Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình có vị trí, vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội. Đó là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng để giáo dục và hình thành nhân cách của mỗi cá nhân. Sự phát triển và ổn định lâu dài của gia đình góp phần vào sự phát triển chung của toàn xã hội. Nhận thức được tầm quan trọng và vị trí của gia đình tới đời sống kinh tế xã hội, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ giữa các thành viên trong gia đình nhằm mục đích xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc và phát triển bền vững.
Bên cạnh yếu tố tình cảm, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau giữa vợ chồng thì điều kiện vật chất cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự bền vững của quan hệ hôn nhân. Khi hôn nhân được xác lập đòi hỏi phải có một khối tài sản chung để đảm bảo nhu cầu của gia đình. Tuy nhiên, để tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể thực hiện quyền định đoạt tài sản của mình, pháp luật Hôn nhân và Gia đình cho phép vợ chồng có thể chia tài sản chung trong khi hôn nhân còn tồn tại. Vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được áp dụng từ khi Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 có hiệu lực. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 tiếp tục kế thừa và phát triển nội dung này trên cơ sở có những thay đổi mới, hoàn thiện và áp dụng linh hoạt hơn trong thực tiễn. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại là một yêu cầu tất yếu, thể hiện quyền tự do của vợ chồng đối với tài sản chung, đồng thời tạo điều kiện cho vợ chồng có thể thực hiện được các yêu cầu về nghề nghiệp, đầu tư kinh doanh, và các nghĩa vụ riêng của mình một cách độc lập mà không ảnh hưởng đến đời sống chung của gia đình. Từ thực tiễn cho thấy, khi hôn nhân còn tồn tại vợ chồng có thể xác lập rất nhiều giao dịch liên quan đến tài sản và sẽ không thể tránh khỏi những rủi ro như một bên kinh doanh thua lỗ, dẫn đến phá sản,… Việc giải quyết hậu quả của những rủi ro này trong nhiều trường hợp có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế của cả gia đình, ảnh hưởng đến các điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con cái, ảnh hưởng đến lợi ích của những người khác có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng. Do vậy, quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân sẽ góp phần ổn định các quan hệ hôn nhân gia đình, tạo cơ sở pháp lý thực hiện các quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng. Bên cạnh những kết quả đạt được, một số quy định và việc áp dụng chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân còn khá nhiều bất cập và vướng mắc cần phải giải quyết.
Từ thực tiễn nêu trên, đề tài của Luận văn đề cập đến “Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật Việt Nam”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài Luận văn: Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Gia đình có vị trí và vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội nên các vấn đề liên quan đến Hôn nhân và Gia đình luôn được nhiều độc giả cũng như các nhà lập pháp quan tâm. Do đó đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình nói chung và việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nói riêng. Tuy nhiên, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân chỉ được nghiên cứu chung trong các các công trình nghiên cứu về chia tài sản chung của vợ chồng hoặc một vài nghiên cứu chỉ tập trung nghiên cứu một vài khía cạnh cụ thể của vấn đề này.
Một số luận văn, luận án đã có nghiên cứu một phần về vấn đề này, tiêu biểu như “Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam”, Luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Văn Cừ (2005). Luận án này đã nghiên cứu một cách toàn diện tất cả các vấn đề lý luận chung về chế độ tài sản của vợ chồng, trong đó có cả trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên đây là công trình nghiên cứu tổng thể chế độ tài sản của vợ chồng qua các thời kỳ cũng như đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật hiện hành nên chưa tập trung nghiên cứu, phân tích cụ thể về các vấn đề liên quan đến việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Ngoài ra, còn phải kể đến một số công trình nghiên cứu của các tác giả như: Luận văn thạc sĩ Luật học của Nguyễn Hồng Hải, trường Đại học Luật Hà Nội (2003) với đề tài “Xác định tài sản của vợ chồng – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”; Tác giả Lê Thị Hà với luận văn Thạc sỹ “Quan hệ tài sản giữa các thành viên trong gia đình theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000”; Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Thị Thanh Huệ với đề tài “Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”; Khóa luận tốt nghiệp của Tô Quang Đô, Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh với đề tài “Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, Quy định pháp luật và thực tiễn”, Luận văn cao học của Phạm Thị Tươi, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội với đề tài “Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”. Tuy nhiên các đề tài này chủ yếu nghiên cứu một vài khía cạnh của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Hiện nay chưa có một đề tài nào nghiên cứu đầy đủ về vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, đặc biệt là chưa tập trung nghiên cứu một số điểm bất cập của thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện tại văn phòng công chứng. Luận văn: Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Bên cạnh đó còn có một số giáo trình có đề cập đến việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân như Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình của trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2007; Tập bài giảng Luật Hôn nhân và gia đình, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh; Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình của Đại học Huế, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2003. Một số sách chuyên sâu như: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 của hai tác giả Nguyễn Văn Cừ và Ngô Thị Hường, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002; Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam của Tiến sĩ Nguyễn Văn Cừ, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2008; Bình luận khoa học Luật hôn nhân và gia đình của tác giả Nguyễn Ngọc Điện, Nxb Trẻ, 2002, và còn có một số sách và giáo trình khác nhưng chưa có công trình nào đi sâu phân tích các vụ việc thực tế về việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Một số bài báo, tạp chí nghiên cứu về vấn đề này như: “Chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân đang tồn tại” của tác giả Nguyễn Văn Cừ trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 11 năm 2003, và Tạp chí Tòa án nhân dân số 9 năm 2000, tr.18-21; “Bàn thêm về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành” của tác giả Nguyễn Hồng Hải đăng trên Tạp chí Luật học số 5/2003; bài viết “Hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân” của tác giả Nguyễn Phương Lan, Tạp chí Luật học số 6/2002; ngoài ra còn có nhiều bài viết được đăng trên nhiều báo điện tử.
Nhìn chung tất cả các công trình nghiên cứu từ trước đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ các nội dung liên quan đến việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, chưa có công trình nào đưa ra những bất cập hướng hoàn thiện trong việc công chứng văn bản thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Vì vậy, đề tài của luận văn là hoàn toàn không trùng lập nội dung so với các công trình nghiên cứu trước đây.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận và các quy định của pháp luật thực định về việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về vấn đề này và ảnh hưởng của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đến việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản chung giữa vợ và chồng trong hoạt động xét xử của Tòa án và các thỏa thuận tại văn phòng công chứng. Qua đó phát hiện những quy định còn bất cập, chưa cụ thể, những vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật và trong hoạt động thực tiễn, trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này trong điều kiện hiện nay.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
- Nghiên cứu các quy định của pháp luật thực định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, bao gồm quyền yêu cầu chia, lý do, những trường hợp chia và hậu quả pháp lý của việc tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
- Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thông qua hoạt động xét xử của Tòa án và hoạt động công chứng tại các Văn phòng công chứng khi giải quyết các vụ việc liên quan đến chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
- Đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và một số biện pháp nhằm đảm bảo hiệu quả việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng
Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; quy định của pháp luật hiện hành về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; một số công trình nghiên cứu và một số vụ việc cụ thể về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân qua thực tiễn.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trong một số văn bản pháp luật như: Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986; Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 và các văn bản pháp luật khác có liên quan.
Luận văn cũng nghiên cứu các quy định trong pháp luật của một số nước có quy định về việc chia (tách) tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; từ đó có sự so sánh và đối chiếu với pháp luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam, qua đó học hỏi, tiếp thu có chọn lọc những điểm phù hợp để bổ sung, hoàn thiện các quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trong thời gian tới.
Đặc biệt, luận văn nghiên cứu một số trường hợp thực tế về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thông qua các bản án của tòa án và các văn bản thỏa thuận được thực hiện tại các cơ quan công chứng trong thực tiễn áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Luận văn: Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
5.1 Phương pháp luận
Việc tiếp cận nghiên cứu đề tài dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin với phép duy vật lịch sử và duy vật biện chứng, gắn với thực tiễn Việt Nam, trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể: phân tích, tổng hợp trên cơ sở phân tích, so sánh, đối chiếu pháp luật của một số quốc gia trên thế giới; phương pháp khảo sát, thống kê để nghiên cứu đề tài.
