Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo quy định của pháp luật hiện hành dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1 Quyền yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Vợ chồng yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là một trong những quy định thể hiện sự bình đẳng giữa vợ chồng về tài sản. Sự thừa nhận quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đã cho phép vợ chồng có quyền sở hữu tài sản riêng của mỗi người, từ đó nhằm mục đích củng cố quan hệ vợ chồng đồng thời tôn trọng, bảo đảm tự do ý chí cá nhân trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt khối tài sản chung.
Theo quy định tại Điều 224 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì tài sản chung được chia theo yêu cầu của chủ sở hữu chung hoặc theo yêu cầu của người có quyền yêu cầu một trong các chủ sở hữu chung thực hiện nghĩa vụ với mình mà người đó không có tài sản riêng [32]. Việc yêu cầu được chia tài sản chung của chủ sở hữu chung thì không cần có lí do chính đáng. Đối với yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân là một trường hợp của chia tài sản thuộc sở hữu chung. Khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định:
“Khi hôn nhân còn tồn tại, trong trường hợp vợ, chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có quyền thỏa thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải được lập thành văn bản; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết” [31].
Với quy định trên, tài sản chung chỉ được chia khi có lí do chính đáng và theo thỏa thuận của vợ chồng hoặc khi vợ chồng không thỏa thuận được thì mới yêu cầu tòa án chia. Như vậy, người yêu cầu chia tài sản chung chỉ có thể là vợ hoặc chồng hoặc cả hai khi có lí do chính đáng, ngoài ra không có chủ thể nào khác có quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, kể cả người có quyền lợi liên quan đến việc chia tài sản chung của vợ chồng (chẳng hạn như chủ nợ của bên vợ hoặc chồng). Quy định này tương tự quy định của Bộ luật Dân sự Pháp khi chỉ cho phép vợ hoặc chồng có quyền yêu cầu tòa án tách riêng tài sản chung. Điều 1447 Bộ luật Dân sự Pháp quy định chủ nợ không có quyền yêu cầu mà chỉ có quyền kháng cáo trong trường hợp tòa án quyết định việc chia tách tài sản có hại cho quyền lợi của họ. Luận văn: Thực trạng chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Chúng tôi nhận thấy, việc không thừa nhận quyền khởi kiện của người thứ ba trong việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật hiện hành là hoàn toàn phù hợp theo quy định của pháp luật. Điều này được lý giải bởi yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là một quyền gắn liền với nhân thân của vợ chồng, xuất phát trên cơ sở quan hệ hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, nếu áp dụng quy định này vào thực tiễn vẫn còn vấn đề bất cập cần phải có sự vận dụng linh hoạt hơn. Theo luật hiện hành, khi một bên vợ, chồng có nghĩa vụ tài sản riêng thì nghĩa vụ tài sản đó cần được thực hiện bằng tài sản riêng của họ, tài sản chung của vợ chồng không được sử dụng cho việc thanh toán các khoản nợ này trừ khi vợ chồng có thoả thuận (Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000). Một trường hợp được đặt ra là, rất có thể người có nghĩa vụ tài sản không có hoặc không đủ tài sản riêng để thanh toán các khoản nợ và vợ chồng đã không có thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chia tài sản chung để trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản. Trong trường hợp này, nếu không thừa nhận quyền yêu cầu của người có quyền (chủ nợ) về chia tài sản chung của vợ chồng để lấy phần tài sản của người có nghĩa vụ thanh toán nợ, thì quyền lợi của họ được đảm bảo như thế nào? [18, tr.27]. Thực tế đã cho thấy, trường hợp như trên xảy ra rất nhiều và người thứ ba hầu như không có cơ hội khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho mình. Có thể thấy, đây là một hạn chế thiếu sót của Luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành và cần thiết phải bổ sung theo hướng đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng cho cả hai bên. Tham chiếu Bộ luật Dân sự Pháp cho thấy quyền yêu cầu tách riêng tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là quyền của vợ, chồng, chủ nợ của riêng vợ hoặc chồng không có quyền yêu cầu tách riêng tài sản của người vợ chồng mắc nợ. Tuy nhiên Bộ luật Dân sự Pháp có quy định nếu trong trường hợp việc chia tách tài sản riêng đã được Tòa án quyết định có hại cho quyền lợi của họ, thì họ có quyền kháng án với tư cách người thứ ba kháng án theo những điều kiện do Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Pháp luật hiện hành của Việt Nam chưa quy định trường hợp này. Do đó pháp luật cần dự liệu quyền yêu cầu của người thứ ba cũng như quyền kháng án trong trường hợp vợ chồng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
2.2 Các lý do chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Luận văn: Thực trạng chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật hiện hành chỉ phát sinh khi có những điều kiện sau:
- Có yêu cầu của một bên vợ hoặc một bên chồng hoặc yêu cầu của cả hai vợ chồng;
- Việc chia tài sản chung được thực hiện trong thời kỳ hôn nhân;
- Có lý do nhất định.
Trong ba điều kiện trên, việc xem xét các lý do để dẫn tới việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là quan trọng, bởi việc chia tài sản chung sẽ ảnh hưởng đến khối tài sản chung hợp nhất, ảnh hưởng đến kinh tế gia đình, quyền và lợi ích của tất cả các thành viên trong gia đình. Chính vì vậy, chỉ trong những trường hợp cần thiết thì việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mới được tiến hành. Pháp luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành quy định vợ chồng có thể yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo những lý do sau:
- Đầu tư kinh doanh riêng
Phát triển kinh tế theo định hướng thị trường với xu thế hội nhập toàn cầu là yếu tố thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển. Để theo kịp với tiến trình phát triển kinh tế với các nước trên thế giới, Nhà nước ta đã ban hành những chính sách khuyến khích công dân tự do kinh doanh phát triển kinh tế. Quyền tự do kinh doanh của cá nhân được ghi nhận ở văn bản có giá trị pháp lý cao nhất là Hiến pháp. Điều 57 Hiến pháp 1992 quy định “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật”. Ngoài ra, quyền tự do còn được cụ thể hóa và được ghi nhận bởi các quy định của pháp luật chuyên ngành khác như Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp,… Do vậy, theo quy định này mọi công dân đều có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp mà không phân biệt giới tính nên vị trí và vai trò của phụ nữ hiện nay đã được nâng cao kể cả trong hoạt động kinh doanh. Luận văn: Thực trạng chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Đầu tư kinh doanh trong xã hội hiện nay đã giúp cho nhiều cá nhân và gia đình có cơ hội phát triển kinh tế gia đình. Tuy nhiên, kinh doanh là một hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro cao bởi sự tác động của rất nhiều yếu tố nhất là môi trường cạnh tranh khốc liệt trong giai đoạn hội nhập kinh tế thế giới. Ngoài ra, khi vợ chồng tiến hành hoạt động đầu tư kinh doanh thì sẽ bị ràng buộc với nhau bởi quan hệ tài sản, quyết định của vợ chồng không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của bản thân người đó mà còn ảnh hưởng đến lợi ích của tất cả các thành viên trong gia đình. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã kế thừa và phát triển quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 cho phép vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Quy định này là điểm tiến bộ so với Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 và là quy định rất cần thiết. Thứ nhất, đứng ở góc độ của nhà đầu tư, vợ hoặc chồng rất cần vốn để đầu tư kinh doanh; nhưng toàn bộ tài sản trong thời kỳ hôn nhân phần lớn là tài sản chung của vợ chồng, khi định đoạt tài sản chung phải có ý kiến của cả hai người. Vì vậy chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân sẽ tạo cơ hội cho vợ chồng có tài sản riêng để có thể “chớp thời cơ” trong đầu tư kinh doanh và đảm bảo lợi ích cho các thành viên trong gia đình. Thứ hai, ở góc độ gia đình, việc quy định như vậy sẽ bảo đảm được sự ổn định của các thành viên trong gia đình tránh khỏi tác động tiêu cực của hoạt động đầu tư kinh doanh gây ra. Thứ ba, ở góc độ bình đẳng giới, việc quy định vợ chồng đều có quyền yêu cầu chia vì mục đích kinh doanh đã tạo ra sự bình đẳng giữa vợ và chồng đối với tài sản chung.
Liên quan đến việc chia tài sản chung khi vợ chồng đầu tư kinh doanh, pháp luật của các nước trên thế giới cũng có quy định những biện pháp khác nhau để hạn chế tác động tiêu cực của hoạt động kinh doanh tới gia đình. Chẳng hạn Điều 1491 Bộ luật Dân sự và thương mại Thái Lan quy định “nếu người vợ hoặc chồng bị tuyên bố phá sản thì “Sin Somros” được chia theo quy định của pháp luật để từ ngày có tuyên bố” [2]. Mặc dù, theo pháp luật Thái Lan việc chia tài sản chung của vợ chồng chỉ vào thời điểm vợ chồng bị tuyên bố phá sản, tức là khi đã phát sinh hậu quả. Tuy nhiên, quy định này còn có điểm chưa hợp lý, bởi lẽ tài sản chung được đem đầu tư kinh doanh lợi tức thu được từ hoạt động đó được nhập vào khối tài sản chung và vợ chồng cùng hưởng thì không có lý do gì khi phát sinh hậu quả, tài sản lại được đem chia để một bên trả nợ. Như vậy, sẽ dễ dàng dẫn đến lợi dụng chia tài sản chung để trốn tránh thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
- Thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng Luận văn: Thực trạng chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Khi tham gia vào các giao dịch dân sự, bên cạnh việc hưởng các quyền dân sự thì các chủ thể cũng phải thực hiện những nghĩa vụ dân sự. Điều 280 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:
Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác [32].
Theo đó, nghĩa vụ dân sự riêng của vợ chồng có thể xác định những nghĩa vụ như sau:
- Các khoản vay nợ mà vợ, chồng vay không vì nhu cầu hoặc lợi ích gia đình trong thời kỳ hôn nhân.
- Nghĩa vụ về tài sản gắn liền với nhân thân vợ, chồng như các khoản chi phí cho con riêng của mình, chi phí cho người mà vợ, chồng là người giám hộ của người đó theo quy định của pháp luật dân sự và luật Hôn nhân và Gia đình.
- Nghĩa vụ cấp dưỡng mà vợ, chồng phải thực hiện đối với các thành viên trong gia đình theo quy định của Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
- Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại phát sinh từ hành vi trái pháp luật của vợ, chồng.
- Nghĩa vụ về tài sản của vợ, chồng khi một bên phải thi hành bản án hoặc quyết định của toà án.
- Nghĩa vụ về tài sản liên quan đến các giao dịch dân sự mà vợ hoặc chồng được hưởng lợi riêng.
- Thực hiện các nghĩa vụ về tài sản khác mà mình được hưởng lợi theo quy định của pháp luật như nghĩa vụ về tài sản do nhận thừa kế phát sinh từ quyền nhận thừa kế…
Về nguyên tắc khi vợ hoặc chồng có nghĩa vụ dân sự riêng phải thực hiện thì phải dùng tài sản riêng của mình để thanh toán các nghĩa vụ riêng đó. Tài sản chung của vợ chồng được hình thành và phát triển chỉ nhằm mục đích bảo đảm cho nhu cầu chung của các thành viên trong gia đình hoặc những nghĩa vụ chung của vợ chồng, nên nếu tài sản riêng của người đó không có hoặc không đủ và vợ chồng không thể thỏa thuận dùng tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng thì vợ chồng có quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Việc yêu cầu chia tài sản này nhằm mục đích lấy phần tài sản của mình trong khối tài sản chung của vợ chồng để thanh toán các nghĩa vụ dân sự riêng đó. Đây đồng thời là cơ sở phân định rõ quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong việc quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản trong gia đình.
- Có lý do chính đáng khác Luận văn: Thực trạng chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Thực tế cho thấy cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều lý do khác nhau cần thiết để vợ, chồng yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân chứ không chỉ có hai lý do nêu trên. Để đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế và nhu cầu của vợ chồng, pháp luật Hôn nhân và Gia đình không tiên lượng được tất cả các lý do để chia tài sản, do đó đã dự liệu trường hợp vợ chồng “có lý do chính đáng khác” thì có thể thỏa thuận hoặc yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Quy định này đã tạo ra sự linh hoạt trong việc giải quyết các trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Dù với lý do gì thì việc vợ chồng chia tài sản phải thật cần thiết vì nó có ảnh hưởng đến tài sản chung của vợ chồng, ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của các thành viên trong gia đình. Nếu vợ, chồng thấy việc chia tài sản là cần thiết, họ có lý do chính đáng và hợp pháp để chia thì pháp luật nên thừa nhận quyền chia tài sản chung của họ.
Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp khi đưa ra lý do chia tài sản đều được pháp luật chấp nhận. Lý do vợ, chồng đưa ra phải là lý do chính đáng bởi vì sẽ có nhiều cặp vợ chồng lợi dụng việc chia tài sản để trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản hoặc tẩu tán tài sản. Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 20/01/1988 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 có quy định:
Trong khi hôn nhân còn tồn tại, Điều 18 cho phép chia tài sản chung của vợ chồng nếu có lý do chính đáng (như vợ chồng tính tình không hợp nhưng con cái đã lớn nên không muốn ly hôn mà chỉ muốn ở riêng, do đó, một bên hoặc cả hai bên xin chia tài sản thì tài sản được chia như khi xử về ly hôn [40].
Với nội dung của quy định trên cho thấy sự phù hợp với phong tục tập quán, lối sống của người phương Đông, thể hiện đúng bản sắc của dân tộc ta, luôn luôn vì sự yên ấm, ổn định của gia đình, vì lợi ích của con cái nên không muốn ly hôn mà chỉ yêu cầu chia tài sản chung. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 kế thừa và phát triển trên cơ sở của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 lại không quy định cụ thể thế nào là “lý do chính đáng khác”, do vậy không có cơ sở để xem xét lý do chia tài sản chung mà vợ chồng đưa ra có chính đáng hay không, dẫn đến việc áp dụng pháp luật của tòa án có thể tùy tiện. Cùng một lý do mà vợ chồng đưa ra nhưng có tòa án quyết định chia tài sản chung của vợ chồng nhưng có tòa án không chấp nhận lý do này.
Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân luôn mang lại những hậu quả pháp lý nhất định, do vậy không chỉ pháp luật Việt Nam mà pháp luật của các nước khác trên thế giới đều quy định những căn cứ chặt chẽ để vợ chồng làm căn cứ chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Bộ luật Dân sự và thương mại Thái Lan quy định rất nhiều trường hợp là căn cứ để vợ chồng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, như vợ hoặc chồng bị tuyên bố phá sản; khi vợ hoặc chồng bị tuyên là không có năng lực hành vi dân sự và người kia không thích hợp để chăm sóc; nếu tài sản chung do người kia quản lý ở trong tình trạng có thể dẫn đến phá huỷ…Có thể thấy căn cứ chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân của Bộ luật Dân sự và thương mại Thái Lan rất rộng, nó không chỉ gồm những căn cứ về mặt tài sản mà gồm cả những căn cứ về mặt nhân thân nữa. Để phù hợp với yêu cầu thực tiễn đặt ra, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 cần bổ sung quy định hướng dẫn cụ thể về vấn đề này. Luận văn: Thực trạng chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp khi đưa ra lý do chia tài sản đều được pháp luật chấp nhận. Lý do vợ, chồng đưa ra phải là lý do chính đáng bởi lẽ sẽ có nhiều cặp vợ chồng lợi dụng việc chia tài sản để trốn tránh thực hiện nghĩa vụ về tài sản. Trong trường hợp đó theo yêu cầu của người có quyền và lợi ích liên quan thì việc chia tài sản chung của vợ chồng sẽ bị toà án tuyên vô hiệu. Điều 11 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP quy định các trường hợp vợ chồng chia tài sản chung nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ tài sản sẽ bị tuyên bố vô hiệu bao gồm: nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng; nghĩa vụ bồi thường thiệt hại; nghĩa vụ thanh toán khi bị Tòa án tuyên bố phá sản doanh nghiệp; nghĩa vụ nộp thuế, tài chính đối với Nhà nước; nghĩa vụ trả nợ,… Quy định này đã tạo ra một hành lang pháp lý để bảo vệ lợi ích chính đáng của người thứ ba có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng, đồng thời góp phần tích cực vào việc đấu tranh phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật.
Mặc dù có những quy định khác nhau ở pháp luật mỗi nước, song nhìn chung pháp luật các nước đều ghi nhận hai điều kiện để chỉ tài sản đó là có lý do chính đáng và có yêu cầu toà án (trừ trường hợp pháp luật cho phép họ tự thoả thuận). Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có tác động đến các thành viên trong gia đình, ít nhiều cũng để lại những tác động không nhỏ đến gia đình, đặc biệt trách nhiệm với gia đình sau khi chia tài sản chung. Do vậy pháp luật cần phải có những căn cứ cụ thể làm cơ sở cho việc chia tài sản chung và chống lại hành vi vi phạm pháp luật, nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản.
2.3 Các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Luận văn: Thực trạng chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
2.3.1 Vợ chồng thoả thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
- Hình thức của thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ khi đã chia phần nào ảnh hưởng đến chế độ tài sản chung của vợ chồng, quyền và lợi ích của các thành viên trong gia đình và lợi ích của người thứ ba trong các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của vợ chồng. Chính vì những hậu quả về mặt pháp lý và về mặt xã hội của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nên pháp luật quy định thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân bắt buộc phải được lập thành văn bản. Quy định này là cần thiết vì những lý do sau đây:
- Văn bản thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để giải quyết tranh chấp tài sản giữa hai vợ chồng khi có mâu thuẫn xảy ra;
- Nó là cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp liên quan đến quyền lợi của người thứ ba trong các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của vợ chồng;
- Đây là căn cứ để xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng để khôi phục lại chế độ tài sản chung của vợ chồng (nếu có);
- Là cơ sở pháp lý nhằm ngăn chặn các hành vi chia tài sản chung nhằm mục đích trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản với bên thứ ba trong các giao dịch dân sự hoặc các hành vi vi phạm pháp luật.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 cũng như khoản 1, 2 Điều 6 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP quy định thỏa thuận chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân phải được lập thành văn bản nhưng không quy định cụ thể một hình thức văn bản nhất định. Vì vậy, trên thực tế văn bản thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân rất đa dạng, có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như văn bản viết tay, văn bản đánh máy, fax, telex,… và tất cả các hình thức này đều được pháp luật chấp nhận.
- Nội dung của thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Bên cạnh việc tuân thủ quy định về mặt hình thức của văn bản thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, Luật Hôn nhân và Gia đình còn đặt ra các yêu cầu về mặt nội dung của thỏa thuận chia tài sản chung. Điều 6 Nghị định 70/2001/NĐ-CP quy định văn bản thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân phải ghi rõ các nội dung sau:
- Lý do chia tài sản; Luận văn: Thực trạng chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
- Phần tài sản chia (bao gồm động sản, bất động sản, các quyền tài sản), trong đó cần mô tả chi tiết những tài sản nào được chia hoặc giá trị phần tài sản được chia;
- Phần tài sản còn lại không chia (nếu có);
- Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung;
- Các nội dung khác (nếu có).
Ngoài ra, văn bản thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập văn bản và phải có chữ ký của cả hai vợ chồng, văn bản phải có người làm chứng hoặc được công chứng, theo yêu cầu của vợ chồng hoặc yêu cầu của pháp luật.
Để có cơ sở giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa vợ và chồng và các tranh chấp khác liên quan đến lợi ích của người thứ ba trong các giao dịch dân sự thì văn bản thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập văn bản. Việc quy định như trên là tất yếu vì đây chính là một trong những căn cứ xác định thời điểm phát sinh hiệu lực của thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
Nhằm đảm bảo văn bản thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có giá trị pháp lý thì văn bản đó còn phải có chữ ký của cả hai vợ chồng. Chữ ký là của cả hai vợ chồng thể hiện sự thống nhất và mặt ý chí của cả hai bên về việc thỏa thuận chia tài sản chung. Nếu văn bản thiếu chữ ký của bất kỳ người nào thì đều không có giá trị pháp lý. Quy định này nhằm đảm bảo lợi ích chính đáng của vợ chồng và các thành viên trong gia đình, tránh trường hợp phá tán tài sản chung của vợ chồng.
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 quy định văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải được Tòa án công nhận, còn theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định văn bản thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có thể được công chứng (hoặc không) tùy theo yêu cầu của vợ chồng, trừ trường hợp pháp luật quy định một số trường hợp văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng bắt buộc phải được công chứng thì văn bản đó phải được công chứng theo đúng quy định (chẳng hạn văn bản thỏa thuận liên quan đến bất động sản). Như vậy, có thể thấy rằng Luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành rất tôn trọng quyền tự định đoạt của vợ chồng đối với tài sản chung của họ. Vợ chồng có quyền thỏa thuận những tài sản nào được chia, phần tài sản nào không chia; tỷ lệ phần chia cho mỗi bên; các yêu cầu khác mà không trái với quy định của pháp luật. Luận văn: Thực trạng chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Về cơ bản các thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân chứa đựng tương đối đầy đủ các nội dung cần thiết theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, việc không quy định thỏa thuận chia tài sản chung phải theo một mẫu văn bản thống nhất, do đó trên thực tế có rất nhiều nội dung không được đề cập. Chẳng hạn như lý do chia tài sản chung, qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy không có thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nào được công chứng tại các văn phòng công chứng ghi nhận lý do chia vì vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc các lý do khác, mặc dù đây là điều khoản bắt buộc. Chính điều này đã tạo ra sự “tùy tiện” để vợ chồng có cơ hội chia tài sản chung không theo đúng quy định của pháp luật, giả sử như trường hợp vợ chồng mâu thuẫn về mặt tình cảm nhưng không muốn ly hôn và không muốn chung sống với nhau mà chỉ muốn chia tài sản chung. Trong những trường hợp như vậy, luật cần dự liệu cần thiết bắt buộc phải ghi nhận lý do chia tài sản chung trong văn bản thỏa thuận để tránh việc gián tiếp thừa nhận chế độ ly thân và đảm bảo đúng bản chất của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
Một vấn đề nữa là trong thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không ghi nhận hậu quả sau khi chia tài sản chung là một điều khoản bắt buộc, trong đó có quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau và đối với gia đình sau khi chia tài sản chung. Dù là chia một phần hay chia toàn bộ tài sản thì trách nhiệm của vợ chồng đối với gia đình và đối với nhau vẫn tồn tại trên cơ sở quan hệ nhân thân chưa chấm dứt theo quy định của pháp luật. Thực tế cho thấy, việc thực hiện nghĩa vụ sau khi chia tài sản chung phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí của vợ, chồng. Nếu trong trường hợp sau khi chia tài sản chung mà một trong hai bên vợ chồng rơi vào hoàn cảnh khó khăn, túng thiếu và bên kia không quan tâm, chăm sóc thì giải quyết như thế nào? Hoặc trường hợp sau khi chia tài sản chung và mỗi người ở riêng mỗi nơi, con cái ai sẽ chịu trách nhiệm nuôi dạy, hoặc yêu cầu tòa án giải quyết xác định quyền nuôi con sau khi chia tài sản chung thì tòa án có được thụ lý vụ việc và hướng xử lý như thế nào? Với những vấn đề vừa đề cập, luật cần xem xét và có hướng quy định cho phù hợp với thực tiễn.
- Thời điểm có hiệu lực của thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là một quá trình phức tạp và tốn kém thời gian. Tuy nhiên, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không phải luôn luôn có hiệu lực pháp luật. Do đó, việc xác định thời điểm có hiệu lực của thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân rất quan trọng và cần thiết, vì hai lý do sau: thứ nhất, đây là cơ sở pháp lý để xác định khi nào vợ (chồng) có quyền sở hữu tài sản chung đã chia; thứ hai, căn cứ vào thời điểm có hiệu lực của văn bản thỏa thuận chia tài sản chung, vợ (chồng) đã được chia tài sản không cần có sự bàn bạc, thỏa thuận với người còn lại đối với tài sản đã chia. Luận văn: Thực trạng chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Tùy từng trường hợp cụ thể mà việc xác định thời điểm có hiệu lực của thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là khác nhau. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 không quy định cụ thể về hiệu lực của văn bản thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Để giải quyết về vấn đề hiệu lực này, Điều 7 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP quy định hiệu lực của thỏa thuận chia tài sản chung gồm một số trường hợp cụ thể như sau:
- Trong trường hợp văn bản thỏa thuận chia tài sản của vợ chồng không xác định rõ thời điểm có hiệu lực của việc chia, thì hiệu lực được tính từ ngày, tháng, năm lập văn bản;
Thực tế có rất nhiều cặp vợ chồng muốn chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhưng vì một vài lý do nào đó, trong văn bản thỏa thuận chia không xác định thời điểm có hiệu lực của văn bản thỏa thuận chia dẫn đến văn bản này không có hiệu lực thi hành. Để đảm bảo khả năng thực thi của văn bản thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, pháp luật yêu cầu văn bản thỏa thuận phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập biên bản để có cơ sở giải quyết nếu có mâu thuẫn xảy ra.
- Thời điểm có hiệu lực được xác định theo thỏa thuận của vợ chồng ghi trong văn bản thỏa thuận chia tài sản chung.
Trên cơ sở tôn trọng tuyệt đối quyền định đoạt của chủ sở hữu tài sản, pháp luật Hôn nhân và Gia đình cho phép vợ chồng được quyền thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đồng nghĩa họ có quyền ấn định thời điểm thỏa thuận chia đó có hiệu lực pháp luật. Có nghĩa vợ chồng được quyền ấn định ngày, tháng, năm làm phát sinh hiệu lực của thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mà không cần có sự can thiệp của bất kỳ chủ thể nào. Việc cho phép vợ chồng có quyền ấn định ngày làm phát sinh hiệu lực của văn bản thỏa thuận chia sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho vợ chồng có sự chuẩn bị kỹ về mọi mặt sau khi chia tài sản chung và chủ động thực hiện đúng kế hoạch đã đề ra. Tuy nhiên, thực tế đã có một số cặp vợ chồng lợi dụng quyền năng này để chia tài sản chung nhằm trốn tránh việc thực hiện các nghĩa vụ dân sự hoặc các hành vi vi phạm pháp luật. Vì vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các bên và nhằm mục đích ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật, pháp luật cần quy định văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nhất thiết phải có công chứng, chứng thực của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định.
Trường hợp văn bản thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được công chứng, chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng thì thời điểm có hiệu lực của văn bản được tính như sau:
- Nếu trong văn bản thỏa thuận xác định rõ ngày có hiệu lực thì thời điểm có hiệu lực được tính từ ngày xác định trong văn bản thỏa thuận đó. Luận văn: Thực trạng chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
- Nếu trong văn bản không xác định ngày có hiệu lực thì thời điểm có hiệu lực được tính từ ngày văn bản đó được công chứng, chứng thực.
Trong trường hợp văn bản thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật như chia quyền sử dụng đất, chia nhà ở,… thì hiệu lực được tính từ ngày văn bản đó được công chứng, chứng thực.
Tóm lại, thời điểm có hiệu lực của thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là một yếu tố rất quan trọng để văn bản thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có hiệu lực pháp lý, do đó cần thiết phải tuân thủ theo đúng các yêu cầu của pháp luật về nội dung và hình thức của văn bản thỏa thuận.
2.3.2 Vợ chồng yêu cầu Tòa án chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Trên thực tế không phải mọi trường hợp các cặp vợ chồng có thể tự chia tài sản chung theo thỏa thuận giữa hai người. Có thể vì một lý do nào đó làm nảy sinh những bất đồng, mâu thuẫn mà vợ chồng không thể tự mình thực hiện việc chia tài sản chung. Trong những trường hợp như vậy, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 cho phép vợ chồng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án có thể căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành để giải quyết những nguyện vọng chính đáng của vợ, hoặc chồng. Một trong những căn cứ pháp lý quan trọng để giải quyết là nguyên tắc chia đôi tài sản chung. Đa phần hiện nay các Tòa án giải quyết chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đều áp dụng nguyên tắc này để chia. Tuy nhiên, hiện nay pháp luật hiện hành lại không ghi nhận nguyên tắc này. Hồi chiếu Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 cho thấy đã có ghi nhận nguyên tắc này trong quá trình giải quyết các vụ việc về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân như khi giải quyết các vụ án ly hôn. Điều 18 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 quy định: “Khi hôn nhân còn tồn tại, nếu một bên yêu cầu và có lý do chính đáng thì có thể chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 42 của Luật này”.
Như vậy, Tòa án phải căn cứ vào quy định tại Điều 42 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 để giải quyết việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Theo đó, tài sản của vợ chồng được chia như sau:
- Tài sản riêng của bên nào thì vẫn thuộc quyền sở hữu của bên ấy;
- Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, nhưng có xem xét một cách hợp lý đến tình hình tài sản, tình trạng cụ thể của gia đình và công sức đóng góp của mỗi bên; Luận văn: Thực trạng chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
- Trong trường hợp vợ chồng do còn sống chung với gia đình mà tài sản của bản thân vợ chồng không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình, căn cứ vào công sức của người được chia đóng góp vào việc duy trì và phát triển khối tài sản chung, cũng như vào đời sống chung của gia đình. Lao động trong gia đình được coi như lao động sản xuất;
- Khi chia tài sản, phải bảo vệ quyền lợi của người vợ và của người con chưa thành niên, bảo vệ lợi ích chính đáng của sản xuất và nghề nghiệp [29].
Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 không ghi nhận nguyên tắc này để tòa án có căn cứ xử lý. Có thể đây là điểm “mở” để tòa án có thể căn cứ vào từng điều kiện cụ thể của từng trường hợp để giải quyết yêu cầu hay có thể do các nhà làm luật “bỏ sót” trong quá trình làm luật. Vì vậy, thực tiễn giải quyết rất nhiều khó khăn, vướng mắc. Khi thụ lý vụ việc, một số tòa án lúng túng không biết phải căn cứ vào đâu để giải quyết hợp lý yêu cầu của vợ chồng? Xuất phát từ đặc trưng của tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất, trong đó tỷ lệ phần quyền sở hữu tài sản của mỗi bên vợ chồng trong khối tài sản chung là ngang bằng nhau. Vì vậy, thiết nghĩ pháp luật hiện hành nên bổ sung nguyên tắc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân áp dụng theo nguyên tắc chia tài sản chung khi ly hôn theo quy định tại Điều 95 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
- Khoản 2 – Điều 95 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định:
Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên hoặc đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình;
Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch.
Vì vậy, pháp luật hiện hành cần bổ sung nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có ý nghĩa thiết thực trong công tác xét xử của tòa án nhằm đảm bảo lợi ích chính đáng của vợ chồng.
2.4 Phương thức chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Luận văn: Thực trạng chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 chỉ ghi nhận vợ chồng có quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, nhưng không quy định có thể chia một phần hay toàn bộ tài sản. Kế thừa và phát triển Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã quy định cụ thể hơn về phương thức chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Điều 29 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định vợ chồng có quyền thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án khi không thỏa thuận được việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên điều 29 Luật HNGĐ năm 2000 không nêu rõ cụ thể phương thức chia như thế nào? Xem xét Điều 30 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 có quy định: “Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã được chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người; phần tài sản còn lại không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng”. Với quy định này có thể hiểu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng được quyền chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung.
2.4.1 Chia một phần tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Chia một phần tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có nghĩa là chỉ chia một lượng nhất định trong khối tài sản chung của vợ chồng. Khối tài sản chung của vợ chồng được xác định theo Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000:
Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận [31].
Vợ chồng có quyền thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án chỉ chia một lượng tài sản nhất định trong toàn bộ khối tài sản được xác định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Thực tế có rất nhiều gia đình khi yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân chỉ chia một phần tài sản hoặc một nhóm tài sản nhất định. Có thể vợ chồng chỉ yêu cầu chia một phần tài sản là quyền sử dụng đất hoặc chỉ chia phần vốn góp vào một doanh nghiệp để sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ hoặc chỉ chia một khoản tiền, một khoản đá quý, kim cương, ngoại tệ hoặc chia một loại giấy tờ có giá…, còn các tài sản khác như nhà ở, công xưởng sản xuất hoặc tư liệu sản xuất khác thì không chia, vẫn thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng. Chẳng hạn có cặp vợ chồng có mong muốn sau: “Vợ chồng tôi có một căn hộ cho thuê, mua bằng tiền của hai vợ chồng. Tôi muốn bán nó để chia tài sản chung với chồng nhưng không phải ly dị thì có được không? [25]”. Như vậy, trong tình huống trên ngoài một căn hộ cho thuê, cặp vợ chồng này có thể còn có nhiều tài sản chung khác nhưng họ chỉ muốn chia căn hộ cho thuê mà không phải chia phần tài sản còn lại. Vì vậy, chúng tôi thấy rằng thông thường giá trị phần tài sản được chia chỉ chiếm một lượng nhất định trong tổng giá trị tài sản chung của vợ chồng. Việc chia một phần tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được vợ chồng sử dụng phổ biến trong cuộc sống, vì giải pháp này phù hợp với mong muốn chính đáng của vợ chồng, vừa bảo đảm khả năng thực hiện nghĩa vụ về tài sản của vợ hoặc chồng, đảm bảo được lợi ích chung của gia đình vừa có thể duy trì tính bền vững của gia đình.
Khi chia một phần tài sản chung, vợ chồng có thể thỏa thuận chia phần tài sản đem chia sẽ giao cho một bên vợ, chồng hoặc có thể chia đều cho vợ chồng hoặc chia theo thỏa thuận khác. Đối với thỏa thuận chia một phần tài sản thường ít có khả năng thực hiện việc chia để nhằm mục đích trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ về tài sản vì phần tài sản đem chia chỉ chiếm rất ít so với khối lượng tài sản chung hợp nhất của vợ chồng. Tuy nhiên, việc chia một phần tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân vẫn phải đảm bảo yêu cầu theo quy định của pháp luật.
2.4.2 Chia toàn bộ tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Luận văn: Thực trạng chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Trong trường hợp không thực hiện chia một phần tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, pháp luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành cho phép vợ chồng có thể yêu cầu chia toàn bộ tài sản chung.Toàn bộ được hiểu là: “Tất cả những thành phần, bộ phận hợp thành một khối, một chính thể” [51]. Chia toàn bộ tài sản chung là chia tất cả tài sản chung hợp nhất mà vợ chồng tạo dựng được trong thời kỳ hôn nhân theo Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 tính đến thời điểm có yêu cầu chia.Việc chia toàn bộ tài sản chung được đặt ra trong trường hợp vợ chồng cần một số lượng lớn tài sản để mở rộng quy mô đầu tư kinh doanh hoặc người vợ, chồng có nghĩa vụ về tài sản quá lớn với người thứ ba nên nếu chỉ chia một phần tài sản chung thì không đủ khả năng thực hiện. Vì vậy, chia toàn bộ tài sản chung là giải pháp được lựa chọn trong tình huống này. Tuy nhiên, thực tế không phải vợ chồng nào cũng yêu cầu chia toàn bộ tài sản chung vì việc chia này có thể gặp nhiều rủi ro không mong muốn nên sẽ ảnh hưởng rất lớn đến mối quan hệ giữa vợ chồng và đời sống chung của gia đình, do đó chỉ trong trường hợp thực sự cần thiết vợ chồng mới sử dụng giải pháp chia toàn bộ.
Khi chia toàn bộ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nếu vợ chồng thỏa thuận thì có thể chia đều tài sản cho mỗi bên hoặc chia cho một bên vợ, chồng có tất cả tài sản hiện có đem chia. Việc chia toàn bộ trong những tình huống này cần phải được cân nhắc vì có thể mục đích chia nhằm trốn tránh việc thực hiện các nghĩa vụ về tài sản đối với người khác. Giả sử trước đó người chồng có nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ với chủ nợ, nhưng do không muốn thực hiện nghĩa vụ này người chồng đã thỏa thuận với chia toàn bộ tài sản chung cho người vợ. Như vậy, quyền lợi của người thứ ba trong trường hợp này không được bảo đảm. Do đó, tương tự việc chia một phần tài sản chung, việc chia toàn bộ tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo thỏa thuận hay do Tòa án quyết định phải tuân theo quy định của pháp luật để tránh tính trạng vợ chồng trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ về tài sản với bên thứ ba.
2.5 Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
2.5.1 Về nhân thân Luận văn: Thực trạng chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là một trường hợp chia đặc biệt, do những nhu cầu chính đáng mà vợ chồng tiến hành chia tài sản chung khi hôn nhân vẫn còn tồn tại. Theo quy định của pháp luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành, sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, mặc dù có sự phân chia tài sản giữa vợ và chồng nhưng quan hệ vợ chồng vẫn không chấm dứt, vì vậy các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng không hề thay đổi, vợ chồng tiếp tục phải thực hiện những quyền và nghĩa vụ đó. Trên cơ sở đó, việc xác định hậu quả pháp lý về nhân thân sau khi chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân cần phải xem xét quyền và nghĩa vụ về nhân thân đối với nhau, quyền và nghĩa vụ về nhân thân đối với gia đình, đặc biệt là đối với con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động, tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự.
- Thứ nhất, quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
Quyền và nghĩa vụ về nhân thân của vợ chồng đối với nhau được pháp luật Hôn nhân và Gia đình quy định xuất phát từ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp. Các quyền và nghĩa vụ này xuất phát từ các chuẩn mực đạo đức, cách cư xử mang tính tự nhiên và truyền thống vốn đã có từ trước, được coi như nghĩa vụ về đạo đức mà sau này luật quy định thành các quy tắc xử sự chung. Quyền và nghĩa vụ về nhân thân của vợ chồng đối với nhau là những giá trị tinh thần gắn kết giữa hai người, không tính được bằng tài sản và không thể chuyển giao cho người khác, nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu tình cảm trong đời sống chung của vợ chồng. Vì vậy, sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, quyền và nghĩa vụ về nhân thân của vợ chồng vẫn tiếp tục chịu sự điều chỉnh từ Điều 18 đến Điều 26 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 vì quan hệ vợ chồng không chấm dứt.
Điều 18 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 ghi nhận vợ chồng có quyền và nghĩa vụ chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Tình nghĩa vợ chồng là nền tảng quan trọng để đảm bảo xây dựng một gia đình hạnh phúc, hòa thuận và đảm bảo tính bền vững trong quan hệ hôn nhân. Đây không chỉ là yêu cầu của pháp luật mà còn là những giá trị đạo đức tồn tại từ xưa đến này mà vợ chồng cần phải tôn trọng trong đời sống chung. Không chỉ dừng lại ở việc thực hiện tình nghĩa của vợ chồng đối với nhau, pháp luật còn đặt ra yêu cầu vợ chồng phải tôn trọng nhau, giữ gìn uy tín, danh dự, nhân phẩm cho nhau. Vợ chồng cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận và giúp đỡ nhau trong mọi hoàn cảnh để phát huy khả năng, thế mạnh của từng người góp phần hoàn thành những nhiệm vụ, vai trò của mỗi người đối với gia đình nói riêng và xã hội nói chung. Đồng thời cấm vợ, chồng có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau.Việc quy định vợ chồng có nghĩa vụ chung thủy, chăm sóc, giúp đỡ nhau cũng như tôn trọng danh dự, uy tín, nhân phẩm cho nhằm đảm bảo quyền bình đẳng giữa vợ, chồng trong các quan hệ nhân thân, ngăn chặn tình trạng vợ hoặc chồng có quan hệ nam nữ bất chính với người khác và ngăn ngừa các hành vi bạo lực trong gia đình. Luận văn: Thực trạng chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Vợ chồng có quyền bình đẳng với nhau về mọi mặt trong gia đình. Hiện nay, quyền bình đẳng giữa vợ và chồng được Bộ luật Dân sự năm 2005 và Luật HN&GĐ điều chỉnh, cụ thể Điều 40 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “vợ chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đinh và trong quan hệ dân sự, cùng nhau xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc bề vững” [32], và Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định: “vợ, chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình” [31]. Quy định này thể hiện sự bình đẳng của vợ chồng khi cùng nhau bàn bạc, quyết định các vấn đề liên quan đến nhân thân và về tài sản của vợ chồng và của mỗi thành viên trong gia đình, liên quan đến đời sống chung của gia đình. Quyền bình đẳng này thể hiện ở quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong việc nuôi dạy con cái; về nghĩa vụ thực hiện chính sách dân số – kế hoạch hóa gia đình; về quyền được lựa chọn nghề nghiệp, học tập và tham gia các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau,… Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 còn ghi nhận vợ chồng có quyền tự do lựa chọn nơi cư trú, không bị ràng buộc bởi tập quán và địa giới hành chính. Vợ chồng có thể lựa chọn nơi cư trú hoàn toàn dựa vào hoàn cảnh thực tế, tính chất hoạt động nghề nghiệp, khả năng tài chính của mỗi người… Ngoài ra, trong trường hợp vợ chồng vì lí do công việc mà không thể cùng lựa chọn một nơi cư trú thì vợ chồng hoàn toàn có thể tự lựa chọn nơi cư trú riêng mà không ảnh hưởng tới việc thực hiện nghĩa vụ đối với nhau và với gia đình.
Sau khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, quyền đại diện cho nhau giữa vợ, chồng vẫn tồn tại. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định vợ chồng có quyền đại diện cho nhau theo ủy quyền hoặc theo pháp luật, vợ chồng có thể ủy quyền cho nhau xác lập, thực hiện và chấm dứt các giao dịch mà theo quy định cần có sự đồng ý của cả vợ và chồng. Đồng thời, vợ, chồng cũng có thể đại diện cho nhau khi một bên mất năng lực hành vi dân sự mà bên kia có đủ điều kiện làm người giám hộ hoặc một bên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà bên kia được tòa án chỉ định là người đại diện.
Bên cạnh việc quy định quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau, sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trách nhiệm liên đới của vợ, chồng đối với giao dịch do một bên thực hiện vẫn phát sinh trong trường hợp nghĩa vụ phát sinh do một bên vợ, chồng tham gia giao dịch dân sự hợp pháp nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt chung của gia đình. Thông thường các trong trường hợp này đã được vợ chồng mặc nhiên thỏa thuận nên vợ chồng phải chịu trách nhiệm bằng tài sản chung hợp nhất vì các giao dịch này vì mục đích gia đình chứ không phải vì lợi ích riêng của vợ hoặc chồng.
Thực tế cho thấy, nhiều cặp vợ chồng yêu cầu chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân nhằm mục đích tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh riêng vì không muốn ảnh hưởng đến lợi ích gia đình, mặt khác đảm bảo đời sống ổn định của gia đình, đây là điểm tích cực cần khuyến khích. Nếu sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mà vợ chồng tiếp tục sống chung thì việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ về nhân thân đối với nhau không có thay đổi nhiều so với trước khi chưa chia tài sản chung, việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ này là tương đối đầy đủ. Bởi khi sống chung, họ sẽ dễ dàng hiểu được tâm tư, nguyện vọng của nhau nên có thể cùng nhau trao đổi, góp ý để tránh được những mâu thuẫn, hiểu lầm có thể gây ngụy hại đến đời sống chung của gia đình. Nếu do hoàn cảnh mà sau đó mỗi người sống riêng mỗi nơi thì việc thực hiện quyền và nghĩa vụ về nhân thân đối với nhau lúc này có bị ảnh hưởng hay không? Khi vợ chồng cư trú mỗi người một nơi sau khi chia tài sản chung thì sự quan tâm, giúp đỡ, chăm sóc lẫn nhau sẽ gặp nhiều khó khăn. Điều này phần nào đã phản ánh những rạn nứt trong quan hệ vợ chồng. Nếu vậy có gián tiếp thừa nhận chế định ly thân như quy định của một số quốc gia trên thế giới hay không? Ly thân được hiểu là một chế định pháp luật và là một thuật ngữ pháp lý để chỉ trường hợp vợ chồng phải chung sống riêng rẽ (biệt cư) và tách bạch về tài sản (chế độ biệt sản) mà pháp luật của một số quốc gia trên thế giới và hệ thống pháp luật Hôn nhân và Gia đình dưới chế độ cũ của Nhà nước ta quy định [9, tr.120]. Nhà triết học lỗi lạc Ph.Ăngghen trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước đã cho rằng vấn đề ly thân có nguồn gốc từ tôn giáo, do ảnh hưởng nặng nề tư tưởng của Giáo hội thiên chúa [1]. Vì vậy, chế định ly thân và việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có một số điểm khác nhau sau: Luận văn: Thực trạng chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Một là, ly thân đặt vợ chồng vào tình trạng sống tách biệt nhau, không có đời sống chung cùng với nhau nhưng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không như vậy, sau khi chia tài sản chung vợ chồng có quyền sống chung hay riêng là quyền của vợ chồng pháp luật không thể can thiệp. Nếu sau khi chia mà vợ chồng có ở riêng thì chỉ là trường hợp cá biệt, không phổ biến [21, tr.22].
Hai là, ly thân dưới chế độ cũ chỉ dựa vào yếu tố “lỗi” để làm căn cứ Tòa án giải quyết cho ly thân nhưng chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân lại dựa vào 3 trường hợp là đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng và có lý do chính đáng khác. Đây là những lý do chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không dựa vào bất kỳ một lỗi nào của vợ chồng và hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của cuộc sống.
Ba là, khi áp dụng chế độ ly thân với vợ chồng sẽ đặt tài sản chung vào tình trạng riêng rẽ, chấm dứt quan hệ tài sản chung giữa vợ và chồng. Tuy nhiên chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì chỉ chia một phần hoặc toàn bộ theo yêu cầu của vợ chồng, nên chế độ tài sản chung giữa họ vẫn còn tồn tại, vợ chồng vẫn cùng nhau chăm lo đời sống chung của gia đình phù hợp với tình cảm và nguyện vọng của bản thân.
Như vậy, cần khẳng định rằng pháp luật Hôn nhân và Gia đình không quy định chế độ ly thân, việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân không phải là gián tiếp quy định chế định ly thân. Tuy nhiên khi không cùng sống chung với nhau, tình cảm vợ chồng dễ phai nhạt, dễ có quan hệ ngoài hôn nhân, lúc này tính bền vững của gia đình không thực hiện được nên mục đích xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc khó đảm bảo. Vấn đề này khá phức tạp nên pháp luật cần dự liệu các quy định cụ thể để tránh các hậu quả xấu xảy ra trong quan hệ vợ chồng nói riêng và quan hệ gia đình nói chung.
- Thứ hai, quan hệ nhân thân của vợ và chồng đối với gia đình sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không chấm dứt quan hệ hôn nhân, đồng thời không làm thay đổi quyền và nghĩa vụ về nhân thân của vợ chồng đối với gia đình, đặc biệt là đối với con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động, tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự. Khoản 1 Điều 34 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định:
Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội [31]. Luận văn: Thực trạng chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Nuôi dạy con không chỉ là nghĩa vụ của vợ chồng đối với con mà còn là nghĩa vụ của họ trước Nhà nước và xã hội. Cha mẹ phải thương yêu, chăm lo cho sự phát triển của con về thể chất, trí tuệ, đạo đức để giúp con trở thành con ngoan của gia đình, một công dân có ích cho xã hội. Thực tiễn cho thấy, có rất nhiều bậc làm cha làm mẹ do chạy theo của vòng xoáy của công việc, mải lo kiếm tiền nên nghĩ rằng chu cấp tiền bạc đầy đủ cho con là đủ mà quên rằng đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến con đường sa ngã của con. Vì vậy, cha mẹ thực hiện quyền và nghĩa vụ nhân thân đối với con không chỉ bằng vật chất là đủ mà cần phải có tình cảm thể hiện tình thương yêu, chăm sóc thông qua từng hành động, cử chỉ của bản thân để vừa có tác dụng mang tình thương yêu đến với con, vừa giáo dục con trở thành một người có ích cho gia đình, cộng đồng và xã hội.
Nếu sau khi tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mà vợ chồng tiếp tục sống chung với các con thì việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ nhân thân được thực hiện tương đối dễ dàng, ít gây xáo trộn và ảnh hưởng so với trước khi chưa chia tài sản chung. Nhưng nếu sau khi chia mỗi người sống riêng mỗi nơi thì việc thực hiện quyền và nghĩa vụ nhân thân của cha mẹ đối với con sẽ gặp nhiều khó khăn. Bởi việc chăm sóc, giáo dục con cái không phải là ngày một ngày hai mà là một quá trình lâu dài thông qua hành vi, cách xử sự hàng ngày của cha mẹ đối với con. Do chỉ còn sống với một bên cha hoặc bên mẹ nên sự quan tâm của người còn lại đối với con sẽ hạn chế, phần nào ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của trẻ [36]. Vấn đề đặt ra là sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mà vợ chồng sống riêng thì con chưa thành niên sẽ ở với ai? Có thể vợ chồng thỏa thuận con chưa thành niên ở với cha hoặc với mẹ. Nếu vợ chồng không thể thỏa thuận được, có tranh chấp và yêu cầu Tòa án giải quyết thì Tòa án có thụ lý không? Nếu thụ lý vụ án thì Tòa án có quyền ra quyết định hoặc bản án giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng và bên còn lại có nghĩa vụ cấp dưỡng không? Vấn đề này cần được pháp luật xem xét và xác lập quy phạm pháp luật để điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn hiện nay.
Tóm lại, sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì quan hệ nhân thân giữa vợ chồng đối với nhau và đối với gia đình không chấm dứt trên cơ sở tính chất cộng đồng của hôn nhân, ngay cả trong trường hợp vợ chồng thỏa thuận ở riêng thì quan hệ vợ chồng cũng không chấm dứt trước pháp luật. Vì vậy, việc chia tài sản chung của vợ chồng không làm thay đổi quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng.
2.5.2 Về tài sản Luận văn: Thực trạng chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Hậu quả pháp lý về tài sản của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân chính là sự thay đổi tình trạng các khối tài sản của vợ chồng. Điều này dẫn đến việc thay đổi quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng đối với nhau, đối với gia đình và người thứ ba có liên quan. Vì vậy, việc xác định đúng các quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng có ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm đảm bảo lợi ích chính đáng của mỗi bên, của gia đình và người thứ ba.
- Thứ nhất, quan hệ về tài sản của vợ chồng đối với nhau sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Như đã phân tích tại mục 2.4, tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể chia một phần hoặc toàn bộ tùy theo sự thỏa thuận của vợ chồng. Do đó, hậu quả pháp lý về tài sản trong hai trường hợp chia có những điểm khác nhau.
Trường hợp chia một phần tài sản chung thì phần tài sản đã chia và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản này sẽ thuộc sở hữu riêng của mỗi người theo quy định tại Điều 30 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 và khoản 1 Điều 8 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP. Chẳng hạn: vợ chồng có rất nhiều tài sản chung khác nhau nhưng chỉ muốn bán một ngôi nhà là tài sản trong khối tài sản chung để chia. Họ thỏa thuận sau khi bán ngôi nhà sẽ chia đều số tiền cho mỗi bên. Số tiền được chia từ việc bán ngôi nhà, vợ chồng có thể độc lập quyết định việc dùng số tiền đó đem cho người khác vay để lấy lãi, hoặc đầu tư vào chứng khoán,… Tiền lãi, lợi tức phát sinh từ số tiền trên là tài sản riêng của mỗi bên. Đối với những tài sản này, với tư cách là chủ sở hữu vợ chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Một trường hợp được đặt ra là, tài sản riêng đã được chia từ khối tài sản chung có bị hạn chế quyền định đoạt theo quy định tại khoản 5 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000? Khoản 5 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định:
“Trong trường hợp tài sản riêng của vợ hoặc chồng đã được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải được sự thỏa thuận của cả vợ chồng” [31]. Có quan điểm cho rằng, trong trường hợp này vợ chồng không bị ràng buộc vì họ đã có thỏa thuận trước về việc chia tài sản đó [21, tr.23]. Chúng tôi đồng ý với quan điểm trên, việc không bị ràng buộc theo quy định tại khoản 5 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 ngoài lý do vợ chồng đã có thỏa thuận trước về việc chia tài sản, còn bởi vì tài sản đem chia chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng giá trị tài sản chung của vợ chồng nên ít gặp trường hợp tài sản chung không còn hoặc gia đình rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Luận văn: Thực trạng chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Phần tài sản còn lại không chia vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng theo quy định Điều 30 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định. Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP quy định cụ thể hơn: “Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản chung còn lại vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng”. Đối với phần tài sản chung này, quyền và nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng không thay đổi do chế độ sở hữu chung chưa chấm dứt. Khối tài sản chung của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có thể bao gồm:
- Phần tài sản chung còn lại chưa chia và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản này;
- Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung, tặng cho chung sau khi đã chia tài sản chung là tài sản chung hợp nhất do quan hệ nhân thân vẫn còn tồn tại;
Quyền sử dụng mà vợ chồng có được sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân căn cứ theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, Điều 24 và Điều 25 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP. Chẳng hạn, đất mà vợ chồng có được do cho chung, thừa kế chung sau thời kỳ hôn nhân,…
Quyền sử dụng đất mà mỗi bên vợ chồng có được sau khi chia tài sản chung do được Nhà nước giao, giao khoán, hoặc cho thuê,… Căn cứ theo Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, Điều 24 và Điều 25 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP thì tài sản này là tài sản chung của vợ chồng nếu tài sản này được chia không liên quan đến lý do chia tài sản chung của vợ chồng. Ví dụ: Vợ chồng yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để nhằm mục đích đầu tư kinh doanh riêng và sau khi chia tài sản chung họ đã sử dụng vào mục đích ban đầu thì quyền sử dụng đất này là tài sản riêng. Nhưng nếu vợ chồng yêu cầu chia một phần tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng với người khác (trả nợ, bồi thường thiệt hại,…) và sau đó được giao quyền sử dụng đất thì tài sản đó được xem là tài sản chung của vợ chồng. Thực tế vẫn xảy ra những trường hợp này nhưng hiện nay luật chưa quy định về trường hợp này nên có nhiều quan điểm trái chiều.
Theo quy định tại Điều 28 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, đối với tài sản chung còn lại không chia thì vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt. Sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì việc vợ chồng đóng góp vào khối tài sản chung có thể không ngang bằng nhau, nhưng không vì vậy mà làm hạn chế hoặc mất đi quyền sở hữu của mỗi người đối với tài sản chung. Vì vậy, vợ chồng vẫn có quyền và nghĩa vụ bình đẳng trong việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng.
Trường hợp chia toàn bộ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì sẽ làm thay đổi về khối lượng tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng. Điều 30 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 và Điều 8 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP quy định sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì tài sản được chia cho mỗi bên và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản được chia này là tài sản riêng của mỗi bên; thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi tài sản chung là tài sản riêng của vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Do đó, khi vợ chồng có yêu cầu chia toàn bộ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì khối lượng tài sản riêng của mỗi bên vợ hoặc chồng sẽ tăng lên đáng kể, nhưng khối lượng tài sản chung lúc này không còn, dẫn đến làm thay đổi quyền và nghĩa vụ về tài sản giữa vợ và chồng. Có quy định cho rằng quy định như vậy thực chất đã chấp nhận chế độ biệt sản của vợ chồng [9, tr253]. Như đã phân tích tại mục 2.5.1, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không phải mặc nhiên thừa nhận việc ly thân nên không đương nhiên dẫn đến chế độ biệt sản. Luận văn: Thực trạng chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Tương tự việc chia một phần tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, quyền định đoạt tài sản riêng được chia trong trường hợp chia toàn bộ không bị hạn chế bởi khoản 5 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Vì tài sản chung không còn nên việc đảm bảo đời sống chung của gia đình được thực hiện như thế nào? Chẳng hạn có trường hợp sau:
Tài sản chung của ông A và bà B là 400 triệu đồng. Trong khi hôn nhân còn tồn tại, hai người đã yêu cầu tòa án chia tài sản chung đó. Sau khi tòa án chia, mỗi người được 200 triệu đồng. Ông A đã sử dụng 200 triệu đồng này và một số tài sản do thu nhập mà có vào việc buôn bán, kinh doanh. Sau hai năm số tài sản đó lên tới 400 triệu đồng. Còn bà B do làm ăn thua lỗ, tiêu tán dần số tài sản đó. Sau một thời gian bà B yêu cầu tòa án chia số tài sản chung phát sinh sau đó thì về nguyên tắc bà B vẫn được hưởng một phần tài sản trích từ hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của ông A. Vậy điều này có là phù hợp với thực tế hay không? [23].
Có quan điểm cho rằng để duy trì đời sống chung của gia đình nếu trong trường hợp không thỏa thuận được có thể áp dụng cách thức đóng góp theo tỷ lệ thuận với số tài sản riêng được chia để chi dùng cho đời sống chung của gia đình [45, tr.53].
Theo quan điểm của chúng tôi, phương án này chỉ phù hợp trong điều kiện chia toàn bộ tài sản chung nhưng sau đó vợ chồng vẫn sống chung; nhưng sẽ không phù hợp nếu sau khi chia toàn bộ mỗi người sống riêng mỗi nơi mà một bên lại rơi vào hoàn cảnh khó khăn, túng thiếu vì những lý do khách quan như bệnh hiểm nghèo, tàn tật,… làm hạn chế khả năng lao động hoặc mất khả năng lao động thì việc đảm bảo đời sống chung của gia đình được thực hiện như thế nào? Một vấn đề nữa được đặt ra có thực hiện việc cấp dưỡng trong những tình huống này hay không? Nếu người có tài sản riêng không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì người cần được cấp dưỡng có quyền yêu cầu tòa án giải quyết không? Hiện nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy định về vấn đề này. Vì vậy để đảm bảo mục đích hôn nhân bền vững, pháp luật cần dự liệu vấn đề này vì quan hệ nhân thân giữa vợ chồng theo quy định của pháp luật vẫn còn tồn tại trước pháp luật.
Một vấn đề đặt ra là sau khi một phần hay toàn bộ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng tạo ra sau khi chia như tiền công, tiền lương,… là tài sản riêng của mỗi bên hay là tài sản chung của vợ chồng. Khoản 2 Điều 8 Nghị định 70/2001/NĐ-CP có quy định: “Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thoả thuận khác”. Qua nghiên cứu chúng tôi thấy rằng có sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa các văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể là Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 và Khoản 2 Điều 8 Nghị định 70/2001/NĐ-CP về phương diện lý luận và thực tiễn áp dụng. Có thể thấy một số bất cập như sau: Luận văn: Thực trạng chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Một là, nếu theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 thì toàn bộ tài sản do một bên vợ, chồng hoặc cả hai người cùng tạo ra đều là tài sản chung của vợ chồng. Tính chất cộng đồng của hôn nhân đã chi phối quan hệ hôn nhân nên những thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh, và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên theo nguyên tắc vẫn là tài sản chung của vợ chồng. Nhưng nếu xem xét khoản 2 Điều 8 Nghị định 70/2001/NĐ-CP thì mọi tài sản mà vợ chồng tạo ra cũng như mọi thu nhập hợp pháp từ lao động của mỗi bên đều là tài sản riêng của vợ chồng. Chế độ tài sản chung của vợ chồng không còn tồn tại vì sở hữu chung của vợ chồng về cơ bản có nguồn gốc từ thu nhập do lao động. Như vậy đã có sự mâu thuẫn giữa hai điều luật, do đó pháp luật cần đưa ra hướng giải quyết để tránh hiểu sai nội dung điều luật trong thực tiễn áp dụng.
Hai là, khoản 2 Điều 8 Nghị định 70/2001/NĐ-CP quy định toàn bộ thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng là không phù hợp với mong muốn thực tế của vợ chồng. Mục đích của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là để đầu tư kinh doanh, thực hiện nghĩa vụ dân sự,… mà không muốn chấm dứt chế độ sở hữu chung. Có quan điểm cho rằng cần phải có sự phân biệt hai loại thu nhập phát sinh sau khi chia tài sản chung là hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản đã được chia do chính hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập khác của vợ, chồng không liên quan đến phần tài sản đã được chia để phân biệt chính xác tài sản chung hay tài sản riêng [21]. Nếu sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân vì mục đích đầu tư kinh doanh, vợ chồng tự nguyện nhập phần hoa lợi, lợi tức phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh thì tài sản này phải là tài sản chung của vợ chồng, chỉ được xem là tài sản riêng nếu vợ chồng không có thỏa thuận. Ngoài ra, những thu nhập hợp pháp khác như tiền lương, tiền công, tiền trợ cấp,… không liên quan đến phần tài sản được chia vẫn thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng. Do đó, quy định tại khoản 2 Điều 8 Nghị định 70/2001/NĐ-CP là không hợp lý, trái luật và cần phải bị vô hiệu hóa [16, tr.123]. Theo quan điểm của chúng tôi, khoản 2 Điều 8 Nghị định 70/2001/NĐ-CP cần điều chỉnh theo hướng xem xét thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của mỗi bên nếu vợ chồng không có thỏa thuận khác, những thu nhập còn lại không liên quan đến tài sản đã được chia là tài sản chung của vợ chồng để phù hợp với nội dung quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
Quyền thừa kế tài sản của nhau giữa vợ và chồng không bị thay đổi sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không làm chấm dứt quan hệ vợ chồng trước pháp luật, do đó sau khi đã chia tài sản chung mà một bên vợ hoặc chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên kia vẫn có quyền thừa kế tài sản của bên đã chết theo pháp luật hoặc theo di chúc. Luận văn: Thực trạng chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
- Thứ hai, quan hệ về tài sản của vợ chồng đối với gia đình sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Pháp luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành chỉ mới quy định hậu quả pháp lý về tài sản để có căn cứ xác định tài sản riêng, tài sản của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, chưa có quy định về hậu quả pháp lý về tài sản của vợ chồng đối với việc đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hằng ngày của gia đình. Sau khi chia tài sản chung, vợ chồng vẫn phải đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình như chi phí học hành, ăn ở, khám chữa bệnh, và những nhu cầu khác. Nếu chia một phần tài sản chung thì phần tài sản chung còn lại chưa chia có thể đáp ứng một phần hoặc toàn bộ chi phí này. Nhưng nếu chia toàn bộ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì việc thực hiện nghĩa vụ với gia đình phải lấy từ nguồn tài sản nào nếu tài sản chung không còn. Có quan điểm cho rằng để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của gia đình, đặc biệt là đối với con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động, tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có tài sản,… nên bổ sung vào khoản 1 Điều 6 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP một nội dung bắt buộc trong văn bản thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là “Tài sản bảo đảm cho các nhu cầu chung của gia đình” [18] và cần quy định cụ thể sau:
Trong trường hợp vợ chồng không thoả thuận được việc bảo đảm các nhu cầu chung của gia đình, thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Toà án quyết định mức đóng góp của các bên trên cơ sở nhu cầu thực tế của gia đình và khả năng kinh tế của các bên hoặc quyết định không chia toàn bộ tài sản chung, phần tài sản chung không chia được sử dụng cho nhu cầu của gia đình [18].
Chúng tôi đồng ý với quan điểm trên, ngoài ra qua nghiên cứu Bộ luật Dân sự Pháp cũng có quy định tương tự [27] nên việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không đương nhiên làm giảm đi trách nhiệm chung của vợ chồng đối với con cái và các thành viên trong gia đình. Ngoài ra việc định đoạt tài sản riêng của vợ chồng bị hạn chế trong trường hợp “Tài sản riêng của vợ, chồng cũng được sử dụng vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình trong trường hợp tài sản chung không đủ để đáp ứng” [31]. Trong trường hợp tài sản chung còn lại không đủ để đảm bảo đời sống chung của gia đình thì việc phải lấy tài sản riêng của vợ chồng để đảm bảo thực hiện. Quy định này nhằm đảm bảo lợi ích chung của gia đình và thể hiện được truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Luận văn: Thực trạng chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Nếu sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân mà một bên vợ hoặc chồng không sống chung với con thì có đặt ra vấn đề cấp dưỡng không? Nuôi dạy, chăm sóc con cái trong trường hợp có cả cha lẫn mẹ đã là một quá trình không dễ dàng đối với vợ chồng, nhưng nếu chỉ còn một người sống chung với con thì việc thực hiện nghĩa vụ về tài sản đối với con sẽ khó khăn hơn. Không chỉ thiếu thốn tình cảm của cha hoặc mẹ, con cái có thể không được chăm lo đầy đủ về tài sản nếu trong trường hợp một bên cố tình trốn tránh không đóng góp chi phí sinh hoạt hàng ngày. Chia tài sản chung không chấm dứt quan hệ nhân thân giữa cha mẹ và con, vì vậy vợ chồng phải có nghĩa vụ đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con, đặc biệt là đối với con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động, tàn tật, hạn chế năng lực hành vi dân sự,… Vì vậy luật Hôn nhân và Gia đình cần bổ sung nghĩa vụ cấp dưỡng của vợ chồng đối với con sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trong trường hợp vợ chồng sống riêng mỗi nơi hoặc trường hợp bên không nhận nuôi con trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ.
2.6 Khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Pháp luật quy định vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, đồng thời cũng cho phép họ có quyền khôi phục lại chế độ tài sản chung của vợ chồng sau khi đã chia tài sản chung khi hôn nhân đang tồn tại. Điều này đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ chồng trong quan hệ tài sản. Khôi phục chế độ tài sản chung sau khi chia trong thời kỳ hôn nhân là khôi phục lại căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 27 và Điều 32 Luật Hôn nhân và Gia đình, vì chế độ sở hữu chung của vợ chồng vẫn còn tồn tại. Tuy nhiên việc khôi phục này chỉ đặt ra trong trường hợp chia toàn bộ tài sản nhưng thực tế vẫn tồn tại việc chia một phần tài sản chung của của vợ chồng như đã phân tích ở mục 2.4. Chia một phần tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì chế độ tài sản chung của vợ chồng vẫn còn nên không phụ thuộc vào thỏa thuận khôi phục chế độ tài sản chung. Điều này sẽ mâu thuẫn với quy định tại Khoản 1 Điều 9 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP vì trong đó không ghi rõ là chia một phần hay chia toàn bộ tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Do đó cần sửa đổi Nghị định 70/2001/NĐ-CP để đảm bảo sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật về khôi phục chế độ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
Ngoài ra, chúng ta cần phân biệt rõ việc khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân với việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung. Việc khôi phục chế độ tài sản chung chỉ được đặt ra sau sự kiện chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Nhập tài sản riêng vào tài sản chung có thể đặt ra bất cứ lúc nào kể từ khi bắt đầu thời kỳ hôn nhân. Khôi phục chế độ tài sản chung sau khi đã chia sẽ làm thay đổi cơ sở pháp lý để xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng. Còn đối với việc nhập tài sản riêng vào tài sản chung chỉ xác định là tài sản được nhập thành tài sản chung của vợ chồng. Đây là hai sự kiện pháp lý có sự khác nhau cơ bản về hậu quả pháp lý.
Do đó, trong trường hợp vợ chồng có yêu cầu khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì phải tuân thủ theo hình thức, nội dung và thời điểm mà pháp luật đã quy định.
2.6.1 Hình thức và nội dung của thoả thuận khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng
Sau khi vợ chồng đã chia tài sản chung và sau đó muốn khôi phục chế độ tài sản chung, thì vợ chồng phải thoả thuận bằng văn bản. Đây là cơ sở pháp lý giải quyết mọi tranh chấp tài sản phát sinh liên quan đến tài sản vợ chồng. Văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là cơ sở pháp lý vững chắc, nếu muốn xoá bỏ nó chỉ có thể bằng một văn bản thoả thuận khác. Thoả thuận khôi phục tài sản chung sẽ trở thành một chứng cứ pháp lý quan trọng nhất để giải quyết các tranh chấp phát sinh liên quan đến tài sản chung của vợ chồng, vì vậy nó phải được thể hiện dưới hình thức văn bản.
Khoản 1 Điều 9 Nghị định 70/2001/NĐ-CP đã quy định văn bản thoả thuận khôi phục chế độ tài sản của vợ chồng muốn có giá trị pháp lý thì trong văn bản đó phải ghi rõ các nội dung sau: Luận văn: Thực trạng chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
- Lý do khôi phục chế độ tài sản chung;
- Phần tài sản thuộc sở hữu riêng của mỗi bên;
- Phần tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng, nếu có;
- Thời điểm phát sinh hiệu lực của việc khôi phục chế độ tài sản chung;
- Các nội dung khác (nếu có).
Bên cạnh đó văn bản thoả thuận khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập văn bản để có cơ sở xác định thời điểm có hiệu lực của văn bản. Ngoài ra văn bản này phải có chữ ký của cả hai vợ chồng nhằm ràng buộc trách nhiệm của mỗi bên đối với tranh chấp phát sinh về sau và làm cho văn bản thỏa thuận có giá trị pháp lý.
Hiện nay, pháp luật hiện hành chỉ dừng lại ở những quy định mang tính tuỳ nghi cho phép vợ chồng tự do thoả thuận chia hoặc khôi phục tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên việc thỏa thuận chia hay khôi phục chế độ tài sản chung đó, vợ chồng có thể hoàn toàn tự do thỏa thuận bất cứ lúc nào mà không trái với quy định của pháp luật. Vì vậy, trong trường hợp có tranh chấp xảy ra, văn bản thoả thuận đó có thực sự bảo vệ quyền lợi của vợ, chồng, các thành viên trong gia đình và lợi ích của người thứ ba có liên quan hay không, hay lại trở thành công cụ để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật? Để những quy định của pháp luật thực sự trở thành công cụ để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của công dân thì nên chăng các văn bản thoả thuận chia tài sản hay khôi phục tài sản chung phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công chứng, chứng thực. Việc đó không làm hạn chế quyền định đoạt của vợ chồng mà còn góp phần bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của vợ chồng và những người có quyền và lợi ích liên quan.
2.6.2 Thời điểm có hiệu lực của việc khôi phục chế độ tài sản chung
Tương tự quy định về thời điểm có hiệu lực của thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thời điểm có hiệu lực của việc khôi phục chế độ tài sản chung cũng không được Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 ghi nhận, nhưng được hướng dẫn thi hành tại Điều 10 Nghị định 70/2001/NĐ-CP. Theo đó, việc khôi phục chế độ tài sản chung có hiệu lực trong những trường hợp sau:
Thời điểm có hiệu lực của việc khôi phục chế độ tài sản chung được xác định theo thoả thuận của vợ chồng ghi trong văn bản thoả thuận khôi phục tài sản. Trong trường hợp văn bản thoả thuận khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng không xác định rõ thời điểm có hiệu lực của việc khôi phục chế độ tài sản chung, thì hiệu lực được tính từ ngày, tháng, năm lập văn bản.
Nếu trong trường hợp văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ chồng được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của vợ chồng, thì văn bản thoả thuận khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng phải được công chứng hoặc chứng thực. Thời điểm có hiệu lực của thoả thuận khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng được xác định như sau:
- Nếu trong văn bản thoả thuận khôi phục chế độ tài sản chung xác định thời điểm có hiệu lực của thoả thuận đó thì thời điểm có hiệu lực của thoả thuận khôi phục chế độ tài sản chung là ngày xác định trong văn bản thoả thuận.
- Nếu trong văn bản thoả thuận không xác định ngày có hiệu lực đó, thì hiệu lực được tính từ ngày văn bản đó được công chứng, chứng thực. Luận văn: Thực trạng chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
Pháp luật cho phép vợ chồng có quyền thoả thuận công chứng hoặc chứng thực văn bản thoả thuận chia tài sản chung. Tuy nhiên, do việc chia tài sản chung được công chứng, chứng thực bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên việc khôi phục chế độ tài sản chung cũng phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận. Việc công chứng, chứng thực của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là việc xác nhận tính hợp pháp của thoả thuận chia tài sản chung cũng như khôi phục chế độ tài sản chung. Vì vậy, nếu thoả thuận chia tài sản chung của vợ chồng đã được công chứng, chứng thực thì khi đó văn bản thoả thuận khôi phục chế độ tài sản chung mới có thể trở thành căn cứ pháp lý để giải quyết tranh chấp tài sản trước cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Trong trường hợp văn bản thoả thuận chia tài sản chung của vợ chồng phải được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật, thì văn bản thoả thuận khôi phục chế độ tài sản chung cũng phải được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật và có hiệu lực kể từ ngày công chứng, chứng thực.
Văn bản khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được công chứng, chứng thực hợp pháp sẽ là bằng chứng pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của vợ, chồng cũng như những người có liên quan. Đây là bằng chứng thuyết phục và hợp pháp vì nó không thể bị sửa đổi, bị làm giả mạo sau khi được công chứng, chứng thực, vì vậy nên chăng pháp luật quy định bắt buộc việc công chứng, chứng thực tất cả các bản thoả thuận khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng, nó sẽ một ngăn chặn được việc lợi dụng những quy định của pháp luật để trốn tránh các nghĩa vụ tài sản, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật. Luận văn: Thực trạng chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân