Luận văn: Thực trạng công tác giáo dục cho HSKT tại Thuận An

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng công tác giáo dục cho HSKT tại Thuận An hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh khuyết tật tại Trung tâm Giáo dục Trẻ Khuyết tật Thuận An, tỉnh Bình Dương đáp ứng theo yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.3. Thực trạng công tác GDHN cho HSKT tại TTGDTKT Thuận An

2.3.1. Nhận thức của CBQL và GV về mức độ cần thiết của hoạt động GDHN cho HSKT tại TTGDTKT Thuận An

Nhận thức và đánh giá đúng tầm quan trọng của công tác giáo dục hướng nghiệp cho HSKT là nền tảng để CBQL và GV tiến hành GDHN và QL hoạt động giáo dục hòa nhập hiệu quả. Để tìm hiểu mức độ cần thiết của hoạt động GDHN cho HSKT tại TTGDTKT Thuận An, tỉnh Bình Dương, chúng tôi tiến hành khảo sát và phỏng vấn CBQL và GV đang công tác tại Trung tâm. Kết quả thu được như sau: Luận văn: Thực trạng công tác giáo dục cho HSKT tại Thuận An

Bảng 2.4. Nhận thức của CBQL và GV về mức độ cần thiết của công tác GDHN cho TKT tại TTGDTKT Thuận An, Bình Dương

Hình II.6. Sự cần thiết của GDHN tại trung tâm

Kết quả nghiên cứu ở bảng 2.4 cho thấy tất cả CBQL và GV được khảo sát đều nhận thấy tầm quan trọng của công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh khuyết tật, trong đó có 91,7% ý kiến của CBQL và GV cho rằng công tác này là “Rất cần thiết”. Trong quá trình phỏng vấn, cả CBQL và GV đều khẳng định chính GDHN sẽ tạo cơ hội cho các em HSKT nói chung và HSKT tại trung tâm nói riêng hiểu nhiều hơn về NN, về đặc điểm và sở thích của bản thân để từ đó các em có thể lựa chọn nghề ghiệp phù hợp và sẽ có cơ hội cống hiến và thực hiện những ước mơ của mình sau khi ra trường. Cụ thể, CBQL_2A nói rằng: “Công tác giáo dục hòa nhập cho HSKT tại là rất quan trọng và rất cần thiết, giúp cho HSKT sau khi ra trường hòa nhập cộng đồng một cách dễ dàng hơn, các em có thể tìm được việc làm phù hợp với khả năng hiện có, tự chủ hơn trong cuộc sống và nhất là em có thể trở thành một người có ích cho xã hội”. Đồng thời GVCN 1 cũng cho rằng: “Trung tâm cần phải chú trọng đến công tác GDHN và thực hiện tốt khâu TVHN cho các em HS. TVHN là khâu then chốt nhằm giúp cho các em HS hiểu chính mình, hiểu về thế giới NN và nhất là khơi dậy niềm đam mê của bản thân các em trong việc lựa chọn mình yêu thích. Tuy nhiên, hoạt động GDHN cần phải được tổ chức sớm bắt đầu từ khối lớp 6 rồi tăng dần nội dung theo từ cấp lớp và thường xuyên để đảm bảo chất lượng NN cho các em”. Nhấn mạnh tầm quan trọng của GDHN tại Trung tâm, GVCG_2 cho biết: “ Các em HSKT nếu không được GDHN tại trung tâm thì các em ra bên ngoài học nghề cũng sẽ gặp nhiều khó khăn hơn vì các thầy cô không hiểu nhiều về ngôn ngữ kí hiệu để giảng dạy cho các em.”

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Luận Văn Tốt Nghiệp Ngành Quản Lý Giáo Dục

2.3.2. Đánh giá mức độ quan trọng của các mục tiêu GDHN cho TKT Luận văn: Thực trạng công tác giáo dục cho HSKT tại Thuận An

Để tìm hiểu nhận thức của CBQL và GV về mức độ quan trọng các mục tiêu giáo dục hòa nhập cho TKT tại TTGDTKT Thuận An, tỉnh Bình Dương, chúng tôi tiến hành khảo sát và phỏng vấn CBQL, GVvà cựu HS của Trung tâm. Kết quả thu được như sau:

Bảng 2.5. Đánh giá mức độ quan trọng của các mục tiêu GDHN cho TKT

Kết quả ở bảng 2.8 cho thấy CBQL và GV đánh giá tất cả các mục tiêu GDHN cho TKT đều ở mức “rất quan trọng,” trong đó, CBQL và GV cho rằng mục tiêu quan trọng nhất của công tác giáo dục hướng nghiệp cho HSKT là để giúp các em tìm được công việc phù hợp với nguyện vọng và mong muốn (thứ bậc 1), kế đến là “Giúp HSKT hiểu được một số thông tin cơ bản về nghề và về thị trường lao động” (thứ bậc 2) và cuối cùng là “Giúp HSKT có thể học hỏi thêm các kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp để hòa nhập với cộng đồng, tự làm chủ cuộc sống” (thứ bậc 3).

Qua phỏng vấn các em HS đã ra trường cho thấy hầu như học sinh đã nhận thực được điều kiện, hoàn cảnh và năng lực cụ thể của bản thân mình và bày tỏ mong muốn tìm được công việc phù hợp. HS_3 bày tỏ: “Em luôn muốn biết về những ngành nghề hiện nay, những nghề nào là phù hợp với em nhất, những công ty nào sẽ thu nhận người khuyết tật như chúng em. Và điều quan trọng nhất là yêu cầu của công việc đó như thế nào … Vì em muốn bản thân mình sẽ chọn được nghề mình yêu thích, có được mức lương tương đối ổn định và đảm bảo sẽ có công ty thu nhận em vào làm.” Bên cạnh đó, HS_1 chia sẻ: “trước khi vào làm tại Công ty, mong ước của em là có thể tìm được một công việc phù hợp với khả năng của mình vì ý thức được mình là người khuyết tật nên xin việc vào các công ty là không dễ. Hiện nay em đang làm khâu vẽ trên sản phẩm của Minh Long 1 đúng với nghề e đã được học tại Trung tâm. Em được các thầy cô cho em học vẽ nên việc đó đã gúp cho em rất nhiều trong công việc. Em rất vui khi mình tìm được công việc phù hợp.

CBQL tại Trung tâm nhấn mạnh đến việc trang bị kỹ năng sống cho HSKT trong quá trình GDHN để giúp các em hoà nhập thành công vào đời sống xã hội. CBQL_1A chia sẻ: “Các giáo viên và nhân viên nhà trường tôi đã xin vào làm việc với môi trường là người khuyết tật thì chúng tôi luôn yêu thương và chăm sóc giáo dục tận tình. Vì chúng tôi đều thấm nhuần tư tưởng GDHN để HSKT được chấp nhận, được có giá trị, được sự hỗ trợ của bạn bè, thầy cô và có thể độc lập tự chủ trong cuộc sống. Do vậy, Nhà trường tạo điều kiện giải quyết các vấn đề đa dạng nhằm chú trọng đến việc học và rèn luyện kỹ năng của trẻ. Tất cả GV, cán bộ và nhân viên trung tâm cam kết làm việc cùng nhau tạo ra và duy trì môi trường đầm ấm có hiệu quả cho việc học tập cho HSKT”.

Như vậy, giáo dục hướng nghiệp giúp học sinh khuyết tật hiểu được một số thông tin cơ bản về nghề, về thị trường lao động, phát triển kỹ năng sống và tìm được việc làm phù hợp là các mục tiêu quan trọng mà TTGDTKT Thuận An, Bình Dương hướng đến.

2.3.3. Thực trạng thực hiện các nội dung GDHN cho học sinh khuyết tật tại Trung tâm Giáo dục Trẻ khuyết tật Thuận An Luận văn: Thực trạng công tác giáo dục cho HSKT tại Thuận An

Để tìm hiểu mức độ thực hiện các nội dung GDHN cho học sinh khuyết tật tại TTGDTKT Thuận An của CBQL và GV, chúng tôi tiến hành khảo sát và phỏng vấn cán bộ quản lý của Trung tâm, giáo viên và cán bộ quản lý một số Công ty tuyển dụng. Kết quả thu được như sau:

Bảng 2.6. Các nội dung GDHN cho học sinh khuyết tật được thực hiện tại TTGDTKT Thuận An

Kết quả từ bảng 2.9 cho thấy CBQL và GV “Rất thường xuyên” trang bị cho HSKT các nội dung GDHN bao gồm: “Giúp học sinh khuyết tật có cái nhìn bao quát và chọn lựa nghề theo đam mê, sở thích và phù hợp với khả năng của bản thân” (thứ bậc 1); “Cung cấp cho HSKT những thông tin về tình hình phát triển kinh tế của địa phương, về nhu cầu sử dụng lao động, về thế giới nghề nghiệp” (thứ bậc 2) ; “Giúp HSKT hiểu một cách hệ thống về vai trò, tính chất, nhiệm vụ, đặc điểm của nghề” (thứ bậc 3); “Hình thành cho học sinh khuyết tật khả năng tự đánh giá được những phẩm chất, năng lực thể chất và tinh thần của bản thân trong việc định hướng nghề nghiệp” (thứ bậc 4); “Giáo dục học sinh có thái độ lao động đúng với mọi ngành nghề” (thứ bậc 5) và “Cho học sinh khuyết tật tham quan và thực hành với nghề nhằm giúp TKT nắm bắt rõ và hiểu hơn về khả năng của bản thân” (thứ bậc 6).

Qua phỏng vấn, GVCN_1 cho biết: “GV thực hiện nhiệm vụ GDHN phải nhiệt tình, tâm huyết với nhiệm vụ của mình qua từng tiết giảng, qua đó, GV hướng dẫn, phát triển hứng thú NN của HS trên cơ sở phân tích những đặc điểm, những điều kiện, những hoàn cảnh riêng của từng em một.” CBQL_1A cũng nhấn mạnh: “Nội dung GDHN tại Trung tâm chú trọng đến việc giúp các em HS làm quen với những nghề cơ bản trong xã hội, những nghề có vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân, những nghề cần thiết phải phát triển ở ngay địa phương mình. Từ sự làm quen này, sẽ giúp cho các em HS trả lời câu hỏi: trong giai đoạn hiện nay, những nghề nào đang cần phát triển nhất; thái độ đối với nghề như thế nào là đúng v.v…

Qua đó hình thành ở HS những biểu tượng đúng đắn về những nghề cần phát triển”.

Mặc dù nội dung “Cho học sinh khuyết tật tham quan và thực hành với nghề nhằm giúp HSKT nắm bắt rõ và hiểu hơn về khả năng của bản thân” được CBQL và GV tại Trung tâm đán giá là thực hiện “rất thường xuyên”, tuy nhiên CBQL tại các công ty tuyển dụng cho rằng công tác hướng nghiệp tại trung tâm hiện nay cần tăng cường hơn nữa cơ hội thực hành nghề nghiệp cho HS để giúp các em tự tin khi ra trường đi làm. CBQL_1B chia sẻ: “hiện nay tại Công ty chúng tôi có các em học sinh khuyết tật của Trung tâm đang làm việc, các em rất chăm chỉ và có trách nhiệm nhưng thời gian đầu mới vào làm các em còn lúng túng, chưa thật sự tự tin và chưa hiểu rõ về văn hoá của Công ty. Do vậy, tôi nghĩ Trung tâm cần kết nối thường xuyên hơn với các công ty tuyển dụng để đưa HS có nhiều buổi tham quan học hỏi thực tế từ các ngành nghề và văn hoá làm việc của công ty mà các em có thể chọn sau này… Công ty chúng tôi luôn sẵn sàng hỗ trợ các em trong quá trình thực tập NN”.

Qua phân tích có thể thấy các CBQL và GV đã trang bị đầy đủ các nội dung GDHN cần thiết cho HSKT. Tuy vậy, trong quá trình GDHN cho học sinh khuyết tật, CBQL và GV cần gia tăng hơn nữa thời lượng và cơ hội thực hành nghề nghiệp cho các em HS.

2.3.4. Thực trạng thực hiện các hình thức GDHN tại TTGDTKT Thuận An

Để tìm hiểu mức độ thường xuyên thực hiện các hình thức GDHN cho học sinh khuyết tật tại TTGDTKT Thuận An của CBQL và GV, chúng tôi tiến hành khảo sát và phỏng vấn CBQL, GV và HS đã ra trường. Kết quả thu được như sau:

Bảng 2.7. Đánh giá mức độ sử dụng các hình thức và PP GDHN cho HSKT

Kết quả ở bảng 2.7 cho thấy CBQL và GV nhận xét các hình thức được sử dụng để GDHN cho HSKT ở TTGDTKT Thuận An là đa dạng và được thực hiện ở mức độ “rất thường xuyên”. Trong đó, GDHN “thông qua thực hành, dạy nghề phổ thông” là hình thức thực hiện nhiều nhất (thứ bậc 1); “GDHN qua các buổi sinh hoạt hướng nghiệp” (thứ bậc 2); “thông qua hoạt động dạy học các môn văn hóa” (thức bậc 3); “qua các hoạt động tham quan ngoại khóa” (thứ bậc 4) và “qua hoạt động dạy nghề phổ thông và dạy môn công nghệ” (thứ bậc 5).

Qua phỏng vấn, CBQL tại Trung tâm cho biết, hiện nay, GDHN được thực hiện thông qua các con đường như dạy học các môn học cơ bản, tổ chức hoạt động GDHN chính khóa, các hoạt động ngoại khóa, các hoạt động dạy học các môn công nghệ, các buổi sinh hoạt hướng nghiệp. Đồng thời, khai thác mối quan hệ giữa kiến thức môn học với các nghề, gắn nội dung của bài học với cuộc sống sản xuất bằng cách tích hợp, lồng ghép những kiến thức môn học với kiến thức nghề nghiệp giúp cho HS hiểu hơn về những vấn đề liên quan đến nghề trong xã hội, phát hiện và bồi dưỡng những năng khiếu cho HS. Trên cơ sở đó, giáo viên định hướng chọn nghề cho HS phù hợp với năng khiếu đó. Tuy nhiên, CBQL_1A tại Trung tâm cũng chia sẽ rằng: “đội ngũ GV thực hiện nhiệm vụ hướng nghiệp trong trung tâm còn thiếu và một số GV ít quan tâm đến việc đổi mới hình thức hoạt động GDHN. Một số giáo viên chủ nhiệm từng lớp chưa có đủ năng lực hướng nghiệp một cách bài bản, chưa có đủ các thông tin liên quan đến hướng nghiệp, chỉ tiến hành công việc qua kinh nghiệm bản thân là chính.Luận văn: Thực trạng công tác giáo dục cho HSKT tại Thuận An

Qua phỏng vấn, ý kiến của cả học sinh và giáo viên khá thống nhất rằng việc GDHN tại TTGDTKT Thuận An đã có việc lồng ghép nội dung hướng nghiệp vào các môn văn hóa, các môn học chính khóa. Mặc dù vậy, tùy theo từng môn học và nội dung của bài học mà các GV có cách lồng ghép nội dung khác nhau như tư vấn khối thi, các ngành nghề liên quan đến môn học và hướng tìm kiếm việc làm hoặc có thể kể chuyện vui về hướng nghiệp, hoặc cũng có thể đưa ra những tấm gương thành công trong công nghiệp khi họ lựa chọn đúng ngành nghề. GVCN_2 cho biết: “những cách lồng ghép này sẽ giúp cho HS dễ hình dung về những ngành nghề mà các em dự định lựa chọn sau khi tốt nghiệp THCS.” Trong đó, GVCN_1 chia sẻ: “môn vật lý được lồng ghép nội dung hướng nghiệp nhiều nhất vì trong quá trình giảng dạy, những bài học liên quan đến áp suất, cơ học, điện… là những nội dung rất gần với đời sống hàng ngày. Do vậy giáo viên dạy bộ này thường tư vấn cho các em lựa chọn những ngành học sau này liên quan đến vật lý hoặc cũng hướng cho các em học nghề như cơ khí, điện tử, điện lạnh…”

Trong các hình thức giáo dục hương nghiệp trên, mặc dù đồng tình rằng GDHN thông qua các hoạt động tham quan ngoại khóa được tiến hành thường xuyên, nhưng GV cho rằng phương cách thực hiện hình thức GDHN này cần phải lưu tâm hơn ở việc gia tăng tính thực tiễn trong quá trình cho HS đi tham quan ngoại khoá. Đặc biệt, cần tổ chức đánh giá, trao đổi kinh nghiệm sau mỗi đợt tổ chức cho HS đi tham quan. Cụ thể, GVCN_1 nhấn mạnh: “ nội dung tham quan, thực tế, học tập cho học sinh chưa sâu, chủ yếu là đi tham quan các địa phương, mô hình mà không tổ chức đánh giá, trao đổi kinh nghiệm. Sau mỗi lần đi về coi như là xong và HS học được những gì, khâu tổ chức cần thay đổi hay cải tiến như thế nào cho hiệu quả thì vẫn còn chưa được lưu tâm đúng mức”.

Qua phân tích, có thể thấy hình thức GDHN thông qua thực hành, dạy nghề phổ thông được CBQL và GV đánh giá được sử dụng thường xuyên nhất. Cả CBQL và GV khẳng định việc lồng ghép nội dung hướng nghiệp vào các môn học văn hóa là đúng đắn và phù hợp trong quá trình hướng nghiệp cho HS. Tuy nhiên lượng lượng GV chuyên trách về GDHN cho học sinh khuyết tật còn ít và một số GV vẫn đang thực hiện giáo dục hướng nghiệp cho HSKT dựa theo kinh nghiệm. Tổ chức các hoạt động tham quan ngoại khóa cũng cần đi đôi với việc kiểm tra, giám sát của CBQL tại Trung tâm và tự kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm của GV. Từ thực trang trên cho thấy, CBQL tại Trung tâm cần tạo điều kiện cho GV bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, để nâng cao chất lượng hoạt động GDHN. Đồng thời, GV cần phải nắm bắt kịp thời những NN mới hiện nay để cung cấp những thông tin cần thiết cho HS vì hiện nay GV tại trung tâm là lực lượng chính thực hiện công tác GDHN cho học sinh khuyết tật.

2.4. Thực trạng quản lý hoạt động GDHN cho TKT tại TTGDTKT Thuận An, Bình Dương đáp ứng yêu cầu đổi mới GD hiện nay Luận văn: Thực trạng công tác giáo dục cho HSKT tại Thuận An

2.4.1. Thực trạng xây dựng kế hoạch GDHN cho HSKT

Để đánh giá một cách tổng quát công tác xây dựng kế hoạch hoạt động GDHN cho học sinh khuyết tật tại TTGDTKT Thuận An, Bình Dương, người nghiên cứu đã tiến hành khảo sát, phỏng vấn và thu được kết quả như sau:

Bảng 2.8. Đánh giá của CBQL và GV về việc lập kế hoạch GDHN cho HSKT tại TTGDTKT Thuận An

Kết quả bảng 2.8 cho thấy, CBQL và GV đánh giá Giám đốc/Ban giám đốc xem việc lập kế hoạch quản lý hoạt động GDHN cho học sinh khuyết tật tại Trung tâm là một khâu vô cùng quan trọng trong quá trình quản lý và những công việc liên quan đến xây dựng kế hoạch được Giám đốc/Ban giám đốc “rất thường xuyên” thực hiện. Trong đó có các hoạt động nổi bật chẳng hạn: “Xây dựng quy trình hướng dẫn thực hiện công tác GDHN cho học sinh khuyết tật” (thứ bậc 1), “Lựa chọn một trưởng khối để xây dựng kế hoạch hoạt động GDHN” (thứ bậc 2), “Thiết lập các mục tiêu về công tác GDHN cho HSKT với các tiêu chí rõ ràng, có thể đo lường được” (thứ bậc 3), “Lập kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao năng lực GDHN học sinh khuyết tật cho CB và GV” (thứ bậc 4), “Xây dựng kế hoạch mua sắm, bảo trì trang thiết bị, CSVC phục vụ hoạt động GDHN của GV” (thứ bậc 5) và “Xây dựng chương trình, kế hoạch giáo dục hướng nghiệp phù hợp và sát với điều kiện thực tế” (thứ bậc 6). Qua phỏng vấn, đa số CBQL và GV cũng đều đánh giá cao việc thực hiện nội dung QL này. CBQL_1A chia sẻ rằng: “Ban giám đốc xây dựng chương trình, kế hoạch GDHN phù hợp và sát với điều kiện thực tế tại TTGDTKT”. nội dung: “Xác định các nguồn lực thực hiện công tác GDHN cho HSKT” (TTB 2.43) được CBQL và GV đánh giá Ban giám đốc thực hiện ở mức “bình thường”. Tuy nhiên qua phỏng vấn, một số giáo viên cho biết thêm rằng, Lãnh đạo cần xác định tốt hơn nữa các nguồn lực thực hiện hoạt động GDHN cho HSKT và không nên đòi hỏi quá mức ngoài khả năng hiện có của đơn vị.

Như vậy, trong công tác QL hoạt động GDHN học sinh khuyết tật ở TTGDTKT Thuận An, tỉnh Bình Dương, Giám đốc Trung tâm rất quan tâm đến việc quản lý hệ thống, thể hiện ở việc chú trọng xây dựng quy trình để hướng dẫn CBQL và GV làm “đúng ngay từ đầu” bắt đầu từ khâu lập kế hoạch. Đồng thời Giám đốc Trung tâm cũng quan tâm xây dựng kế hoạch với tiêu chí rõ, phù hợp với 68 điều kiện thực tiễn; phát huy tinh thần lãn hđạo của Nhóm trưởng trong công tác quản lý; quan tâm đến bồi dưỡng năng lực GV. Điều Ban giám đốc cần chú ý là việc xác định nguồn lực thực hiện hoạt động GDHN cho HSKT cần sát với đặc thù tại Trung tâm.

2.4.2. Thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch GDHN của TTGDTKT Thuận An, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng công tác giáo dục cho HSKT tại Thuận An

Kế hoạch hoạt động GDHN cho HSKT có triển khai thành công trong thực tiễn hay không tuỳ thuộc rất lớn vào khâu tổ chức thực hiện của Ban giám đốc Trung tâm. Để có cơ sở đánh giá công tác triển khai kế hoạch hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho HSKT tại TTGDTKT, tác giả đã tiến hành thu thập thông tin qua phiếu hỏi và qua phỏng vấn, kết quả như sau:

Bảng 2.9. Đánh giá của CBQL và GV về mức độ tổ chức thực hiện hoạt động quản lý GDHN cho HSKT tại TTGDTKT Thuận An

Kết quả ở bảng 2.9 cho thấy, cả CBQL và GV đánh giá Ban giám đốc thường “rất thường xuyên” thực hiện các nội dung sau: “Tổ chức cho các khối GV môn lựa chọn thực hiện hoạt động GDHN kiểu mẫu”; “Tổ chức thảo luận trong HĐSP về việc thực hiện hoạt động của một hoạt động giáo dục hướng nghiệp”; “Mời chuyên gia bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng hoạt động GDHN cho GV”; Thành lập Ban QL công tác GDHN cho HSKT và phân công các thành viên trong Ban QL rõ ràng, hợp lý, phù hợp với quyền hạn và nhiệm vụ được giao của mỗi thành viên”; “Tổ chức hoạt động dự giờ một khối trưởng cốt cán được lựa chọn để thực hiện hoạt động GDHN”; “Lựa chọn khối trưởng để triển khai các bước thực hiện hoạt động hoạt động giáo dục hướng nghiệp.” kiến của CBQL và GV qua phỏng vấn cho thấy họ khẳng định việc tổ chức thảo luận trong hội đồng sư phạm về việc thực hiện hoạt động GDHN là rất cần thiết và quan trọng và họ cũng đánh giá cao nỗ lực của Ban giám đốc trong việc yêu cầu tổ chức thực hiện hoạt động này. GVCN_1 chia sẻ: “ Trung tâm đang thực hiện tổ chức thảo luận trong HĐSP về việc triển khai hoạt động GDHN cho TKT và tôi nhận thấy rất bổ ích vì qua đó, các GV có thể chia sẽ những khó khăn, những vướng mắc trong quá trình GDHN cho các em HS tại trung tâm. Đồng thời GV sẽ học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau và cùng xây dựng mục tiêu, kế hoạch GDHN một cách khả thi nhất”. Bên cạnh đó, GV cũng đánh giá cao việc Ban giám đốc mời chuyên gia từ các trường nghề hoặc các công ty mà Trung tâm đã liên kết về bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng hoạt động GDHN cho GV về những nội dung cần thiết nhất trong từng yêu cầu của công việc tại công ty, điều này nhằm hướng đến mục tiêu HS tiếp cận nghề một cách thực tế nhất. Luận văn: Thực trạng công tác giáo dục cho HSKT tại Thuận An

Mặc dù việc “Thông báo các kế hoạch về hoạt động GDHN cho HSKT rộng rãi và công khai đến GV và HS” được và GV đánh giá Ban giám đốc thực hiện ở mức “bình thường” (TTB 2.17), tuy nhiên trong quá trình phỏng vấn một số CQQL và GV cho biết vì nhiều lý do khách quan khác nhau nên Lãnh đạo Trung tâm vẫn chưa thực sự chú trọng đối với việc thông báo các kế hoạch cụ thể chi tiết về hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho HSKT đến GV và HS thông qua các buổi sinh hoạt dưới cờ mà chỉ cú trọng đến một bộ phận nhỏ GV phụ trách công tác GDHN.

GVCN_2 cho rằng: “CBQL cần phải thông báo các kế hoạch về hoạt động GDHN cho TKT tại trung tâm một cách rộng rãi và công khai đến GV và HS để từ đó họ có sơ sở vững chắc để thực hiện kế hoạch một cách rõ ràng, hợp lý.”

Tương tự, việc “Bảo đảm đầy đủ các phương tiện, điều kiện CSVC và nguồn lực để GV thực hiện công tác GDHN” được đánh giá ở mức “bình thường” (TTB 2.22), song qua phỏng vấn, và GV cũng bày tỏ ý kiến rằng để công tác GDHN tại trung tâm tốt hơn thì cần phải đảm bảo đầy đủ các phương tiện, điều kiện CSVC và nguồn lực để GV thực hiện công tác GDHN. GVCN_2 chia sẻ: “Khi GV cho HS thực hành thao tác tìm hiểu về máy may công nghiệp mà không có máy may thực tế chỉ có máy may gia đình thì làm sao các em HS có thể nắm bắt nội dung bài dạy một cách tốt nhất. Vì vậy trang bị CSVC đầy đủ cho công tác GDHN cho TKT là rất quan trọng”.

Như vậy, có thể thấy hiện nay công tác tổ chức thực hiện QL hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho HSKT tại Trung tâm GDTKT Thuận An được Ban giám đốc ưu tiên và có chiến lược thực hiện trước các việc như: thành lập Ban QL công tác GDHN cho HSKT, tổ chức cho các khối GV môn lựa chọn thực hiện hoạt động GDHN kiểu mẫu”, tổ chức thảo luận trong HĐSP về việc thực hiện hoạt động của một hoạt động giáo dục hướng nghiệp, mời chuyên gia bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng hoạt động GDHN cho GV… Tuy nhiên Ban giám đốc cũng cần quan tâm hơn đến việc triển khai kế hoạch công khai và rộng rãi trong toàn thể CBQL, GV và HS cũng như quan tâm trang bị đầy đủ CSVC cho HSKT học tập và thực hành nghề nghiệp.

2.4.3. Thực trạng chỉ đạo thực hiện hoạt động quản lý công tác GDHN cho HSKT tại TTGDTKT Thuận An, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng công tác giáo dục cho HSKT tại Thuận An

Với mong muốn tìm hiểu thực trạng chỉ đạo thực hiện hoạt động quản lý công tác GDHN cho HSKT tại TTGDTKT Thuận An, tỉnh Bình Dương, người nghiên cứu đã tiến hành khảo sát, phỏng vấn và thu được kết quả như sau:

Bảng 2.10. Đánh giá của CBQL và GV về công tác chỉ đạo quản lý hoạt động GDHN cho HSKT tại TTGDTKT Thuận An

Kết quả bảng 2.10 cho thấy, các hoạt động cụ thể trong nội dung QL này đều được CBQL và GV đánh giá ở mức độ “thường xuyên” và “rất thường xuyên”. Trong đó, CBQL và GV đánh giá Ban giám đốc Trung tâm thực hiện rất thường xuyên các nội dung QL sau: “Chỉ đạo khối/ nhóm chuyên môn triển khai hoạt động hoạt động GDHN đáp ứng yêu cầu đổi mới GD” (thứ bậc 1); chỉ đạo “Giám sát việc thực hiện đúng quy trình tổ chức hoạt động GDHN trong nhóm/ khối trưởng” (thứ bậc 2) và “Chỉ đạo tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp” (thứ bậc 3).

Các nội dung mà CBQL và GV đánh giá HT thực hiện thường xuyên bao gồm: “Chỉ đạo CBQL và GV thống nhất mục đích và nội dung GDHN cho TKT” (thứ bậc 4); “Phát huy vai trò của đội ngũ giáo viên cốt cán trong hoạt động giáo dục hướng nghiệp của nhà trường” (thứ bậc 5); “Chỉ đạo tổ chuyên môn chú trọng nâng cao chất lượng các buổi thảo luận tìm giải pháp cho hoạt động GDHN” (thứ bậc 6) và “Phát triển mỗi nhóm/khối chuyên môn theo tinh thần “Tổ chức biết học hỏi” trong việc tổ chức GDHN” (thứ bậc 7).

Mặc dù việc phát triển mỗi nhóm/khối chuyên môn theo tinh thần “Tổ chức biết học hỏi” trong việc tổ chức GDHN được CQBL và GV nhận xét rằng Ban giám đốc Trung tâm cũng thường xuyên thực hiện. Tuy vậy, qua phỏng vấn CQBL và GV cũng bày tỏ mong muốn Lãnh đạo Trung tâm cần có những định hướng rõ ràng hơn và cần kiểm tra việc thực hiện sinh hoạt trao đổi chuyên môn của Tổ CM và GV. Một CBQL_2A cho biết: “việc phát triển mỗi tổ chuyên môn theo tinh thần “Tổ chức biết học hỏi” là một việc làm cần thiết, làm tốt điều này sẽ góp phần quan trọng trong việc gắn kết các tổ chức, các cá nhân trong cơ quan, tạo nên mối đoàn kết nội bộ cơ quan, góp phần thực hiện thành công hoạt động GDHN tại tổ chuyên môn. Song hiện nay Lãnh đạo mới dừng lại ở việc nhắc nhở, động viên và khuyến khích hơn là yêu cầu Tổ CM đề ra biện pháp triển khai thực hiện cụ thể cũng như kiểm tra xem liệu Tổ CM có thực sự triển khai hay không”. Có thể thấy, ý kiến của CBQL và GV phần nào phản ánh nghiêm túc thực trạng về công tác chỉ đạo tổ chuyên môn triển khai hoạt động GDHN của Lãnh đạo trung tâm. Luận văn: Thực trạng công tác giáo dục cho HSKT tại Thuận An

Như vậy, công tác triển khai hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho HSKT tại TTGDTKT Thuận An đã được đã được Lãnh đạo trung tâm quan tâm, chỉ đạo một cách sát sao. Trong đó, Ban giám đốc chú ý nhiều đến việc yêu cầu GV triển khai hoạt động đáp ứng theo yêu cầu đổi mới GD. Ban giám đốc cũng luôn đề cao việc giám sát quá trình thực hiện triển khai kế hoạch giáo dục hướng nghiệp cho HSKT tại Trung tâm đảm bảo thống nhất về mục đích và nội dung, đồng thời phát huy được vai trò, năng lực của từng GV để làm sao công tác GD được thực hiện hiệu quả nhất. Thế nhưng, Ban giám đốc Trung tâm cũng cần có những định hướng và yêu cầu CBQL và GV đưa ra những phương cách triển khai cụ thể hơn là chỉ động viên khuyến khích thực hiện trong một số hoạt động. Đây chính là những tồn tại chủ quan cần được khắc phục trong công tác chỉ đạo tổ chuyên môn triển khai hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho HSKT của Ban lãnh đạo trung tâm.

2.4.4. Thực trạng kiểm tra, đánh giá việc thực hiện hoạt động GDHN cho HSKT tại TTGDTKT Thuận An, tỉnh Bình Dương

Kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng trong công tác quản lý giáo dục hướng nghiệp vì nó giúp CBQL nắm rõ tình hình vận hành hoạt động GDHN, những thuận lợi và khó khăn của GV thực hiện giáo dục hướng nghiệp, những việc cần điều chỉnh và cải tiến trong công tác giáo dục hướng nghiệp cho HSKT. Với mục đích tìm hiểu thực trạng kiểm tra, đánh giá việc thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho HSKT tại Trung tâm giáo dục Trẻ khuyết tật Thuận An, tỉnh Bình Dương, người nghiên cứu đã tiến hành khảo sát, phỏng vấn và thu được kết quả như sau:

Bảng 2.11. Đánh giá của CBQL và GV về mức độ thực hiện kiểm tra đánh giá hoạt động GDHN cho HSKT tại TTGDTKT Thuận An

Kết quả bảng 2.11 cho thấy các nội dung liên quan đến công tác kiểm tra, đánh giá việc thức hiện quy trình tổ chức GDHN cho HSKT được CBQL và GV đánh giá ở mức “thường xuyên” và “rất thường xuyên”.

CBQL và GV đều nhận xét Ban giám đốc “rất thường xuyên” thực hiện việc “yêu cầu Tổ CM, GV tự kiểm tra đánh giá việc thực hiện của mình theo kế hoạch đã xây dựng” (thứ bậc 1) và “Cảnh báo, phòng tránh những sai sót có thể xảy ra trong quá trình GDHN cho HSKT” (thứ bậc 2). Luận văn: Thực trạng công tác giáo dục cho HSKT tại Thuận An

Các nội dung như: “Xây dựng các tiêu chí để ĐG mức độ hoàn thành các mục tiêu về công tác GDHN của GV và của trung tâm” (thứ bậc 3) và “Thực hiện công tác khen thưởng kịp thời, công bằng và chính xác” thì CBQL và GV đánh giá Ban giám đốc “thường xuyên” thực hiện (thứ bậc 4).

Riêng nội dụng “Kiểm tra, đánh giá việc chia sẻ kiến thức chuyên môn và đổi mới phương pháp dạy học của GV khi thực hiện hoạt động giáo dục hướng nghiệp” (thứ bậc 5) và “Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ tổ chức GDHN của các tổ chuyên môn thông qua các hoạt động dự giờ, kiểm tra thường xuyên hoặc đột xuất” (thứ bậc 6) được CBQL và GV đánh giá thực hiện ở mức “bình thường” (thứ bậc 6). Tuy nhiên, qua phỏng vấn, một số CBQL và GV chia sẻ rằng thực tế nhóm trưởng chuyên môn ít khi bị thanh tra, kiểm tra thường xuyên thông qua hình thức dự giờ. Chủ yếu họ chỉ bị thanh tra, kiểm tra hành chính với hồ sơ sổ sách. GVCN_1 cho biết: “Trung tâm có ban thanh tra nhân dân song lại hầu như không tham gia vào hoạt động thanh tra, kiểm tra, đánh giá nhóm trưởng chuyên môn. Ngoài ra hoạt động chuyên môn của trung tâm cũng chưa có tiêu chí đánh giá nhóm trưởng chuyên môn một cách rõ ràng. Vì vậy, việc đánh giá còn mang tính cào bằng, chưa khuyến khích được những nhóm trưởng chuyên môn tích cực, đồng thời cũng chưa hạn chế được những điểm chưa tích cực của họ.” Bên cạnh đó, một CBQL_2A là Nhóm trưởng chuyên môn nhấn mạnh: “Công tác kiểm tra, đánh giá việc chia sẻ kiến thức chuyên môn, đổi mới PPDH đối với GV trong quá trình triển khai hoạt động GDHN hiện nay chưa được thực hiện thường xuyên và chưa đạt hiệu quả cao. Một số thành viên trong tổ, đặc biệt là những GV có kinh nghiệm và có năng lực chuyên môn tốt ở các môn khoa học tự nhiên, thường ít chia sẻ về những kinh nghiệm của bản thân mình cho đồng nghiệp”. Đây có thể nói chính là thách thức của Nhóm trưởng chyên môn trong quá trình lãnh đạo tổ chuyên môn thực hiện nhiệm vụ giáo dục hướng nghiệp tại các tổ chuyên môn.

Kết quả phân tích trên cho thấy, Ban giám đốc TTGDTKT Thuận An, Bình Dương đã quan tâm phát huy năng lực tự quản lý của Tổ CM và GV thông qua việc thúc đẩy năng lực tự kiểm tra, giám sát và đánh giá việc thực hiện GDHN theo kế hoạch. Đồng thời, Ban giám đốc cũng chú trọng đến việc quản lý quá trình thực hiện giáo dục hướng nghiệp của CBQL và GV bằng hình thức cảnh báo, phòng tránh những sai sót có thể xảy ra trong quá trình GDHN cho HSKT hơn là trách phạt hoặc kỷ luật. Đây chính là điểm mạnh nổi bật trong công tác quản lý hoạt động GDHN cho HSKT của Ban giám đốc Trung tâm. Mặc dù vậy, Ban giám đốc cần phải chú trọng đến việc kiểm tra thường xuyên, đột xuất, dự giờ Nhóm trưởng CM và GV để nắm bắt kịp thời thực trạng thực hiện GDHN cho HSKT, cũng như động viên, khuyến khích hoặc có biệp pháp để thúc đầy GV tăng cường chia sẽ kiến thức, kinh nghiệm GDHN cho HSKT nhằm giúp cho hoạt động này của Trung tâm đạt chất lượng cao.

2.4.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện hoạt động GDHN cho HSKT tại TTGDTKT Thuận An, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng công tác giáo dục cho HSKT tại Thuận An

Nhằm tìm hiểu các yếu tổ ảnh hưởng đến công tác GDHN cho HSKT tại TTGDTKT Thuận An, tỉnh Bình Dương, người nghiên cứu đã tiến hành khảo sát, phỏng vấn CBQL, GV, PHHS và HS và thu được kết quả như sau:

Bảng 2.12. Nhận xét của CBQL và GV về những yếu tố tác động tới công tác quản lý hoạt động GDHN cho HSKT tại TTGDTKT Thuận An, Bình Dương

Kết quả bảng 2.12 cho thấy CBQL và GV đều đánh giá các yếu tố trên ảnh hưởng “quan trọng” và “rất quan trọng” đến công tác quản lý hoạt động GDHN cho HSKT tại TTGDTKT Thuận An, Bình Dương. Cụ thể:

Cả CBQL và GV đều cho rằng yếu tố ảnh hưởng quan trọng nhất đến công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho HSKT tại TTGDTKT Thuận An, Bình Dương là “Sự tham gia hỗ trợ của các tổ chức xã hội” (thứ bậc 1). Qua phỏng vấn CBQL_1A cho rằng: “HSKT là một trong những đối tượng cần nhận được sự quan tâm, chia sẻ của xã hội. Để công tác GDHN cho HSKT tại TTGDTKT Thuận An thực sự hiệu quả thì rất cần sự quan tâm nhiều hơn nữa của các cấp, các ngành, sự chung tay của toàn xã hội để giúp các em HSKT có thể được sống trong môi trường bình thường nhất và đầy đủ như những học sinh bình thường khác”.

Ba yếu tố ảnh hưởng quan trọng tiếp theo là “Năng lực điều hành của Ban giám đốc trong hoạt động của đơn vị” (thứ bậc 2); “Nhận thức của học sinh về tầm quan trọng của GDHN’ (thứ bậc 3) và “Nhận thức và năng lực GDHN của giáo viên” (thứ bậc 4). Thông qua phỏng vấn, cả CBQL và GV đều đồng tình rằng để công tác QL hoạt động GDHN đạt hiệu quả thì Ban giám đốc đóng vai trò rất quan trọng. Ban giám đốc phải am hiểu về kiến thức GDHN cho TKT và phải có năng lực quản lý hoạt động của đơn vị nói chung và hoạt động GDHN nói riêng. Do vậy, GVCN_01 nhấn mạnh : “Ban Giám đốc là phải là người tiên phong, phải là người được tập huấn kỹ về công tác GDHN cho TKT thì mới có thể quản lý hiệu quả.” Bên cạnh đó, GVCN_02 cho rằng: “Sự nhận thức của HS cũng như sự hiểu biết của CBQL về GDHN là quan trọng vì nếu HS có đủ nhận thức thì các em sẽ tiếp thu dễ dàng những chương trình, nội dung trong kế hoạch GDHN mà GV đã đề ra; cũng như các em sẽ nhận định đúng bản thân của mình cần gì, thích gì. Nếu người CBQL hiểu biết sâu rộng, có tầm nhìn xa thì sẽ thấu hiểu được sự khó khăn của các em HSKT tại trung tâm sau khi ra trường cần gì. Từ đó người CBQL sẽ xây dựng kế hoạch GDHN dài hạn, trung hạn và ngắn hạn gắn liền với thực tế của trung tâm để đảm bảo công tác GDHN tại trung tâm đạt iệu quả cao nhất”.

Trong quá trình phỏng vấn với mục đích tìm hiểu những khó khăn trong việc tổ chức GDHN cho trẻ khuyết tật tại TTGDTKT Thuận An, người nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn CBQL tại Trung tâm và họ chia sẻ rằng công tác GDHN vẫn còn một số khó khăn vì nhận thức và kỹ năng của GV về thực hiện công tác GD HSKT chưa đồng đều. Một CBQL_1B cho biết: “Với những GV đã làm lâu năm, họ ngại trong vấn đề đổi mới PP GDHN cho HSKT và họ cho rằng khi vào các công ty các em HSKT sẽ được tìm hiểu công việc mình làm sẽ dễ dàng hơn và cụ thể hơn”. Luận văn: Thực trạng công tác giáo dục cho HSKT tại Thuận An

Với nhận thức của một bộ phận GV như vậy thì cũng ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả thực hiện QL GDHN tại Trung tâm.

Ngoài ra, một yếu tố cũng không kém phần quan trọng đó là “sự hỗ trợ của phụ huynh” (thứ bậc 5), vì PHHS là người luôn bên cạnh các em HS, luôn lắng nghe và thấu hiểu và nâng đỡ các em nhiều nhất. Do vậy, những lời khuyên, những hướng dẫn liên quan đến chọn lựa nghề nghiệp của cha mẹ sẽ phần nào có tác động rất lớn đến sự quyết định học tập và lựa chọn nghề nghiệp của con cái. GVCN_01 lại cho biết: “Phụ huynh có vai trò quan trọng trong việc hướng nghiệp cho HS vì chính họ là hiểu được hoàn cảnh cụ thể, hiểu được mong ước của con và là người quyết định chính tương lai sau này cho con em mình. Do thế, trong công tác GDHN cho HS tại trung tâm, Ban giám đốc cần tổ chức các buổi gặp gỡ trao đổi giữa GV với phụ huynh và học sinh về những điều kiện không gian, thời gian và vật chất để GV nắm được những tâm tư nguyện vọng mà thực hiện công tác TVHN cho phù hợp với năng lực, sự yêu thích và đam mê NN của các em, để tránh tình trạng các em HS sẽ chuyển đổi nghề sau khi ra trường.”

Mặc dù xếp ở thứ bậc thấp hơn, nhưng các yếu tố như: “định kiến xã hội” (thứ bậc 6) và “điều kiện CSVC, môi trường hỗ trợ GDHN cho HSKT” (thứ bậc 7) cũng tác động “quan trọng” và “rất quan trọng” đến công tác quản lý GDHN cho HSKT. Chẳng hạn, qua phỏng vấn, PHSH chia sẻ là có nhiều định kiến cho rằng các em HS khi bị khuyết tật thì không làm gì được, làm sao mà có thể tự lập được, do vậy gia đình và xã hội càng phải bao bọc cho các em. PHHS_4 đã nhấn mạnh: “Những định kiến về người khuyết tật vẫn tồn tại trong xã hội. Các quan niệm tiêu cực của cộng đồng như: coi người khuyết tật là những người “đáng thương”; Người khuyết tật là những người tàn phế không thể có cuộc sống “bình thường” như những người khác; người khuyết tật đáng phải chịu số kiếp tàn tật vì họ phải “trả giá” cho việc làm xấu xa ở “kiếp trước”; đang là rào cản rất lớn trong việc đưa NKT sống hòa nhập với cộng đồng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho NKT. Ngay cả chính bản thân tôi khi dẫn con đi chơi chung với các gia đình khác, họ luôn có những cái nhìn bảo vệ, che chở chứ không như những các em bình thường khác. Đôi khi tôi lại ngại cho con tiếp xúc với thế giới bên ngoài nhiều vì con tôi và họ không có ngôn ngữ giao tiếp giống nhau nên sẽ gặp nhiều khó khăn trong cuộc nói chuyện”.

Có thể thấy công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho HSKT chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố khách quan (định kiến xã hội, sự tham gia hỗ trợ của các tổ chứ xã hội) và chủ quan (năng lực điều hành của Giám đốc/Ban giám đốc, nhận thức của học sinh về công tác hướng nghiệp, năng lực thực hiện GDHN của GV, sự hỗ trợ của PHSH, điều kiện CSVC của Trung tâm). Cho nên, trong công tác quản lý giáo dục hướng nghiệp, Ban giám đốc cần quan tâm đến những yếu tố này và có những chiến lược, kế hoạch và sự tác động phù hợp để phát huy những ảnh hưởng tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực (khách quan và chủ quan) nhằm mang lại hiệu quả cao trong việc quản lý giáo dục hướng nghiệp tại Trung tâm.

2.5. Đánh giá chung về thực trạng QL hoạt động GDHN HSKT tại TTGDTKT Thuận An Bình Dương. Luận văn: Thực trạng công tác giáo dục cho HSKT tại Thuận An

2.5.1. Thực trạng GDHN cho HS khuyết tật tại TTGDTKT Thuận An

Dựa trên những kết quả thực trạng đã được phân tích, người nghiên cứu nhận thấy CBQL và GV nhận thức công tác GDHN cho HSKT vô cùng quan trọng và cần thiết nhằm giúp các em tìm được công việc phù hợp với nguyện vọng và mong muốn và chính bản thân các em có thể hòa nhập cộng đồng, tự nuôi sống bản thân và tự chủ hơn trong cuộc sống. Mặc dù vậy, CBQL & GV cũng nhấn mạnh rằng hoạt động GDHN cần phải thực hiện từ khối lớp 6 đến khối 9, rồi tăng dần nội dung phù hợp theo từ cấp lớp.

Trong nội dung chương trình giáo dục hướng nghiệp cho HSKT, CBQL và GV đã giúp cho HSKT có cái nhìn bao quát và chọn lựa nghề theo đam mê, sở thích và phù hợp với khả năng của bản thân, Đồng thời cung cấp cho HSKT những thông tin về tình hình phát triển kinh tế của địa phương, về nhu cầu sử dụng lao động, về thế giới nghề nghiệp và thường xuyên để đảm bảo chất lượng NN cho các em. CBQL và GV đã thực hiện đa dạng các nội dung và hình thức GDHN, tuy vậy, cần tiếp tục quan tâm chú ý xây dựng những nội dung và hình thức phù hợp thu hút HS trong công tác tư vấn hướng nghiệp và cần thiết hỗ trợ cho HS thích ứng với cuộc sống và sự thay đổi liên tục trong thời đại toàn cầu hóa.

Tại Trung tâm, GV là người chịu trách nhiệm chính về chất lượng GDHN nhưng phần lớn vẫn đang thực hiện công tác này dựa trên kinh nghiệm. Do vậy, Giám đốc/ Ban giám đốc Trung tâm cần phải lên kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao năng lực giáo dục hướng nghiệp HSKT cho CB và GV định kỳ và thường xuyên.

2.5.2. Thực trạng QL GDHN tại Trung tâm GDTKT Thuận An Luận văn: Thực trạng công tác giáo dục cho HSKT tại Thuận An

Dựa trên kết quả khảo sát thực trạng QL hoạt động GDHN của Giám đốc/Ban giám đốc TTGDTKT Thuận An cho thấy Giám đốc QL điều hành hoạt động GDHN theo quá trình và cách tiếp cận quản lý bước đầu phù hợp với yêu cầu đổi mới GD hiện nay. Thực hiện QL theo đầy đủ các bước: từ lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo đến kiểm tra, giám sát hoạt động GDHN cho HSKT tại trung tâm và có tâm nhìn hệ thống trong quá trình quản lý công tác GDHN cho TKT tại Trung tâm. Cụ thể:

  • Trong khâu lập kế hoạch, Giám đốc/Ban giám đốc thể hiện ở việc chú trọng xây dựng quy trình để hướng dẫn CBQL và GV làm “đúng ngay từ đầu”, quan tâm xây dựng kế hoạch với tiêu chí rõ, phù hợp với điều kiện thực tiễn; phát huy tinh thần lãn hđạo của Nhóm trưởng trong công tác quản lý; quan tâm đến bồi dưỡng năng lực GV.
  • Giám đốc/Ban giám đốc ưu tiên thực hiện trước các việc như: thành lập Ban QL công tác giáo dục hướng nghiệp cho HSKT, tổ chức cho các khối GV môn lựa chọn thực hiện hoạt động GDHN kiểu mẫu”, tổ chức thảo luận trong HĐSP về việc thực hiện hoạt động của một hoạt động giáo dục hướng nghiệp, mời chuyên gia bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng hoạt động GDHN cho GV.
  • Giám đốc/Ban giám đốc cũng chú ý yêu cầu GV triển khai hoạt động đáp ứng theo yêu cầu đổi mới GD và luôn đề cao việc giám sát quá trình thực hiện triển khai kế hoạch giáo dục hướng nghiệp cho HSKT tại Trung tâm đảm bảo thống nhất về mục đích và nội dung, đồng thời phát huy được vai trò, năng lực của từng GV để làm sao công tác GD được thực hiện hiệu quả nhất; thúc đẩy năng lực tự kiểm tra, giám sát và đánh giá việc thực hiện GDHN theo kế hoạch; cảnh báo, phòng tránh những sai sót có thể xảy ra trong quá trình GDHN cho HSKT hơn là trách phạt hoặc kỷ luật.

Tuy vậy, Giám đốc/Ban giám đốc cần thông báo các kế hoạch về hoạt động GDHN cho HSKT rộng rãi và công khai đến GV và HS. Điều Ban giám đốc cần chú ý là việc xác định nguồn lực thực hiện hoạt động GDHN cho HSKT cần sát với đặc thù tại Trung tâm. Ban giám đốc Trung tâm cũng cần có những định hướng và yêu cầu CBQL và GV đưa ra những phương cách triển khai cụ thể hoạt động GDHN cho HSKT hơn là chỉ động viên khuyến khích thực hiện trong một số hoạt động. Bên cạnh đó, Giám đốc/ Ban giám đốc cần phải chú trọng đến việc kiểm tra thường xuyên, đột xuất, dự giờ Nhóm trưởng chuyên môn và GV để nắm bắt kịp thời thực trạng thực hiện GDHN cho HSKT, cũng như động viên, khuyến khích hoặc có biệp pháp để thúc đầy GV tăng cường chia sẽ kiến thức, kinh nghiệm GDHN cho HSKT nhằm giúp cho hoạt động này của Trung tâm đạt chất lượng cao. Ngoài ra, Giám đốc/ Ban giám đốc cần quan tâm trang bị đầy đủ CSVC cho HSKT học tập và thực hành nghề nghiệp, đồng thời kêu gọi sự ủng hộ từ các ân nhân, các tổ chức xã để bổ sung, trang bị thêm các thiết bị nhằm phục vụ tốt hơn cho hoạt động GDHN HSKT.

2.5.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng QL hoạt động GDHN cho học sinh KT Luận văn: Thực trạng công tác giáo dục cho HSKT tại Thuận An

Có rất nhiều yếu tố chi phối đến hoạt động QL công tác GDHN cho HSKT tại TTGDTKT Thuận An, Bình Dương. Trong đó, sự tham gia hỗ trợ của các tổ chức xã hội là một nguyên nhân quan trọng. Chính các tổ chức xã hội luôn có những hoạt động trợ giúp HSKT, từ trợ gúp mang tính nhân đạo sang trợ giúp phát triển với việc ban hành nhiều chính sách bảo đảm an sinh cho HSKT, thúc đẩy chuyển biến tích cực trong công tác đào tạo nghề, tạo sinh kế phù hợp giúp HSKT tự tin, tự lập trong cuộc sống. Năng lực điều hành và kiến thức của Ban giám đốc về GDHN cho HSKT cũng quyết định đến sự thành công trong công tác QL hoạt động này. Tiếp đến nhận thức, kiến thức của HS cũng không kém phần quan trọng trọng vì công tác GDHN đối tượng chủ yếu hướng đến là HS. Các em phải có đủ nhận thức thì mới hiểu hết về bàn thân mình, hiểu về thế giới bên ngoài và đặc biệt là nhận biết mình cần phải làm gì và muốn gì.

Ngoài ra, nhận thức và năng lực của GV về công tác giáo dục hướng nghiệp cũng tác động rất lớn đến hiệu quả QL hoạt động GDHN cho HSKT. Thực trang tại Trung tâm hiện nay cho thấy GV ít được tham gia những tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu về GDHN, GV ít được hướng dẫn tập huấn về quy trình thực hiện GDHN, cũng như các PP sử dụng trong công tác GDHN cũng chính là những khó khăn làm cho công tác GDHN gặp nhiều cản trở. Đồng thời trợ giúp HSKT trong hoạt đông tìm kiếm việc làm còn gặp một số khó khăn như vẫn còn sự phân biệt đối xử với HSKT, mức trợ cấp còn thấp và hạn chế trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Các yếu tố khác như sự hỗ trợ của PHHS và điều kiện CSVC tại Trung tâm cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của công tác QL hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho HSKT tại Trung tâm GDTKT Thuận An, Bình Dương.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

Qua khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng QL hoạt động GDHN cho HSKT tại TTGDTKT Thuận An Bình Dương đã thể hiện Ban giám đốc trung tâm đã bước đầu thực hiện công tác QL đáp ứng yêu cầu đổi mới GD hiện nay. Giám đốc TTGDTKT Thuận An, tỉnh Bình Dương thực hiện khá tốt công tác lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra giám sát việc thực hiện GDHN của CBQL và GV tại Trung tâm.

Tuy nhiên, trong công tác quản lý của mình, Giám đốc/Ban giám đốc thể hiện chưa đi sâu vào công tác chuyên môn và nghiệp vụ, do vậy GV thực hiện GDHN chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, chưa đề cao công tác tập thể chia sẻ và học hỏi lẫn nhau về công tác GDHN cho HSKT. Việc xác định nguồn lực thực hiện hoạt động GDHN cho TKT chưa sát với đặc thù tại Trung tâm. Công tác kiểm tra thường xuyên, đột xuất việc triển khai thực hiện GDHN chưa được thực hiện thường xuyên. Chính những hạn chế trên đã phần nào làm ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động GDHN ở trung tâm.

Để nâng cao chất lượng thực hiện QL công tác GDHN cho HSKT tại TTGDTKT Thuận An thực sự đáp ứng yêu cầu đổi mới GD hiện nay, Ban giám đốc/Giám đốc Trung tâm cần có hệ thống các biện pháp quản lý toàn diện, chặt chẽ và phù hợp với thực tiễn tại Trung tâm. Dựa vào kết quả đã khảo sát và những đánh giá ban đầu về thực trạng công tác QL hoạt động GDHN TTGDTKTThuận An, tỉnh Bình Dương và kết hợp cùng lý luận đã được nghiên cứu sẽ giúp chúng tôi đề xuất những biện pháp hợp lý, mang tính khả thi để góp phần nâng cao hiệu quả QL hoạt động GDHN tại trung tâm. Luận văn: Thực trạng công tác giáo dục cho HSKT tại Thuận An

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý giáo dục HSKT tại Thuện An

One thought on “Luận văn: Thực trạng công tác giáo dục cho HSKT tại Thuận An

  1. Pingback: Luận văn: Tổng quan giáo dục trẻ khuyết tật tại Thuận An

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464