Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu đề tài
Bầu cử là hình thức dân chủ trực tiếp, là phương thức thể hiện ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng Nhà nước nói chung và cơ quan đại diện, cơ quan quyền lực nhà nước từ trung ương đến địa phương ở nước Việt Nam ta nói riêng.
Thực hiện pháp luật về bầu cử không những liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mỗi công dân mà còn liên quan đến chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước, thể chế hóa mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý.
Tổng kết, đánh giá nhiều cuộc bầu cử của đất nước đã diễn ra thành công tốt đẹp, bảo đảm dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm, phát huy tinh thần dân chủ, công khai, minh bạch trong từng bước triển khai thực hiện. Các cuộc bầu cử diễn ra trong tình hình an ninh ổn định, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm. Kết quả bầu cử cơ bản bảo đảm mục tiêu kế hoạch đề ra, tỷ lệ đại biểu là phụ nữ, là người dân tộc thiểu số, đại biểu trẻ tuổi, có trình độ trên đại học cao nhiệm kỳ sau cao hơn so với nhiệm kỳ trước, phản ánh được tính đại diện rộng rãi cho các tầng lớp nhân dân. Tuy vậy, thực tiễn công tác tổ chức triển khai thực hiện bầu cử ở một số nơi trên thực tế vẫn còn nhiều hạn chế.
Thành phố Huế là thành phố duy nhất của tỉnh Thừa Thiên Huế có mật độ dân số đông, thành phần đa dạng, là địa phương tập trung toàn bộ các cơ quan, ban ngành cấp tỉnh; nơi tập trung công tác của phần lớn các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân nên công tác thực hiện pháp luật về bầu cử đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tổ chức triển khai hoạt động này trên địa bàn thành phố.
Vì vậy, nghiên cứu công tác tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử nói chung và thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế nói riêng, nhằm làm rõ hơn từ cơ sở lý luận đến thực tiễn việc thực hiện pháp luật về bầu cử và đưa ra những ý kiến góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bầu cử trên địa bàn thành phố Huế trong thời gian đến là vấn đề hết sức cần thiết. Đây chính là lý do học viên lựa chọn đề tài “Thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế” làm luận văn Thạc sĩ Luật Hiến pháp và luật Hành chính.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Trong thời gian qua, một số công trình nghiên cứu khoa học về bầu cử đã được công bố như:
- Luận án tiến sĩ Luật học “Chế độ bầu cử ở nước ta – những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Vũ Văn Nhiêm Đại học quốc gia Hà Nội, Tác giả đã nêu và phân tích cơ sở lý luận về chế độ bầu cử trong xã hội dân chủ nói chung và ở Việt Nam nói riêng.Thực tiễn tổ chúc thực hiện chế độ bầu cử ở Việt Nam. Tác giả đưa ra những kiến nghị nhằm đổi mới chế độ bầu cử để phát huy dân chủ. Luận văn: Thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế.
- Luận văn thạc sĩ Luật học “Hoàn thiện pháp luật về bầu cử những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Trần Diệu Hương Đại học quốc gia Hà Nội, 2013. Tác giả đã phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về chế độ bầu cử, nghiên cứu tổng kết thực tiễn, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về chế độ bầu cử của Việt Nam về những bất cập, tồn tại và nguyên nhân. Từ đó đưa ra những giải pháp khắc phục tồn tại và kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về bầu cử ở Việt Nam trong thời gian tới.
- Luận văn Thạc sĩ Luật học “Thực hiện pháp luật bầu cử Hội đồng nhân dân cấp xã qua thực tiễn tại huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên” của Trần Thị Thu Hà Viện Nhà nước và pháp luật, 2010. Tác giả nêu, phân tích và đánh giá thực trạng và đưa ra những giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, vướng mắc còn tồn tại trong quá trình trình thực thi pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã.
Bên cạnh nhưng công trình nghiên cứu khoa học nêu trên, nhiều vấn đề liên quan đến họat động bầu cử cũng được đề cập trong một số bài tham luận, bài viết đăng tải trên một số báo, tạp chí, các trang thông tin điện tử của Quốc Hội, Hội đồng nhân dân một số tỉnh và một số báo cáo, tài liệu nghiên cứu về hoạt động bầu cử cụ thể như:
- Bài viết “Một số vấn đề về thể chế bầu cử ở nước ta hiện nay” TS. Nguyễn Thị Tâm, bài được đăng tải trên trang Web lyluanchinhtri.;
- Bài viết “Quá trình hoàn thiện pháp luật về bầu cử ở Việt Nam” PGS, TS. Nguyễn Quốc Sửu, bài được đăng tải trên trang Web org.;
- Bài viết “Quốc Hội nước ta qua các kỳ bầu cử” theo quochoi, bài được đăng tải trên trang Web btgcp.gov;
- Bài viết “Các nguyên tắc cơ bản của bầu cử ở nước ta hiện nay” TS Vũ Văn Phúc, bài được đăng tải trên trang Web tapchicongsan.gov;
- Bài viết “Vai trò của Mặt trận tổ quốc Việt Nam trong bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân” ThS Nguyễn Thanh Bình, bài được đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 4-2016;
- Bài viết “Nâng cao tỷ lệ nữ trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp” của Xuân Hà, bài được đăng tải trên trang Web tapchicongsan.gov; Luận văn: Thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế.
- Bài viết “Bầu cử dân chủ – cơ chế bảo đảm thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động” của Đào Đoan Hùng, bài được đăng Tạp chí dân chủ và pháp luật số 1-2018.
Hiện tại, học viên chưa tìm thấy công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ cả về mặt lý luận và thực tiễn về thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Chính vì vậy, trên cơ sở kế thừa các kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan, luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế trong nhiệm kỳ 2016-2021 để từ đó đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác thực hiện pháp luật về bầu cử nói chung và trên địa bàn thành phố Huế nói riêng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và pháp lý của thực hiện pháp luật về bầu cử, luận văn phân tích thực trạng, từ đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, các nhiệm vụ nghiên cứu là:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận, pháp lý về bầu cử;
- Phân tích và đánh giá thực trạng thực hiện pháp về bầu cử trên địa bàn thành phố Huế trong thời gian qua;
- Đề ra giải pháp để góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bầu cử trong những nhiệm kỳ tiếp theo.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu công tác thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Công tác tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử trên địa bàn thành phố Huế nhiệm kỳ 2016-2021.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Luận văn: Thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế.
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta hiện nay về thực hiện pháp luật về bầu cử, bám sát tình hình thực tế và điều kiện tự nhiên, xã hội ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Để đạt được mục đích nghiên cứu của luận văn tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
Phương pháp nghiên cứu văn bản: Được sử dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện của Đảng, văn bản Luật, văn bản của các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu, các báo cáo, các thống kê của các cơ quan, đơn vị liên quan trực tiếp hoăc gián tiếp đến việc thực hiện pháp luật về bầu cử.
Phương pháp thống kê, thu thập thông tin: tiến hành nghiên cứu báo cáo của các cơ quan, đơn vị về tình hình tổ chức triển khai thực hiện, tổng kết công tác bầu cử; trên cơ sở đó tổng hợp, so sánh thực trạng thực hiện giữa các cơ quan, đơn vị trên các mặt nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu.
Phương pháp phân tích, đánh giá: Đề tài tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về bầu cử để từ đó chỉ ra được những mặt mạnh, mặt yếu trong thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế, từ đó làm cơ sở cho những đề xuất, giải pháp ở Chương 3.
6. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn góp phần đề tài hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về bầu cử và thực hiện pháp luật về bầu cử, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về bầu cử của thành phố Huế, từ đó đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bầu cử ở thành phố Huế. Luận văn: Thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế.
Luận văn có tính thời sự khi đóng góp ý kiến, giúp cho việc tổ chức thực hiện pháp luật về bầu cử trong nhiệm kỳ tới đạt hiệu quả hơn.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong thực tế thực hiện pháp luật về bầu cử ở thành phố Huế trong nhiệm kỳ tới hoặc sẽ là nguồn tư liệu tham khảo hữu ích cho những người quan tâm, nghiên cứu pháp luật về bầu cử.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của thực hiện pháp luật về bầu cử
- Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Chương 3: Quan điểm, giải pháp hoàn thiện công tác thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẦU CỬ
1.1. Khái quát thực hiện pháp luật về bầu cử
1.1.1. Khái niệm thực hiện pháp luật về bầu cử
Pháp luật bầu cử bao gồm tổng thể các quy định pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội liên quan đến quyền bầu cử, quyền ứng cử, các quy trình tiến hành bầu cử và xác định kết quả bầu cử.
Pháp luật bầu cử giống như các chế định pháp luật khác, không chỉ chứa đựng các quy phạm pháp luật về quyền hạn và trách nhiệm của các chủ thể tham gia các mối quan hệ bầu cử mà còn chứa đựng các quy phạm có tính thủ tục, quy định trình tự bầu cử và xác định kết quả bầu cử [14, tr. 340].
Thực tế cho thấy, pháp luật về bầu cử đã được hình thành kể từ bản Hiến pháp đầu tiên (Hiến pháp năm 1946) của nước Việt Nam ra đời, đến các bản Hiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992 và năm 2013 đã tiếp tục ghi nhận và phát triển quyền bầu cử, ứng cử với tư cách là quyền chính trị cơ bản của công dân.
- Có thể thấy rằng các quy phạm pháp luật về bầu cử được chia thành 3 nhóm sau:
Nhóm thứ nhất quy định chung về bầu cử, bao gồm các quy phạm pháp luật xác định nguyên tắc bầu cử; tuổi ứng cử và tuổi bầu cử; tiêu chuẩn của người ứng cử; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong công tác bầu cử, ngày bầu cử và kinh phí tổ chức bầu cử. Luận văn: Thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế.
Nhóm thứ hai quy định nội dung của cuộc bầu cử. Nhóm này bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc tổ chức và trình tự tiến hành bầu cử; cụ thể hoá các nguyên tắc bầu cử; quy định về quy trình bầu cử từ việc xác định ngày bầu cử, phương thức tổ chức đơn vị bầu cử, khu vực bỏ phiếu, tổ chức phụ trách bầu cử, lập danh sách cử tri, danh sách ứng cử viên, hiệp thương, tổ chức tuyên truyền, vận động bầu cử, trình tự bỏ phiếu, kiểm phiếu và xác định kết quả bầu cử, bầu cử bổ sung và tổng kết bầu cử.
Nhóm thứ ba là tổng thể các quy phạm pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành pháp luật bầu cử.
Từ phân tích trên, có thể định nghĩa: Pháp luật về bầu cử là tổng thể các quy phạm pháp luật thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, quyền và nghĩa vụ của công dân, do cơ quan nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội liên quan đến quyền bầu cử, quyền ứng cử, các quy trình tiến hành bầu cử và xác định kết quả bầu cử.
Thực hiện pháp luật là bước tiếp theo sau khi văn bản pháp luật được ban hành để đưa các quy phạm pháp luật trở thành các quy tắc xử sự của các chủ thể pháp luật làm cho các yêu cầu, quy định của văn bản pháp luật cử trở thành hiện thực đi vào cuộc sống.
Để tổ chức thực hiện các quy định pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội liên quan đến quyền bầu cử, quyền ứng cử, các quy trình tiến hành bầu cử và xác định kết quả bầu cử, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp tục ban hành các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các quy định đó nhằm mục đích làm cho những quy định này đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể tham gia hoạt động bầu cử.
Thực hiện pháp luật về bầu cử là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật về bầu cử đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp trong mối quan hệ xã hội liên quan đến quyền bầu cử, quyền ứng cử, các quy trình tiến hành bầu cử và xác định kết quả bầu cử khi tham gia quan hệ pháp luật về bầu cử.
Thực hiện pháp luật về bầu cử có những đặc điểm sau đây:
- Thứ nhất, chủ thể tham gia bầu cử là công dân có đủ điều kiện theo quy định thực hiện quyền bầu cử và quyền ứng cử của mình.
- Thứ hai, chủ thể thực hiện pháp luật về bầu được hình thành từ các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, chính trị – xã hội và các tổ chức hữu quan khác.
- Thứ ba, quá trình thực hiện pháp luật về bầu cử được bảo đảm bằng cả hệ thống chính trị .
- Thứ tư, thời gian thực hiện được ấn định cụ thể.
- Thứ năm, thực hiện pháp luật về bầu cử để củng cố và hoàn thiện cơ quan quyền lực nhà nước.
1.1.2. Nguyên tắc thực hiện pháp luật về bầu cử Luận văn: Thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế.
- Nguyên tắc thực hiện công khai, dân chủ:
Điều 13, Điều 26 Luật Bầu cử quy định, trong quá trình thực hiện pháp luật về bầu cử, Hội đồng bầu cử quốc gia và các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương hoạt động theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số. Các cuộc họp được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên của Hội đồng bầu cử quốc gia các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương tham dự; các quyết định được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành.
- Nguyên tắc lập danh sách cử tri:
Điều 29, Luật Bầu cử quy định, mọi công dân có quyền bầu cử đều được ghi tên vào danh sách cử tri và được phát thẻ cử tri, trừ các trường hợp đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án, người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo, người mất năng lực hành vi dân sự thì không được ghi tên vào danh sách cử tri. Mỗi công dân chỉ được ghi tên vào một danh sách cử tri ở nơi mình thường trú hoặc tạm trú. Cử tri là người tạm trú và có thời gian đăng ký tạm trú tại địa phương chưa đủ 12 tháng, cử tri là quân nhân ở các đơn vị vũ trang nhân dân được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện ở nơi tạm trú hoặc đóng quân. Công dân Việt Nam ở nước ngoài trở về Việt Nam trong khoảng thời gian từ sau khi danh sách cử tri đã được niêm yết đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ, thì đến Ủy ban nhân dân cấp xã xuất trình Hộ chiếu có ghi quốc tịch Việt Nam để được ghi tên vào danh sách cử tri và nhận thẻ cử tri bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã (nếu xuất trình tại nơi đăng ký thường trú) hoặc bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện (nêu xuất trình tại nơi đăng ký tạm trú). Cử tri là người đang bị tạm giam, tạm giữ, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nơi người đó đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.
- Nguyên tắc vận động bầu cử: Luận văn: Thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế.
Điều 63 Luật Bầu cử quy định việc vận động bầu cử được tiến hành dân chủ, công khai, bình đẳng, đúng pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Người ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở đơn vị bầu cử nào thì thực hiện vận động bầu cử tại đơn vị bầu cử đó. Các tổ chức phụ trách bầu cử và thành viên của các tổ chức này không được vận động cho người ứng cử.
- Nguyên tắc bỏ phiếu:
Điều 69 Luật Bầu cử quy định mỗi cử tri có quyền bỏ một phiếu bầu đại biểu Quốc hội và bỏ một phiếu bầu đại biểu Hội đồng nhân dân tương ứng với mỗi cấp Hội đồng nhân dân. Cử tri phải tự mình, đi bầu cử, không được nhờ người khác bầu cử thay. khi bầu cử phải xuất trình thẻ cử tri. Cử tri không thể tự viết được phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri. Trường hợp cử tri vì khuyết tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu. Trong trường hợp cử tri ốm đau, già yếu, khuyết tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến chỗ ở, chỗ điều trị của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử. Đối với cử tri là người đang bị tạm giam, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc mà trại tạm giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc không tổ chức khu vực bỏ phiếu riêng hoặc cử tri là người đang bị tạm giữ tại nhà tạm giữ thì Tổ bầu cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến trại tạm giam, nhà tạm giữ, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc để cử tri nhận phiếu bầu và thực hiện việc bầu cử. Khi cử tri viết phiếu bầu, không ai được xem, kể cả thành viên Tổ bầu cử. Nếu viết hỏng, cử tri có quyền đổi phiếu bầu khác. Khi cử tri bỏ phiếu xong, Tổ bầu cử có trách nhiệm đóng dấu “Đã bỏ phiếu” vào thẻ cử tri. Mọi người phải tuân theo nội quy phòng bỏ phiếu.
- Nguyên tắc xác định người trúng cử:
Điều 78 Luật Bầu cử quy định kết quả bầu cử được tính, trên số phiếu bầu hợp lệ và chỉ được công nhận khi đã có quá một nửa tổng số cử tri trong danh sách cử tri tại đơn vị bầu cử tham gia bầu cử, trừ trường hợp bầu cử lại thì ngày bầu cử được tiến hành chậm nhất là 15 ngày sau ngày bầu cử đầu tiên. Trong cuộc bầu cử lại, cử tri chỉ chọn bầu trong danh sách những người ứng cử tại cuộc bầu cử đầu tiên. Nếu bầu cử lại mà số cử tri đi bầu cử vẫn chưa đạt quá một nửa tổng số cử tri trong danh sách cử tri thì kết quả bầu cử lại được công nhận mà không tổ chức bầu cử lại lần thứ hai. Người trúng cử phải là người ứng cử đạt số phiếu bầu quá một nửa tổng số phiếu bầu hợp lệ. Trường hợp số người ứng cử đạt số phiếu bầu quá một nửa tổng số phiếu bầu hợp lệ nhiều hơn số lượng đại biểu mà đơn vị bầu cử được bầu thì những người trúng cử là những người có số phiếu bầu cao hơn. Trường hợp cuối danh sách trúng cử có nhiều người được số phiếu bầu bằng và nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu đã ấn định cho đơn vị bầu cử thì người nhiều tuổi hơn là người trúng cử.
