Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ hưu trí trên trong Luật bảo hiểm xã hội từ thực tiễn trên địa bàn thành phố Hà Nội dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ hưu trí
Chế độ hưu trí tự nó không thể phát triển một cách độc lập nằm ngoài hệ thống bảo hiểm xã hội nói chung. Do vậy việc hoàn thiện quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của bảo hiểm xã hội là nền tảng cho việc nâng cao hiệu quả của chế độ hưu trí.
Xã hội càng phát triển thì cần có sự đảm bảo pháp lý trong đó mọi công dân đều sống và làm viêc bằng pháp luật, bảo hiểm xã hội cũng không là một ngoại lệ. Hiện nay, chúng ta mới tiếp cận đến hệ thống bảo hiểm xã hội hoạt động theo nguyên tắc của bảo hiểm xã hội trong nền kinh tế thị trường. Nước ta đang trong giai đoạn phát triển vận hành theo cơ chế thị trường, vì thế có nhiều điều mới mẻ, những biến động diễn ra ngày càng phức tạp, ảnh hưởng không nhỏ đến mọi hoạt động kinh tế xã hội, trong đó có bảo hiểm xã hội. Do vậy, chúng ta chỉ có thể tạo ra sự ổn định và quản lý được các hoạt động bảo hiểm xã hội khi có được một hệ thống pháp lý chuyên ngành đầy đủ và có hiệu lực mạnh.
Theo tinh thần đó, Luật bảo hiểm xã hội là rất cần thiết tất yếu khách quan. Khi Luật bảo hiểm xã hội được ban hành, bảo hiểm xã hội sẽ trở thành quốc sách, người lao động tham gia vào bảo hiểm xã hội và chế độ hưu trí sẽ yên tâm hơn trên cơ sở một nền tảng pháp lý vững chắc. Bảo hiểm xã hội có đủ điều kiện pháp lý, có hiệu lực cao để có thể thực hiện đúng chức năng của mình. Các cơ quan bảo hiểm xã hội sẽ có trong tay một công cụ mạnh mẽ để điều hành và kiểm soát quá trình thực hiện bảo hiểm xã hội. Chỉ có như vậy bảo hiểm xã hội mới hoạt động ngày càng nề nếp hơn, tránh được tình trạng vô tổ chức, thiếu trách nhiệm của một số cơ quan đơn vị trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm xã hội đối với người lao động và đối với ngành bảo hiểm xã hội. Qua đó người lao động sẽ yên tâm và tin tưởng hơn, đó sẽ là một trong những biện pháp tích cực nhất, có tác dụng khuyến khích được người lao động tham gia bảo hiểm xã hội. Việc ban hành và thực thi Luật bảo hiểm xã hội cũng sẽ làm cho nội dung và ý nghĩa của bảo hiểm xã hội được nhận thức đầy đủ và rõ ràng hơn trong xã hội.
Do đó, để có được một hệ thống pháp luật về bảo hiểm xã hội đầy đủ và đồng bộ thì trước hết phải sắp xếp rà soát lại toàn bộ các văn bản pháp quy về hoạt động bảo hiểm xã hội trước đây và hiện hành với mục đích loại bỏ hoặc điêù chỉnh bổ sung cho phù hợp với nhu cầu quản lý mới trong điều kiện của nền kinh tế thị trường. Tiếp theo là cần phải nâng cao khả năng thực thi của các văn bản pháp lý trong bảo hiểm xã hội. Muốn thực hiện được điều này thì ngoài việc đóng góp xây dựng và hoàn thiện của các chuyên gia, những cán bộ có kinh nghiệm trong và ngoài ngành; sự giúp đỡ học hỏi của những nước khác đều rất quan trọng, còn có vai trò của người lao động, người tham gia và hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội. Luật này cần phải được thảo luận kỹ trong số những đối tượng này vì chính bản thân họ là người sau đó sẽ nằm trong phạm vi điều chỉnh của bảo hiểm xã hội và trực tiếp thi hành luật này. Ý kiến đóng góp của đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội làm cho luật về bảo hiểm xã hội đi vào cuộc sống sát thực hơn.
3.2. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ hưu trí Luận văn: Giải pháp chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
Một là, đảm bảo thực hiện chế độ hưu trí cho mọi người dân, đối với những trường hợp vừa tham gia đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và còn tham gia đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện thì chỉ được hưởng chế độ hưu trí và tử tuất. Điều này chưa đảm bảo hết quyền lợi của người tham gia đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trong khoảng thời gian 15 năm và thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện (có tổng thời gian tham gia bảo hiểm là trên 20 năm). Vì vậy, nên chăng có những quy định mềm đối với những trường hợp người lao động tham gia đóng cả hai loại bảo hiểm nêu trên.