6. Những điểm mới của luận văn
Luận văn nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện, có hệ thống việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Trong quá trình nghiên cứu luận văn trình bày một số điểm mới như sau:
- Luận văn xây dựng khái niệm, và phân tích các đặc điểm của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
- Luận văn nêu ra một số hạn chế, vướng mắc trong quy định của pháp luật hiện hành và trong quá trình áp dụng pháp luật thông qua việc phân tích các vụ việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân tại tòa án và tại các văn phòng công chứng, trong đó có địa bàn tỉnh Thừa Thiên – Huế.
- Trên cơ sở phân tích những bất cập, vướng mắc, luận văn đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn bao gồm 3 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
- Chương 2: Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo quy định của pháp luật hiện hành
- Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
1.1 Cơ sở lý luận về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
1.1.1 Khái niệm chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Chế độ tài sản của vợ chồng là một trong những chế độ pháp lý quan trọng của luật Hôn nhân và Gia đình. Trải qua quá trình phát triển, chế độ tài sản của vợ chồng đã có những thay đổi đáng kể. Từ việc chỉ quy định chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ tài sản chung, đến nay với sự tác động của nền kinh tế thị trường đã thay đổi căn bản các quan hệ xã hội trong đó có quan hệ Hôn nhân và Gia đình, vì vậy Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã quy định chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm chế độ tài sản chung và tài sản riêng. Điều này sẽ đảm bảo được nhu cầu thiết yếu của gia đình, thỏa mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của vợ chồng để thực hiện các nghĩa vụ chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; chăm sóc và giáo dục con cái,… đều cần sử dụng đến tài sản chung của vợ chồng. Mặt khác, sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã tạo điều kiện cho mọi người có thể có thể tăng thu nhập cho bản thân và gia đình, vì vậy nhu cầu tài sản riêng của vợ chồng lúc này trở nên cần thiết để họ có thể chủ động trong việc quan hệ giao dịch với người khác trong xã hội mà không ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của gia đình. Do đó, chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là một trong những giải pháp có hiệu quả để giải quyết nhu cầu chính đáng của vợ chồng. Luận văn: Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Sự ảnh hưởng của phong tục, tập quán cũng như những tư tưởng phong kiến tồn tại trong thời gian dài trong đời sống gia đình của người Việt Nam nên tài sản chung của vợ chồng vẫn được hiểu theo nghĩa “của chồng công vợ”, chưa hề có sự phân định rạch ròi tài sản của mỗi bên vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 không đề cập đến nội dung này. Điều này xuất phát từ điều kiện kinh tế xã hội chi phối, quan hệ hôn nhân chịu ảnh hưởng bởi phong tập, tập quán nên trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 xác định sở hữu chung của vợ chồng là chế độ cộng đồng toàn sản. Việc quy định chế độ tài sản này là hoàn toàn phù hợp với điều kiện xã hội lúc bấy giờ, phù hợp với tập quán gia đình truyền thống ở Việt Nam. Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 còn quá cô đọng, khái quát, chưa có quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 ra đời trong điều kiện kinh tế – xã hội đã phát triển hơn, do đó đã làm thay đổi căn bản nền kinh tế xã hội, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống gia đình. Luật Hôn nhân và Gia đình đã có sự thay đổi lớn khi xác lập tài sản chung của vợ chồng dựa trên chế độ cộng đồng tạo sản. Quan hệ tài sản của vợ chồng tồn tại dưới hình thức tài sản chung của vợ chồng và tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Bên cạnh đó, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 đã có một quy định mới khi mở rộng phạm vi chia tài sản chung của vợ chồng. Theo đó, luật này đã dự liệu ba trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng bao gồm: khi một bên vợ chồng chết trước (Điều 17); khi vợ, chồng ly hôn (Điều 42) và trường hợp khi hôn nhân đang tồn tại nếu có lý do chính đáng (Điều 18).
Trên cơ sở kế thừa và phát triển Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 tiếp tục ghi nhận quy định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân tại Điều 29 và Điều 30. Tuy nhiên, so với Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã quy định cụ thể hơn về điều kiện, quyền yêu cầu và hậu quả pháp lý sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đã được quy định trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 và Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, nhưng vẫn còn có nhiều cách hiểu khác nhau về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Tác giả Phạm Thị Tươi đã đưa ra khái niệm về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân như sau: “Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là việc chuyển một phần hoặc toàn bộ tài sản vốn là tài sản chung của vợ chồng thành tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng theo sự thỏa thuận của vợ chồng hoặc do Tòa án quyết định theo yêu cầu của vợ, chồng khi có những lý do nhất định nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi bên vợ, chồng và người thứ ba có liên quan mà không làm chấm dứt quan hệ giữa vợ và chồng trước pháp luật” [46]. Khái niệm này đã chứa đựng đầy đủ bản chất của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.
Ngoài nghiên cứu trên, qua quá trình tìm hiểu hiện nay chưa có bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào đưa ra khái niệm về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Chính vì vậy, chúng tôi mạnh dạn đưa ra khái niệm về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân như sau: Luận văn: Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
“Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là việc thay đổi một phần hoặc toàn bộ tài sản chung của vợ chồng thành tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng theo thỏa thuận hoặc do Tòa án quyết định trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác. Việc chia tài sản chung của vợ chồng được thực hiện trong thời kỳ hôn nhân và hậu quả của việc này không làm chấm dứt quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng trước pháp luật”.
Kể từ khi Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 ra đời và có hiệu lực cho đến nay, các quy định về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đã phát huy được hiệu quả, góp phần củng cố chế độ Hôn nhân và Gia đình Việt Nam; bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của vợ chồng, các thành viên trong gia đình và lợi ích của bên thứ ba.
1.1.2 Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tư tưởng chỉ đạo mang tính chi phối, định hướng cho mọi hoạt động và hành vi của các chủ thể tham gia vào việc giải quyết các vụ việc có liên quan đến yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Pháp luật hiện hành không có quy định gì về nguyên tắc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nên đã ít nhiều gây khó khăn trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Trước đây Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 quy định việc chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại được chia Điều 42 – Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986, tức là chia như khi ly hôn. Tuy nhiên Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 không quy định gì về nguyên tắc chia.
Căn cứ từ lý luận và thực tế cho thấy việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân cần tuân thủ một số nguyên tắc nhất định. Theo chúng tôi, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo những nguyên tắc cụ thể sau:
- Nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của vợ chồng
BLDS năm 2005 và Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 cũng như các văn bản quy phạm pháp luật khác đều tôn trọng quyền tự định đoạt của vợ chồng đối với tài sản chung. So với Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã có quy định mới cho phép vợ chồng có thể tự thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Đây là điểm khác so với Bộ luật Dân sự Pháp và Bộ luật Dân sự thương mại Thái Lan khi chỉ quy định việc chia tài sản chung phải được thực hiện qua con đường tư pháp, do Tòa án quyết định. “Thỏa thuận” có nghĩa là “đi tới sự đồng ý sau khi cân nhắc, thảo luận” [51]. Theo đó, vợ chồng đã bàn bạc, thảo luận trước đó rồi mới đi đến sự đồng ý chia tài sản chung. Trong đó họ đã cân nhắc đến vấn đề như hậu quả sau khi chia, nghĩa vụ của mỗi người đối với con cái và các thành viên trong gia đình. Người thứ ba hoặc các chủ thể khác có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng đều không thể can thiệp đến thỏa thuận chia này.
Luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành quy định việc thỏa thuận chia tài sản chung phải lập thành văn bản và ghi rõ các nội dung như: lý do chia tài sản, phần tài sản chia, phần tài sản còn lại không chia (nếu có), thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung và những nội dung khác (nếu có). Điều này nhằm tránh việc vợ chồng thỏa thuận với mục đích tẩu tán tài sản, trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ dân sự với người khác. Ngoài ra, văn bản thỏa thuận chia tài sản chung có thể có người làm chứng hoặc được công chứng theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc theo quy định của pháp luật [4].
Bên cạnh đó, thực tế cho thấy khi có tranh chấp về tài sản xảy ra, pháp luật cho phép vợ chồng có thể thỏa thuận được với nhau về những vấn đề đang tranh chấp. Đây là biện pháp hữu hiệu nhất để vợ chồng tránh được những bất đồng khi chia tài sản chung khi hôn nhân đang tồn tại hơn là việc yêu cầu tòa án giải quyết. Vợ chồng có thể thỏa thuận về hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đã chia là sở hữu riêng của mỗi người hay là tài sản chung hoặc có thể thỏa thuận về thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của một bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng hay vẫn là tài sản chung. Với quy định này đã cho thấy sự tự do thỏa thuận của vợ chồng là hoàn toàn tuyệt đối về việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng. Luận văn: Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Như vậy Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 rất đề cao nguyên tắc tự thỏa thuận khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Pháp luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành tôn trọng quyền tự do thỏa thuận của vợ chồng, nhưng sự thỏa thuận chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ tài sản đối với người khác thì không được công nhận theo quy định tại Khoản 2 Điều 29 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000.
- Nguyên tắc bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản chung
Nguyên tắc bình đẳng giữa vợ chồng về tài sản là một trong những quyền bình đẳng cơ bản của công dân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Đây là sự cụ thể hóa quyền bình đẳng trước pháp luật của công dân giữa công dân nam và công dân nữ, hay còn gọi là quyền bình đẳng giới. Chính vì vậy, để tạo điều kiện và cơ hội phát triển ngang bằng cho vợ chồng, pháp luật nước ta đã ghi nhận sự bình đẳng giữa nam và nữ nói chung và sự bình đẳng giữa vợ chồng trong việc chia tài sản chung nói riêng trong nhiều văn bản luật khác nhau.
Trước tiên, việc bình đẳng giữa vợ chồng được ghi nhận trong Hiến pháp theo những nguyên tắc nhất định. Điều 52 Hiến pháp năm 1992 đã quy định: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”. Bình đẳng trước pháp luật theo quy định này còn bao hàm cả nội dung bình đẳng nam nữ, bình đẳng vợ chồng. Đó là một trong những tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá mức độ tiến bộ của một xã hội, là mức độ giải phóng phụ nữ, giải phóng vị trí lệ thuộc của người vợ trong gia đình. Ngoài ra, xuất phát từ Điều 57 Hiến Pháp năm 1992 công nhận: “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật”. Cụ thể hóa quyền này, Bộ luật Dân sự, Luật Doanh Nghiệp và một số văn bản pháp luật khác đã quy định cho các chủ thể khi tham gia vào hoạt động kinh doanh có các quyền như: “thành lập doanh nghiệp, lựa chọn ngành nghề, hình thức đầu tư, kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm”. Bên cạnh đó, Điều 63 Hiến pháp năm 1992 cũng quy định: “Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình”. Đây là sự ghi nhận quyền bình đẳng về giới, với tư cách là công dân của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, phụ nữ và nam giới đều bình đẳng trước pháp luật.
Bình đẳng giữa nam nữ nói chung và bình đẳng vợ chồng nói riêng đã được cụ thể hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật. Điều 5 Bộ luật Dân sự năm 2005 đã ghi nhận trong quan hệ dân sự các chủ thể đều bình đẳng, không được lấy bất cứ lý do nào về sự khác biệt để đối xử không bình đẳng. Các chủ thể bình đẳng về năng lực pháp luật, về hình thức sở hữu khi giao kết hợp đồng dân sự, đều được hưởng các quyền và phải gánh vác những nghĩa vụ như nhau. Tại Điều 8 Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng quy định trong quan hệ vợ chồng, vợ, chồng là những chủ thể độc lập khi tham gia bất kỳ một giao dịch hợp pháp mà bên kia không có quyền ngăn cản, mỗi bên vợ chồng phải tôn trọng quyền bình đẳng đó. Có như vậy, thì gia đình mới hạnh phúc và xã hội mới phát triển được. Mặt khác, các chủ thể phải luôn tôn trọng lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (Điều 10 Bộ Luật Dân Sự năm 2005). Có nghĩa rằng, quyền bình đẳng luôn nằm trong khuôn khổ pháp luật. Quyền bình đẳng của vợ chồng trong việc chia tài sản luôn được tôn trọng phát huy, luôn hướng tới sự đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể, và trong một chừng mực có thể, bảo vệ lợi ích chung của gia đình và xã hội. Ngoài ra, Điều 40 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Vợ chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình và trong quan hệ dân sự, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững”. Quy định này đã thể hiện sự bình đẳng về mọi mặt giữa vợ chồng trong gia đình, cũng như phải có sự bình đẳng trong việc chia tài sản của vợ chồng, nhằm mục đích xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc và bền vững, đồng thời có thể hạn chế được các mâu thuẫn phát sinh trong đời sống vợ chồng và đảm bảo quyền lợi chính đáng cho các bên.
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã quy định cụ thể hơn về bình đẳng giữa vợ chồng, Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000: “Vợ chồng bình đẳng với nhau, có nghĩa vụ và quyền ngang nhau về mọi mặt trong gia đình”. Có nghĩa vợ chồng không chỉ được bình đẳng trong quan hệ nhân thân mà còn được bình đẳng trong quan hệ tài sản: chiếm hữu, sử dụng, định đoạt cũng như phân chia tài sản. Quyền bình đẳng giữa vợ và chồng đối với tài sản chung thể hiện ở việc: tài sản chung đó không nhất thiết phải do cả hai vợ chồng cùng tạo ra một cách trực tiếp mà có thể do một bên vợ hoặc chồng tạo ra và cũng không phụ thuộc vào công sức đóng góp của mỗi bên. Điều này xuất phát từ tính chất đặc biệt của quan hệ vợ chồng, được gắn kết bởi mối quan hệ tình cảm gia đình, vợ chồng cùng chung sức chung lòng để tạo dựng khối tài sản chung, cùng có trách nhiệm và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dạy con cái [7]. Luận văn: Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Do đó dưới góc độ bình đẳng thì việc chia tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là hoàn toàn cần thiết khi nền kinh tế của đất nước đang phát triển mạnh mẽ như hiện nay. Nền kinh tế thị trường đã mở ra cho vợ chồng nhiều cơ hội nhưng cũng chứa đựng những rủi ro không lường trước được. Chính vì vậy, chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân cần phải đảm bảo quyền bình đẳng của vợ chồng nhằm thực hiện được các quyền năng về tài sản của mỗi người và giúp cho cuộc sống gia đình bền vững, hôn nhân đạt được mục đích.