1.1.3. Vai trò thực hiện pháp luật về bầu cử
Thực hiện pháp luật về bầu cử là một tiến trình không những liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mỗi công dân mà còn liên quan đến chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của cơ quan nhà nước, thể chế hóa mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý. Có thể nói, thực hiện pháp luật về bầu cử có vai trò hết sức quan trọng trong việc xây dựng và phát triển cơ quan quyền lực nhà nước, đồng thời là phương thức thể hiện quyền lực của nhân dân. Luận văn: Thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế.
- Thực hiện pháp luật về bầu cử là phương thức tiếp tục xây dựng, củng cố và hoàn thiện cơ quan quyền lực nhà nước.
Thông qua các cuộc bầu cử, nhân dân trực tiếp lựa chọn, bầu ra những người tiêu biểu về đức, tài, xứng đáng là đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Chính vì vậy, bầu cử ở nước ta luôn là một sự kiện chính trị trọng đại. Mỗi cuộc bầu cử là một đợt sinh hoạt chính trị toàn dân, ngày hội lớn của dân tộc.
Trải qua 14 lần bầu cử, qua mỗi lần bầu chúng ta càng thấy Nhà nước pháp quyền của chúng ta là một bước phát triển. Bởi, qua thực tiễn thi hành pháp luật về bầu cử chúng ta rút ra được những hạn chế, bất cập, từ đó kịp thời nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với Hiến pháp và thực tiễn đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp. Khi các quy định về bầu cử được quy chi tiết, cụ thể phù hợp với Hiến pháp và thực tiễn thì việc thi hành pháp luật về bầu cử được các cơ quan, tổ chức, đơn vị và nhân dân thực hiện thuận lợi và nghiêm túc, thể hiện tinh thần dân chủ, công khai, minh bạch từ đó Nhân dân ta tìm ra được những cá nhân thực sự vì dân, có uy tín, trình độ, đạo đức, năng lực để giao đảm nhận các vị trí quan trọng trong trong bộ máy Nhà nước từ trung ương đến địa phương. Từ đó Nhà nước ta ngày một phát triển, vững mạnh.
- Thực hiện pháp luật về bầu cử là phương thức để nhân dân thực hiện quyền lực của của mình.
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi nhận Nhà nước ta là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; do Nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước. Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân.
Như vậy, quyền lực của Nhân dân đã được Hiến pháp ghi nhận. Làm sao để đảm bảo cho nhân dân thực hiện được quyền của mình một cách đầy đủ, trọn vẹn nhất? Pháp luật về bầu cử ra đời đã trả lời cho câu hỏi này. Pháp luật bầu cử bao gồm tổng thể các quy định pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội liên quan đến quyền bầu cử, quyền ứng cử, các quy trình tiến hành bầu cử và xác định kết quả bầu cử. Đây là một biện pháp bảo đảm cho nhân dân thực hiện đày đủ và trọn vẹn nhất quyền lực của mình.
1.2. Nội dung thực hiện pháp luật về bầu cử Luận văn: Thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế.
1.2.1. Chỉ đạo và hướng dẫn thực hiện pháp luật về bầu cử
Trước kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thành lập Hội đồng bầu cử để thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến lãnh đạo, chỉ đạo việc tổ chức bầu cử trong cả nước. Hội đồng bầu cử có từ mười lăm đến hai mươi mốt người gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký và các uỷ viên là đại diện UBTVQH, Chính phủ, Uỷ ban trung ương MTTQ Việt Nam và một số cơ quan, tổ chức hữu quan. Hội đồng bầu cử được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng trong việc tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân, từ việc chuẩn bị danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội; quy định mẫu thẻ cử tri và phiếu bầu cử, tổng kết kết quả bầu cử; tổ chức chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền, vận động bầu cử, công tác bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong cuộc bầu cử.
HĐBC quốc gia, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Ủy ban trung ương MTTQ Việt Nam, các bộ ngành có liên quan ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử từ Trung ương đến cơ sở. Các cấp ủy Đảng, MTTQ, chính quyền, các tổ chức đoàn thể ở các địa phương tiến hành các công việc chuẩn bị bầu cử và lãnh đạo, chỉ đạo công tác bầu cử ở địa phương. Các tổ chức phụ trách bầu cử đã được thành lập theo đúng quy trình và triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật [7, tr 2]. Luận văn: Thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế.
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan, các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương đã ban hành các kế hoạch triển khai cụ thể để thi hành pháp luật về bầu cử.
Theo chỉ đạo và hướng dẫn của Hội đồng bầu cử quốc gia về công tác bầu cử, Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Nội vụ là cơ quan thường trực, chịu trách nhiệm tham mưu, giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp ban hành các văn bản hướng dẫn về bầu cử, thực hiện công tác bầu cử; kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện bảo đảm đúng các quy định về bầu cử.
Bộ Trưởng Bộ Nội vụ ban hành Thông tư hướng dẫn các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển khai thực hiện các nội dung công tác bầu cử; tổng hợp và biên soạn tài liệu tập huấn nghiệp vụ bầu cử. Qua các hội nghị tập huấn, Bộ Nội vụ và các cơ quan liên quan ở Trung ương trực tiếp hướng dẫn, trả lời những kiến nghị của địa phương hoặc tiếp thu để báo cáo các cơ quan có thẩm quyền xem xét, ban hành văn bản hướng dẫn bổ sung.
Tổ chức các hội nghị giao ban công tác bầu cử tại 3 khu vực Bắc -Trung – Nam, với sự tham gia của Ủy ban bầu cử cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để kịp thời đánh giá tình hình triển khai công tác bầu cử của các địa phương theo kế hoạch của Hội đồng bầu cử cử quốc gia; hướng dẫn, giải quyết các vấn đề vướng mắc, khó khăn phát sinh và đề xuất, kiến nghị của địa phương; đồng thời, tổng hợp báo cáo Hội đồng bầu cử quốc gia xem xét, có văn bản hướng dẫn bổ sung về công tác bầu cử [8, tr 2].
Trên cơ sở đó, tại địa phương các cơ quan, đơn vị tổ chức triển khai tập huấn nghiệp vụ bầu cử theo quy định cho toàn thể đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được giao nhiệm vụ thực hiện công tác bầu cử, nhằm đảm bảo thực hiện công tác bầu củ được thống nhất và đúng quy định.
1.2.2. Lập kế hoạch thực hiện luật về bầu cử
Việc lập kế hoạch thực hiện pháp luật về bầu cử được các cơ quan, tổ chức, đơn vị và nhân dân thực hiện theo quy định Luật Bầu cử và các văn bản hướng dẫn thi hành, bao gồm các nội dung sau:
- Công bố ngày bầu cử;
- Thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử;
- Về tổ chức các hội nghị triển khai công tác bầu cử, hội nghị giới thiệu người ứng cử, hội nghị hiệp thương và hội nghị cử tri;
- Công tác thông tin, tuyên truyền và vận động bầu cử;
- Công tác bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong bầu cử;
- Lập và niêm yết danh sách cử tri, người ứng cử;
- Tổ chức ngày bầu cử;
- Công bố kết quả bầu cử.
1.2.3. Tổ chức bộ máy, nhân sự thực hiện pháp luật về bầu cử
- Ở Trung ương: Luận văn: Thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế.
HĐBC quốc gia do Quốc hội thành lập, có từ mười lăm đến hai mươi mốt thành viên gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên là đại diện Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương MTTQ Việt Nam và một số cơ quan, tổ chức hữu quan. Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia do Quốc hội bầu, miễn nhiệm theo đề nghị của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Các Phó Chủ tịch và các Ủy viên Hội đồng bầu cử quốc gia do Quốc hội phê chuẩn theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia. Hội đồng bầu cử quốc gia thành lập các tiểu ban để giúp Hội đồng bầu cử quốc gia thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong từng lĩnh vực (Điều 12 Luật Bầu cử).
- Ở địa phương:
UBBC ở tỉnh có từ hai mươi mốt đến ba mươi mốt thành viên gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên là đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban MTTQ Việt Nam cùng cấp và một số cơ quan, tổ chức hữu quan.
UBBC ở huyện có từ mười một đến mười lăm thành viên; Ủy ban bầu cử ở xã có từ chín đến mười một thành viên. Thành viên Ủy ban bầu cử ở huyện, ở xã gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các Ủy viên là đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban MTTQ Việt Nam cùng cấp và một số cơ quan, tổ chức hữu quan (Điều 22 Luật Bầu cử).
Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh có từ mười một đến mười ba thành viên. Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện có từ chín đến mười một thành viên. Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã có từ bảy đến chín thành viên. Ban bầu cử gồm Trưởng ban, các Phó Trưởng ban và các Ủy viên (Điều 24 Luật Bầu cử).
