghiệm công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án điểm, án đặc biệt nghiêm trọng, những vụ án phức tạp hoặc được dư luận xã hội quan tâm.
3.2.5 Tạo cơ chế độc lập, cơ sở vật chất và chế độ đãi ngộ cho cán bộ xử lý tội phạm
Trong hoạt động của các cơ quan CA, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, Kiểm lâm, Bộ đội Biên phòng và các lực lượng khác liên quan đến việc phát hiện, xử lý hành vi vi phạm pháp luật nói chung và hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng nói riêng thì cán bộ, cơ quan có thẩm quyền được luật quy định có toàn quyền xem xét, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, kết luận và quyết định theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà được pháp luật quy định. Chẳng hạn, khi phát hiện hành vi chặt phá rừng, thì lực lượng chức năng có trách nhiệm bảo vệ rừng tại địa phương đó có quyền xem xét, điều tra ban đầu, kết luận để quyết định Xử phạt hành chính hay truy cứu Trách nhiệm hình sự. Như vậy, tính độc lập trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử rất quan trọng thông qua các quy định về vị trí, chức năng, thẩm quyền của từng cơ quan, mà người trực tiếp xử lý là các cán bộ Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Kiểm lâm viên. Hiện nay, quan điểm của Đảng ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, thực hiện tính thượng tôn pháp luật, trong đó pháp luật thể hiện sự nghiêm minh, áp dụng có hiệu quả hay không dựa trên tính độc lập của người cán bộ khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định.
Mặc dù thực tế hiện nay, khi xử lý các vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng đặc biệt là các vụ hủy hoại rừng với diện tích lớn, liên quan đến trách nhiệm của các cơ quan, ban ngành, được dư luận xã hội quan tâm thì công tác xử lý gặp nhiều khó khăn, sự đùn đẫy trách nhiệm, chờ ý kiến lãnh đạo, chỉ đạo của cấp trên làm cho tính độc lập của người cán bộ giải quyết trực tiếp bị động. Do đó, để tạo cơ chế độc lập cho cán bộ xử lý tội phạm thì cần có định hướng, tạo cơ chế bình đẳng, xóa bỏ tiêu cực, gây khó khăn “quyền anh, quyền tôi”, “án bỏ túi” trong hoạt động, chỉ đạo, điều hành là yêu cầu cần thiết hiện nay.
Đồng thời, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, đảm bảo cho các cơ quan chức năng có trách nhiệm bảo vệ rừng có đủ điều kiện để hoàn thành nhiệm vụ. Các cơ quan đảm bảo được cấp đủ kinh phí để xây dựng trụ sở làm việc, đảm bảo được cung cấp đầy đủ trang thiết bị, phương tiện làm việc tiên tiến, phù hợp tính chất đặc thù của từng đơn vị; đảm bảo đủ kinh phí cho hoạt động điều tra, xác minh, cho hoạt động thu thập thông tin về tội phạm của cơ sở, cho hoạt động phối hợp trong công tác của các lực lượng chức năng tại địa phương, của cấp trên và cấp dưới.
Có chế độ chính sách, đãi ngộ hợp lý đối với đội ngũ cán bộ làm công tác áp dụng pháp luật, xử lý tội phạm nói chung và tội phạm về hủy hoại rừng nói riêng để động viên, nâng cao tinh thần nhiệt huyết, trách nhiệm đối với công việc.
3.2.6 Các giải pháp khác Luận văn: Giải pháp pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.
Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; tăng cường công tác quản lý của chính quyền địa phương; trong nhiệm vụ, quyền hạn được giao các cơ quan có liên quan đến công tác bảo vệ rừng cần chủ động đề ra mục tiêu, phương hướng và xây dựng kế hoạch tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực tài nguyên rừng; các cơ quan, ban ngành cần ký kết các quy chế phối hợp, phân công cụ thể và quy định rạch ròi trách nhiệm, nhằm tránh sự chồng chéo trong quá trình thực chức năng, nhiệm vụ tại địa phương và hạn chế sự đùn đầy trách nhiệm giữa các cơ quan có thẩm quyền trong công tác bảo vệ tài nguyên rừng. Đa số người dân vi phạm pháp luật về bảo vệ rừng có đời sống còn thấp, là người đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa, trình độ hiểu biết và nhận thức pháp luật còn hạn chế nên từng cơ quan cần tiến hành đổi mới phương thức và đa dạng hóa công tác tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật trong lĩnh vực tài nguyên rừng giúp cho người dân hiểu, nắm bắt được các chủ trương, chính sách của Đảng, của Nhà nước trong công tác bảo vệ rừng. Hàng năm, cần tổng kết tình hình thực hiện, thành tích đạt được, những hạn chế và nguyên nhân để đưa ra cách tuyên truyền, phổ biến mới có chất lượng, hiệu quả hơn, xem đây là nhiệm vụ trọng tâm của từng địa phương, đơn vị có trách nhiệm. Đồng thời, lồng ghép các chương trình văn hóa, tăng cường xét xử lưu động và xét xử nghiêm minh tội phạm. Các ngành, các cấp chính quyền, đặc biệt là cấp xã cần nhận thức đầy đủ, tổ chức thực hiện nghiêm túc trách nhiệm quản lý Nhà nước về rừng tại địa phương. Luận văn: Giải pháp pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.
Xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư trang thiết bị bảo vệ rừng tại địa phương có rừng như: Xây dựng các công trình phòng cháy, chữa cháy rừng; lực lượng chữa cháy rừng tại chỗ, bảo vệ rừng tại địa phương; đầu tư xây dựng các trung tâm huấn luyện, đào tạo chuyên ngành cho lực lượng bảo vệ rừng; trang bị phương tiện đáp ứng yêu cầu công tác hiện trường cho lực lượng chức năng ở các điểm nóng, phức tạp, vùng sâu, vùng xa; xây dựng cơ quan giám định, định giá tài sản và đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao để xác định diện tích, giá trị lâm sản bị thiệt hại khi có hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng xảy ra nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách của thực tiễn hiện nay.
- Tiểu kết Chương 3
Trên cơ sở thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng trên địa bàn tỉnh Bình Định tác giả đã đưa ra một số biện pháp nhằm bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng cụ thể là: Các yêu cầu bảo đảm áp dụng đúng quy định pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng; hoàn thiện quy định pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng trong đó có hoàn thiện quy định về đối tượng tác động, hoàn thiện quy định về tình tiết định khung hình phạt, hoàn thiện quy định về hình phạt của tội hủy hoại rừng; thông qua hướng dẫn, giải thích quy định của pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng giúp việc hiểu và vận dụng khi xử lý vi phạm và giải quyết các vụ án hình sự trong thực tiễn một cách chính xác; tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, vận dụng khi xử lý vi phạm và giải quyết các vụ án hình sự trong thực tiễn; nâng cao năng lực và đạo đức của cán bộ áp dụng pháp luật hình sự; tạo cơ chế độc lập cho cán bộ xử lý tội phạm, cơ sở vật chất, chế độ đãi ngộ là góp phần nâng cao năng lực tư duy logic, góp phần vào việc nâng cao hoạt động áp dụng pháp luật và một số giải pháp khác như: Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư trang thiết bị bảo vệ rừng nhằm để nâng cao hiệu quả, chất lượng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm hủy hoại rừng.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.
Rừng bên cạnh những giá trị về mặt an ninh, quốc phòng, giá trị về mặt kinh tế cao thì rừng còn có vai trò rất quan trọng trong việc giữ cân bằng hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học cho từng quốc gia trong đó có nước ta. Rừng được mệnh danh là “cỗ máy điều hòa” không khí khổng lồ, là nơi giúp điều tiết các vấn đề liên quan thời tiết, là môi trường sống cho rất nhiều giống loài động vật, thực vật và con người… cho nên, bảo vệ rừng chính là bảo vệ môi trường sống. Nhận thức được tầm quan trọng của rừng và lợi ích trong việc bảo vệ, phát triển rừng đối với sự phát triển bền vững của quốc gia, công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm hủy hoại rừng nói riêng, các tội xâm phạm về môi trường nói chung được nước ta và các quốc gia trên thế giới luôn chú trọng và ngày càng đẩy mạnh, như là một nhiệm vụ của quá trình phát triển đất nước.