Bên cạnh việc thực hiện từng bước áp dụng chế độ bảo hiểm xã hội đối với từng đối tượng tham gia đóng bảo hiểm xã hội là việc có những quy định cụ thể về độ tuổi đối với người lao động khi tham gia bảo hiểm xã hội. Chế độ hưu trí còn được gọi là chế độ bảo hiểm tuổi già, nghĩa là chỉ khi người lao động đạt đến một độ tuổi già nào đó mới được nghỉ hưu. Nhưng theo qui định hiện hành thì có khi 38 tuổi người lao động cũng có thể nghỉ hưu (18 tuổi đi làm và 20 đóng bảo hiểm xã hội, trong đó 15 năm làm các công tác đặc biệt, nặng nhọc, độc hại và bị mất khả năng lao động từ 61% trở lên). Đây là một vấn đề cần xem xét. Mặt khác, trong điều kiện kinh tế xã hội của thế giới và nước ta, tuổi nghỉ hưu cần được nâng dần lên do tuổi thọ và điều kiện sống, điều kiện lao động nâng cao hơn trước. Nhà nước cần đưa ra tuổi nghỉ hưu chuẩn, độ tuổi này có thể là “mốc” để trên cơ sở đó qui định các độ tuổi nghỉ hưu khác nhau. Hiện nay, nhiều ý kiến cho rằng nên nâng tuổi nghỉ hưu của lao động nữ ngang bằng với nam giới, nhưng qua thực tế thực hiện chỉ có 34,62% số nước qui định như vậy. Vì vậy, việc nâng tuổi nghỉ hưu cần được cân nhắc cho phù hợp với điều kiện sức khoẻ và sinh lý của người lao động.
Hai là,cần có qui định tuổi nghỉ hưu khác nhau cho nhóm lao động khác nhau để phù hợp với sức khoẻ, khả năng và điều kiện lao động, tránh sự lãng phí lao động. Đối với những lao động làm việc trong các ngành nghề đặc biệt hoặc các công việc nặng nhọc độc hại thì tuổi nghỉ hưu có thể giảm từ 5-7 năm theo tuổi chuẩn. Vì sức khoẻ và khả năng làm việc suy giảm, tuổi thọ của những lao động trong hệ thống này thấp hơn so với lao động bình thường. Ngược lại, đối với một số lao động trong khối hành chính sự nghiệp hay lao động trí óc… tuổi nghỉ hưu nên được nâng lên khoảng 60-65 tuổi.
Nên có qui định tuổi nghỉ hưu “mềm” đối với người lao động, nghĩa là qui định khoảng tuổi nghỉ hưu (ví dụ 55-60 tuổi, 60-65 tuổi…). Như vậy, người lao động, nhất là lao động nữ tuỳ theo điều kiện công việc và hoàn cảnh cuộc sống của mình có thể chọn thời điểm nghỉ hưu thích hợp trong “khoảng” độ tuổi qui định đó.
Tóm lại, việc điều chỉnh lại độ tuổi nghỉ hưu là rất cần thiết nhưng việc thay đổi không nên thực hiện ngay một lúc mà cần làm từ từ không gây ảnh hưởng xấu đến xã hội và tâm lý người lao động. Chẳng hạn, ta nâng độ tuổi nghỉ hưu từ 60 lên tới 65 nhưng không nên thực hiện từ nấc 60 lên tới nấc 65 ngay, mà mỗi năm nâng lên 1/2 tuổi nghĩa là sau 10 năm tuổi nghỉ hưu sẽ là 65 tuổi và không áp dung chung độ tuổi nghĩ hưu đối với lao động nữ và lao động nam (lao động nữ có nhiều điều kiện, hoàn cảnh tác động vào quá trình lao động). Việc quy định này đảm bảo tình thần chủ trương, chinh sách của Đảng và Nhà nước, đúng với các quy định được ghi nhận trong Luật lao động hiện hành. Luận văn: Giải pháp chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
Ba là,cần nâng cao ý thức, nâng cao trình độ, nâng cao khả năng nhận thức của mỗi người dân về bảo hiểm xã hội nói chung và chế độ hưu trí nói riêng, việc thực hiện chế độ hưu trí đạt hiệu quả cao nhất thì cần phải hoàn thiện bộ máy bảo hiểm xã hội. Bộ máy bảo hiểm xã hội hiện nay có thể nói là còn khá mới mẻ trong hoạt động chuyên ngành về bảo hiểm. Việc kiện toàn bộ máy hoạt động và củng cố hệ thống quản lý cơ quan bảo hiểm xã hội ở các cấp là cấp thiết.
Trong bảo hiểm xã hội, cần hình thành một bộ phận chức năng riêng chuyên thực hiện và theo dõi quản lý hoạt động của chế độ hưu trí và quá trình chi trả cho các đối tượng về hưu ở các cấp nhất là cấp huyện. Qua đó góp phần nâng cao hiệu quả của nghiệp vụ quan trọng này. Trong thực tế hoạt động chi trả có tác động rất lớn tới người hưởng các chế độ bảo hiểm, và sau đó là những người tham gia, làm công tác này tốt sẽ nâng cao uy tín của bảo hiểm xã hội, một trong những điều kiện cần cho sự phát triển bản thân bảo hiểm xã hội.