- Nguyên tắc tự do thỏa thuận nhưng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội
Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình cho phép vợ chồng có quyền tự thỏa thuận. Quy định này đã thể hiện sự tự do của vợ chồng đối với khối tài sản chung nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho vợ chồng có thể thỏa mãn những nhu cầu cá nhân nhất định. Dựa trên nguyên tắc này, khi vợ chồng có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật Hôn nhân và Gia đình và pháp luật dân sự có thể thỏa thuận với nhau bất kỳ các vấn đề liên quan đến tài sản chung của vợ chồng, nếu vợ chồng có yêu cầu. Tuy nhiên thỏa thuận chỉ có hiệu lực pháp luật, được pháp luật công nhận và bảo vệ khi ý chí của vợ chồng khi thỏa thuận đó phù hợp với ý chí của nhà nước. Hay nói cách khác, sự tự do ý chí trong thỏa thuận của vợ chồng phải nằm trong khuôn khổ, giới hạn nhất định – giới hạn lợi ích của các cá nhân khác, lợi ích chung của xã hội và trật tự công cộng. Nếu để vợ chồng tự do thỏa thuận vô hạn thì thỏa thuận đó sẽ trở thành phương tiện để trốn tránh việc thực hiện các nghĩa vụ dân sự với người khác và ảnh hưởng đến lợi ích chung của xã hội. Lênin đã viết “phải đi xa hơn nữa trong vấn đề tăng cường sự can thiệp của nhà nước vào các quan hệ pháp luật tư, các việc dân sự… không được bỏ qua một khả năng tối thiểu nào để mở rộng sự can thiệp của nhà nước vào các quan hệ dân luật” [24, tr.577]. Chính vì vậy, trong xã hội ta – xã hội xã hội chủ nghĩa, lợi ích chung của toàn xã hội (lợi ích cộng đồng) và đạo đức xã hội không cho phép bất cứ cá nhân, tổ chức, kể các vợ chồng được lợi dụng ý chí tự do để biến những thỏa thuận của cá nhân thành phương tiện trốn tránh việc thực hiện các nghĩa vụ dân sự. Do đó, thỏa thuận chia tài sản của vợ chồng không nhằm mục đích tẩu tán tài sản, trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ dân sự với người khác; không nhằm mục đích trốn tránh việc thực hiện các nghĩa vụ dân sự chung đối với gia đình thì có thể thực hiện được. Nếu thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không tuân theo quy định của pháp luật, trốn tránh nghĩa vụ tài sản đối với người khác và trái đạo đức xã hội sẽ bị tuyên bố vô hiệu theo các quy định của pháp luật HNGĐ và pháp luật dân sự về giao dịch dân sự.
Tóm lại các chủ thể tự do thỏa thuận trong bất kỳ trường hợp nào cũng cần đặt lợi ích của cộng đồng, của xã hội lên hàng đầu. Vì lúc này, lợi ích của cộng đồng, của toàn xã hội được quy định bởi pháp luật và đạo đức xã hội trở thành giới hạn cho sự tự do ý chí của các chủ thể khi tham gia giao kết hợp đồng nói riêng, và trong mọi hành vi của chủ thể nói chung.
- Nguyên tắc đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên và con đã thành niên không có khả năng lao động sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, dù chia một phần hay chia toàn bộ tài sản chung thì mối quan hệ pháp lý và tình cảm giữa vợ chồng vẫn chưa chấm dứt. Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không làm thay đổi quyền và nghĩa vụ về nhân thân của cha mẹ đối với con cái. Vì vậy, vợ chồng cần chú ý đảm bảo quyền lợi của các con, đặc biệt là con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động do mất năng lực hành vi dân sự, tàn tật,… Khoản 1 Điều 34 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã ghi nhận: Luận văn: Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội [31].
Nuôi dạy con cái không chỉ là nghĩa vụ của cha mẹ đối với con, mà đó còn là nghĩa vụ của cha mẹ trước Nhà nước và xã hội. Cha mẹ phải có nghĩa vụ chăm lo cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ và đạo đức của con, đặc biệt là con chưa thành niên. Công ước về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hợp quốc đã cho rằng trẻ em là đối tượng “còn non nớt về thể chất và trí tuệ, cần được chăm sóc và bảo vệ đặc biệt” [12]. Vì vậy, trẻ em là đối tượng cần được chăm sóc đặc biệt, đồng thời đây là quyền cơ bản mà trẻ em được hưởng và phải đảm bảo thực hiện.Vì vậy, việc chia tài sản chung đòi hỏi vợ chồng phải có sự cân nhắc việc thực hiện các nghĩa vụ về chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con sau khi chia tài sản chung, đặc biệt là khi chia toàn bộ tài sản chung và khi vợ chồng sống riêng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Thực hiện nguyên tắc này nhằm đảm bảo lợi ích chung của con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động, tàn tật hoặc mất năng lực hành vi dân sự, đồng thời cũng thể hiện truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, luôn có sự yêu thương, chăm sóc, đùm bọc lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình.
Tóm lại các nguyên tắc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là cơ sở pháp lý để giải quyết khách quan, đúng pháp luật yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng. Những nguyên tắc này có mối liên hệ mất thiết với nhau. Tuân thủ các nguyên tắc này là yêu cầu cần thiết, bắt buộc đối với vợ chồng, mọi chủ thể và cơ quan trong hoạt động thực hiện và áp dụng pháp luật.
1.2 Đặc điểm của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân Luận văn: Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Do tính chất đặc thù của yêu cầu chia tài sản chung được thực hiện khi hôn nhân còn tồn tại giữa vợ và chồng nên việc chia này có những đặc điểm khác với trường hợp chia tài sản chung khi ly hôn và chia tài sản chung khi một bên chết trước. Vì vậy, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có một số đặc điểm cơ bản sau:
1.2.1 Cách phân chia đặc biệt
Khi hôn nhân đã đổ vỡ do nhiều nguyên nhân khác nhau thì vợ chồng có thể tính toán một cách sòng phẳng phần quyền của mỗi người trong khối tài sản chung hợp nhất. Đặc biệt, vợ chồng có thể dựa vào các quy định liên quan đến công sức đóng góp của người này hay người kia vào sự phát triển của khối tài sản chung để phân chia khối tài sản đó trước khi thực hiện việc yêu cầu chia. Việc chia tài sản chung của vợ, chồng lúc này được thực hiện theo đúng các quy định trong luật chung về chia tài sản thuộc sở hữu chung theo phần, cũng như theo các quy định về chia tài sản sau khi ly hôn, đặc biệt là các quy định về phân chia nhà ở, quyền sử dụng đất ở, đất nông nghiệp…
Việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là một trường hợp đặc biệt. Đây được xem như một biện pháp hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh hoặc nghề nghiệp của vợ chồng. Khi vợ chồng yêu cầu chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, thông thường họ có thể thỏa thuận mỗi người nhận một nửa tài sản trong phần tài sản yêu cầu chia. Tuy nhiên, trên thực tế để tạo điều kiện cho vợ hoặc chồng thực hiện một nghĩa vụ riêng hoặc một dự án kinh doanh riêng, có rất nhiều trường hợp các cặp vợ chồng thỏa thuận về việc dành cho người cần có tài sản riêng phần lớn tài sản nhằm đáp ứng đến mức có thể được nhu cầu huy động tài sản để trả nợ hoặc kinh doanh của người này, mà họ không cần quan tâm đến công sức đóng góp của bản thân vào việc tạo lập, phát triển khối tài sản chung đó. Trong trường hợp này, việc xác định phần quyền của vợ, chồng trong khối tài sản chung được phân chia thường chỉ để được thực hiện sau khi đã chia xong khối tài sản chung. Do đó, khối tài sản riêng của mỗi người được phân chia từ tài sản chung là không đồng đều nhau.
Vì vậy, việc phân chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại được phân chia theo một cơ chế đặc biệt, có thể không cần dựa vào việc xác định công sức đóng góp của từng người vào việc tạo lập và phát triển khối tài sản chung. Cơ chế này hoàn toàn khác hẳn với việc phân chia tài sản chung khi ly hôn hay khi một bên vợ hoặc chồng chết trước. Đây cũng chính là ưu điểm của việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân tạo thời cơ cho vợ hoặc chồng nhanh chóng có được tài sản để thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình. Nhưng đồng thời nó cũng có một điểm hạn chế khi vợ hoặc chồng có thể lợi dụng để trốn tránh việc thực hiện các nghĩa vụ sau khi chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại. Do đó, luật cần dự liệu hậu quả pháp lý đối với việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, đặc biệt đối với việc thực hiện nghĩa vụ chung trong gia đình.
1.2.2 Không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân trước pháp luật Luận văn: Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Theo luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành quy định việc chia tài sản chung của vợ chồng được thực hiện trong ba trường hợp khi vợ chồng ly hôn, khi một trong hai bên vợ hoặc chồng chết trước và khi hôn nhân đang tồn tại. Trong ba trường hợp này chỉ có trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân trước pháp luật.
Kết hôn và ly hôn là hai mặt của quan hệ hôn nhân, kết hôn được xem là hiện tượng bình thường thì ly hôn là một hiện tượng bất bình thường, là mặt trái của hôn nhân nhưng không thể thiếu được khi quan hệ hôn nhân đã thực sự đổ vỡ. Trong trường hợp này, ly hôn là hậu quả tất yếu đồng thời là một giải pháp tối ưu nhằm làm cho gia đình thoát khỏi những xung đột, mâu thuẫn, bế tắc trong cuộc sống; đảm bảo nguyên tắc hôn nhân tự nguyện và tiến bộ; bảo đảm quyền tự do hôn nhân bao gồm quyền tự do kết hôn của nam, nữ và quyền tự do ly hôn của vợ chồng. Khi bản án hoặc quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân sẽ chấm dứt. Về nguyên tắc, tài sản chung của vợ chồng trong trường hợp này được chia theo thỏa thuận của vợ chồng hoặc theo quyết định của Tòa án.
Nếu kết hôn là sự kiện bình thường, là thời điểm đầu tiên của quan hệ hôn nhân thì khi vợ hoặc (chồng) chết trước là thời điểm cuối cùng tất yếu của hôn nhân. Việc một trong hai vợ chồng chết trước, hoặc bị Tòa án tuyên bố đã chết sẽ đương nhiên chấm dứt quan hệ vợ chồng. Lúc này tài sản chung của vợ chồng sẽ được chia theo yêu cầu của người còn sống hoặc người thừa kế của vợ chồng đã chết.
Trường hợp vợ chồng có yêu cầu chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo thỏa thuận của vợ chồng hay do Tòa án quyết định thì giữa họ vẫn còn tồn tại quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với con cái và các thành viên trong gia đình theo quy định tại Chương III và Chương IV Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Đây chính là một điểm khác biệt so với hai trường hợp chia tài sản chung khi vợ hoặc chồng chết trước và khi vợ chồng ly hôn. Vì vậy, trái với hai trường hợp trên, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không làm chấm dứt quan hệ nhân thân của vợ chồng trước pháp luật.
1.2.3 Làm thay đổi căn cứ xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là một biện pháp giúp vợ, chồng chuyển các tài sản chung đã được tạo ra và hiện hữu trong khối tài sản chung của vợ chồng thành tài sản riêng theo thỏa thuận của vợ, chồng hoặc do Tòa án quyết định theo yêu cầu của hai vợ chồng. Khác với trường hợp chia tài sản chung khi ly hôn và khi một bên vợ hoặc chồng chết trước làm chấm dứt quan hệ hôn nhân, đồng thời chấm dứt chế độ tài sản chung của vợ chồng, chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân còn tồn tại không làm chấm dứt chế độ tài sản chung mà chỉ làm thay đổi căn cứ xác định tài sản chung, tài sản riêng của mỗi người. Luận văn: Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Pháp luật hiện hành cho phép vợ chồng có thể yêu cầu chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì phần tài sản chung đã chia cũng như hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng này trở thành tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng, phần tài sản còn lại không chia và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản chung còn lại vẫn thuộc sở hữu chung của vợ chồng. Điều này không làm chấm dứt chế độ sở hữu chung ngay trong trường hợp chia toàn bộ cũng không làm chấm dứt vì vợ chồng vẫn có thể được thừa kế chung, tặng cho chung sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Việc chia này chỉ làm thay đổi khối lượng tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng. Chẳng hạn, vợ chồng có thể thỏa thuận tiền lương, những thu nhập hợp pháp khác của mỗi bên vợ chồng sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của mỗi người mặc dù trước đó tài sản này là tài sản chung hợp nhất của vợ chồng. Như vậy, việc chia tài sản chung đã làm thay đổi căn cứ xác định nguồn gốc tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng
Vì vậy, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không làm chấm dứt hoàn toàn chế độ sở hữu chung của vợ chồng vì việc chia tài sản chung này không chỉ đơn thuần như việc chia tài sản chung thuộc các hình thức sở hữu chung như quy định của Bộ luật Dân sự. Khối tài sản chung vẫn có thể tồn tại trong trường hợp không chia hết tài sản hoặc sau khi chia lại được thừa kế chung, tặng cho chung hay vợ chồng thỏa thuận khôi phục chế độ tài sản chung, nên chỉ làm thay đổi căn cứ xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng.
1.3 Ý nghĩa của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Pháp luật về Hôn nhân và Gia đình của Nhà nước ta từ khi ra đời đến nay, vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân chỉ mới được ghi nhận tại Điều 18 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 chưa quy định nội dung này. Trên cơ sở nội dung quy định tại Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 tiếp tục kế thừa và phát triển quy định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thể hiện cụ thể tại Điều 19 và Điều 20. Quy định này khi áp dụng vào thực tiễn đã thể hiện sự phù hợp với xu thế phát triển của xã hội. Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có ý nghĩa sau:
Thứ nhất, việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân là một giải pháp để loại bỏ hoặc hạn chế đến mức thấp nhất những mâu thuẫn giữa vợ chồng trong quản lí, sử dụng, định đoạt tài sản chung hợp nhất, đặc biệt trong thời điểm nền kinh tế đất nước vận hành mạnh mẽ theo cơ chế thị trường. Bản chất của cơ chế thị trường là sự tự do cạnh tranh, do đó luôn chứa đựng những cơ hội để mọi người có thể kiếm được lợi nhuận khi tiến hành một hoạt động kinh doanh nào đó, nhưng đồng thời cũng chứa đựng những rủi ro bất ngờ không kịp trở tay có thể dẫn đến tình trạng “khuynh gia bại sản”. Chính vì bản chất đó và do tính chất công việc, nghề nghiệp của vợ chồng cần sự tự chủ trong hoạt động đầu tư kinh doanh, nên nếu sử dụng tài sản chung của vợ chồng để kinh doanh thì có thể ảnh hưởng đến lợi ích chung của gia đình trong trường hợp có rủi ro xảy ra.
Thứ hai, đời sống chung hàng ngày của vợ chồng khó tránh khỏi những mâu thuẫn, xung đột do nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến vợ chồng không còn tình cảm, nhưng vì lý do nào đó như: sợ ảnh hưởng tới hòa khí trong gia đình, ảnh hưởng tới con cái, hàng xóm chê cười, tới danh dự, uy tín của nhau… mà vợ chồng không yêu cầu ly hôn, chỉ yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng. Chính vì vậy, việc chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại trở thành một nhu cầu tất yếu, bảo vệ quyền và lợi ích chung của gia đình cũng như tôn trọng quyền tự định đoạt tài sản của cá nhân, quyền tự do kinh doanh được pháp luật công nhận. Luận văn: Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Thứ ba, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân sẽ đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng. Trên thực tế có rất nhiều trường hợp vợ chồng phải thực hiện các nghĩa vụ dân sự riêng với người thứ ba, chẳng hạn như các khoản nợ mà vợ hoặc chồng đã vay từ trước khi kết hôn hoặc trong thời kỳ hôn nhân mà sử dụng vào mục đích riêng của bản thân, … Trong trường hợp này nếu tài sản riêng không có hoặc không đủ để thực hiện nghĩa vụ dân sự, đồng thời vợ chồng không thể thỏa thuận được về việc lấy tài sản chung để trả nợ riêng cho một bên thì vợ hoặc chồng có quyền yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, để người có nghĩa vụ với người thứ ba có thể lấy phần tài sản riêng trong khối tài sản chung của vợ chồng thanh toán nghĩa vụ riêng với người thứ ba có liên quan.
Thứ tư, quy định về việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân đã đánh dấu sự chuyển mình theo thời đại của các quy định pháp luật về quyền sở hữu tài sản của vợ chồng. Việt Nam trong một thời gian dài tồn tại dựa vào nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu nên tư duy của con người khó lòng thoát khỏi nguyên tắc của xã hội trồng lúa nước. Chính vì thế mà người dân thường lạ lẫm với việc rạch ròi về tài sản, nhất lại là tài sản của vợ chồng, nếu như cặp vợ chồng nào có sự độc lập về tài chính hay sự phân định tài sản “của vợ, của chồng” thì thường bị người khác chê cười hoặc cho rằng giữa vợ chồng đang có mâu thuẫn với nhau. Bước sang nền kinh tế thị trường, nền kinh tế của thời đại mới với sự phát triển của công nghệ thông tin, của sự toàn cầu hóa nên sự độc lập của mỗi cá nhân cần được đề cao nên không thể bị bó buộc trong quan niệm về tài sản vợ chồng trong lối tư duy cũ đó nữa. Cá nhân thực sự cần sự độc lập hơn về tài chính để có thể tồn tại trong xã hội hiện đại. Việc chia tài sản trong chung trong thời kì hôn nhân như một giải pháp để dung hòa giữa truyền thống xưa và tư duy của ngày nay, đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn và cuộc sống.
Vì vậy, chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là một quy định hợp lý, đề cao quyền tự định đoạt của vợ chồng đối với tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất, giải quyết nhanh chóng những vấn đề có liên quan đến tài sản chung và đáp ứng nhu cầu của vợ, chồng; đồng thời hạn chế tình trạng giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân tại Tòa án.
1.4 Pháp luật của một số nước về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Luận văn: Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Mỗi một quốc gia, một khu vực trên thế giới có sự không đồng nhất về các điều kiện chính trị, kinh tế – xã hội, văn hóa; truyền thống, phong tục, tập quán,… Sự không đồng nhất này là một trong những yếu tố hình thành nên sự đa dạng của hệ thống pháp luật các nước. Bên cạnh những nét tương đồng thì pháp luật các nước cũng có những khác biệt cơ bản phù hợp với điều kiện của từng quốc gia, trong đó có vấn đề về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Sau đây luận văn xin giới thiệu pháp luật của một số quốc gia về một số hình thức được xem là chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân. Qua đó có thể thấy được những ưu điểm của pháp luật các nước để vận dụng linh hoạt vào điều kiện tình hình của Việt Nam.
1.4.1 Pháp luật Dân sự Pháp
Ngay sau khi cuộc cánh mạng Pháp thành công, Bộ luật Dân sự Pháp đã được ban hành dưới sự chỉ đạo của Napoléon Bonaparte – một nhà quân sự và chính trị kiệt xuất trên thế giới vào năm 1804. Bộ luật Dân sự Pháp hay còn gọi là Bộ luật Napoléon được nhiều học giả trong lĩnh vực lập pháp xem như là bản “Hiến pháp dân sự” hoặc được ví như “một đài kỷ niệm”. Với nhận định này đã cho chúng ta thấy sự trường tồn cũng như tầm quan trọng của nó đối với pháp luật dân sự trên thế giới. Với hơn hai trăm năm tồn tại và áp dụng, qua nhiều lần bổ sung và sửa đổi, cho đến nay trong số 2.285 điều khoản hiện đang có hiệu lực có gần một nửa các điều luật vẫn giữ nguyên được cấu trúc và không làm thay đổi trật tự.
Từ khi có hiệu lực vào năm 1804 cho đến năm 2000, Bộ luật Dân sự Pháp được chia thành ba quyển, trong đó dành riêng Thiên V quyển thứ ba để quy định về khế ước hôn nhân và các chế độ tài sản của vợ chồng trong hôn nhân. Với quy định này, chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm chế độ tài sản pháp định và chế độ tài sản ước định. Theo đó, vợ chồng có quyền lựa chọn một chế độ tài sản phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện kinh tế gia đình. Chế độ tài sản pháp định là một giải pháp mang tích chất thay thế trong trường hợp vợ chồng không có thỏa thuận bằng hôn ước, hoặc với mục đích để vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản áp dụng cho họ. Điều 1400 Bộ luật Dân sự Pháp quy định: “Chế độ tài sản chung được xác lập khi không có khế ước hôn nhân hoặc khi vợ chồng lựa chọn kết hôn theo chế độ tài sản chung” [27]. Chế độ tài sản chung này bao gồm hai khối tài sản là khối tài sản có và khối tài sản nợ. Tài sản chung của vợ chồng được xác định như sau:
- Tài sản mà vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân;
- Tài sản mà vợ chồng có được từ công việc của họ;
- Tài sản là những khoản tiết kiệm có được do hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng của vợ, chồng;
- Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung, được tặng cho chung hoặc được di tặng chung;
- Tài sản không chứng minh được là tài sản riêng.
Điều 1401 Bộ luật Dân sự Pháp cũng quy định: Tài sản cộng đồng “gồm những thu nhập chung của hai vợ chồng hoặc thu nhập riêng của từng người trong thời kỳ hôn nhân và có nguồn gốc từ công việc làm ăn của họ, cũng như từ những khoản tiết kiệm có được do hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng của họ” [27]. Trừ những tài sản riêng do bản chất của nó theo quy định của Điều 1404 Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp. Bên cạnh đó, Bộ luật này còn quy định trong trường hợp không chứng minh được đó là tài sản riêng của vợ hoặc chồng theo quy định của pháp luật thì mọi tài sản dù là động sản hay bất động sản đều được coi là thu nhập chung của hai vợ chồng. Luận văn: Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Những tài sản chung của vợ chồng chỉ được chấm dứt khi có những căn cứ làm chấm dứt theo quy định của Bộ luật Dân sự Pháp, trong đó có việc tách riêng tài sản chung giữa vợ và chồng. Điều 1443 Bộ luật Dân sự Pháp quy định về việc tách riêng (chia) tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân như sau:
Nếu do sự xáo trộn trong công việc làm ăn của vợ hoặc chồng, do vợ hoặc chồng quản lý kém hoặc thiếu đạo đức, mà việc duy trì chế độ tài sản chung gây phương hại đến lợi ích của người kia, thì người có lợi ích bị phương hại có thể yêu cầu Tòa án cho tách riêng tài sản. Mọi trường hợp tự tách riêng tài sản đều vô hiệu [27].
Với quy định này các nhà làm luật Pháp đã dự liệu hai trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân: Một là, trường hợp công việc làm ăn của vợ chồng có sự xáo trộn, có thể theo chiều hướng có lợi hoặc bất lợi trong công việc làm ăn. Luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành ở nước ta cũng có quy định tương tự như trường hợp thứ nhất này là trường hợp chia tài sản chung để vợ chồng thực hiện việc đầu tư kinh doanh riêng. Hai là, do vợ chồng quản lý kém hoặc thiếu đạo đức, chẳng hạn như vợ hoặc chồng có hành vi phá tán tài sản chung, hoặc tự mình thực hiện những giao dịch dân sự làm tổn thất khối tài sản chung, ảnh hưởng đến quyền lợi của gia đình và của bên kia. Cả hai trường hợp tách riêng tài sản chung này chỉ được ghi nhận thông qua tòa án. Mọi trường hợp vợ chồng tự tách riêng tài sản đều không có giá trị pháp lý. Hậu quả của việc chia tài sản chung đó sẽ làm chấm dứt chế độ tài sản chung của vợ chồng. Trong khi đó, Luật Hôn nhân và Gia đình hiện hành của nước ta quy định có sự khác biệt với Bộ luật Dân sự Pháp khi cho phép thực hiện chia tài sản chung của vợ chồng thông qua việc tự thỏa thuận được thực hiện tại các văn phòng công chứng và thông qua con đường tòa án. Như vậy, chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân theo pháp luật Việt Nam đã “cởi mở” hơn so với Bộ luật Dân sự Pháp. Ngoài ra, Điều 1443 Bộ luật Dân sự Pháp cho thấy, chỉ có vợ hoặc chồng có quyền yêu cầu tách riêng tài sản chung, người thứ ba có liên quan không có quyền yêu cầu. Điều 1446 Bộ luật Dân sự Pháp khẳng định: “Chủ nợ của riêng vợ hoặc chồng không có quyền yêu cầu tách riêng tài sản của vợ chồng người mắc nợ”. Người thứ ba có liên quan chỉ được tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi của mình và nếu việc tách riêng tài sản được Tòa án quyết định có hại cho quyền lợi của họ, họ có quyền kháng cáo với tư cách người thứ ba kháng án theo những điều kiện do Bộ luật tố tụng dân sự quy định.