Qua nghiên cứu về mặt lý luận trong quy định của pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng cũng như qua nghiên cứu, đánh giá thực trạng diễn biến rừng qua các năm; nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định này qua các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử trên địa bàn tỉnh Bình Định trong thời gian từ năm 2013 đến năm 2017, Luận văn đã làm sáng tỏ được những vấn đề lý luận và pháp luật cơ bản của tội hủy hoại rừng như: Khái niệm, các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội hủy hoại rừng qua các giai đoạn, các quy định về cấu thành tội phạm và các quy định về hình phạt. Việc phân tích các quy định về cấu thành tội phạm (các dấu hiệu định tội và các dấu hiệu định khung hình phạt) và các quy định về hình phạt của tội hủy hoại rừng được quy định tại Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015, cho thấy được ý nghĩa của việc sửa đổi, bổ sung tội hủy hoại rừng của Bộ luật Hình sự năm 2015 là rất cần thiết, rất quan trọng; giúp cho các cơ quan áp dụng pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng được dễ dàng, thuận tiện, đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn trong công tác đấu tranh phòng, chống tội này. Đồng thời, Luận văn phân biệt tội hủy hoại rừng với một số tội phạm khác để từ đó rút ra được những ưu điểm, hạn chế trong quy định của tội hủy hoại rừng. Qua đó, thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự thông qua hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội hủy hoại rừng đã được các cơ quan tiến hành tố tụng tại Bình Định áp dụng cơ bản chính xác, đảm bảo tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của các hành vi phạm tội. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số điểm bất cập, thiếu sót và hiểu sai các quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người phạm tội trong quá trình áp dụng pháp luật. Chính vì vậy, tác giả đã đưa ra một số biện pháp nhằm bảo đảm áp dụng đúng pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng cụ thể là: Các yêu cầu bảo đảm áp dụng đúng quy định pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng; hoàn thiện quy định pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng trong đó có hoàn thiện quy định về đối tượng tác động, hoàn thiện quy định về tình tiết định khung hình phạt, hoàn thiện quy định về hình phạt của tội hủy hoại rừng; thông qua hướng dẫn, giải thích quy định của pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng giúp việc hiểu, vận dụng khi xử lý vi phạm và giải quyết các vụ án hình sự trong thực tiễn một cách chính xác; tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự và vận dụng khi xử lý vi phạm và giải quyết các vụ án hình sự trong thực tiễn; nâng cao năng lực và đạo đức của cán bộ áp dụng pháp luật hình sự; tạo cơ chế độc lập cho cán bộ xử lý tội phạm, cơ sở vật chất, chế độ đãi ngộ là góp phần nâng cao năng lực tư duy logic, góp phần vào việc nâng cao hoạt động áp dụng pháp luật và một số giải pháp khác như: Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư trang thiết bị bảo vệ rừng. Luận văn: Giải pháp pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.
Tội hủy hoại rừng quy định tại Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015 so với Điều 189 Bộ luật Hình sự năm 1999 có rất nhiều điểm mới, thuận tiện hơn trong công tác áp dụng và tuân thủ pháp luật. Nhưng hiện nay, quy định chỉ được thể hiện duy nhất trong điều luật chứ chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể do vậy việc hiểu rõ, hiểu đúng, biết và nắm vững các quy định của Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015 để tránh những thiếu sót, hạn chế trong việc áp dụng và quá trình giải quyết các vụ án về tội hủy hoại rừng, nhằm mục đích đáp ứng tốt nhất yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm thông qua công tác điều tra, truy tố, xét xử là hết sức cần thiết. Trên cơ sở đánh giá đúng bản chất vụ án, quyết định hình phạt tương xứng với tính chất nguy hiểm cho xã hội, mức độ, hậu quả do tội phạm gây ra, để hình phạt không chỉ nhằm răn đe, phòng ngừa mà còn phải phát huy được tính chất giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức của công dân đối với việc tôn trọng pháp luật, nhằm giải quyết được nguyên nhân hủy hoại rừng.
Mặc dù tác giả đã cố gắng, nhưng do vấn đề nghiên cứu phức tạp, khả năng và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học của tác giả còn hạn chế nên khó tránh khỏi những thiếu sót, nhược điểm nhất định. Tác giả mong nhận được sự góp ý của các nhà khoa học và những người quan tâm đến vấn đề này cũng như mong muốn những nghiên cứu của Luận văn sẽ được các nhà lập pháp quan tâm, cân nhắc trong quá trình áp dụng nhằm hoàn thiện hơn các quy định pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng. Qua đó, nhằm hạn chế tội phạm môi trường nói chúng và tội phạm hủy hoại rừng nói riêng để quản lý, bảo vệ, thúc đẩy sự phát triển của nguồn tài nguyên rừng quý báu, vô giá của đất nước, góp phần cho sự phát triển ổn định, lâu dài và bền vững của môi trường sinh thái. Luận văn: Giải pháp pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Tội hủy hoại rừng theo pháp luật hình sự Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực tiễn pháp luật hình sự về tội hủy hoại rừng