Trên cơ sở nghiên cứu các tiêu chuẩn công việc, khối lượng và định mức công việc để từ đó xây dựng- hình thành nên bộ phận chuyên thực hiện về chế độ này. Từ đó để thực hiện chế độ được tốt hơn và tránh tình trạng tăng biên chế, lãng phí tài sản nhà nước…
Trong tương lai khi bảo hiểm xã hội đã phát triển đến một mức nhất định, nhất là về trình độ tổ chức và quản lý, nên tách riêng các nội dung quản lý cho từng nhóm chế độ bảo hiểm xã hội, như các chế độ dài han, các chế độ ngắn hạn. Việc tách như vậy sẽ tạo thuận lợi cho việc theo dõi và quản lý từng chế độ, làm cho bản thân hệ thống bảo hiểm xã hội hoạt động linh hoạt hơn, dễ thu hút mọi đối tượng tham gia vào bảo hiểm xã hội. Luận văn: Giải pháp chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
Để làm được như vậy, ngay từ bây giờ các cơ quan chuyên môn có liên quan cần nghiên cứu các nội dung cần thiết, các quy chế và hình thức thực hiện cho từng chế độ và cơ chế quản lý chung trong điều kiện các chế độ được quản lý và theo dõi một cách độc lập. Trong quá trình tiến tới thực hiện quản lý theo từng chế độ bảo hiểm xã hội, trong thời gian tới nên tách hưu trí thành một chế độ được quản lý riêng. Đó là do tính chất quan trọng và quy mô của chế độ này trong hệ thống bảo hiểm xã hội và trong xã hội nói chung. Sau đó có thể từng bước thực hiện quản lý riêng các chế độ còn lại.
Một trong những nội dung trong đề nghị về hoàn thiện bộ máy nữa là tiếp tục hoàn thiện đội ngũ những người và các cơ quan chính quyền cơ sở cấp phường xã tham gia công tác, hợp tác với các cơ quan bảo hiểm trong thực hiện chi trả cho chế độ hưu trí. Làm tốt mặt này không chỉ thực hiện chi trả nhanh chóng mà còn có thể quản lý chặt chẽ hơn những biến động các đối tượng hưởng chế độ hưu trí ở mỗi địa phương.
Bốn là, nâng cao trình độ nghiệp vụ và tác phong làm việc tích cực, hiệu suất cao của các cán bộ chuyên môn. Khả năng làm việc và hiệu quả của người lao động trong ngành và của những người làm công việc cộng tác với các cơ quan bảo hiểm xã hội có ảnh hưởng quyết định đến việc quản lý các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội.
Để có thể thực hiện có hiệu quả vấn đề này, trên phạm vi toàn ngành cần tiến hành rà soát và đánh giá lại mức độ phức tạp của công việc và yêu cầu về trình độ chuyên môn tương ứng cho từng lĩnh vực, từng công việc trong ngành. Qua đó, xác định mức thừa thiếu và nhu cầu đào tạo mới, đào tạo bổ sung và đào tạo lại. Công việc này phải được tiến hành ở mọi cấp nhưng trước mắt đề nghị tập trung vào cấp huyện. Vì cấp này không chỉ là cấp trực tiếp thực hiện các công việc chuyên môn cụ thể mà còn là cấp tổ chức quản lý đội ngũ cộng tác viên, đại lý hoạt động ở cấp xã phường.
Cũng trong đào tạo ngành phải xác định được các hình thức và nội dung đào tạo thích hợp trong đó nội dung nên tập trung vào nghiệp vụ bảo hiểm xã hội và kỹ năng, năng lực quản lý cho từng người làm công tác bảo hiểm xã hội. Đây là điều rất cần thiết cho những người làm việc trong một ngành có những đặc thù như ngành bảo hiểm xã hội hiện nay.
Cùng với nâng cao trình độ cho cán bộ, nhân viên ngành bảo hiểm xã hội là tăng cường trang thiết bị hiện đại trong hoạt động, nhất là trong chuyên môn. bảo hiểm xã hội là một ngành mới được tách ra lại đang thu hút được sự quan tâm giúp đỡ của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội, bảo hiểm xã hội Việt Nam cũng đang nhận được sự giúp đỡ trên nhiều mặt của các tổ chức và các quốc gia trên thế giới như Tổ chức lao động thế giới …Đây là một điều kiện rất thuận lợi để phát triển trên nhiều mặt. Ngành bảo hiểm xã hội nên tận dụng lợi thế này để phát triển hiện đại hoá các hoạt động bảo hiểm xã hội. Trong đó, áp dụng công nghệ tin học vào quản lý các hoạt động đóng vai trò rất quan trọng. Việc áp dụng như vậy không chỉ nâng cao năng suất hoạt động mà còn đáp ứng được yêu cầu mở rộng phạm vi hoạt động của ngành mà không bị hạn chế về nguồn nhân lực.
Để nâng cao năng lực làm việc còn một vấn đề hết sức quan trọng là phải có những biện pháp để khuyến khích người lao động trong ngành làm việc tốt hơn. Trong điều kiện tương đối chủ động về quản lý tài chính mà bảo hiểm xã hội Việt Nam đang hoạt động như hiện nay ngành có thể làm được. Bằng các hình thức khuyến khích thích hợp, chẳng hạn trên cơ sở một tỉ lệ định mức chi phí quản lý của ngành (4% tổng thu bảo hiểm xã hội) hợp lý hoá quá trình hoạt động để tiết kiệm các chi phí hành chính khác, tăng tiền lương cho lao động trong ngành. Qua đó người lao động làm việc tích cực hơn, chủ động và sáng tạo hơn vì sự phát triển của ngành, đó là một trong những nhân tố quan trọng nhất cho sự phát triển của bảo hiểm xã hội trong tương lai.
Đây là một trong những mục tiêu chiến lược hàng đầu, đã và đang được các nhà quản lý quan tâm. Tuy nhiên đến nay, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý nghiệp vụ bảo hiểm xã hội của hệ thống bảo hiểm xã hội Việt Nam mới bắt đầu, các công việc thuộc nghiệp vụ chủ yếu vẫn làm thủ công là chính, máy vi tính trang bị còn ít, các công nghệ phần mềm đang còn trong giai đoạn nghiên cứu thử nghiệm chưa được áp dụng rộng rãi. Trong khi đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý nghiệp vụ bảo hiểm xã hội không chỉ có lợi ích giảm chi phí, mà còn giúp thống nhất cách nhìn của nhiều người, nhiều đơn vị, dưới cùng một tiêu chuẩn thống nhất. Tạo ra phong cách khoa học trong làm việc, xây dựng được sự tin cậy đối với các đối tượng tham gia quan hệ bảo hiểm xã hội…từ đó nâng cao chất lượng phục vụ.
3.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chế độ hưu trí từ thực tiển trên địa bàn thành phố Hà Nội Luận văn: Giải pháp chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
3.3.1. Về các quy định pháp luật
Một là,từ năm 2018, thời gian đóng bảo hiểm xã hội để được hưởng tỷ lệ hưởng lương hưu hàng tháng tối đa 75% sẽ tăng thêm 5 năm. Đề xuất này được Bộ lao động – thương binh và Xã hội đưa ra tại dự thảo nghi định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 về bảo hiểm xã hội bắt buộc. Mức lương hàng tháng của người lao động được tính bằng tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng nhân với mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội theo lộ trình sau:
Người lao động nghỉ hưu từ ngày 01/01/2016 đến trước ngày 01/01/2018, tỷ lệ hưởng lương hàng tháng được tính bằng 45% tương ứng với 15 năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ, mức tối đa là 75%.
Lao động nữ nghỉ hưu từ ngày 01/01/2018, tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng được tính bằng 45% tương ứng với 15 năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì tính thêm 2%, mức tối đa là 75%.
Lao động nam nghỉ hưu từ ngày 01/01/2018, tỷ lệ hưởng lương hưu hằng tháng được tính bằng 45% tương ứng với số năm đóng bảo hiểm tăng dân theo từng năm: năm 2018 là 16 năm, năm 2019 là 17 năm, năm 2020 là 18 năm, năm 2021 là 19 năm, năm 2022 là 20. Sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội thì tính thêm 2%, mức tối đa là 75%. Như vậy, từ năm 2018 trở đi, lao động nữ nghỉ hưu phải có đủ 30 năm đóng bảo hiểm xã hội mới được nhận tỷ lệ hưởng lương hưu hàng tháng là 75% và lao động nam nghi hưu từ năm 2022 trở đi phải có đủ 35 năm đóng bảo hiểm xã hội mới được nhận mức lương hưu tối đa là 75%. Luận văn: Giải pháp chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
Hai là,với quy định mới thì không được ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động so với các quy định trước đó: Như người lao động phải tham gia đóng bảo hiểm xã hội từ 16-20 năm mới được tính tương đương 45% mức bình quân tiền lương tháng để tính lương hưu (quy định hiện nay là 15 năm). Chưa hết, nếu người lao động nghỉ trước tuổi, thì cứ mỗi năm nghỉ sớm bị trừ tiền lương hưu 2%/năm (hiện nay là 1%). Vây những người càng nghỉ hưu sau càng bất lợi. Luật bảo hiểm xã hội tác động đến hàng chục triệu người, nên cần tạo ra sự bình đẳng trong việc thực hiện, không vì muốn bảo vệ quỹ bảo hiểm mà bắt người lao động chịu thiệt về quyền lợi.
Ba là,hiện nay thời gian nộp bảo hiểm xã hội bình quân của doanh nghiệp vẫn còn ở mức bình quân cả nước là 235 giờ. Nhưng so với mức chung của các nước trong khu vực Asean là 49,5 giờ/năm, thì con số này vẫn còn cao gấp gần 5 lần. Và như vậy, cộng cả ngày nghỉ cuối tuần, hàng năm mỗi doanh nghiệp sẽ phải cắt cử ít nhất 1 nhân viên chuyên đi làm bảo hiểm xã hội cho người lao động trong vòng 3 tuần liên tục. Muốn biết cách làm hồ sơ, phải chạy đến Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) huyện để hỏi về thủ tục, nghe hướng dẫn và nhận biểu mẫu về để hoàn tất hồ sơ đăng ký số lượng lao động, thang, bảng lương cho công nhân. Vì trình tự, thủ tục hồ sơ nhiều và phức tạp gây khó khan cho người lao động và các Doanh nghiệp khi đi khai báo, nộp và hồ sở hưởng bảo hiểm xã hội.
Do vậy cần phải có sự thay đổi trình tự, thủ tục theo chiều hướng đơn giản, gọn nhẹ và tiến tới thủ tục hành chính điện tử.
