Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội hiện hành và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Thực trạng các quy định pháp luật về chế độ hưu trí
2.1.1 Về đối tượng hưởng
Theo quy định tại Điều 2 – Luật bảo hiểm xã hội 2006 đối tượng tham gia hưởng chế đọ hưu trí bao gồm: Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 3 tháng đến dưới 12 tháng kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật lao động, Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ 1 tháng đến dưới 3 tháng được giao kết bằng văn bản, cán bộ, công chức, viên chức, công nhân quốc phòng, công nhân công an, quân nhân chuyên nghiệp, quân đội nhân dân, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân, hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn,học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí, người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương.
Người lao động quy định tại khoản này không bao gồm người lao động làm việc cho các cơ quan, tổ chức nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế tại Việt Nam được điều chỉnh bởi Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia, người lao động giúp việc gia đình, người làm việc đang hưởng lương hưu hoặc hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng.
Theo quy định tại Khoản 5, Điều 2 Luật bảo hiểm xã hội “người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động, không thuộc quy định tại khoản 1 điều này”. Như vậy, với quy định trên đối tượng thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện rất rộng, góp phần ổn định đời sống của người lao động trong quá trình làm việc và khi hết tuổi lao động.
2.1.2. Về điều kiện hưởng Hưu trí đầy đủ Luận văn: Thực trạng chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
Theo quy định của Điều 50 Luật bảo hiểm xã hội người tham gia bảo hiểm xã hội để được hưởng lương hưu cần có đủ các điều kiện về độ tuổi và thời gian đóng bảo hiểm, cụ thể như sau:
Người lao động là người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên, cán bộ, công chức, viên chức, công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu khi đủ một trong các độ tuổi thuộc các trường hợp sau:
- Nam đủ sáu mươi tuổi, nữ đủ năm mươi lăm tuổi.
Nam từ đủ năm mươi lăm tuổi đến đủ sáu mươi tuổi, nữ từ đủ năm mươi tuổi đến đủ năm mươi lăm tuổi và có đủ mười lăm năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ mười lăm năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên. Tuổi đời được hưởng lương hưu trong một số trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ quy định.
Người lao động là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân; Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn có đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên được hưởng lương hưu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
Nam đủ năm mươi lăm tuổi, nữ đủ năm mươi tuổi, trừ trường hợp Luật sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam hoặc Luật công an nhân dân có quy định khác; Luận văn: Thực trạng chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
Nam từ đủ năm mươi tuổi đến đủ năm mươi lăm tuổi, nữ từ đủ bốn mươi lăm tuổi đến đủ năm mươi tuổi và có đủ mười lăm năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ mười lăm năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên.
Trường hợp người lao động bị suy giảm lao động thì có thể được hưởng lương hưu với độ tuổi và mức đóng bảo hiểm sớm hơn. Theo Điều 51 Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 thì trong trường hợp người lao động bị suy giảm lao động thì thời gian đóng bảo hiểm và độ tuổi cụ thể như sau: Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d và e khoản 1 Điều 2 của Luật này đã đóng bảo hiểm xã hội đủ hai mươi năm trở lên, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, hưởng lương hưu với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng lương hưu quy định tại Điều 50 của Luật này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: Nam đủ năm mươi tuổi, nữ đủ bốn mươi lăm tuổi trở lên; Có đủ mười lăm năm trở lên làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành.
Việc quy định tuổi nghỉ hưu trước tuổi do suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên quá rộng (nam 50, nữ 45), đồng thời quy định đối tượng này chỉ bì trừ tỷ lệ lương hưu là 1% cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi, sơ với quy định là quá thập. Do vậy, đã khuyến khích người lao động tính toán nghỉ hưu sớm rồi sau đó đại đa số lại tham gia vào thị trường lao động vì đang còn sức lao động.
Thời gian đóng bảo hiểm hưu trí là tổng số đơn vị thời gian có đóng phí bảo hiểm để được hưởng chế độ này. Việc quy định thời gian đóng bảo hiểm xã hội nhằm xác định sự cống hiến về mặt lao động của mỗi người với xã hội nói chung và phần đóng góp vào bảo hiểm xã hội nói riêng. Thời gian đóng bảo hiểm xã hội là một trong nhưng căn cứ để chi trả đối với người lao động theo luật định nhằm bảo đảm sự công bằng, bình đẳng giữa những người tham gia bảo hiểm xã hội, thực hiện một trong những nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm xã hội. Luận văn: Thực trạng chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
Việc xác định thời gian đóng phí bảo hiểm xã hội được dựa trên căn cứ: độ tuổi về hưu, tỷ lệ đóng góp, tuổi thọ của những người về hưu, mức được hưởng… tóm lại tùy thuộc vào khả năng tài chính về chế độ hưu trí nói riêng và bảo hiểm xã hội nói chung… Về nguyên tắc nếu xuất phát từ việc đóng bảo hiểm xã hội để hình thành quỹ sử dụng cho chế độ hưu trí thì phải tính đến tổng số thời gian đóng phí bảo hiểm xã hội thực tế. Còn trong trường hợp người lao động làm việc trong những trường hợp đặc biệt như nơi độc hại, vùng sâu, vùng xa…. được điều lệ bảo hiểm xã hội quy định số thời gian này được làm căn cứ để giảm tuổi đời khi nghỉ hưu. Trong các chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc, đối với chế độ hưu trí ở hầu hết các nước đều quy định điều kiện để được hưởng chế độ phụ thuộc hai yếu tố đó là đội tuổi xác định và số năm đóng bảo hiểm.
Theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 và Nghị định 152/2006/NĐ-CP thì thời gian đóng bảo hiểm đối với các đối tượng cụ thể như sau: Người lao động được hưởng lương hưu khi nghỉ việc thuộc một trong các trường hợp sau: Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi và có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên. Nam từ đủ 55 tuổi đến đủ 60 tuổi, nữ từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên mà trong đó có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên; Người lao động từ đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên mà trong đó có đủ 15 năm làm công việc khai thác than trong hầm lò; Người bị nhiễm HIV/AIDS do tai nạn rủi ro nghề nghiệp và có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên.
Như vậy, thời gian đóng bảo hiểm để được hưởng lương hưu đối với người lao động ít nhất phải là 20 năm đóng bảo hiểm trở lên. Đây là mức tích lũy đủ lớn và đủ dài để có thể hưởng lương hưu từ quỹ bảo hiểm xã hội, đồng thời thời gian đóng bảo hiểm càng dài thì số tiền hưởng chế độ hưu trí của người tham gia càng lớn.
- Hưu trí một lần Luận văn: Thực trạng chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
Điều kiện hưởng: Người lao động đã đóng bảo hiểm xã hội trên 30 năm đối với nam, trên 25 năm đối với nữ, khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng mức trợ cấp một lần (Mức trợ cấp được tính theo số năm đóng bảo hiểm xã hội kể từ năm thứ 31 trở đi đối với nam và năm thứ 26 trở đi đối với nữ, cứ mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội).
Điều kiện hưởng trợ cấp một lần: Người lao động được hưởng trợ cấp một lần do quỹ bảo hiểm xã hội chi trả khi có một trong các điều kiện sau:
- Một là, đủ tuổi nghỉ hưu nhưng chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội;
- Hai là, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên mà chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội;
- Ba là, sau một năm nghỉ việc không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội và có yêu cầu nhận bảo hiểm xã hội một lần mà chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội;
- Bốn là, ra nước ngoài định cư.
Chế độ hưu trí tự nguyện theo quy định tại Điều 70 Luật bảo hiểm xã hội “Điều kiện hưởng lương hưu
- Người lao động hưởng lương hưu khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Nam đủ sáu mươi tuổi, nữ đủ năm mươi lăm tuổi;
- Đủ hai mươi năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên.
Trường hợp nam đủ sáu mươi tuổi, nữ đủ năm mươi lăm tuổi nhưng thời gian đóng bảo hiểm xã hội còn thiếu không quá năm năm so với thời gian quy định tại điểm b khoản 1 Điều này thì được đóng tiếp cho đến khi đủ hai mươi năm”.