Việc tách riêng tài sản chung giữa vợ và chồng được quy định khá đầy đủ, tuân theo những trình tự thủ tục chặt chẽ. Điều 1445 Bộ luật Dân sự Pháp quy định như sau:
Yêu cầu tách riêng tài sản giữa vợ và chồng, bản án cho tách riêng tài sản giữa vợ và chồng phải được công bố theo những điều kiện và chế tài quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự, cũng như theo các quy định pháp luật về thương mại, nếu vợ hoặc chồng là thương nhân; Luận văn: Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
- Bản án tuyên bố tách riêng tài sản giữa vợ và chồng có hiệu lực kể từ ngày nộp yêu cầu tách riêng tài sản;
- Bản án tuyên bố tách riêng tài sản giữa vợ và chồng được ghi chú bên lề giấy đăng ký kết hôn và bản chính của khế ước hôn nhân [27].
Như vậy với nội dung của điều luật trên, việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân phải được công bố công khai, và chỉ hướng đến chủ thể vợ, chồng là thương nhân. Quy định này của Bộ luật Dân sự Pháp nhằm mục đích loại bỏ hoặc hạn chế đến mức thấp nhất những tranh chấp có thể phát sinh trong tương lai. Trước tiên là để vợ chồng nâng cao trách nhiệm của mỗi bên vợ chồng, ngăn chặn việc tách riêng tài sản nhằm mục đích trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ của bản thân. Tiếp nữa là để người thứ ba có quyền và nghĩa liên quan đến tài sản chung của vợ chồng có thể biết được sự dịch chuyển tài sản chung của vợ chồng để có những định hướng kịp thời để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình, chẳng hạn như yêu cầu thanh toán các khoản vay,…
Ngoài ra, pháp luật dân sự Pháp còn yêu cầu bản án tách riêng tài sản chung phải được ghi chú bên lề giấy đăng ký kết hôn hoặc bản chính của khế ước hôn nhân. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để chứng minh rõ nguồn gốc tài sản trong trường hợp phát sinh những tranh chấp giữa vợ và chồng hoặc người thứ ba có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng.
Để đảm bảo lợi ích của gia đình đặc biệt là con cái sau khi bản án tách riêng tài sản chung có hiệu lực pháp luật, Bộ luật Dân sự Pháp còn quy định thêm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng sau khi chia tài sản chung. Điều 1448 Bộ luật Dân sự Pháp quy định những nghĩa vụ mà vợ chồng phải thực hiện:
Vợ hoặc chồng đã được tách riêng tài sản có trách nhiệm đóng góp các chi phí cho gia đình và cho việc nuôi dạy con theo khả năng của mình và của người kia. Nếu một trong hai vợ chồng không còn tài sản sau khi tách riêng tài sản, thì người kia phải trả hết các chi phí nêu trên [27].
Như vậy, dù việc tách riêng tài sản chung được thực hiện với mục đích gì thì vợ chồng vẫn phải có nghĩa vụ đóng góp chăm lo cho đời sống chung của gia đình như chi phí sinh hoạt hàng ngày, mua sắm vật dụng gia đình, các chi phí khác, các nghĩa vụ đối với người thứ ba … Trong trường hợp một bên vợ hoặc chồng không còn tài sản sau khi chia tài sản thì người vợ hoặc chồng còn lại phải thanh toán tất cả các chi phí liên quan đến đời sống chung của gia đình. Đặc biệt vợ chồng phải có nghĩa vụ nuôi dạy con cái trong điều kiện hoàn cảnh của bản thân. Ngoài việc phải chi trả cho những chi phí nuôi dạy con như chi phí học hành, ăn ở, đi lại,… vợ chồng phải có nghĩa vụ chăm lo cho sự phát triển của con. Bởi vì chỉ có gia đình là nơi thích hợp nhất để nuôi dưỡng những mầm non thành những công dân tốt, trở thành nguồn lực quan trọng để phát triển tương lai của đất nước.
Ngoài ra, Bộ luật Dân sự Pháp cũng quy định về hậu quả pháp lý của việc tách riêng tài sản này. Chế độ tài sản chung của vợ chồng sẽ chấm dứt khi quyết định của Tòa án có hiệu lực và được chuyển sang chế độ tách riêng tài sản, tài sản riêng của người nào sẽ thuộc sở hữu của người đó. Điều 1449 Bộ luật Dân sự Pháp quy định: “Việc tách riêng tài sản do Tòa án quyết định có hiệu lực đặt vợ chồng dưới chế độ của các điều 1536 và tiếp theo” [27]. Ngoài ra, Bộ luật Dân sự Pháp còn quy định việc thanh toán các khoản nợ đối với người thứ ba có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng khi việc chia tách tài sản riêng có hiệu lực pháp lý tại Điều 1449: Luận văn: Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Khi tuyên bố tách riêng tài sản, Tòa án có thể quyết định một bên vợ hoặc chồng sẽ chuyển cho bên kia phần đóng góp của mình; người này sẽ một mình đảm nhận giải quyết mọi hậu quả trong hôn nhân đối với người thứ ba [27].
Với quy định trên cho thấy, khi tuyên bố tách riêng tài sản thì việc thanh toán các nghĩa vụ với bên thứ ba có thể được Tòa án quyết định giao cho một bên vợ chồng thanh toán sau khi nhận được phần đóng góp của bên còn lại. Quy định này sẽ đảm bảo được quyền lợi của người thứ ba.
Từ việc tìm hiểu một số quy định về chế độ tài sản của vợ chồng cũng như việc tách riêng tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đã cho chúng ta thấy rằng Bộ luật Dân sự Pháp đã quy định khá đầy đủ, chi tiết những nội dung có liên quan đến việc chia tài sản chung của vợ chồng. Đối với Việt Nam, đây chính là những quy định có rất nhiều ưu điểm để những nhà lập pháp của chúng ta có thể học hỏi, tiếp thu nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về Hôn nhân và Gia đình, trong đó có vấn đề về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Một số nội dung về việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 chưa được ghi nhận, chẳng hạn như quy định về nghĩa vụ của vợ chồng đối với gia đình và con cái sau khi chia tài sản chung, hay bản án chia tài sản chung phải được ghi chú bên lề giấy chứng nhận kết hôn. Một số nội dung sau một thời gian thi hành đã bộc lộ một số hạn chế như “lý do chính đáng” để yêu cầu chia tài sản chung là lý do gì chưa cụ thể. Vì vậy, chúng ta cần thiết phải tham khảo Bộ luật Dân sự Pháp để có hướng sửa đổi, bổ sung phù hợp với xu thế phát triển chung của xã hội loài người.
1.4.2 Pháp luật dân sự và thương mại Thái Lan Luận văn: Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Ở Đông Nam Á, Thái Lan là quốc gia duy nhất không phải trải qua chế độ thuộc địa. Tuy nhiên, trong suốt thế kỉ XIX, để duy trì chủ quyền lãnh thổ của mình, Thái Lan đã kí kết hàng loạt các hiệp định song phương với các quốc gia phương Tây nhằm phát triển quan hệ thương mại. Các hiệp định song phương này đã giúp cho Thái Lan mở cửa thị trường với các nước phương Tây. Sự thay đổi về thương mại đã kéo theo sự thay đổi về xã hội và pháp luật. Vì thế, hệ thống pháp luật Thái Lan bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi pháp luật các nước phương Tây, đặc biệt là pháp luật của Châu Âu lục địa. Đầu thế kỉ XX, Thái Lan tiến hành cải cách hệ thống pháp luật và tư pháp. Người Thái đã tiếp nhận hệ thống triết lý pháp luật, tổ chức toà án và tố tụng của pháp luật Châu Âu và xem pháp luật của Pháp, Đức, Thụy Sĩ, Anh, Ý và Nhật Bản là những mô hình cho việc xây dựng pháp luật của mình. Hàng loạt các bộ luật của Thái Lan đã được ban hành theo mô hình pháp luật của các nước này, trong đó có Bộ luật Dân sự và thương mại năm 1925. Gần một thế kỷ có hiệu lực thi hành cho đến nay, những quy định của nó vẫn còn giá trị trong đời sống của người Thái. Những quy định về HNGĐ được ghi nhận tại Quyển 5 từ Điều 1435 đến Điều 1598 của Bộ luật.
Do chịu ảnh hưởng của pháp luật châu Âu lục địa nên quyền sở hữu của vợ chồng ở Thái Lan cũng được điều chỉnh bằng hai phương thức: theo hôn ước mà vợ chồng lập ra trước khi cưới và theo quy định của pháp luật khi vợ chồng không có hôn ước hoặc hôn ước đó vô hiệu. Tài sản của vợ chồng cũng bao gồm tài sản chung “Sin Somros” và tài sản riêng “Sin Suan Tua”.
Phần tài sản chung “Sin Somros” của vợ chồng theo quy định tại Điều 1474 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan được xác định bao gồm những tài sản sau:
- Tài sản mà vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân;
- Tài sản mà vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân thông qua một di chúc hoặc tặng cho được làm bằng văn bản nếu trong di chúc hay văn bản này tuyên bố rõ tài sản đó là tài sản chung;
- Hoa lợi phát sinh từ tài sản riêng;
- Ngoài ra trong trường hợp tài sản có nguồn gốc hợp pháp khác nhưng không chứng minh được là tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
Căn cứ quy định tại các Điều 1488, Điều 1484, Điều 1491, Điều 1598.17 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan thì tài sản chung vợ chồng chỉ có thể được chia trong thời kỳ hôn nhân trong bốn trường hợp cụ thể sau:
- Thứ nhất, một bên vợ chồng có nghĩa vụ tài sản riêng nhưng không có hoặc không đủ tài sản riêng để thực hiện, phải thực hiện bằng phần tài sản của mình trong khối tài sản chung;
- Thứ hai, vợ hoặc chồng là người quản lý tài sản chung “Sin Somros” mà có những hành vi vi phạm như: gây mất mát tài sản chung mà không có lý do chính đáng; không giúp đỡ người kia; lâm vào tình trạng nợ nần hoặc chịu những món nợ vượt quá một nữa giá trị tài sản chung; cản trở vợ hoặc chồng mình trong việc quản lý tài sản chung mà không có lý do chính đáng; Luận văn: Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
- Thứ ba, người vợ hoặc người chồng bị tuyên bố phá sản;
- Thứ tư, một bên vợ hoặc chồng bị tuyên mất năng lực hành vi và người kia bị coi là không thích hợp để làm người giám hộ và do đó cha hoặc mẹ của người đó hoặc một người được chỉ định làm người giám hộ thì người giám hộ đó sẽ trở thành người đồng quản lý tài sản chung với người kia. Trong trường hợp này vợ hoặc chồng của người bị mất năng lực hành vi có quyền yêu cầu Tòa án chia tài sản chung nếu có tình huống quan trọng gây ra nguy hại cho họ.
So với Bộ luật Dân sự Pháp, Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan đã mở rộng thêm hai trường hợp được chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Trong đó có trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn khi một bên vợ hoặc chồng bị tuyên mất năng lực hành vi và người kia bị coi là không thích hợp để làm người giám hộ. Pháp luật Hôn nhân và Gia đình nước ta cũng chưa quy định trường hợp này. Vì vậy, trong thời gian tới cần thiết phải bổ sung lý do này trong hướng dẫn xác định “lý do chính đáng khác” để làm căn cứ chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân như Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan đã quy định.
Bên cạnh đó, Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan còn quy định thêm hậu quả pháp lý của việc chia tài sản chung. Điều 1492 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan quy định rõ sau khi đã chia tài sản chung căn cứ vào những trường hợp nêu trên, tài sản của vợ chồng sẽ có sự thay đổi như sau:
- Phần tài sản được chia cho mỗi bên vợ hoặc chồng trở thành tài sản riêng của mỗi người;
- Bất cứ tài sản nào mà người vợ hoặc người chồng có được sau khi chia tài sản chung sẽ là tài sản riêng của người đó và không được coi là tài sản chung;
- Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung, tặng cho chung sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân trở thành tài sản riêng và chia đều cho cả vợ và chồng;
- Hoa lợi thu được từ tài sản riêng sau khi chia tài sản chung sẽ là tài sản riêng của mỗi người.
Như vậy, sau khi chia tài sản chung sau thời kỳ hôn nhân thì toàn bộ tài sản được chia và tài sản có được sau khi chia đều là tài sản riêng của mỗi bên vợ chồng. Điều này đã làm chấm dứt hoàn toàn chế độ tài sản chung giữa vợ và chồng. Chế độ tài sản chung của vợ chồng sau khi chia đã thay bằng chế độ biệt sản của mỗi người. Ngoài ra, để đảm bảo đời sống chung của gia đình sau khi chia tài sản chung, Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan quy định cả hai vợ chồng đều phải chịu trách nhiệm thanh toán những chi tiêu của gia đình theo tỷ lệ tương ứng với số tài sản riêng của mỗi người (Điều 1493). Quy định này cũng tương tự như quy định của Bộ luật Dân sự Pháp về việc thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng với gia đình và con cái.
Thêm vào đó, Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan còn ghi nhận một điểm khác biệt so với Bộ luật Dân sự Pháp là việc khôi phục chế độ tài sản chung sau khi đã chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Điều 1492.1 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan có quy định như sau: Luận văn: Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
Trong trường hợp chia “Sin Somros” theo lệnh của Tòa án thì việc hủy bỏ sự phân chia đó sẽ được thực hiện theo yêu cầu của người vợ hoặc người chồng và Tòa án sẽ ra quyết định công nhận việc này. Nếu vợ hoặc chồng phản đối yêu cầu nà y thì Tòa án không được ra quyết định hủy bỏ việc chia “Sin Somros” trừ khi lý do chia “Sin Somros” đã chấm dứt [2].
Theo tinh thần của quy định này, chế độ tài sản chung của vợ chồng chỉ được Tòa án cho phục hồi khi có yêu cầu c ủa vợ, chồng hoặc khi lý do chia “Sin Somros” đã chấm dứt . Sau khi việc chia tài sản chung đã được hủy bỏ hoặc đình hoãn do vợ hoặc chồng đã thoát khỏi việc phá sản thì tài sản là tài sản riêng vào ngày có quyết định của Tòa án hoặc vào ngày mà người vợ hoặc người chồng thoát khỏi việc phá sản vẫn giữ nguyên là tài sản riêng.
Với những nội dung vừa được giới thiệu trên cho thấy Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan quy định về việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân cũng có nhiều điểm hợp lý hơn so với pháp luật nước ta. Chẳng hạn như những trường hợp chia tài sản chung, hậu quả đối với gia đình và con cái hay như vấn đề khôi phục chế độ tài sản chung sau khi chia. Tuy nhiên, pháp luật Thái Lan vẫn còn một số điểm chưa phù hợp với điều kiện nước ta như quy định chế độ biệt sản sau khi chia tài sản chung. Vì vậy, để hoàn thiện pháp luật Hôn nhân và Gia đình, chúng ta cần có sự vận dụng một cách linh hoạt các quy định của pháp luật Thái Lan phù hợp với điều kiện đất nước. Luận văn: Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp chia tài sản chung vợ chồng trong hôn nhân