Cần thay đổi quy trình giải quyết chế độ ốm đau, thai sản theo hướng cơ quan bảo hiểm xã hội tiếp nhận hồ sơ từ người sử dụng lao động, giải quyết và tổ chức chi trả cho người lao động trong các hình thức: Chi trả trực tiếp tại cơ quan bảo hiểm xã hội; thông qua tổ chức dịch vụ được cơ quan bảo hiểm xã hội ủy quyền; thông qua tài khoản tiền gửi cá nhân tại ngân hàng thương mại hoặc thông qua đơn vị sử dụng lao động; Luận văn: Giải pháp chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
Cần bổ sung trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật trong trường hợp nộp hồ sơ và giải quyết hưởng chế độ bảo hiểm xã hội chậm so với thời hạn quy định, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người hưởng. Trách nhiệm này thuộc về người sử dụng lao động trong trường hợp nộp chậm hồ sơ đề nghị hưởng bảo hiểm xã hội và trách nhiệm của cơ quan bảo hiểm xã hội trong trường hợp giải quyết hưởng bảo hiểm xã hội quá thời hạn.
Ngoài việc được giao chức năng thanh tra chuyên ngành về đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, cơ quan bảo hiểm xã hội còn được bổ sung quyền được yêu cầu người sử dụng lao động xuất trình sổ quản lý lao động, bảng lương và thông tin, tài liệu khác liên quan đến việc đóng, hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế…
Bốn là,cần đầu tư bảo toàn và tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội, các hình thức đầu tư trong giai đoạn 2007- 2012 được phân bổ chủ yếu là cho ngân sách nhà nước vay, mua trái phiếu Chính phủ, mua công trái giáo dục và cho các ngân hàng thương mại vay. Cơ cấu phân bổ cho từng hình thức vay có thay đổi qua các năm với xu hướng tăng tỷ trọng cho Ngân sách nhà nước vay, giảm tỷ trọng cho các ngân hàng thương mại vay. Cụ thể: nếu như năm 2007, tỷ lệ vốn đầu tư cho ngân sách Nhà nước vay chiếm gần 9% tổng vốn đấu tư; mua trái phiếu Chính phủ là 29,1%; mua công trái giáo dục là 1,3% và cho các ngân hàng thương mại vay là 60,9%. Thì cơ cấu này ở năm 2012 như sau: cho ngân sách nhà nước vay 48,5%; mua trái phiếu Chính phủ 19,4%; cho các Ngân hàng thương mại của Nhà nước vay 30,4%.
Nhìn chung, hoạt động đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội đảm bảo đúng quy định, an toàn và có khả năng thu hồi được khi cần thiết. Nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của quỹ bảo hiểm xã hội đã góp phần đáng kể vào công cuộc phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Hình thức đầu tư quỹ chủ yếu tập trung vào mua trái phiếu Chính phủ, cho Ngân sách nhà nước vay, cho các ngân hàng thương mại vay vì hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội phải đảm bảo an toàn, hiệu quả và thu hồi được khi cần. Do các hình thức đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội chủ yếu cho Ngân sách nhà nước vay nên lãi suất thu được từ hoạt động đầu tư chưa cao. Năm 2008, trong bối cảnh nền kinh tế lạm phát cao, lãi suất đầu tư quỹ thu được với tỷ lệ bình quân là 11,76%. Tuy nhiên, ở các năm sau đó chỉ ở khoảng 9,17% đến 10,0% thấp hơn cả chỉ số giá tiêu dùng bình quân của giai đoạn 2008- 2012 là 13,4%/năm. Nhìn chung, công tác đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội trong thời gian vừa qua chưa thật hiệu quả, quỹ bảo hiểm xã hội chưa bảo toàn được giá trị, Lãi thu được từ hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội thấp hơn chỉ số lạm phát
Từ những phân tích, đánh giá thực trạng và những hạn chế về các nội dung hình thành, quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội nêu trên, có thể đề xuất sửa đổi, bổ sung một số nội dung trong chương quỹ bảo hiểm xã hội như sau:
Về sử dụng quỹ: đề nghị bổ sung quy định về chi cho nội dung thực hiện giám định y khoa do tổ chức bảo hiểm xã hội giới thiệu; chi đóng bảo hiểm y tế cho người nghỉ việc hưởng trợ cấp thai sản khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi hoặc nghỉ việc hưởng trợ cấp ốm đau đối với người lao động bị mắc bệnh thuộc danh mục cần chữa trị dài ngày.
Về mức đóng, phương thức đóng của người lao động tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, giao Chính phủ quy định cụ thể mức thu nhập tối thiểu làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội và việc hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm xã hội đối với một số trường hợp đặc biệt để linh hoạt trong thực hiện và đảm bảo chính sách thu hút người dân tham gia vào loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện; đa dạng hơn các phương thức đóng và tạo cơ chế khuyến khích người tham gia đóng một lần cho một thời gian dài để giảm thiểu chi phí quản lý trong thực hiện. Luận văn: Giải pháp chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
Bổ sung quy định về việc thực hiện đóng bù cho thời gian được tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất, tuy nhiên cần quy định khi thực hiện đóng bù không phải tính lãi chậm đóng theo quy định.
Về mức tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội cần quy định rõ ràng hơn nhằm đảm bảo tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của người lao động tiếp cận với tiền lương thực tế của người lao động.
Về Chi phí quản lý: đề nghị sửa đổi lại theo hướng quy định tính theo tỷ lệ % trên tổng số thực thu bảo hiểm xã hội hàng năm do người lao động và người sử dụng lao động đóng; mức cụ thể do Chính phủ quy định để phù hợp với tính chất hoạt động của các đơn vị sự nghiệp.
Về các hình thức đầu tư, đề nghị sửa đổi theo hướng đa dạng hóa thêm các hình thức đầu tư mới.
3.3.2. Về tổ chức thực hiện pháp luật Luận văn: Giải pháp chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
Thứ nhất,cần thống nhất trong nghiệp vụ thu-chi, kế toán, chế độ chính sách. Từ đó cùng với những đổi mới về kỹ thuật, công nghệ xây dựng được hệ thống xử lý số liệu bảo hiểm xã hội có chất lượng, hiệu quả. Muốn vậy, phải có sự phối hợp đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, giữa các cơ quan bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố với nhau.
Để có một mạng máy tính mạnh cho hệ thống bảo hiểm xã hội song song với việc xây dựng trụ sở làm việc, xây dựng cơ sở hạ tầng mạng thông tin thì chúng ta phải mạnh dạn ứng dụng kỹ thuật hiện đại bằng việc quan tâm đầu tư trang bị máy móc, thiết bị hiện đại cho toàn hệ thống, đào tạo đội ngũ cán bộ đáp ứng yếu cầu. Điều quan trọng và cần làm trước hết là xây dựng cho được hệ thống các tiêu chuẩn trong các nghiệp vụ bảo hiểm xã hội, chẳng hạn: chuẩn hoá các mã quản lý, danh mục các báo biểu, các chỉ tiêu thống kê…
Thứ hai, phải đầu tư cho việc nghiên cứu phần mềm ứng dụng đáp ứng nhu cầu tự động hoá có khả năng thích ứng với sự thay đổi về chế độ chính sách. Trong tương lai gần, hệ thống thông tin bảo hiểm xã hội Việt Nam cần được nối mạng toàn ngành, rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển với các ngành khác.
Thứ ba, cần xây dựng và hoàn thiện cơ chế thu – chi bảo hiểm xã hội Việt Nam thực sự là rất cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu mới về: đảm bảo thực hiện tốt chinh sách chế độ, cân đối quỹ, bảo toàn và tăng trưởng quỹ.
Tuy rằng, quỹ bảo hiểm xã hội đang còn số dư tương đối lớn, song thực tế đó bắt nguồn từ yếu tố sâu xa là trong những năm qua bảo hiểm xã hội Việt Nam mới chủ yếu thực hiện công tác thu số đối tượng tham gia ngày càng nhiều. Công tác chi của bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ mới thực hiện với một số nhỏ trong số đối tượng này, phần lớn số đối tượng được hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội là những đối tượng được hưởng trợ cấp từ trước năm 1995, số này thực tế vẫn do Ngân sách nhà nước chi trả qua hệ thống bảo hiểm xã hội, tuy nhiên trong thời gian tới số đối tượng này sẽ giảm đi, số đối tượng mới đang tăng lên đồng thời thời gian hưởng mà họ cũng dài tương ứng với tuổi thọ tăng cao. Theo tính toán nếu chúng ta cứ giữ nguyên mức thu và tỷ lệ hưởng như hiện nay thì đến năm 2030 Việt Nam hoàn toàn mất khả năng chi trả. Như vậy, phải chăng cần có một sự cải thiện mới về mức đóng và cách tính toán mức hưởng, điều kiện hưởng vấn đề này không phải là mới, nó đã được các nhà chuyên môn, các chuyên gia bàn luận rất nhiều song vẫn chưa đưa lại lời giải hợp lý nhất. Bởi vì, thực tế mức sống của người dân Việt Nam là thấp thậm chí nhiều đối tượng không giám tham gia bảo hiểm xã hội, nếu chúng ta nâng mức đóng lên thì lương của họ không đủ đáp ứng nhu cầu tối thiểu của cuộc sống. Nên chăng chúng ta thực hiện nâng cao một cách dần dần theo từng thang một. Như thế vẫn đảm bảo khả năng chi trả tạm thời của quỹ, đồng thời nó cũng phù hợp khả năng của người tham gia. Ngoài ra, để quỹ bảo hiểm xã hội không còn hiện tượng nợ đọng cũng là một biện pháp cấp bách của bảo hiểm xã hội. Không lâu nữa luật bảo hiểm xã hội ra đời sẽ có những điều chỉnh thích hợp đối với những đối tượng chậm nộp bảo hiểm xã hội, nợ đọng quỹ quá lâu, những đối tượng này cần có những thiết chế đối xử công bằng như thêm phần lãi và chịu phạt theo phần trăm số quỹ còn nợ. Luận văn: Giải pháp chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
Thứ tư, cần tạo lập những qui định mang tính pháp lý và cơ chế tài chính để ngân quỹ của bảo hiểm xã hội có thể tham gia đầu tư tài chính theo phương thức an toàn, ít rủi ro nhất và trong thị trường có sự bảo đảm, đặc biệt là việc duy trì và kiềm chế lạm phát ở mức thấp nhằm tránh hiện tượng số tiền đầu tư từ ngân quỹ nhàn rỗi lại nhận được mức lãi suất thấp hơn mức lạm phát hàng năm. Cần phân biệt đầu tư tài chính của bảo hiểm xã hội với đầu tư tài chính của bảo hiểm nhân thọ. Lợi nhuận thu được từ đầu tư ngân quỹ bảo hiểm xã hội hoàn toàn không mang tính lợi nhuận thương mại và được dùng để bảo tồn phát triển quỹ, không phải là đối tượng chịu thuế. Bảo hiểm xã hội có thể mua bảo hiểm để bảo hiểm, bù đắp vào chia sẻ rủi ro trong đầu tư tài chính.
Thứ năm, cần tính toán có căn cứ khoa học số ngân quỹ tối đa có thể dùng để đầu tư tài chính, thời hạn cần thiết và an toàn cho đầu tư. Số dư của ngân quỹ cần đảm bảo khả năng chi trả của toàn hệ thống trong mọi thời điểm với mức độ cao nhất. Đây là việc làm khó nhưng hoàn toàn có thể làm được và phải tính toán thận trọng bằng phương pháp nghiệp vụ và thống kê kinh nghiệm.
Thứ sáu, cần xác định rõ trách nhiệm lựa chọn phương thức, lĩnh vực đầu tư, thời hạn đầu tư. Tuyệt đối không phân quyền, phân cấp trong hoạt động đầu tư tài chính, không chia sẻ nhiệm vụ và quyền hạn đầu tư cho bảo hiểm xã hội các cấp, cũng không dừng lại ở các hình thức đầu tư như hiện nay mà cơ quan bảo hiểm xã hội Việt Nam cần có những kiến nghị với Chính phủ trong việc mở rộng thêm các hình thức đầu tư mới nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư (liên doanh góp vốn cổ phần vào các ngành đang có lãi cao và thu hồi vốn nhanh như điện tử viễn thông, khai thác chế biến dầu khí…). Tuy vậy, đối với các dự án mới luôn cần có sự thẩm định kỹ lưỡng về hình thức liên doanh, góp vốn và khả năng thu hồi vốn của dự án.
Với chức năng bảo đảm xã hội, Nhà nước phải có cơ chế, chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện cho quỹ bảo hiểm xã hội bảo toàn và tăng trưởng nhanh thì mới có khả năng cân đối thu – chi. Trong trường hợp bảo hiểm xã hội gặp khó khăn thì Ngân sách nhà nước phải tiếp tục hỗ trợ để đảm bảo quyền lợi cho người lao động.
Liên quan đến sự hỗ trợ của Ngân sách nhà nước cho bảo hiểm xã hội có một vấn đề rất lớn rất cần phải giải quyết là vấn đề tiền lương. Hiện nay, với mức lương và thu nhập hàng tháng tương đối thấp, không đủ để người lao động đóng góp bảo hiểm xã hội với tỉ lệ cao hơn. Do đó, Nhà nước cần phải tiếp tục cải cách tiền lương và thu nhập vừa để cho người lao động có khả năng tái tạo sức lao động, vừa có khả năng đóng bảo hiểm xã hội, đồng thời vừa có thể cắt giảm sự bao cấp của Nhà nước trên cơ sở đóng góp ngày càng cao của người lao động. Luận văn: Giải pháp chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
Thứ bảy,cần thanh tra giám sát việc thực hiện chế độ hưu trí trên địa bàn thành phố Hà Nội. Bên cạnh việc hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về Bảo hiểm xã hội nói chung và đối với chế độ hưu trí nói riêng trong cả nước cũng như trên địa bàn Thành phố Hà Nội thì việc tổ chức thanh tra giám sát việc thực hiện chế độ hưu trí cũng đóng 1 vai trò vô cùng quan trọng. Việc kiểm tra giám sát góp phần không nhỏ đối với việc thức hiện đúng, đủ và nghiêm túc những quy định của pháp luật về Bảo hiểm xã hội nói riêng cũng như chế độ hưu trí nói chung. Qua việc thanh tra giám sát, có thể dễ dàng phát hiện những sai sót, hạn chế đối với những quy định của pháp luật. Từ đó có căn cứ để có hướng hoàn thiện pháp luật một cách phù hợp hơn với tình hình thực tế. Bên cạnh đó, công tác thanh tra giám sát còn góp phần không nhỏ trong việc thúc đẩy các cơ quan, tổ chức, các đơn vị trực thuộc thực hiện một cách nghiêm túc và đầy đủ, tránh những trường hợp hách dịch đối với nhân dân.
Để tiến hành thanh tra giám sát việc thực hiện nghiêm túc các quy định của luật bảo hiểm xã hội nói chung cũng như đảm bảo việc thực hiện chế độ hưu trí nói riêng, cần có những quy định, quy chế riêng, rõ ràng về việc thành lập các tổ thanh tra. Có những quy định cụ thể và chi tiết về hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của các tổ thanh tra. Cần nâng cao vai trò và nhận thức của tổ thanh tra, kỹ năng cũng như nghiệp vụ cũng cần được củng cố vững chắc. Điều này mới có thể đảm bảo hiệu quả hoạt động của tổ thanh tra đối với việc áp dụng luật bảo hiểm xã hội, chế độ hưu trí trong giai đoạn hiện này.
Cần có kế hoạch cho công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát đối với hoạt động của các cơ quan bảo hiểm xã hội trên địa bàn cả nước nói chung và địa bàn Thành phố Hà Nội nói riêng. Cần có những kế hoạch cụ thể, rõ ràng và chi tiết. Những nội dung tiến hành thanh tra, giám sát, những công việc cần làm, những mục tiêu đạt được. Cần có sự phối kết hợp giữa các đơn vị thực hiện với tổ thanh tra, nhưng bên cạnh đó vẫn đảm bảo nguyên tắc bình đẳng trong hoạt động để kết quả của việc thanh tra giám sát thu được một cách khách quan nhất.
Bên cạnh việc tăng cường công tác thanh tra giám sát hoạt động áp dụng pháp luật bảo hiểm xã hội nói chung và chế độ hưu trí nói riêng, cần có những chế tài phù hợp áp dụng đối với những trường hợp vi phạm những quy định của pháp luật. Đặc biệt xử lý nghiêm minh những trường hợp vi phạm để làm gương cho những cơ quan, doanh nghiệp khác trên địa bàn thành phố Hà Nội. Thông qua việc thanh tra, kiểm tra, giám sát, chúng ta có thể vừa rút kinh nghiệm và nâng cao chất lượng, kiến nghị sửa đổi những quy định của pháp luật cho phù hợp với tình hình thực tế, vừa góp phần thúc đẩy việc áp dụng những quy định của pháp luật một cách nghiêm minh nhất trong Bảo hiểm xã hội nói chung và chế độ hưu trí nói riêng.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
Qua hơn 40 năm thực hiện, chế độ hưu trí luôn có vị trí quan trọng đặc biệt đối với người tham gia bảo hiểm xã hội. Chế độ hưu cùng với các chế độ bảo hiểm xã hội khác đã góp phần rất to lớn vào việc ổn định đời sống của công nhân viên chức, lực lượng vũ trang và gia đình họ làm cho họ yên tâm lao động sản xuất, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của đất nước trong thời kỳ vừa qua. Nhờ có chế độ hưu trí mà người lao động sau khi hết tuổi lao động hoặc sau một số năm công tác nhất định đã được nghỉ hưu và được nhận tiền hưu để ổn định cuộc sống. Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử chế độ hưu trí thời kỳ bao cấp chưa thể hiện đúng bản chất của mình mà thể hiện tính ưu đãi bao cấp của Nhà nước cho một bộ phận dân cư là công nhân viên chức, lực lượng vũ trang. Nhưng trong thời kỳ đó chế độ hưu trí cũng đã góp phần rất lớn vào việc ổn định đời sống cho người lao động. Đến nay, khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường nhu cầu về bảo hiểm xã hội đa dạng ngày càng tăng, số lượng người về hưu cũng ngày càng tăng thì đời sống của họ luôn luôn là mối quan tâm lơn của Đảng và nhà nước ta. Do đó đặt ra yêu cầu là thực hiện bảo hiểm xã hội đối với người về hưu như thế nào để đạt được hiệu quả cao nhât, đồng thời phù hợp với hoàn cảnh đất nước trong thời kỳ đổi mới… Để đáp ứng được yêu cầu này thì việc xây dựng và hoàn thiện chế độ hưu trí cho phù hợp với cơ chế quản lý mới là hết sức cần thiết.
Với tầm quan trọng như vậy của chế độ bảo hiểm hư trí, Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội đã tích cực trong công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo hiểm xã hội nói chung và bảo hiểm hưu trí nói riêng. Tình hình số người tham gia bảo hiểm hưu trí trên địa bàn thành phố ngày càng tăng. Hàng năm mức thu, nộp bảo hiểm xã hội luôn dẫn đầu cả nước. Tuy nhiên, những kết quả đạt được trên là chưa tương xứng với tiềm năng, vị thế và số lao động đông đảo trên địa bàn thành phố. Hiện nay mới chỉ các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước có tỷ lệ người lao động tham gia bảo hiểm xã hội đông và rộng khắp. Còn đa số các doanh nghiệp tư nhân ở loại hình vừa và nhỏ thì mới chỉ tham gia ở một số doanh nghiệp. Điều này ảnh hưởng tới quyền lợi, chế độ của người lao động nói chung.
Qua nghiên cứu về lý luận chế độ bảo hiểm xã hội cũng như tìm hiểu về thực trạng chế độ bảo hiểm hưu trí trên địa bàn thành phố Hà Nội. Tác giả đề tài đã tìm ra được những nguyên nhân của những tồn tại hạn chế trong việc thực hiện chế độ hưu trí trên địa bàn thành phố Hà Nội. Từ đó đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về chế độ bảo hiểm hưu trí nói chung và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện công tác thu, chi bảo hiểm hưu trí của Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội nói riêng. Các giải pháp này mang tính đồng bộ cao, và giải quyết được cả vấn đề lý luận và thực tiễn. Điều này mong đóng góp một phần nhỏ bé vào quá trình đẩy nhanh việc tham gia bảo hiểm hưu trí của mọi tầng lớp người lao động trên địa bàn thủ đô.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể góp phần giải quyết một số vướng mắc trên khía cạnh pháp luật và thực tiễn áp dụng. Tuy nhiên, tác giả chắc chắn rằng vấn đề nghiên cứu còn nhiều góc cạnh khác nhau cần tìm hiểu, với thời gian nghiên cứu ngắn ngủi, kinh nghiệm nghiên cứu chưa lâu nên đề tài nghiên cứu chắc chắn còn nhiều điều khiếm khuyết rất mong nhận được sự đóng góp chân thành và sâu sắc của thầy cô và các bạn. Luận văn: Giải pháp chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực trạng chế độ hưu trí trong Luật bảo hiểm xã hội