Với quy định này khi người lao động đủ 60 tuổi đối với nam và 55 tuổi đối với nữ, đã có từ đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội (kể cả đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và tự nguyện) thì được tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện cho đến khi đủ 20 năm theo quy định chung thì được hưởng chế độ hưu trí. Quy định này chưa phù hợp vì những trường hợp khi hết tuổi lao động mà chưa đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội thì họ không được đóng tiếp cho đến khi đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí (buộc phải hưởng bảo hiểm xã hội một lần).
Như chúng ta biết, đối tượng của bảo hiểm xã hội tự nguyện là lao động tự do và nông dân, đối tượng này có thu nhập hàng tháng thấp, không ổn định, trong khi đó mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện quy định vốn khá cao. Với quy định về số năm đóng góp tối thiểu để được hưởng hưu là 20 năm thì người lao động từ 45 tuổi trở lên đối với nam và 40 tuổi trở lên đối với nữ không thể tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện để đủ điều kiện được hưởng lương hưu khi đến tuổi nghỉ hưu.
2.1.3. Về mức hưởng Hưu trí đầy đủ Luận văn: Thực trạng chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
Mức hưởng lương hưu là số tiền hàng tháng sẽ nhận được sau khi về hưu của người lao động. Có khá nhiều các khái niệm về mức hưởng tuy nhiên mức hưởng này phải đảm bảo rằng sẽ thấp hơn số tiền lương của người lao động khi còn đang đi làm.
- Theo Điều 52 Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 thì:
Thứ nhất là, mức lương hưu được hưởng được xác định là bằng mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 50 của Luật này được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 58, Điều 59 hoặc Điều 60 của Luật này tương ứng với mười lăm năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%.
Thứ hai là, mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 51 của Luật này được tính như quy định tại khoản 1 Điều này, sau đó cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 1%.
Thứ ba là, mức lương hưu hằng tháng thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung.
Mức hưởng được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng bảo hiểm xã hội và độ tuổi của người lao động. Tuy nhiên, nhìn vào cách tính hưởng chế độ hưu trí mới thấy sự bất công bằng giữa những người lao động trong lực lượng vũ trang, trong khu vực hành chính – sự nghiệp với người lao động trong khu vực sản xuất kinh doanh, nhất là người lao động trong khu vực tư nhân.
Với mức lương hưu quá khiêm tốn, người lao động trong các doanh nghiệp khi nghỉ hưu đã không đủ trang trải nhu cầu tối thiểu của cuộc sống bản thân trong điều kiện giá cả thị trường không ngừng tăng, nhất là các mặt hàng thiết yếu phục vụ cho cuộc sống hàng ngày của người dân. Vậy nguyên nhân từ đâu? Luận văn: Thực trạng chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
Trước hết và chủ yếu là do mức tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của người lao động trong khu vực doanh nghiệp thấp hơn và phổ biến theo mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định (mức bằng tiền). Có thể mức tiền lương, tiền công thực tế cao hơn, nhưng chủ doanh nghiệp chỉ đăng ký đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động theo mức lương tối thiểu vùng để “tiết kiệm” được một khoản kinh phí do đóng bảo hiểm xã hội. Trong khi, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của lực lượng vũ trang và khu vực hành chính – sự nghiệp được thực hiện trên cơ sở tiền lương ngạch, bậc (theo hệ số), đồng nghĩa với việc hưởng lương bao nhiêu, đóng bảo hiểm xã hội bấy nhiêu.
Một thực tế khá rõ ràng: Mức lương tối thiểu vùng áp dụng từ ngày 01/01/2014 được quy định tại Nghị định 182/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ thấp hơn so với mặt bằng thu nhập hiện nay. Theo đó, mức 2.700.000 đồng/tháng áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I; mức 2.400.000 đồng/tháng áp dụng đối với vùng II; mức 2.100.000 đồng/tháng áp dụng đối với vùng III; mức 1.900.000 đồng/tháng áp dụng đối với vùng IV. Đa số doanh nghiệp sử dụng mức lương này để tính đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động. Một phép tính đơn giản, nếu người lao động có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đạt tỷ lệ hưởng lương hưu tối đa 75%, với mức đóng 2.700.000 đồng/tháng, mức lương hưu là 2.025.000 đồng/tháng; đối với vùng II, III, IV mức lương hưu được hưởng sẽ dưới 2 triệu đồng/tháng, làm sao để có thể đảm bảo cuộc sống hàng ngày. Chưa nói đến khi tuổi cao, sức yếu bệnh tật là điều khó tránh khỏi, những khoản chi phí y tế không biết tìm ở đâu?
Với mức bình quân tiền lương, tiền công làm căn cứ tính hưởng lương hưu của người lao động được thực hiện thông qua chế độ tiền lương, tiền công do doanh nghiệp quy định và tính bình quân toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội. Mặc dù những năm cuối đóng bảo hiểm xã hội trên mức tiền lương, tiền công có cao hơn nhưng thời gian đầu mới tham gia bảo hiểm xã hội mức tiền lương, tiền công rất thấp, do đó bình quân toàn giai đoạn không thể cao được. Trong khi mức bình quân tiền lương làm căn cứ tính hưởng lương hưu của người lao động thuộc lực lượng vũ trang và khu vực hành chính – sự nghiệp được tính bình quân 5 năm, 6 năm, 8 năm hoặc 10 năm cuối trước khi nghỉ hưu (tùy thuộc vào thời điểm tham gia bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội). Vì tiền lương những năm cuối là mức lương cao nhất của cả quá trình đóng bảo hiểm xã hội của người lao động trong hai khu vực này, hiển nhiên phải cao hơn mức bình quân tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của người lao động trong khu vực doanh nghiệp. Luận văn: Thực trạng chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
Tỷ lệ phần trăm (%) đóng bảo hiểm xã hội và hưởng chế độ hưu trí là như nhau cho tất cả mọi người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, có chăng là sự chênh lệch tỷ lệ phần trăm mức hưởng lương hưu giữa nam và nữ từ năm thứ 16 trở đi (cứ mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội đối với nam là 2%/năm, đối với nữ là 3% /năm và tối đa là 75% cho cả nam và nữ). Do đó, người nào có mức bình quân tiền lương, tiền công để tính lương hưu cao hơn, sẽ có mức hưởng cao hơn.
Một yếu tố khác làm cho mức lương hưu của người lao động trong khu vực doanh nghiệp thấp là do chính người lao động quyết định “nghỉ hưu non”. Rất nhiều người lao động đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm hoặc hơn một chút, nếu tuổi đủ 45 đối với nữ và 50 tuổi đối với nam đều có xu hướng làm thủ tục để được hưởng lương hưu (đi giám định mức suy giảm khả năng lao động và hầu hết đều “đạt” 61% trở lên), có những trường hợp người lao động làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được hưởng lương hưu ở độ tuổi 36 đến 40 tuổi. Hai mặt của một vấn đề, chính những người “nghỉ hưu non” này lại tiếp tục làm công việc mà trước khi nghỉ hưu họ đã làm, vừa được hưởng lương hưu, vừa được hưởng đủ tiền công lại không phải đóng bảo hiểm xã hội và vẫn được cấp thẻ bảo hiểm y tế – lợi cả đôi đường. Chỉ có quỹ bảo hiểm xã hội phải lo lắng!
Nên chăng, cần phải sửa đổi quy định về mức lương tối thiểu vùng theo hướng tính bằng bao nhiêu lần mức lương cơ sở do Chính phủ quy định cho từng thời kỳ. Chẳng hạn mức lương tối thiểu Vùng I bằng 4 lần mức lương cơ sở; Vùng II bằng 3,5 lần; Vùng III bằng 3 lần; Vùng IV bằng 2,5 lần mức lương cơ sở. Như vậy, mức lương hưu sẽ được cải thiện tương đối. Chẳng hạn, người lao động đóng bảo hiểm xã hội và đủ điều kiện hưởng lương hưu với tỷ lệ 75% thì người lao động ở Vùng I có mức lương hưu là: 1.150.000 x 4 x 0,75 = 3.450.000 đồng; tương tự, Vùng II có mức lương hưu: 3.018.750 đồng; Vùng III là: 2.587.500 đồng; Vùng IV là: 2.156.250 đồng có thể tạm đủ để trang trải cuộc sống. Đồng thời khuyến khích doanh nghiệp thực hiện mức tiền lương, tiền công cho người lao động cao hơn mức lương tối thiểu vùng từ 10% đến 15% sẽ phù hợp với điều kiện kính tế – xã hội hiện tại và cơ bản giải quyết được những bất cập nêu trên.