Tổ bầu cử có từ mười một đến hai mươi mốt thành viên gồm Tổ trưởng, Thư ký và các Ủy viên là đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, đại diện cử tri ở địa phương. Đối với huyện không có đơn vị hành chính xã, thị trấn thì Ủy ban nhân dân huyện sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam cùng cấp quyết định thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu một Tổ bầu cử có từ mười một đến hai mươi mốt thành viên gồm Tổ trưởng, Thư ký và các Ủy viên là đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, đại diện cử tri ở địa phương. Đơn vị vũ trang nhân dân được xác định là khu vực bỏ phiếu riêng được thành lập một Tổ bầu cử có từ năm đến chín thành viên gồm Tổ trưởng, Thư ký và các Ủy viên là đại diện chỉ huy đơn vị và đại diện quân nhân của đơn vị vũ trang nhân dân đó. Trong trường hợp đơn vị vũ trang nhân dân và địa phương có chung một khu vực bỏ phiếu thì Ủy ban nhân dân cấp xã sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam cùng cấp và chỉ huy đơn vị vũ trang nhân dân quyết định thành lập Tổ bầu cử có từ mười một đến hai mươi mốt thành viên gồm Tổ trưởng, Thư ký và các Ủy viên là đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội, đại diện cử tri ở địa phương, đại diện chỉ huy đơn vị và đại diện quân nhân của đơn vị vũ trang nhân dân đó (Điều 25 Luật Bầu cử).
Theo Điều 4 Thông tư 02/2016/TT-BNV ngày 01/02/2016 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch Ủy ban bầu cử cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban bầu cử cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban bầu cử cấp xã; Trưởng ban Ban bầu cử đại biểu Quốc hội, Trưởng ban Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và Tổ trưởng Tổ bầu cử (sau đây gọi chung là người đứng đầu tổ chức phụ trách bầu cử) chịu trách nhiệm phân công nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của từng thành viên tổ chức phụ trách bầu cử cấp mình từ giai đoạn chuẩn bị, triển khai, tổ chức ngày bầu cử, các công việc tiến hành sau ngày bầu cử cho đến khi kết thúc cuộc bầu cử. Trong đó, phân công một thành viên chịu trách nhiệm tổng hợp chung công tác bầu cử của Ủy ban bầu cử và của Ban bầu cử. Căn cứ điều kiện cụ thể, các tổ chức phụ trách bầu cử có thể trưng tập cán bộ, công chức, viên chức của các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội giúp việc cho tổ chức phụ trách bầu cử theo quyết định của người đứng đầu tổ chức phụ trách bầu cử [11, tr 3].
1.2.4. Bảo đảm điều kiện thực hiện pháp luật về bầu cử. Luận văn: Thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế.
- Điều kiện về chính trị :
Tính phù hợp về chính trị khi thực hiện pháp luật về bầu cử là yêu cầu bắt buộc phải hiện thực hóa được đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng là định hướng chủ yếu để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thể chế hóa thành pháp luật.
Trong hệ thống chính trị nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam có vai trò đặc biệt quan trọng, là yếu tố quan trọng nhất, hạt nhân lãnh đạo của cả hệ thống chính trị. Vai trò lãnh đạo của Đảng với Nhà nước và xã hội đã được quy định tại Hiến pháp, được khẳng định qua thực tiễn đấu tranh cách mạng và quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Để thực hiện các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân thành công, cần tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng về công tác bầu cử, bảo đảm phát huy dân chủ và sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng trong công tác cán bộ; phát huy vai trò tiền phong gương mẫu của đội ngũ đảng viên…
Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng đã xác định: “Đảng lãnh đạo bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo thông qua các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu. Đảng thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo, đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị”.
Chính vì những lý do nêu trên, đối với cuộc bầu cử gần đây nhất – cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021, ngày 04/01/2016, Bộ Chính trị đã có Chỉ thị số 51-CT/TW yêu cầu các cấp ủy, các tổ chức Đảng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt những yêu cầu nhiệm vụ trước, trong và sau bầu cử. Trong đó, phải có kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể việc chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tổ chức thắng lợi cuộc bầu cử; bảo đảm cuộc bầu cử được tiến hành dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm và thực sự là ngày hội của toàn dân. Lãnh đạo tốt công tác nhân sự, bảo đảm phát huy dân chủ và sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng trong công tác cán bộ; gắn kết quả nhân sự của đại hội Đảng các cấp và quy hoạch cán bộ với công tác chuẩn bị nhân sự để giới thiệu những người tiêu biểu, có quan điểm, lập trường chính trị vững vàng, đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật, có năng lực, điều kiện thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân. Không đưa vào danh sách ứng cử người có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực; có tư tưởng cục bộ, bảo thủ; đang bị thanh tra, kiểm tra dấu hiệu vi phạm; đã bị các cơ quan có thẩm quyền kết luận không trung thực; người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra những vụ, việc tham nhũng, lãng phí, mất đoàn kết nghiêm trọng.
Bộ Chính trị cũng yêu cầu các cấp ủy Đảng, các tổ chức Đảng phải lãnh đạo bầu đủ số lượng đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, đặc biệt coi trọng chất lượng đại biểu. Đồng thời, bảo đảm cơ cấu hợp lý về số đại biểu là người đang công tác ở cơ quan Đảng, nhà nước, lực lượng vũ trang, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, giảm hợp lý số đại biểu công tác tại cơ quan hành chính; tăng số lượng đại biểu chuyên trách; bảo đảm tỷ lệ người ứng cử là phụ nữ, người dân tộc thiểu số theo đúng quy định của Luật Bầu cử; có tỷ lệ hợp lý đại biểu các tôn giáo, đại biểu tái cử, đại biểu trẻ tuổi, đại biểu là các nhà khoa học, trí thức, văn nghệ sĩ, đại biểu xuất thân từ công nhân, nông dân, doanh nhân, đại diện các hiệp hội, nghiệp đoàn về các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. Luận văn: Thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế.
Việc lựa chọn, giới thiệu người ứng cử và việc tự ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân phải bảo đảm theo đúng quy trình pháp luật quy định và hướng dẫn của các cơ quan Trung ương có thẩm quyền. Lãnh đạo tốt việc tổ chức hiệp thương giới thiệu người ra ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong công tác bầu cử; bảo đảm các điều kiện thuận lợi để mọi công dân thực hiện đầy đủ quyền ứng cử, bầu cử theo quy định của pháp luật.
Bộ Chính trị yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu, đề cao trách nhiệm, tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia bầu cử.
- Điều kiện pháp lý:
Luật bầu cử là đạo luật quan trọng quy định về quyền bầu cử, ứng cử là một trong các quyền chính trị cơ bản của công dân đã được quy định trong Hiến pháp để công dân thực hiện đầy đủ quyền bầu cử, ứng cử của mình;
Luật Bầu cử bảo đảm phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn về kinh tế – xã hội của đất nước.
Trên cơ sở Luật bầu cử, công tác chuẩn bị các điều kiện vật chất, kỹ thuật phục vụ cuộc bầu cử được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ trưởng Bộ Nội vụ tại Thông tư số 02/2016/TT-BNV như: khắc con dấu của các tổ chức phụ trách bầu cử, in ấn tài liệu, băng rôn, khẩu hiệu tuyên truyền bầu cử, hòm phiếu, phiếu bầu, chuẩn bị địa điểm, phòng bỏ phiếu… được hướng dẫn một cách cụ thể, đảm bảo điều kiện, phương tiện vật chất, kỹ thuật cho ngày bầu cử.
- Điều kiện kinh phí:
Luật bầu cử quy định kinh phí tổ chức bầu cử do ngân sách nhà nước cấp. Nhằm bảo đảm kinh phí, hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí bầu cử, Bộ Trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 06/2016/TT-BTC ngày 14/01/2016 hướng dẫn việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bầu cử ĐBQH khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021.
Theo đó, cùng với số kinh phí phục vụ bầu cử do ngân sách Trung ương đảm bảo, căn cứ tình hình thực tế tại địa phương, yêu cầu công việc và khả năng ngân sách địa phương, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định bổ sung kinh phí từ ngân sách địa phương để phục vụ cho công tác bầu cử tại địa phương. Kinh phí phục vụ cho công tác bầu cử phải được các cơ quan, đơn vị quản lý chặt chẽ, chi tiêu theo đúng chế độ, đúng mục đích, có hiệu quả; sử dụng các phương tiện phục vụ các cuộc bầu cử trước đây hiện còn sử dụng được, huy động các phương tiện đang được trang bị ở các cơ quan, đơn vị để phục vụ cho nhiệm vụ bầu cử đảm bảo tiết kiệm chi cho ngân sách nhà nước.
1.2.5. Giám sát, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bầu cử; giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về bầu cử Luận văn: Thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế.
- Tổ chức hoạt động giám sát, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bầu cử: Hoạt động Uỷ ban thường vụ Quốc hội:
Thực hiện khoản 3 Điều 4 Luật bầu cử về thực hiện việc tổ chức giám sát công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, bảo đảm cho việc bầu cử được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm, ngày 05/03/2016, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành Kế hoạch số 1054/KH-UBTVQH13 về giám sát, kiểm tra công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-202 để tổ chức giám sát công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, bảo đảm cho việc bầu cử được tiến hành dân chủ, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm.
- Hoạt động của MTTQ Việt Nam:
Để triển khai hoạt động tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp của MTTQ Việt Nam theo quy định tại Khoản 5 Điều 4 Luật bầu cử, nhằm đảm bảo cuộc bầu cư có được tổ chức dân chủ, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm, bầu được những đại biểu đủ tiêu chuẩn, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân hay không, ngày 16/02/2016, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã ban hành văn bản số 35/HD-MTTW-BTT về hướng dẫn công tác giám sát của MTTQ Việt Nam đối với hoạt động của các tổ chức phụ trách bầu cử; giám sát việc giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và thủ tục, hồ sơ ứng cử; giám sát việc tổ chức lấy ý kiến cử tri nơi cư trú đối với người ứng cử; giám sát việc lập danh sách cử tri và việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về danh sách cử tri; giám sát việc niêm yết danh sách những người ứng cử; việc xóa tên người trong danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; giám sát việc tiếp xúc giữa cử tri với người ứng cử vận động bầu cử; giám sát việc vận động bầu cử bằng phương tiện thông tin đại chúng và tuyên truyền về bầu cử; giám sát trình tự bầu cử, thể thức bỏ phiếu trong ngày bầu cử.
- Hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp:
Đối với Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm giám sát, kiểm tra và thực hiện công tác bầu cử theo quy định của Luật bầu cử và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử: Luận văn: Thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế.
Về việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về người ứng cử, khiếu nại về danh sách cử tri; khiếu nại, tố cáo về người ứng cử, lập danh sách người ứng cử theo quy định tại Điều 61; giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử theo quy định tại Điều 87 Luật bầu cử.
Đối với việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến người ứng cử đại biểu Quốc hội, việc lập danh sách những người ứng cử đại biểu Quốc hội được gửi đến Ban bầu cử đại biểu Quốc hội, Ủy ban bầu cử ở tỉnh, Hội đồng bầu cử quốc gia do các cơ quan này giải quyết. Trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử, Ủy ban bầu cử thì có quyền khiếu nại đến Hội đồng bầu cử quốc gia. Quyết định của Hội đồng bầu cử quốc gia là quyết định cuối cùng.
Việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị liên quan đến người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, việc lập danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp nào thì được gửi đến Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp đó. Trường hợp người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của Ban bầu cử thì có quyền khiếu nại đến Ủy ban bầu cử ở cấp tương ứng. Quyết định của Ủy ban bầu cử là quyết định cuối cùng .
Trong thời hạn 10 ngày trước ngày bầu cử, Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử, Ban bầu cử ngừng việc xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị về người ứng cử và việc lập danh sách những người ứng cử.
Để hạn chế việc khiếu nại, tố cáo tập trung vào ngày diễn ra sự kiện quan trọng của đất nước, Thanh tra Chính phủ cũng đã ban hành Kế hoạch số 564/KH-TTCP ngày 24/3/2016 về kiểm tra, theo dõi, đôn đốc công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và Kế hoạch số 634/KH-TTCP ngày 30/3/2016 về phối hợp tổ chức tiếp công dân, đảm bảo an ninh trật tự phục vụ cuộc bầu cử.
- Xử lý vi phạm pháp luật về bầu cử:
Điều 95, Luật Bầu cử quy định người nào dùng thủ đoạn lừa gạt, mua chuộc hoặc cưỡng ép làm trở ngại việc bầu cử, ứng cử của công dân; vi phạm các quy định về vận động bầu cử; người có trách nhiệm trong công tác bầu cử mà giả mạo giấy tờ, gian lận phiếu bầu hoặc dùng thủ đoạn khác để làm sai lệch kết quả bầu cử hoặc vi phạm các quy định khác của pháp luật về bầu cử thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
1.2.6. Tổng kết thực hiện pháp luật về bầu cử
- Tổng kết công tác bầu cử được quy định từ Điều 83, 84, 85, 86, 87 và Điều 88 Luật Bầu cử. Theo đó:
Sau khi nhận, kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội của các Ban bầu cử và giải quyết khiếu nại, tố cáo (nếu có), Ủy ban bầu cử ở tỉnh, lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở địa phương. Biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có các nội dung sau đây: Số lượng đơn vị bầu cử; Số lượng người ứng cử; Tổng số cử tri của địa phương; Số lượng cử tri đã tham gia bỏ phiếu, tỷ lệ so với tổng số cử tri của địa phương; Số phiếu hợp lệ; Số phiếu không hợp lệ; Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử; Danh sách những người trúng cử theo từng đơn vị bầu cử; Những khiếu nại, tố cáo do Tổ bầu cử, Ban bầu cử đã giải quyết; Những việc quan trọng đã xảy ra và kết quả giải quyết; Những khiếu nại, tố cáo do Ủy ban bầu cử ở tỉnh đã giải quyết; Những khiếu nại, tố cáo và kiến nghị chuyển đến Hội đồng bầu cử quốc gia. Biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được lập thành bốn bản, có chữ ký của Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Ủy ban bầu cử. Biên bản được gửi đến Hội đồng bầu cử quốc gia, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh chậm nhất là 07 ngày sau ngày bầu cử. Luận văn: Thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế.
- Biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội:
Sau khi nhận, kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử, Ủy ban bầu cử ở tỉnh và giải quyết khiếu nại, tố cáo (nếu có), Hội đồng bầu cử quốc gia lập biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội trong cả nước. Biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội có các nội dung sau đây; Tổng số đại biểu Quốc hội được bầu; Tổng số người ứng cử; Tổng số cử tri trong cả nước; Tổng số cử tri đã tham gia bỏ phiếu, tỷ lệ so với tổng số cử tri trong cả nước; Số phiếu hợp lệ; Số phiếu không hợp lệ; Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử; Danh sách những người trúng cử theo từng đơn vị bầu cử; Những việc quan trọng đã xảy ra và kết quả giải quyết; Những khiếu nại, tố cáo do Hội đồng bầu cử quốc gia đã giải quyết.
Biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội được lập thành năm bản, có chữ ký của Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia. Biên bản được gửi đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam và trình Quốc hội khóa mới.
- Biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân:
Sau khi nhận, kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử và giải quyết khiếu nại, tố cáo (nếu có), Ủy ban bầu cử lập biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân mà mình chịu trách nhiệm tổ chức. Biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân có các nội dung sau đây: tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân được bầu của đơn vị hành chính; tổng số người ứng cử; tổng số cử tri của đơn vị hành chính; tổng số cử tri đã tham gia bỏ phiếu, tỷ lệ so với tổng số cử tri của đơn vị hành chính; số phiếu hợp lệ; số phiếu không hợp lệ; số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử; danh sách những người trúng cử theo từng đơn vị bầu cử; những việc quan trọng đã xảy ra và kết quả giải quyết; những khiếu nại, tố cáo do Ủy ban bầu cử đã giải quyết.
- Công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử:
HĐBC quốc gia căn cứ vào biên bản tổng kết cuộc bầu cử trong cả nước công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Quốc hội chậm nhất là 20 ngày sau ngày bầu cử.
UBBC căn cứ vào biên bản tổng kết cuộc bầu cử công bố kết quả bầu cử và danh sách những người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân ở cấp mình chậm nhất là 10 ngày sau ngày bầu cử.
- Giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử: Luận văn: Thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế.
Khiếu nại về kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội phải được gửi đến Hội đồng bầu cử quốc gia chậm nhất là 05 ngày kể từ ngày công bố kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội. Khiếu nại về kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân phải được gửi đến Ủy ban bầu cử chậm nhất là 05 ngày kể từ ngày công bố kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Hội đồng bầu cử quốc gia có trách nhiệm xem xét, giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Ủy ban bầu cử có trách nhiệm xem xét, giải quyết khiếu nại về kết quả bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Quyết định giải quyết khiếu nại của Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử là quyết định cuối cùng.
- Xác nhận tư cách của người trúng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân:
Căn cứ vào kết quả tổng kết bầu cử đại biểu Quốc hội, kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến người trúng cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng bầu cử quốc gia tiến hành xác nhận tư cách của người trúng cử đại biểu Quốc hội, cấp giấy chứng nhận đại biểu Quốc hội khóa mới cho người trúng cử và báo cáo Quốc hội khóa mới về kết quả xác nhận tư cách đại biểu Quốc hội tại kỳ họp đầu tiên.
Căn cứ vào kết quả tổng kết bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Ủy ban bầu cử tiến hành xác nhận tư cách của người trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp mà mình chịu trách nhiệm tổ chức bầu cử, cấp giấy chứng nhận đại biểu Hội đồng nhân dân khóa mới cho người trúng cử và báo cáo Hội đồng nhân dân khóa mới về kết quả xác nhận tư cách đại biểu Hội đồng nhân dân tại kỳ họp đầu tiên.
1.3. Kinh nghiệm đúc kết thực hiện pháp luật về bầu cử Luận văn: Thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế.
1.3.1. Kinh nghiệm thực hiện pháp luật về bầu cử ở một số nước
Pháp luật về bầu cử của các quốc gia là sự thể chế hoá các quy định về chế độ bầu cử của mỗi nước. Pháp luật bầu cử bao gồm tổng thể các quy định pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội liên quan đến quyền bầu cử, quyền ứng cử, các quy trình tiến hành bầu cử và xác định kết quả bầu cử.
Theo báo cáo nghiên cứu kinh nghiệm một số nước về hình thức văn bản QPPL về bầu cử và mô hình cơ quan phụ trách bầu cử quốc gia thì có nhiều quốc gia chỉ có một luật bầu cử chung như Hàn Quốc, Nhật bản, Phần Lan, Đức. Có nhiều quốc gia có nhiều luật luật bầu cử như: Luật bầu cử thượng viện, Luật bầu cử hạ viện, Luật bầu cử cơ quan đại diện cấp tỉnh, Luật bầu cử cơ quan đại diện cấp xã như Campuchia, Luật bầu cử liên bang, Luật bầu cử riêng của các bang như Canada.
Trong khuôn khổ đề tài luận văn, việc nghiên cứu tập trung vào văn bản pháp luật và cơ quan phụ trách bầu cử của các nước có những điểm tương đồng với Việt Nam như Hàn quốc và Nhật bản .
- Tổng quan pháp luật về bầu cử ở Hàn Quốc:
Tại Hàn Quốc, các hoạt động về bầu cử được điều chỉnh bởi Hiến pháp và chủ yếu bởi Luật Bầu cử chức vụ công. Bên cạnh đó, một số luật như: Luật về xuất nhập cảnh và Tư cách pháp lý của người Hàn Quốc ở nước ngoài (trong đó có điều chỉnh một số trường hợp người Hàn Quốc tại nước ngoài tham gia bầu cử), Luật Đảng phái chính trị (trong đó có điều chỉnh một số hoạt động đối với Đảng phái chính trị khi tham gia tranh cử) v.v… cũng điều chỉnh một phần đối với hoạt động bầu cử. Hiện nay, hoạt động bầu cử tại Hàn Quốc được điều chỉnh bởi Luật Bầu cử chức vụ công số 10303 ban hành ngày 17 tháng 3 năm 2010. Luật gồm 14 Chương và 279 điều. Theo đó, “Luật này áp dụng đối với các cuộc bầu cử Tổng thống, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội, bầu cử các thành viên Hội đồng địa phương và người đứng đầu chính quyền địa phương”(Điều 2). Như vậy, hoạt động bầu cử tại Hàn Quốc được điều chỉnh chung bởi một luật tại cả cấp trung ương lẫn địa phương.
Theo Điều 114 của Hiến pháp Hàn Quốc, Ủy ban bầu cử quốc gia là một cơ quan hiến định độc lập. Ủy ban bầu cử quốc gia là cơ quan quản lý các cuộc bầu cử, trưng cầu dân ý của quốc gia nhằm tạo sự công bằng và xử lý với các vấn đề hành chính liên quan đến các đảng chính trị và các quỹ chính trị. Nhiệm kỳ và quyền hạn của mỗi Ủy viên bầu cử được đảm bảo đúng theo quy định của Hiến pháp và pháp luật để bảo đảm thực hiện công bằng các nhiệm vụ mà không chịu ảnh hưởng của bất kỳ sự can thiệp bên ngoài nào. Luận văn: Thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế.
UBBC Quốc gia có các nhiệm vụ và trách nhiệm sau đây: quản lý các cuộc bầu cử; quản lý các cuộc bỏ phiếu; giám sát nghĩa vụ, trách nhiệm của các đảng phái chính trị trong công tác bầu cử; quản lý các vấn đề về bầu cử trong việc quản lý các quỹ chính trị; thực hiện các hoạt động nhằm thúc đẩy sự công bằng, minh bạch trong bầu cử; tuyên truyền, giáo dục về nền bầu cử dân chủ cho công chúng; Trao đổi và hợp tác quốc tế; nghiên cứu về bầu cử và hệ thống chính trị [5- tr 16, 41,44].
- Tổng quan pháp luật về bầu cử ở Nhật Bản:
Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, Luật Bầu cử các cơ quan nhà nước của Nhật Bản quy định chi tiết về các cuộc bầu cử toàn quốc và địa phương. Trước đây, có nhiều luật quy định về bầu cử (như Luật bầu cử Hạ viện, Luật bầu cử thượng viện, Luật bầu cử chính quyền địa phương…), nhưng từ năm 1950 các luật này được hợp nhất thành Luật Bầu cử các cơ quan nhà nước.
Luật Bầu cử các cơ quan nhà nước quy định các nguyên tắc được quy định trong Hiến pháp liên quan đến bầu cử cho cả bầu cử ở cấp độ quốc gia và địa phương.
Hiến pháp Nhật quy định chính thể dân chủ đại nghị và đảm bảo bầu cử phổ thông, công bằng và bỏ phiếu kín. Đây là những nguyên tắc cơ bản của hệ thống bầu cử, được áp dụng cho các cuộc bầu cử Quốc hội, các hội đồng địa phương và những người đứng đầu chính quyền thành phố. Bầu cử phổ thông đảm bảo quyền bầu cử của tất cả người dân Nhật từ 20 tuổi trở lên.
Ở Nhật bản có ba loại bầu cử, gồm tổng tuyển cử bầu ra Hạ viện, được tổ chức 4 năm một lần (trừ trường hợp hạ viện bị giải tán sớm hơn), tiếp đến là bầu cử Thượng viện được tổ chức 3 năm một lần để chọn ra một nửa số thành viên của Thượng viện và bầu cử ở địa phương được tổ chức 4 năm một lần tại các quận, thành phố và làng xã. Các cuộc bầu cử được giám sát bởi các Ủy ban bầu cử dưới sự chỉ đạo chung của Hội đồng Quản lý Bầu cử Trung ương (Hội đồng Quản lý Bầu cử của Trung ương là một cơ quan thuộc Bộ Nội vụ và Truyền thông).
Nhiệm vụ của Hội đồng Quản lý Bầu cử Trung ương là phụ trách việc bầu cử hạ nghị sĩ và thượng nghị sĩ theo quy định của hệ thống bầu cử của Nhật Bản. Hội đồng Quản lý Bầu cử Trung ương là cơ quan độc lập, gồm có 5 thành viên được bổ nhiệm bởi Thủ tướng trên cơ sở tiến cử của Quốc hội. Nhiệm kì của các thành viên là 3 năm.
Các Ủy ban Quản lý bầu cử cấp tỉnh: có trách nhiệm phụ trách việc bầu cử hạ nghị sĩ theo hình thức bầu cử đa số một đại diện và bầu cử các thượng nghị sĩ từ các đơn vị bầu cử, thống đốc từ các tỉnh và các thành viên của hội đồng địa phương cấp tỉnh. Các ủy ban quản lý bầu cử cấp tỉnh gồm có 4 thành viên được chọn bởi các hội đồng cấp tỉnh. Nhiệm kì của các thành viên Hội đồng này là 4 năm. Luận văn: Thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế.
Ủy ban Quản lý bầu cử cấp thành phố, thị xã (thành phố, thị trấn và làng) có trách nhiệm quản lý các cuộc bầu cử các lãnh đạo của địa bàn cấp thành phố, thị xã và các thành viên của Hội đồng thành thị. Ủy ban gồm có 4 người và được Hội đồng thành thị lựa chọn với nhiệm kì 4 năm.
Thêm vào đó, các ủy ban quản lý bầu cử còn được thành lập ở một số khu vực đặc biệt tại các khu vực hành chính của 12 thành phố trong Tokyo để thực hiện các chức năng được giao phó [5- tr18,61] .
1.3.2. Kinh nghiệm thực hiện pháp luật về bầu cử ở một số địa phương
- Thực hiện pháp luật về bầu cử ở Thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình:
Theo Báo cáo số 55/BC-UBBC ngày 07/6/2016 về kết quả cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình thì tình hình tổ chức triển khai, thực hiện pháp luật về bầu cử qua những nội dung sau:
- Tình hình tổ chức triển khai thực hiện:
Thực hiện Chỉ thị số 51-CT/TW ngày 04/01/2016 của Bộ Chính, Ban Thường vụ Thành ủy Đồng Hới đã ban hành Chỉ thị số 01-CT/TU ngày 29/02/2016 để lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021. Đã tổ chức hội nghị cán bộ chủ chốt của tỉnh để triển khai công tác bầu cử; quyết định thành lập Ban chỉ đạo bầu cử gồm 14 đồng chí, giới thiệu nhân sự Ủy ban bầu cử tỉnh gồm 15 đồng chí. Đã chỉ đạo Uỷ ban bầu cử Thành phố xây dựng kế hoạch triển khai công tác bầu cử đảm bảo tiến độ thời gian theo luật định.
Thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử, xác định và ấn định số đơn vị bầu cử, số đại biểu được bầu ở mỗi đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
Việc tuyên truyền, vận động trong nhân dân về cuộc bầu cử; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo đối với cuộc bầu cử; công tác hiệp thương; việc tập huấn nghiệp vụ công tác tổ chức bầu cử cho các thành viên tổ chức phụ trách bầu cử.
Thực hiện chế độ thông tin, báo cáo: Chấp hành nghiêm túc chế độ thông tin báo cáo, đầy đủ, kịp thời, chính xác tình hình công tác bầu cử theo các nội dung quy định của Sở Nội vụ, Ủy ban bầu cử tỉnh…đảm bảo theo hướng dẫn của cấp trên.
Tổ chức các hội nghị như: Hội nghị cán bộ cốt cán thành phố; Hội nghị tập huấn nghiệp vụ bầu cử; Hội nghị hiệp thương lần thứ nhất; Hội nghị hiệp thương lần thứ hai; Hội nghị hiệp thương lần thứ ba;Hội nghị tổ chức lấy ý kiến cử tri nơi cư trú, nơi công tác.
Việc lập và niêm yết danh sách cử tri, danh sách người ứng cử, tổ chức tiếp xúc cử tri, vận động bầu cử của những người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp theo đúng thời gian quy định.
Công tác giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo có liên quan đến cuộc bầu cử: Sau khi tiếp nhận đơn thư có liên quan đến các ứng cử viên xã phường: 16 đơn. Đã thực hiện chuyển đơn cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định.
Công tác bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội được chú trọng. Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội thời gian trước, trong và sau ngày bầu cử trên địa bàn thành phố cơ bản ổn định; không khí vui tươi, lành mạnh, an toàn. Công an thành phố, Ban chỉ huy Quân sự thành phố, lực lượng dân phòng các địa phương đã triển khai tốt kế hoạch bảo vệ cuộc bầu cử. Luận văn: Thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế.
- Về kinh phí và cơ sở vật chất – kỹ thuật cho cuộc bầu cử:
Các tài liệu liên quan đến công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, nhiệm kỳ 2016-2021 đã phát hành đầy đủ đến các địa phương, cơ quan, đơn vị thành phố và tại Hội nghị tập huấn nghiệp vụ bầu cử. Các loại văn bản, biểu mẫu; danh sách, tiểu sử tóm tắt của các ứng cử viên; phiếu bầu… đã được chuyển về các địa phương, tổ bầu cử đầy đủ và được bảo vệ an toàn.
Về kinh phí phục vụ bầu cử được trích từ nguồn ngân sách tỉnh; Từ nguồn ngân sách thành phố; Từ nguồn ngân sách xã, phường.
- Kết quả đạt được:
Nhìn chung cơ cấu đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 hợp lý, tính đại diện và chất lượng đại biểu nâng cao hơn. Không có đơn vị bầu cử, khu vực bỏ phiếu phải tiến hành bầu cử lại. Không có đơn vị bầu cử, khu vực bỏ phiếu nào phải tiến hành bầu cử thêm; Không có đơn vị bầu cử, khu vực bỏ phiếu bị hủy kết quả bầu cử do vi phạm pháp luật nghiêm trọng.
- Bài học kinh nghiệm:
Với sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự chỉ đạo kịp thời có hiệu quả của Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Nội vụ và của Thường vụ thành uỷ, Ban chỉ đạo Bầu cử thành phố; sự chủ động, tích cực, cố gắng vượt qua khó khăn của các cấp, các ngành, các địa phương, các tổ chức bầu cử từ thành phố đến các xã phường. Sau 4 tháng tích cực chuẩn bị, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 trên địa bàn thành phố thành công tốt đẹp; đảm bảo dân chủ, bình đẳng, đúng luật định, an toàn, tiết kiệm, đáp ứng được lòng mong đợi của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thành phố, thực sự là đợt sinh hoạt chính trị dân chủ rộng rãi, là ngày hội lớn của toàn dân.
Sự chỉ đạo, kiểm tra tích cực, điều chỉnh kịp thời của các đồng chí trong Ban chỉ đạo bầu cử, các đồng chí trong Ủy ban bầu cử thành phố, các đồng chí trong Ban bầu cử các cấp, các đồng chí trong Tổ cán bộ, chuyên viên giúp việc của Uỷ ban bầu cử thành phố; việc tập huấn nghiệp vụ cụ thể, kỹ lưỡng nên công tác chuẩn bị cho cuộc bầu cử được thực hiện chu đáo, tiến hành bầu cử đúng luật định.
Đã làm tốt việc phân bổ số lượng, thành phần, cơ cấu và lựa chọn người ứng cử. Tiến hành hiệp thương, tiếp xúc cử tri nơi công tác, nơi cư trú, tiếp xúc cử tri để vận động bầu cử đúng quy định, dân chủ, cởi mở.
Thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016- 2021 thể hiện sự đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động của Đảng bộ và nhân dân thành phố Đồng Hới, thực sự là ngày hội của toàn dân.
- Tồn tại, hạn chế: Luận văn: Thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế.
Công tác tuyên truyền một số địa phương chưa được quan tâm đúng mức; một số khu vực bỏ phiếu chưa được chú trọng đến công tác trang trí.
Việc phổ biến tuyên truyền tiểu sử tóm tắt những người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, nhiệm kỳ 2016-2021 còn hạn chế, chưa tạo điều kiện tốt để cử tri nắm chắc, nắm rõ và đầy đủ những thông tin toàn diện các ứng cử viên để cử tri lựa chọn trong quá trình bầu cử. Việc niêm yết danh sách chính thức, tiểu sử tóm tắt các ứng cử viên ở một số khu vực bỏ phiếu còn chậm và có sai sót.
Công tác cấp kinh phí bầu cử của tỉnh còn chậm. Vì vậy việc đảm bảo kinh phí cho các đơn vị, địa phương có thời điểm chưa kịp thời [41].
- Thực hiện pháp luật về bầu cử ở Thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên:
Theo Báo cáo số 68/BC-UBBC ngày 08/6/2016 về tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 trên địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên thì tình hình tổ chức triển khai, thực hiện pháp luật về bầu cử ở những nội dung sau:
- Tình hình ban hành văn bản chỉ đạo, hướng dẫn:
Để đảm bảo công tác lãnh chỉ đạo cuộc bầu cử được thống nhất, thông suốt, Ban thường vụ Thành ủy, Ủy ban nhân dân, Ủy ban bầu cử Thành phố Sông Công đã ban hành các văn bản chỉ đạo hướng như Chị Thị số 05-CT/TU ngày 27/01/2016 về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021; Quyết định 96-QĐ/TU ngày 28/01/2016 về thành lập Ban chỉ đạo bầu cử; Quyết định 97-QĐ/TU ngày 28/01/2016 về thành lập Tổ công tác giúp việc Ban Chỉ đạo, Ủy ban bầu cử thành phố (bao gồm các tổ công tác nhân sự, Tổ công tác thông tin tuyên truyền, tổ công tác an ninh trật tự)
Thành ủy đã ban hành hướng dẫn số 02-HD/TU ngày 03/02/2016 về công tác nhân sự đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp thành phố Sông công nhiệm kỳ 2016-2021. Luận văn: Thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế.
UBND Thành phố ban hành Chỉ thị số 177/CT-UBND ngày 03/02/2016 về tổ chức triển khai cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp thành phố Sông công nhiệm kỳ 2016-2021; Quyết định 504/QĐ-UBND ngày 03/02/2016 về thành lập Ủy ban bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp thành phố Sông công nhiệm kỳ 2016-2021.
Ngay sau khi thành lập, Ủy ban bầu cử thành phố Sông Công cũng đã kịp thời ban hành Quyết định số 03/QĐ-UBBC ngày 03/02/2016 về kế hoạch tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp thành phố Sông công nhiệm kỳ 2016-2021 trên địa bàn thành phố; Quyết định số 05/QĐ-UBBC ngày 22/02/2016 về thành lập Tổ công tác giúp việc Ủy ban bầu cử Thành phố và ban hành nhiều văn bản hướng dẫn một số nội dung khác liên quan đến cuộc bầu cử trên địa bàn thành phố.
- Công tác triển khai thực hiện:
Ngày 04/02/2016, Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, thành phố đã tổ chức Hội nghị triển khai công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 đến toàn thể các cơ quan, đơn vị, lực lượng vũ trang, các xã, phường, thị trấn theo đúng chỉ đạo của Tỉnh. Hội nghị đã triển khai hướng dẫn các văn bản của Trung ương, của Tỉnh, Thành ủy, Ủy ban nhân dân Thành phố, Ban chỉ đạo, Ủy ban bầu cử thành phố tới các đại biểu thuộc các Chi Đảng bộ thuộc Thành ủy, các cơ quan, đơn vị lực lượng vũ trang, Đảng ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, UBMTTQ các xã, phường, thị trấn trên địa bàn thành phố, đồng thời chỉ đạo các xã, phường, thị trấn trong ngày 05/02/2016 tổ chức Hội nghị triển khai đến các cơ quan, đơn vị, xóm, tổ dân phố theo thời gian quy định.
- Về thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử:
Tổ chức phụ trách bầu cử trên địa bàn thành phố Sông Công bao gồm Ủy ban bầu cử thành phố với 15 thành viên; 11 Ủy ban bầu cử xã, phường với 119 thành viên Ủy ban nhân dân Tỉnh Thái Nguyên đã ban hành quyết định thành lập các Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân Tỉnh trên địa bàn thành phố gồm 02 ban bầu cử với 26 thành viên.
UBND Thành phố Sông Công cũng ban hành các quyết định thành lập 11 Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố tại 11 xã, phường với 117 thành viên.
Về thành lập Ban bầu cử Hội đồng nhân dân xã, phường, tính đến ngày 13/3/2016, Ủy ban nhân dân các xã, phường đã thành lập 81 Ban bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã, phường với tổng số 723 thành viên. Theo đó, Ủy ban nhân dân Thành phố Sông Công cũng đã ban hành quyết định phê chuẩn 83 khu vực bỏ phiếu (bao gồm 81 khu vực bỏ phiếu ở khu dân cư và 02 khu vực bỏ phiếu tại đơn vị lực lượng vũ trang)
Về thành lập các Tổ bầu cử, tính đến ngày 30/3/2016, Ủy ban nhân dân các xã, phường đã thành lập 83 Tổ bầu cử với tổng số 1072 thành viên. Luận văn: Thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế.
- Về xác định và ấn định số đơn vị bầu cử, số đại biểu được bầu:
Tính đến ngày 03/3/2016 công tác ấn định đơn vị bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố là 11 đơn vị với tổng số đại biểu được bầu là 30 đại biểu; đơn vị bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã là 81 đơn vị với tổng số đại biểu được bầu là 281 địa biểu.
- Về công tác Hiệp thương, giới thiệu đại biểu:
Công tác hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố và các đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã, phường đã được UBMTTQ thành phố, UBMTTQ xã, phường tổ chức thực hiện đầy đủ các bước của quy trình hiệp thương, bảo đảm tiêu chuẩn, cơ cấu, thành phần người được giới thiệu và tiến hành hội nghị hiệp thương dân chủ, đúng tiến độ thời gian quy định cho từng công việc. Theo đó sau 3 lần hiệp thương danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố được xác định là 49 người; danh sách những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã được xác định là 481 người
- Về tổ chức tập huấn nghiệp vụ bầu cử và tập huấn kỹ năng vận động bầu cử:
UBBC Thành phố Sông Công đã tổ chức 11 lớp tập huấn nghiệp vụ cho 1072 thành viên cảu Tổ bầu cử. Tổ chức 02 Hội nghị tập huấn kỹ năng vận động bầu cử cho 530 ứng cử viên đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố và đại biểu Hội đồng nhân dân xã, phường.
- Về công tác tuyên truyền, vận động trong nhân dân về bầu cử:
UBND thành phố, Ban tuyên giáo thành ủy đã ban hành kế hoạch tuyên truyền cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 trên địa bàn thành phố. Theo đó, Phòng Văn hóa thông tin, Đài truyền thanh- truyền hình thành phố được giao nhiệm vụ chủ trì tổ chức tuyên truyền bằng nhiều hình thức phong phú để tuyên truyền các thông tin, các quy định pháp luật về bầu cử, tuyền tải những diễn biến của quá trình bầu cử trên địa bàn. Đã tiến hành được 60 cuộc tuyên truyền trên phạm vi toàn thành phố bằng các hình thức như tuyên tuyền trực tiêp, giao lưu văn hóa văn nghệ, Hội thi tìm hiểu về bầu cử, tuyên truyền bằng xe lưu động, trên hệ thống loa truyền thanh…
- Về công bố và niêm yết danh sách ứng cử viên:
Tính đến ngày 02/5/2016 việc công bố và niêm yết danh sách những người ứng cử được tổ chức thực hiện theo dung quy định.
UBBC thành phố đã biên soạn tiểu sử tóm tắt người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố, đồng thời tiếp nhận tiểu sử tóm tắt những người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân Tỉnh, đại biểu Quốc hội để các xã phường cấp phát đến các hộ gia đình và niêm yết tại điểm bỏ phiếu. Luận văn: Thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế.
- Về tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri:
Thực hiện kế hoạch tiếp xúc cử tri vận động bầu cử của UBMTTQ Tỉnh, UBMTTQ Thành phố và UBMTTQ xã, phường, tại đại bàn thành phố Sông Công đã tổ chức được 02 Hội nghị tiếp xúc cử tri ứng cử viên là đại biểu Quốc hội; 11 cuộc tiếp xúc cử tri ứng cử viên đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh; 113 cuộc tiếp xúc cử tri ứng cử viên đại biểu Hội đồng nhân dân Thành phố và đại biểu Hội đồng nhân dân xã, phường.
Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo: Ủy ban nhân dân thành phố, Ủy ban nhân dân các xã, phường có đơn thư giải quyết kịp thời đúng theo quy định.
Công tác bảo vệ an ninh trật tự: Công an, Ban chỉ huy quân sự thành phố, xã, phường tập trung chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch, đồng thời xây dựng phương án bảo vệ triển khai đến từng khu vực bỏ phiếu.
Về công tác kiểm tra: Ủy ban bầu cử thành phố tiến hành kiểm tra thường xuyên tại các xã, phường về công tác bầu cử. Qua bầu cử, Ủy ban bầu cử thành phố đã kịp thời phát hiện và hướng dẫn các tổ chức phụ trách bầu cử khắc phục những sai sót, vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện pháp luật về bầu cử [40].
1.3.3. Kinh nghiệm đúc kết cho công tác thực hiện pháp luật ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế
Thứ nhất, làm tốt công tác quán triệt các chỉ đạo, hướng dẫn triển khai quán triệt Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ương Đảng, Quốc Hội, Hội đồng bầu cử quốc gia; Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; Tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ theo hướng dẫn tại các Thông tư của các Bộ; các văn bản hướng khác của các cơ quan, tổ chức hữu quan và các văn bản của Tỉnh về công tác bầu cử.
Thứ hai, ban hành kịp thời các văn bản chỉ đạo điều hành đến các cơ quan, đoàn thể và Ủy ban nhân dân các phường về công tác chuẩn bị phải được thực hiện ngay từ việc xây dựng kế hoạch, thành lập các tổ chức phục vụ bầu cử, các tổ chức bầu cử, phân công nhiệm vụ cụ thể cho các ngành thành viên đến việc chuẩn bị tài liệu hướng dẫn, tập huấn nghiệp vụ… Trong đó, công tác chuẩn bị về nhân sự, công tác tuyên truyền, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến bầu cử và bảo đảm an ninh trật tự phục vụ cuộc bầu cử đều được xây dựng kế hoạch chi tiết, cụ thể ở từng ngành từ thành phố đến các phường.
Thứ ba, tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan ban ngành, đoàn thể từ thành phố đến các phường trong thực hiện công tác bầu cử.
Thứ tư, chú trọng công tác tuyên truyền. Công tác tổ chức quán triệt và tuyên truyền thường xuyên, sâu rộng về cuộc bầu cử, nội dung tuyên truyền tập trung vào Luật Bầu cử để cử tri biết rõ quyền và nghĩa vụ của mình. Hình thức tuyên truyền cũng rất đa dạng, phong phú thông qua các cuộc họp, hệ thống đài truyền thanh cơ sở và tuyên truyền trực tiếp; thời gian tuyên truyền linh hoạt, phù hợp với từng nhóm đối tượng.
Thứ năm, tăng cường kiểm tra giám sát để kịp thời phát hiện, xử lý những vấn đề vướng mắc, phát sinh; uốn nắn những lệch lạc trong thực hiện các bước của quy trình bầu cử.
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về bầu cử. Nội dung thực hiện pháp luật về bầu cử, đồng thời đi sâu tìm hiểu quá trình thực hiện pháp luật về bầu cử của một số nước trên thế giới, một số địa phương ở là thành phố trực thuộc tỉnh ở miền Bắc và miền Trung để rút ra kinh nghiệm trong quá trình thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. Luận văn: Thực hiện pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế.
Những nội dung lý luận thực hiện pháp luật về bầu cử tại chương 1 là luận cứ khoa học để phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về bầu cử tại địa bàn thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tại chương 2.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp pháp luật về bầu cử tại thành phố Huế