- Hưu trí một lần
Mức trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần được tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, cứ mỗi năm tính bằng 1,5 tháng mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội (theo quy định tại Điều 56 Luật bảo hiểm xã hội năm 2006).
Cách tính bình quân tiền lương đóng bảo hiểm xã hội:
Thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo hệ số lương do nhà nước quy định:
- năm cuối, nếu tham gia bảo hiểm xã hội từ trước
- năm cuối, nếu tham gia bảo hiểm xã hội từ trước 2001. 8 năm cuối, nếu tham gia bảo hiểm xã hội từ trước 2007. 10 năm cuối, nếu tham gia bảo hiểm xã hội từ 2007 trở đi. Luận văn: Thực trạng chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
Thời gian đóng bảo hiểm xã hội không theo thang bảng lương nhà nước: bình quân toàn bộ thời gian.
Có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo thang bảng lương nhà nước và không theo thang bảng lương nhà nước, thì được tính như sau: tính bình quân chung của các thời gian, trong đó thời gian đóng theo thang bảng lương nhà nước thì tính bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội theo quy định trên.
Được nhận trợ cấp 1 lần khi nghỉ hưu nếu đóng bảo hiểm xã hội từ năm 26 trở đi đối với nữ và năm 31 trở đi đối với nam: Kể từ năm thứ 31 trở đi đối với nam và năm thứ 26 trở đi đối với nữ, cứ mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được tính bằng ½ tháng mức bình quân tiền công, tiền lương đóng bảo hiểm xã hội.
Trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần đối với người không đủ điều kiện hưởng lương hưu (đóng bảo hiểm xã hội từ 3 tháng đến < 20 năm): Mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được hưởng 1,5 tháng lương bình quân đóng bảo hiểm xã hội.
Lĩnh trợ cấp ngay không chờ sau 12 tháng đối với các trường hợp sau:
- Suy giảm khả năng lao động trên 61%.
- Hết tuổi lao động.
- Định cư hợp pháp ở nước ngoài.
- Chờ lĩnh trợ cấp sau 12 tháng: Sau 1 năm nghỉ việc mà không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội.
Các tháng lẻ đóng bảo hiểm xã hội (Khi tính lương hưu hàng tháng, trợ cấp một lần khi nghỉ hưu hoặc bảo hiểm xã hội một lần):
- Dưới 3 tháng: không tính.
- Từ đủ 3 tháng đến dưới 7 tháng: tính nửa năm.
- Từ đủ 7 tháng đến dưới 1 năm: tính 1 năm.
Chế độ hưu trí tự nguyện được quy định từ Điều 71 đến Điều 74 luật bảo hiểm xã hội, về cơ bản giống như mức hưởng của chế độ hưu trí bắt buộc.
2.1.4. Về quỹ hưu trí Luận văn: Thực trạng chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
- Quỹ hưu trí bắt buộc
Theo quy định tại Điều 91, Điều 92 Luật bảo hiểm xã hội, quỹ hưu trí được hình thành từ những khoản đóng góp của người tham gia bảo hiểm hưu trí (người lao động và người sử dụng lao động) và thực hiện các hoạt động đầu tư để chi trả quyền lợi hưu trí cho người lao động khi đến tuổi về hưu. Tại các thị trường phát triển trên thế giới, quỹ hưu trí là quỹ đầu tư có quy mô tài sản quản lý lớn nhất thị trường.
Do tốc độ già hóa nhanh của dân số Việt Nam và những bất cập trong hệ thống hưu trí hiện nay như tỷ lệ tham gia thấp, gia tăng đối tượng hưởng hưu trí, mất cân bằng giữa mức đóng và mức hưởng…, đang đặt ra yêu cầu cải cách hệ thống hưu trí theo hướng đảm bảo sự bền vững của hệ thống.
Kết quả thực hiện chính sách Bảo hiểm xã hội cho thấy, đến cuối năm 2013, tổng số đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc đã đạt khoảng 10,8 triệu người, tương đương khoảng 78% tổng số lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội (2006).
Đến cuối năm 2013, mới chỉ có khoảng 173 nghìn người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, chiếm 0,5% tổng số lao động thuộc diện tham gia, tuy nhiên, phần lớn lao động trong khu vực phi chính thức, nông dân chưa tham gia loại hình bảo hiểm xã hội này. Con số trên cho thấy tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và tự nguyện còn thấp, mới chiếm khoảng 20% tổng lực lượng lao động. Điều này có nghĩa là trong tương lai, đất nước sẽ phải đối mặt hàng triệu lao động bước vào tuổi nghỉ hưu không có thu nhập từ lương hưu, gánh nặng này sẽ thuộc về Nhà nước, đó là phải trợ cấp xã hội cho hàng triệu người khi về già.
Theo dự báo của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) rằng, với các chính sách như hiện hành, quỹ bảo hiểm hưu trí và tử tuất có nguy cơ mất cân đối trong tương lai gần (năm 2021, thu không đủ chi trong năm; đến năm 2034, phần kết dư không còn, số chi lớn hơn rất nhiều so với số thu, quỹ mất cân đối). Nguyên nhân mất cân đối quỹ, một phần là tuổi nghỉ hưu thực tế hiện nay thấp hơn quy định: nam: 55,2 tuổi, nữ: 51,7 tuổi, bình quân: 53,4 tuổi. Tuổi nghỉ hưu thấp, dẫn tới thời gian đóng bảo hiểm xã hội của người lao động ngắn (nam: 28 năm, nữ: 23 năm). Luận văn: Thực trạng chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
Điều này dẫn đến thời gian hưởng lương hưu dài, trong khi lương hưu tích lũy chỉ đảm bảo trả 12-13 năm. Bên cạnh đó, số đối tượng hưởng bảo hiểm xã hội một lần hằng năm nhiều, khoảng 500.000 – 600.000 người/năm và có xu hướng gia tăng hằng năm, điều này chưa phù hợp với xu hướng an sinh xã hội trên thế giới.
Từ thực tế trên Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính đã triển khai song song xây dựng hai đề án về bảo hiểm hưu trí bổ sung và bảo hiểm hưu trí tự nguyện nhằm bổ sung thêm trụ cột vào hệ thống hưu trí đơn lẻ hiện nay.
Trên cơ sở những kinh nghiệm quốc tế về xây dựng mô hình hệ thống hưu trí, Việt Nam đang nghiên cứu mở rộng hệ thống hưu trí đơn lẻ hiện tại thành hệ thống hưu trí đa trụ cột, từ đó giảm nguy cơ không bền vững của hệ thống, giảm gánh nặng của quỹ bảo hiểm xã hội, tăng an sinh xã hội cho người dân.
- Quỹ hưu trí tự nguyện
Theo quy định tại Điều 100 Luật bảo hiểm xã hội, quỹ hưu trí tự nguyện là: “Mức đóng hằng tháng bằng 16% mức thu nhập người lao động lựa chọn đóng bảo hiểm xã hội; từ năm 2010 trở đi, cứ hai năm một lần đóng thêm 2% cho đến khi đạt mức đóng là 22%.
Mức thu nhập làm cơ sở để tính đóng bảo hiểm xã hội được thay đổi tuỳ theo khả năng của người lao động ở từng thời kỳ, nhưng thấp nhất bằng mức lương tối thiểu chung và cao nhất bằng hai mươi tháng lương tối thiểu chung”.
Ngoài ra, ngày 20/1/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 144/2014/QĐ-TTg về “Đề án hình thành và phát triển Chương trình hưu trí tự nguyện” do Bộ Tài chính xây dựng. Trước đó, ngày 20/8/2013, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 115/2013/TT-BTC về việc hướng dẫn bảo hiểm hưu trí và quỹ hưu trí tự nguyện áp dụng đối với các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ triển khai bảo hiểm hưu trí tự nguyện. Luận văn: Thực trạng chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
Hiện tại, Bộ Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã hoàn tất quá trình nghiên cứu xây dựng Dự thảo Đề án thí điểm Chính sách hưu trí bổ sung, dự kiến trình Chính phủ và triển khai trong thời gian tới.
Theo Thông tư 115 của Bộ Tài chính, bảo hiểm hưu trí tự nguyện là sản phẩm bảo hiểm nhân thọ do doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện nhằm cung cấp thu nhập bổ sung cho người được bảo hiểm khi hết tuổi lao động. Bảo hiểm hưu trí tự nguyện bao gồm bảo hiểm hưu trí cho từng cá nhân và bảo hiểm hưu trí cho nhóm người lao động.
Mỗi người được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm hưu trí cá nhân hay hợp đồng bảo hiểm hưu trí nhóm có một tài khoản bảo hiểm hưu trí riêng theo quy định. Nói cách khác, về bản chất, bảo hiểm hưu trí tự nguyện là một loại sản phẩm tài chính dành cho cá nhân, trong đó, người tham gia đóng góp tiền tiết kiệm theo định kỳ vào các sản phẩm hưu trí và sẽ được nhận chi trả từ quỹ khi đến tuổi nghỉ hưu. Số tiền hưu trí mà mỗi cá nhân được hưởng phụ thuộc vào tổng số tiền đóng góp của chính cá nhân đó và hiệu quả đầu tư vốn của quỹ.
- Quỹ hưu trí bổ sung
Theo dự thảo Đề án thí điểm Chính sách hưu trí bổ sung của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, bảo hiểm hưu trí bổ sung là chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện hoặc bắt buộc, có cơ chế tạo lập quỹ từ sự đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động, tồn tại dưới dạng các tài khoản cá nhân, được bảo toàn và tích lũy thông qua hoạt động đầu tư, do các định chế tài chính trung gian thực hiện và được quản lý bởi các cơ quan quản lý nhà nước theo quy định của pháp luật.
Quỹ hưu trí bổ sung được hình thành trên cơ sở đóng góp của người lao động và/hoặc người sử dụng lao động và sẽ được quản lý bởi các công ty quản lý quỹ được Ban điều hành quỹ (gồm đại diện người lao động và chủ lao động) chỉ định
Như vậy, nỗ lực cải cách hệ thống hưu trí Việt Nam đã có một số kết quả bước đầu. Vai trò của Chính phủ, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính là rất lớn trong việc thiết kế chương trình cải cách tổng thể, hoạch định chính sách, tạo hành lang pháp lý và đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục nhận thức cộng đồng về việc tham gia các chương trình hưu trí. Quá trình này sẽ còn rất nhiều khó khăn và thách thức trong thời gian tới, cần phải có sự góp sức của toàn bộ xã hội, đặc biệt là từ phía người lao động, người sử dụng lao động và cả các bên trung gian cung cấp dịch vụ vận hành hệ thống.
2.1.5. Về hồ sơ hưởng chế độ hưu trí
- Hồ sơ hưởng chế độ hưu trí hàng tháng.
Người lao động, kể cả cán bộ chiến sĩ trong lực lượng vũ trang bao gồm quân nhân, công an nhân dân hưởng chế độ hưu trí hàng tháng, hồ sơ gồm có: Bản quyết định của người sử dụng lao động về việc giải quyết chế độ hưu trí có kê khai chi tiết những nội dung liên quan đến quá trình làm việc có đóng bảo hiểm xã hội và tính tiền lương đóng bảo hiểm xã hội bình quân.
Đối với các trường hợp thuộc diện phải giám định y khoa theo quy định tại điểm 2, điểm 3 Điều 26 Điều lệ bảo hiểm xã hội, hồ sơ về hưu có kèm theo biên bản giám định y khoa. Luận văn: Thực trạng chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
Đối với trường hợp không có hồ sơ gốc phải có các chứng nhận xác minh thời gian công tác của các cơ quan quản lý người lao động.
Hồ sơ của người chờ đến tuổi hưởng lương hưu hàng tháng.
- Đơn tự nguyện có xác nhận của công đoàn và của người sử dụng lao động.
- Bản quyết định (tương tự như đối với người về hưu).
Hồ sơ hưởng trợ cấp một lần.
Người hưởng trợ cấp một lần theo quy định tại Điều 28 Điều lệ bảo hiểm xã hội hồ sơ gồm có:
Đơn tự nguyện có xác nhận của người sử dụng lao động. Bản quyết định (tương tự như đối với người về hưu).
Sổ bảo hiểm xã hội đã xác định thời gian đóng bảo hiểm xã hội đến tháng nghỉ việc; Quyết định nghỉ việc của người sử dụng lao động hoặc văn bản chấm dứt hợp đồng lao động (01 bản chính); Đơn của người lao động có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cưu trú (mẫu số 14-HSB, 01 bản).
Theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và các văn bản hướng dẫn thi hành thì trách nhiệm của các bên trong quá trình lập hồ sơ hưởng bảo hiểm hưu trí gồm:
Trách nhiệm của người lao động,người lao động lập đủ hồ sơ theo quy định, nộp cho bảo hiểm xã hội huyện, quận nơi cư trú và nhận lại hồ sơ đã được giải quyết từ bảo hiểm xã hội huyện, quận.
Trách nhiệm của người sử dụng lao động, giới thiệu người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội ra Hội đồng giám định y khoa để giám định mức suy giảm khả năng lao động để hưởng chế độ hưu trí; Lập đủ hồ sơ quy định, chuyển đến cơ quan bảo hiểm xã hội chịu trách nhiệm quản lý và thu bảo hiểm xã hội của đơn vị mình; Nhận lại hồ sơ đã giải quyết từ cơ quan bảo hiểm xã hội để giao cho người lao động.
Trách nhiệm của cơ quan bảo hiểm xã hội, tiếp nhận hồ sơ từ người lao động hoặc từ người sử dụng lao động theo trách nhiệm quy định đối với bảo hiểm xã hội huyện, quận; Kiểm tra, đối chiếu về hồ sơ, nếu đủ và đúng theo quy định thì chuyển lên bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố giải quyết; Nhận lại hồ sơ đã giải quyết từ bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố để trả lại cho người lao động hoặc người sử dụng lao động. Luận văn: Thực trạng chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
- Về tổ chức chi trả chế độ hưu trí
Phương thức chi trả thanh toán trực tiếp cho đối tượng hưởng,là phương thưc chi trả đến tạn tay đối tượng hưởng. Phương thức này phù hợp khi áp dụng để chi trả cho các đối tượng hưởng bảo hiểm xã hội một lần. bảo hiểm xã hội huyện sẽ lấy tiền từ tài khoản Ngân hàng và chi trả cho đối tượng sau khi hoàn tất các thủ tục.
Ưu điểm của phương thức này là giúp cơ quan bảo hiểm xã hội nhanh chóng nắm bắt thông tin về đối tượng hưởng, những yêu cầu, vướng mắc của họ để kịp thời giải quyết, tránh được tình trạng vi phạm trong công tác chi trả. Nhược điểm: đòi hỏi công tác lập kế hoạch chi trả phải thật khoa học, phải sử dụng một số lượng lớn cán bộ chi trả, làm tăng chi phí quản lý.
Thanh toán gián tiếp thông qua đại lý chi trả, đại lý là những người có trách nhiệm và uy tín trong nhân dân, thường là chủ tịch, cán bộ chính sách xã phường… Cơ quan bảo hiểm xã hội phải trích một khoản tiền để chi trả cho các đại lý gọi là lệ phí. Hàng tháng, bảo hiểm xã hội lấy tiền từ Ngân hàng giao cho chủ tịch của từng xã, phường, sau đó chủ tịch xã, phường mang tiền về khu vực mình quản lý rồi giao cho các tổ trưởng xóm thôn, dân phố. Các tổ trưởng sẽ thông báo cho các đối tượng hưởng đến lĩnh tại trụ sở của thôn, xóm, tổ dân phố. Sau khi thanh toán hết cho đối tượng hưởng, các đại lý này phải báo cáo kết quả hoạt động của mình lên cơ quan bảo hiểm xã hội.
Ưu điểm của phương thức này là trong một thời gian ngắn có thể chi trả cho một số lượng lớn đối tượng và rộng khắp, tiết kiệm chi phí, thời gian đi lại của cán bộ chi trả, tạo mối quan hệ tốt giữa cơ quan bảo hiểm xã hội và chính quyền địa phương.
Nhược điểm: cơ quan bảo hiểm xã hội khó theo dõi được tình hình thực tế chi trả, gây khó khăn cho việc giải quyết thắc mắc của đối tượng. Lệ phí chi trả thấp, do dó các đại lý chi trả nhiều khi không nhiệt tình trong công tác, nhiều đại lý chi trả còn chưa đáp ứng được yêu cầu về công tác quản lý tài chính của ngành.
Thanh toán qua tài khoản ngân hàng, phương thức này thường áp dụng để chi lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng tại những địa phương mà có hệ thống ngân hàng phát triển và hệ thống bảo hiểm xã hội tiên tiến.
Với phương pháp này, tiền từ tài khoản của bảo hiểm xã hội sẽ được chuyển vào tài khoản của từng đối tượng hưởng. Đối tượng sẽ nhận tiền thông qua tài khoản thẻ ATM.
Ưu điểm nổi bật của phương thức này là chi trả nhanh, gọn, kịp thời, an toàn và tiết kiệm chi phí của cả người hưởng và cơ quan bảo hiểm xã hội. Luận văn: Thực trạng chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
Nhược điểm, việc lấy thông tin đối tượng hưởng để lập tài khoản còn nhiều khó khăn, đặc biệt là với những người lớn tuổi. Ngoài ra, người dân vẫn có thói quen lĩnh và tiêu tiền mặt, chưa quen với hình thức giao dịch qua thẻ ATM.
- Về tổ chức chi trả
Hàng năm, bảo hiểm xã hội huyện lập dự toán chi trả bảo hiểm xã hội cho các đối tượng trên địa bàn gửi bảo hiểm xã hội tỉnh, bảo hiểm xã hội tỉnh tổng hợp dự toán chi của toàn tỉnh gửi bảo hiểm xã hội Việt Nam.
Sau khi dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt, bảo hiểm xã hội Việt Nam chuyển tiền về tài khoản bảo hiểm xã hội tỉnh, sau đó bảo hiểm xã hội tỉnh chuyển về bảo hiểm xã hội huyện theo tiến độ chi trả.
Hàng tháng bảo hiểm xã hội huyện thông báo danh sách đối tượng tăng, giảm về bảo hiểm xã hội tỉnh. Bảo hiểm xã hội tỉnh căn cứ vào danh sách chi trả tháng trước, danh sách ghi tăng, giảm của huyện để lập danh sách chi trả gửi bảo hiểm xã hội huyện. Căn cứ vào danh sách chi trả bảo hiểm xã hội tỉnh gửi xuống, bảo hiểm xã hội huyện tiến hành chi trả trợ cấp bảo hiểm xã hội cho từng người theo mức trợ cấp mà bảo hiểm xã hội tỉnh đã ghi trong danh sách chi trả. Danh sách chi trả được lập hàng tháng và được coi là lệnh chi trả mà bảo hiểm xã hội tỉnh giao cho bảo hiểm xã hội huyện phải tổ chức thực hiện.
Sau khi nhận được danh sách chi trả mà bảo hiểm xã hội tỉnh gửi xuống, bảo hiểm xã hội huyện tiến hành các nghiệp vụ chi trả như: rút tiền từ ngân hàng về, sau đó đem đến nơi quy định của từng xã, phường theo đúng ngày quy định để trả cho từng người. Việc chi trả có thể thực hiện bằng hai hình thức trực tiếp và gián tiếp, hoặc bảo hiểm xã hội huyện cử cán bộ đem tiền đến trả trực tiếp cho từng người. Ngoài ra, có thể áp dụng hình thức chi trả qua tài khoản ngân hàng.
Kết thúc việc chi trả, bảo hiểm xã hội huyện lưu danh sách chi trả có chữ ký của người nhận tiền tại bảo hiểm xã hội huyện, đồng thời báo cáo tổng số tiền đã chi trả về bảo hiểm xã hội tỉnh, bảo hiểm xã hội tỉnh tổng hợp báo cáo của bảo hiểm xã hội các huyện và báo cáo lên cơ quan cấp trên theo quy định.
2.2. Thực trạng áp dụng chế độ hưu trí trên địa bàn thành phố Hà Nội Luận văn: Thực trạng chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
2.2.1. Kết quả đạt được
Nằm trong hệ thống bảo hiểm xã hội Việt Nam, bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội đã được thành lập theo Quyết định số 101/QĐ-TCCB ngày 04/08/1995 của Tổng Giám đốc bảo hiểm xã hội Việt Nam trên cơ sở thống nhất hai bộ phận bảo hiểm xã hội của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội và Liên đoàn lao động thành phố Hà Nội. Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội là đơn vị hạch toán cấp 2, có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng. Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội có trụ sở đặt tại số 142A phố Đội Cấn, quận Ba Đình thành phố Hà Nội.
Từ ngày đầu thành lập, tuy còn gặp nhiều khó khăn, thử thách như cơ sở vật chất phục vụ công tác còn thiếu thốn, tổ chức và đội ngũ cán bộ chưa ổn định, năng lực, trình độ chuyên môn còn yếu kém, nhận thức về bảo hiểm xã hội của các cấp, các ngành, các đơn vị sử dụng lao động và người lao động còn hạn chế… Nhưng nhờ được sự quan tâm, chỉ đạo của bảo hiểm xã hội Việt Nam, Thành ủy – Hội đồng nhân dân – Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cùng với sự nỗ lực, cố gắng của các cán bộ lãnh đạo, công chức, viên chức trong đơn vị đã tạo nguồn lực cho bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội vượt qua bao khó khăn để thành công trên con đường xây dựng và phát triển và luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ mà bảo hiểm xã hội Việt Nam giao cho.
Trong năm qua, bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sát, thường xuyên của bảo hiểm xã hội Việt Nam, sự lãnh đạo của Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các Sở, Ban, Ngành, đoàn thể, các cơ quan thông tin, truyền thông và các đơn vị sử dụng lao động, các cơ sở y tế trên địa bàn trong triển khai nhiệm vụ, cùng với sự nỗ lực phấn đấu, năng động, sáng tạo với tinh thần đoàn kết, quyết tâm cao của tập thể lãnh đạo. Công chức, viên chức trong ngành, bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội đã hoàn thành các chỉ tiêu, kế hoạch và nhiệm vụ chính trị được giao.
Đặc biệt, năm 2013 là năm đầu tiên thực hiện nghị quyết số 21 của Bộ chính trị “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 – 2013” đã tạo một bước chuyển mạnh mẽ của các cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp về nhận thức trách nhiệm trong thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội nói chung, trong đó có chế độ hưu trí nói riêng. Tình hình giải quyết chế độ hưu trí từ năm 2010 – 2014 trên địa bàn thành phố Hà Nội được thể hiện qua số liệu sau:
- Bảng: Tình hình giải quyết chế độ hưu trí
Qua số liệu ở bảng trên ta thấy, tỉ lệ người hưởng lương hưu từ quỹ bảo hiểm xã hội so với số người tham gia bảo hiểm xã hội ở Hà Nội tăng khá nhanh. Điều này cho thấy dân số đang có xu hướng già đi. Vì vậy, chế độ hưu trí càng cần được quan tâm chú trọng, giai đoạn từ năm 2010 – 2014, chính phủ đã nhiều lần điều chỉnh lương hưu, thực hiện chế độ chi trả từ quỹ bảo hiểm xã hội ở Hà Nội được thể hiện qua bảng số liệu sau. Luận văn: Thực trạng chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
- Bảng: Lương hưu bình quân của người lao động được chi trả từ quỹ bảo hiểm xã hội
Qua bảng thống kê trên cho thấy, mức lương hưu chi trả hàng tháng cho người hưởng lương hưu từ quỹ bảo hiểm xã hội trong giai đoạn 2010 – 2014 tại thành phố Hà Nội tăng khoảng 20%/năm. Mức lương trên, chế độ hưu trí đã từng bước cải thiện cuộc sống của người về hưu, góp phần bảo đảm an sinh xã hội. Đặc biệt là với mức sống đắt đỏ nhất cả nước như trên địa bàn Hà Nội.
Giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội, việc giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội đúng đối tượng, đúng mức hưởng theo quy định của pháp luật và về cơ bản đã đảm bảo tiến độ thời gian. Tính đến tháng 12/2013 đã giải quyết được cho 53.788 đối tượng thụ hưởng.
Về công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết đơn thư và tiếp công dân luôn được bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội quan tâm, chú trọng. Bảo hiểm xã hội Thành phố đã chủ động xây dựng kế hoạch cụ thể ngay từ đầu năm nhằm giảm tỷ lệ nợ đọng bảo hiểm xã hội.
Về công tác cải cách thủ tục hành chính đã được bảo hiểm xã hội đẩy mạnh. Đặc biệt đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động nghiệp vụ của ngành, triển khai và hoàn thiện ứng dụng phần mềm có lắp đặt camera giám sát trong công tác tiếp nhận và trả kết quả thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, thống nhất trên toàn thành phố. Đến nay, việc tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ bằng phần mềm đã dần đi vào ổn định, đáp ứng được việc luân chuyển hồ sơ liên thông giữa các phòng nghiệp vụ và giữa bảo hiểm xã hội thành phố với bảo hiểm xã hội huyện. Việc ứng dụng hiệu quả phần mềm này là một bước cải tiến trong công tác cải cách thủ tục hành chính, xác định rõ trách nhiệm của công chức viên chức thụ lý và xử lý hồ sơ, hạn chế được tình trạng trả chậm, muộn hồ sơ, tiết kiệm thời gian, tạo thuận lời nhất cho các đối tượng tham gia và thụ hưởng bảo hiểm xã hội. Luận văn: Thực trạng chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
- Nguyên nhân của những kết quả đạt được
Để đạt được các kết quả nêu trên xuất phát tử các nguyên nhân chủ yếu sau:
Một là, bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội đã nhận được sự chỉ đạo trực tiếp của bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng như sự phối kết hợp của các ban ngành có liên quan và các đơn vị sử dụng lao động. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu, đảm bảo được chất lượng thu, chi bảo hiểm xã hội tại thành phố Hà Nội. Hàng năm bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội luôn nhận được các công văn, chỉ thỉ hướng dẫn của bảo hiểm xã hội Việt Nam về công tác nghiệp vụ và giải đáp các thắc mắc cần thiết. Bên cạnh đó, các đơn vị sử dụng lao động trên địa bàn đã được tuyên truyền và hiểu về các quy định của Luật bảo hiểm xã hội cũng như các văn bản có liên quan. Căn cứ này giúp cho bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội luôn đạt được thành tích cao trong thu bảo hiểm xã hội hàng năm. Số người tham gia bảo hiểm xã hội năm sau cao hơn năm trước.
Hai là, hệ thống các văn bản chính sách thực hiện chế độ hưu trí đã được Đảng và Nhà nước quan tâm đúng mức và không ngừng được hoàn thiện. Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 đã được ban hành, Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 đã khắc phục được những vướng mắc, bật cập cơ bản của các văn bản trước đó về vấn đề bảo hiểm xã hội nói chung trong đó có bảo hiểm hưu trí. Đồng thời Chính phủ và bảo hiểm xã hội Việt Nam đã ban hành một loạt các văn bản hướng dẫn thi hành về bảo hiểm xã hội bắt buộc trong đó có chế độ hưu trí. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
Các văn bản hưởng dẫn thi hành thực hiện chế độ hưu trí đều được bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội nghiên cứu chặt chẽ và triển khai cụ thể trong từng khâu trong công tác thu, xét duyệt hồ sơ hưởng, quản lý đối tượng hưởng và chi trả chế độ hưu trí.
Ba là, do sự cố gắng không ngừng nghỉ của đội ngũ cán bộ thực hiện chế độ hưu trí, các cán bộ làm công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách bảo hiểm xã hội và sự nhiệt tình trong công tác chi trả đến tận tay các đối tượng hưởng. Trong những năm vừa qua, quán triệt cuộc vận động và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, cũng như các cuộc vận động công tác chuyên môn khác bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội đã tích cực đôn đốc, vận động cán bộ, nhân viên trong công tác phát huy hết năng lực, sở trường để đảm bảo chất lượng công việc. Bên cạnh đó, trình độ đội ngũ cán bộ, công chức của bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội ngày càng được nâng cao, số đội ngũ công chức có bằng cấp cao ngày càng tăng, trình độ lý luận chính trị cũng được hoàn thiện.
Bốn là, do nhận thức của người sử dụng lao động và người lao động khi tham gia bảo hiểm xã hội ngày càng được nâng cao, ngày càng có nhiều người tự nguyện tham gia bảo hiểm xã hội. Công tác tuyên truyền của bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội ngày càng được đảm bảo, điều này tác động đến nhận thức của các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội như người sử dụng lao động và người lao động. Nhận thức được vai trò và ý nghĩa của bảo hiểm xã hội nói chung và bảo hiểm hưu trí nói riêng nên nhiều người sử dụng lao động và người lao động đã tích cực tham gia đầy đủ các chế độ của bảo hiểm xã hội.
Năm là, trong thời gian gần đây Chính phủ đã có chính sách tăng tiền lương tối thiểu, tăng mức đóng bảo hiểm xã hội từ 20% – 22% (năm 2010) dẫn đến số thu cho bảo hiểm xã hội ngày càng tăng lên và số thu cho quỹ hưu trí cũng tăng lên.
2.2.2. Những hạn chế, vướng mắc Về quy định của pháp luật Luận văn: Thực trạng chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
Thứ nhất, do có sự lồng ghép chính sách lao động, việc làm và chính sách bảo hiểm xã hội về điều kiện hưởng lương hưu trước tuổi nên nguồn thu và cân đối quỹ bảo hiểm xã hội bị ảnh hưởng. Theo Nghị định số 110/2007/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 26/6/2007 về chính sách đối với lao động dôi dư do sắp xếp của các công ty nhà nước thì lao động nam có tuổi đời từ đủ 55 tuổi đến 60 tuồi, lao động nữ từ đủ 50 đến dưới 55 tuổi, có từ đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên thì được hưởng chế độ hưu trí với mức lương không phải trừ % lương hưu do về hưu trước tuổi. Nghị định số 132/2007/NĐ-CP ngày 8/8/2007 về chính sách tinh giảm biên chế đối với cán bộ không đủ tái cử, tái bổ nhiệm giữ các chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước và các tổ chức chính trị -xã hội thì các cán bộ, công chức, viên chức thuộc đối tượng tinh giảm biên chế với điều kiện lao động nam có độ tuổi đời từ đủ 55 đến 59 tuổi, lao động nữ từ đủ 50 đến đủ 54 tuổi, có đủ từ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên thì được hưởng chế độ hưu trí với mức hưởng không phải trừ % lương hưu. Người lao động dôi dư do sắp xếp của các tổng công ty nhà nước nghỉ hưu trước tuổi được thực hiện từ năm 2007 đến năm 2010 và cán bộ công chức, viên chức nghỉ hưu trước tuổi do tinh giảm biên chế được thực hiện từ năm 2007 đến năm 2011 đã gia tăng số lượng người về hưu trong thời điểm tốc độ bình quân cao hơn số người tham gia bảo hiểm xã hội. Đặc biệt là ở Hà Nội nơi đóng trụ sở chính của các cơ quan trung ương của Đảng và Nhà nước và có rất nhiều công ty, tổng công ty nhà nước nên áp lực càng nặng nề hơn.
Hà Nội là một trung tâm kinh tế lớn của đất nước, do đó có nhiều doanh nghiệp của nhiều thành phần kinh tế hoạt động, ngoài ra Hà Nội là trung tâm chính trị đặc biệt quan trọng của quốc gia, có nhiều cơ quan, đoàn thể trong và ngoài nước đặt trụ sở chính. Điều này dẫn đến việc quản lý về bảo hiểm xã hội cũng khác xa so với nhiều địa phương khác trong toàn quốc, đối tượng, thành phần tham gia đóng và hưởng chế độ bảo hiểm xã hội nói chung và bảo hiểm hưu trí nói riêng là rất phong phú, đa dạng. Như vậy, để giải quyết được các vướng mắc liên quan đến việc quản lý bảo hiểm hưu trí tại Hà Nội là căn cứ xác thực để bảo hiểm xã hội Việt Nam điều chỉnh về chính sách bảo hiểm.
Thứ hai, về điều kiện hưởng lương hưu theo Điều 50 Luật bảo hiểm xã hội. Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội quy định về độ tuổi nghỉ hưu của lao động nữ sớm hơn lao động nam 5 năm là chưa hợp lý và không công bằng. Phụ nữ ngày càng thể hiện sự đóng góp vào nền kinh tế đất nước không thua kém gì nam giới, quy định này không những làm lãng phí nguồn nhân lực mà còn hạn chế cơ hội thăng tiến của phụ nữ. Ngoài ra sự chênh lệch tuổi nghỉ hưu 5 năm giữa lao động nam và lao động nữ còn tạo ra sự bất hợp lý về khoản tiền lương hưu mà hai đối tượng được hưởng.
Trên địa bàn Hà Nội người lao động thường có trình độ cao và tay nghề giỏi so với nhiều địa phương khác trên toàn quốc. Nếu để người lao động nữ được về hưu trước 5 năm so với lao động nam cũng là một thiết thòi lớn cho xã hội nói chung và cho người lao đông nữ nói riêng. Vì để có được trình độ học vấn cao, tay nghề giỏi cần phải mất nhiều thời gian học tập và rèn luyên để nâng cao trình độ tay nghề như lao động nam, nhưng lại phải về hưu trước 5 năm, do đó người lao động nữ không đóng góp được nhiều cho xã hội và bản than, gia đình họ. Vậy cần có quy định linh hoạt trong vấn đề này để tạo điều kiện cho lao động nữ còn sức lao động và mong muốn được cống hiến cho nhà nước và xã hội.Mặt khác, để bảo đảm chính sách bình đẳng giới của nhà nước. Luận văn: Thực trạng chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
Thứ ba, quy định về điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động Điều 51 Luật Bảo hiểm xã hội. Quy định này được thực hiện từ năm 1995, trong khi đó theo thống kê của Tổng cục dân số – Kế hoạch hóa gia đình Bộ y tế năm 2010 tuổi thọ trung bình của nữ là 76,8 và nam là 72,9 tuổi, điều kiện lao động của người lao động sau gần 2 thập khỉ đã được nâng cao lên rất nhiều. Theo quy định tại Điều 51 Luật bảo hiểm xã hội nam đủ 50 tuổi và nữ đủ 45 tuổi trở lên đã có đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động dễ dẫn đến hiện tượng người lao động lợi dụng quy định để hưởng lương hưu trong khi khả năng lao động vẫn còn tốt. Vì vậy cần thắt chặt hơn quy định về đối tượng hưởng lương hưu do suy giảm khả năng lao động.
Trong công tác thực hiện, việc triển khai mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là đối với người lao động ở vùng nông thôn, hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Như vậy, còn quá nhiều những người lao động chưa được tham gia bảo hiểm xã hội và được hưởng quyền lợi từ chế độ hưu trí trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Mặt khác, tình trạng nợ đọng quỹ bảo hiểm xã hội sẽ ảnh hưởng đến việc thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội nói chung và thực hiện việc chi trả bảo hiểm hưu trí nói riêng (năm 2013 nợ đọng quỹ bảo hiểm của Hà Nội gần 1.500 tỷ đồng, sang năm 2014 tình trạng nợ đọng quỹ bảo hiểm tại Hà nội có giám xuống nhưng còn ở mức cao, hơn 1.200 tỷ đồng). Tuy con số này không cao nhưng cũng ảnh hưởng đến tiến độ thu và thực hiện chế độ hưu trí của bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội.
Trong công tác xét duyệt hồ sơ vẫn còn tồn tại một số khó khăn như, thời gian giải quyết các hồ sơ, đặc biệt là chế độ bảo hiểm xã hội một lần còn chậm, còn hiện tượng tồn đọng hồ sơ chuyển sang tháng sau giải quyết.
Công tác quản lý đối tượng hưởng lương hưu hàng tháng vẫn còn gặp một số khó khăn vì một số đối tượng sinh sống ở địa bàn các xã vùng sâu vùng xa, lại sống rải rác không tập trung nên cơ quan bảo hiểm xã hội khó quản lý, gây ảnh hưởng đến việc điều chỉnh tăng giảm các đối tượng, lập và in danh sách chi trả.
Số đối tượng hưởng ngày càng tăng, số tiền chi trả ngày càng lớn, chứng tỏ khối lượng công việc của bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội ngày càng nhiều, trong quá trình làm việc không tránh khỏi những áp lực.
Việc chi trả trực tiếp cho các đối tượng hưởng đôi khi còn chậm trễ vì thời gian của một đợt chi trả chỉ kéo dài 5 – 7 ngày mà số đối tượng hưởng lại rất lớn. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho công tác chi trả còn thiếu thốn như chưa trang bị được ô tô chuyên dụng để vận chuyển tiền từ ngân hàng đến địa điểm chi trả.
2.2.3. Nguyên nhân của sự hạn chế Luận văn: Thực trạng chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
Một là, do công tác thông tin, tuyên truyền bảo hiểm xã hội chưa được thường xuyên, sâu rộng đến các đối tượng ở vùng sâu vùng xa, hình thức tuyên truyền còn hạn chế gây nhàm chán, chưa thu hút được đông đảo người dân lắng nghe và tham gia bảo hiểm xã hội.
Hai là, vẫn còn sự hạn chế trong nhận thức của chủ sử dụng lao động và người lao động, một số bộ phận sử dụng lao động và người lao động chưa hiểu rõ về quyền lợi và trách nhiệm của mình khi tham gia bảo hiểm xã hội. Vì nhiều Doanh nghiệp ngoài quốc doanh, Hợp tác xã còn trốn tránh việc tham gia bảo hiểm xã hội cho người lao động nên tỷ lệ người lao động tham gia bảo hiểm xã hội còn thấp và chưa tương xứng với tiềm năng của thành phố.
Ba là, tình trạng trốn đóng, nợ đọng là do một số Doanh nghiệp làm ăn thua lỗ chưa có tiền đóng bảo hiểm xã hội, hoặc đã thu bảo hiểm xã hội của người lao động nhưng đã sử dụng số tiền dó vào mục đích khác. Bên cạnh đó việc tăng mức đóng ở năm 2010 cũng khiến nhiều đơn vị sử dụng lao động gặp khó khăn, nhất là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ, ít vốn đầu tư.
Bốn là, do số đối tượng hưởng chế độ hưu trí ngày càng đông nên khối lượng công việc ngày càng nhiều mà đội ngũ cán bộ của ngành còn ít về số lượng và hạn chế về trình độ chuyên môn (số cán bộ có trình độ Đại học đúng chuyên ngành vẫn còn ít). Vì thế nên đôi khi không tránh khỏi hiện tượng chậm trễ trong công tác xét duyệt và chi trả cho các đối tượng.
Năm là, đối tượng hưởng đông và ngày càng tăng, một số đối tượng lại sinh sống ở địa bàn các xã vùng sâu vùng xa gây khó khăn trong việc nắm bắt tình tình thay đổi của các đối tượng hưởng;
Sáu là, số lượng cán bộ bảo hiểm xã hội ở địa phương còn ít mà khối lượng công việc lại lớn nên không thể tránh khỏi những áp lực.
Bẩy là, do trong giai đoạn từ 2008 – 2013 nền kinh tế đất nước đã trải qua cuộc khủng hoảng lớn nhất từ trước tới nay, với khoảng hơn 200.000 doanh nghiệp bị phá sản trong tổng số 500.000 doanh nghiệp. Do đó, việc quan tâm đến các chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động nhiều bị doanh nghiệp bỏ quên, hoặc trốn tránh nhằm giảm chi phí nhất định.
2.3. Một số điểm mới về chế độ hưu trí trong Luật BHXH 2014 Luận văn: Thực trạng chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
Thứ nhất, sửa đổi điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu đối với người bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên theo hướng: Tăng dần mỗi năm 1 tuổi từ 01/01/2016 đến khi nam đủ 55 tuổi, nữ đủ 50 tuổi trở lên (hiện nay là 50 và 45); đối với người bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên tuổi nghỉ hưu là nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi.
Thứ hai, mở rộng điều kiện hưởng lương hưu đối với lao động nữ hoạt động chuyên trách hoặc không chuyên trách ở cấp xã chỉ cần có đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội và đủ 55 tuổi. Tuy nhiên, đối tượng này không được điều chỉnh lương hưu theo mức lương cơ sở nếu mức lương hưu thấp hơn mức lương cơ sở.
Thứ ba, về tỷ lệ % hưởng lương hưu: Sửa đổi cách tính tỷ lệ hưởng lương hưu theo lộ trình tăng dần số năm đóng bảo hiểm xã hội đối với lao động nam để được hưởng 45% mức bình quân tiền lương tháng như sau: Nghỉ hưu từ năm 2018 trở đi mỗi năm tăng thêm 01 năm cho đến khi 20 năm đóng bảo hiểm xã hội tương ứng với 45% (năm 2018 là 16 năm; năm 2019 là 17 năm; năm 2020 là 18 năm; năm 2021 là 19 năm và từ năm 2022 trở đi là 20 năm); đối với nữ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội tương ứng với 45% và sau đó cả nam và nữ đều tính thêm 2% cho mỗi năm, mức tối đa bằng 75%. Như vậy, để đạt được mức hưởng tối đa là 75% thì nam phải đóng bảo hiểm xã hội 35 năm và nữ 30 năm. Tăng tỷ lệ giảm trừ do nghỉ hưu trước tuổi từ 1% lên 2% cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi.
Thứ tư, bổ sung quy định cụ thể về thời điểm hưởng lương hưu: Đối với người đang đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, thời điểm hưởng lương hưu là thời điểm ghi trong quyết định nghỉ việc do người sử dụng lao động lập khi người lao động đã đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định. Đối với người đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội, thời điểm hưởng lương hưu được tính bắt đầu từ tháng liền kề sau tháng người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu theo quy định. Về mức bình quân tiền lương làm căn cứ tính lương hưu đối với người thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, Luật quy định lộ trình áp dụng cách tính lương bình quân theo 5 bước để tiến tới thực hiện tính bình quân chung của cả quá trình đóng bảo hiểm xã hội, đảm bảo bình đẳng giữa khu vực trong và ngoài nhà nước. Cụ thể như sau: Tính bình quân của 5 năm cuối trước khi nghỉ hưu đối với người lao động tham gia bảo hiểm xã hội trước năm 1995; tính bình quân của 6 năm cuối đối với tham gia bảo hiểm xã hội trong thời gian từ ngày 01/01/1995 đến 31/12/2000; tính bình quân của 8 năm cuối đối với người tham gia bảo hiểm xã hội trong thời gian từ 01/01/2001 đến 31/12/2006 (như quy định hiện hành); tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày Luật có hiệu lực thi hành đến 31/12/2019 thì tính bình quân của 15 năm cuối trước khi nghỉ hưu; tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 01/01/2020 đến 31/12/2024 tính bình quân của tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 20 năm cuối; tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 01/01/2025 trở đi thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian.
Thứ năm, về bảo hiểm xã hội một lần: Luận văn: Thực trạng chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
Theo Điều 55 Luật bảo hiểm xã hội 2006, người lao động sau một năm nghỉ việc nếu không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội và có yêu cầu nhận bảo hiểm xã hội một lần mà chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội thì được giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội một lần. Nay theo Điều 60 Luật bảo hiểm xã hội 2014, các trường hợp được hưởng bảo hiểm xã hội một lần thu hẹp hơn trước. Cụ thể, đối tượng hưởng bảo hiểm xã hội một lần là người lao động mắc các bệnh nguy hiểm như ung thư, bại liệt, lao nặng, phong, HIV đã chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế… Đối với những trường hợp khác được bảo lưu thời gian tham gia bảo hiểm xã hội để khi có việc làm thì người lao động tiếp tục đóng hoặc người tham gia bảo hiểm xã hội chưa đủ thời gian thì tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện để lúc về già được hưởng lương hưu…
Về nguyên tắc, quy định này nhằm khuyến khích người lao động bảo lưu, tích lũy thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội để có thể hưởng lương hưu theo quy định thay vì nhận bảo hiểm xã hội một lần. Khi người lao động trở lại làm việc thuộc diện đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thì được tính cộng dồn thời gian đã tham gia để được hưởng lương hưu sau này.
Với các trường hợp khác, Luật bảo hiểm xã hội khuyến khích người lao động có thể bảo lưu thời gian đã tham gia bảo hiểm xã hội. Sau đó, tiếp tục tìm việc làm, tham gia bảo hiểm xã hội để có thể hưởng lương hưu hằng tháng khi về già. Người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc chưa đủ thời gian quy định có thể tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, với chính sách hiện tại đã “mở” hơn nhiều.
Cũng theo Luật mới, Chính phủ có phương thức hỗ trợ người lao động tiếp tục tham gia bảo hiểm xã hội. Quy định này nhằm hướng tới mục đích, khi hết tuổi lao động, người lao động có điều kiện nhận lương hưu hằng tháng để ổn định cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội. Cùng với lương hưu hằng tháng là những quy định khác hỗ trợ cho người nghỉ hưu.
Theo quy định cũ, người lao động chỉ hưởng bảo hiểm xã hội một lần, Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 cho phép người lao động chưa hết tuổi lao động mà chấm dứt hợp đồng lao động có thêm nhiều quyền lợi hơn, cụ thể: Được giải quyết trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề, tư vấn giới thiệu việc làm… Luận văn: Thực trạng chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
Ngoài ra, tăng mức trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần từ 1,5 tháng lên 02 tháng mức bình qu ân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội từ năm 2014 trở đi.
Thứ sáu,về điều chỉnh mức tiền lương bình quân tháng để đóng bảo hiểm xã hội. Sửa đổi cách tính tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội đối với người tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 01/01/2016 đến 31/12/2019 thì tính bình quân của 15 năm cuối trước khi nghỉ hưu; tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 01/01/2020 đến 31/12/2024 tính bình quân của tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 20 năm cuối; tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 01/01/2025 trở đi thì tính bình quân của tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian tham gia bảo hiểm xã hội.
Thứ bảy, về tạm dừng hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng: Bỏ quy định người đang chấp hành hình phạt tù giam bị tạm dừng hưởng lương hưu; bổ sung trường hợp hưởng không đúng quy định; bổ sung quy định về việc tiếp tục thực hiện khi người xuất cảnh trở về định cư hợp pháp; đồng thời quy định việc truy lĩnh lương hưu, trợ cấp trong trường hợp người bị Tòa án tuyên bố là mất tích đối với người mất tích trở về.
Thứ tám, bỏ quy định tuổi trần tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện.
Thứ chín, giảm mức quy định về thu nhập tối thiểu làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo của khu vực nông thôn.
Thứ mười, người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện có thể lựa chọn phương thức đóng linh hoạt, ngoài cả phương thức đã quy định, lần này cho phép có thể đóng một lần cho nhiều năm về sau hoặc một lần cho những năm còn thiếu để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện. Ngoài ra, Luật bảo hiểm xã hội 2014 còn quy định: Căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế – xã hội, khả năng ngân sách nhà nước trong từng thời kỳ để quy định mức hỗ trợ và thời điểm thực hiện chính sách hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Luận văn: Thực trạng chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội