Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa từ thực tiễn xét xử tại tỉnh Bình Dương dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Lý do thực hiện đề tài
Việt Nam trong quá trình đổi mới chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập với kinh tế quốc tế, đã đạt được những bước tiến đáng kể. Cùng với sự phát triển về kinh tế, các giao dịch, hoạt động thương mại ngày càng trở nên phổ biến, đa dạng trong đời sống. Trao đổi mua bán hàng hóa được xem là một bộ phận chủ yếu của hoạt động thương mại, là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng. Hoạt động mua bán hàng hóa được mở rộng và phát triển với sự gia tăng về số lượng, chất lượng hàng hóa, hình thức của hàng hóa, cũng như số lượng người tham gia hoạt động kinh doanh với nhau. Ngày nay, hoạt động mua bán hàng hóa không chỉ diễn ra ở phạm vi một quốc gia mà còn mở rộng ra cả các quốc gia khác nhau trên toàn thế giới, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong nước, cũng như phát triển quan hệ kinh tế giữa các quốc gia.
Khi các bên tiến hành hoạt động mua bán hàng hóa có thể thỏa thuận bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể, được gọi là hợp đồng mua bán hàng hóa. Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa bên mua và bên bán nhằm đạt được lợi ích mà mỗi bên hướng đến khi thiết lập giao dịch với nhau. Việc nắm vững, hiểu rõ các quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ giúp các chủ thể kinh doanh ký kết và thực hiện hợp đồng được thuận lợi và hiệu quả. Tuy nhiên, trên thực tế còn khá nhiều trường hợp các bên tỏ ra lúng túng khi thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa, dẫn đến những tranh chấp đáng tiếc xảy ra. Các tranh chấp ngày một tăng về số lượng và sự phức tạp của từng vụ việc, đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật điều chỉnh toàn diện, cơ chế giải quyết tranh chấp nhanh gọn, để không ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp và hoạt động kinh doanh của các bên. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.
Pháp luật Việt Nam quy định các hình thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại nói chung và đối với hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng bao gồm thương lượng, hòa giải, Trọng tài thương mại và Tòa án. Ở mỗi phương thức giải quyết tranh chấp đều có những ưu điểm và hạn chế riêng. Các bên cân nhắc để lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp phù hợp nhằm tháo gỡ một cách có hiệu quả những mâu thuẫn, bất đồng xảy ra. Và một trong những lựa chọn thường được các bên áp dụng khi tranh chấp phát sinh là thông qua Tòa án. Bởi Tòa án là cơ quan tài phán quốc gia, quá trình giải quyết tranh chấp được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ. Bản án hay quyết định của Tòa án về vụ việc tranh chấp nếu các bên không tự nguyện thực hiện, sẽ được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước. Nhưng bên cạnh ưu điểm, phương thức giải quyết bằng Tòa án cũng tồn tại một số bất cập như thủ tục thiếu linh hoạt, thời gian giải quyết kéo dài, nguyên tắc xét xử công khai có thể ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khi bí mật kinh doanh bị tiết lộ, cũng làm cho các doanh nghiệp băn khoăn trong việc lựa chọn.
Bình Dương là một tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ, nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Bình Dương được xem là một trong các tỉnh đang có tốc độ kinh tế phát triển khá mạnh mẽ, thu hút nguồn vốn nước ngoài năng động, một trung tâm công nghiệp với nhiều khu công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Theo đó, hoạt động mua bán hàng hóa tại tỉnh Bình Dương vô cùng phát triển, kéo theo các tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa diễn ra nhiều và phức tạp hơn. Vì vậy, việc giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán thông qua Tòa án có ý nghĩa rất quan trọng nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong hợp đồng, tạo môi trường kinh doanh an toàn, lành mạnh cho các chủ thể kinh doanh.
Bằng việc chọn đề tài luận văn “Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa từ thực tiễn xét xử tại tỉnh Bình Dương”, tác giả mong muốn nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ những quy định của pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật và các khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình giải quyết. Thông qua đó, đề ra các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện những quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế tại tỉnh Bình Dương nói riêng và cả nước nói chung.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu:
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là nhằm làm rõ, đánh giá các quy định của pháp luật và thực tiễn xét xử tại Tòa án về hợp đồng mua bán hàng hóa, từ đó, đưa ra các kiến nghị, định hướng nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả của công tác giải quyết các tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án nhân dân dân tỉnh Bình Dương trong thời gian tới. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.
- Mục tiêu cụ thể
Làm rõ các vấn đề pháp lý của hợp đồng mua bán hàng hóa, tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa một cách có hệ thống trên cơ sở phân tích những quy định của pháp luật, thực tiễn xét xử tại Tòa án.
Phân tích thực trạng áp dụng các quy định pháp luật trong thực tiễn xét xử các vụ việc về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án, chỉ ra những bất cập, vướng mắc, khó khăn trong quá trình giải quyết.
Đưa ra các khuyến cáo hữu ích cho các bên khi xác lập hợp đồng mua bán hàng hóa; rút kinh nghiệm giải quyết và xử lý cho công tác xét xử trong các tranh chấp liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa.
Đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa bằng Tòa án ở Việt Nam hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu trên, luận văn đi vào thực hiện ba nhiệm vụ chính để làm sáng tỏ được mục đích nghiên cứu.
Thứ nhất, tìm hiểu và phân tích khái niệm, đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa, tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa. Làm rõ vấn đề lý luận của các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
Thứ hai, phân tích các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa và thực trạng áp dụng pháp luật trong thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, chỉ ra những vấn đề phát sinh và bất cập về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.
Thứ ba, đưa ra những đề xuất, kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án.
2.3. Câu hỏi nghiên cứu
Để đáp ứng được mục tiêu và nhiệm vụ đề ra, luận văn sử dụng các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa phát sinh từ những nguyên nhân nào?
- Thực tiễn áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án như thế nào?
- Những vướng mắc, khó khăn nào phát sinh trong quá trình áp dụng pháp luật vào thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án?
- Các giải pháp, kiến nghị nào để hoàn thiện quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án?
3. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy vấn đề giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án không phải là vấn đề mới trong hoạt động nghiên cứu, bằng chứng là đã có các công trình nghiên cứu có liên quan như sau:
3.1. Luận án, Luận văn
Võ Sỹ Mạnh (2015), “Vi phạm cơ bản hợp đồng theo Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và định hướng hoàn thiện các quy định có liên quan của pháp luật Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh. Luận án đã nghiên cứu những vấn đề liên quan đến vi phạm cơ bản, là các quy định của Công ước Viên và pháp luật Việt Nam về vi phạm cơ bản hợp đồng, về các chế tài được áp dụng khi có sự vi phạm cơ bản hợp đồng. Luận án nghiên cứu sự vi phạm hợp đồng từ phía người bán và người mua trong hợp đồng mua bán hàng hóa nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng. Những án lệ, những vụ tranh chấp cũng như thực tiễn xét xử các của Tòa án và Trọng tài của một số quốc gia là thành viên của Công ước Viên. Ngoài ra, luận án còn phân tích những khó khăn trong việc áp dụng các quy định về vi phạm cơ bản của pháp luật Việt Nam so với quy định của Công ước Viên.
Trương Thị Hà (2015), “Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn đã nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống từ quy định của pháp luật đến thực trạng, các giải pháp hoàn thiện và nâng cao việc giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa theo thủ tục sơ thẩm. Tuy nhiên, luận văn này được nghiên cứu trước thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành ra đời. Cho nên, những khuyến nghị và giải pháp trong luận văn và một số đề xuất đã không còn phù hợp với tình hình hiện nay.
Trương Thị Thùy Dương (2018), “Hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Huế. Luận văn đã nghiên cứu các quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa, thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa tại Việt Nam, các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật thương mại về hợp đồng mua bán hàng hóa, nâng cao hiệu quả việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, luận văn này chỉ nghiên cứu hợp đồng mua bán hàng hóa trong nước, các nội dung chủ thể, điều khoản của hợp đồng, hình thức hợp đồng, chưa nghiên cứu về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.
Nguyễn Minh Hoàng Vương (2020), “Giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa từ thực tiễn xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Viện Hàn Lâm khoa học xã hội Việt Nam. Luận văn đã nghiên cứu, phân tích một số vấn đề lý luận và quy định của pháp luật Việt Nam về giải quyết các tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa bằng con đường Tòa án, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp thương mại. Tuy nhiên, luận văn này chỉ nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật và thực tiễn xét xử sơ thẩm tại Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, chưa nghiên cứu trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp tại cấp phúc thẩm.
3.2. Sách tham khảo
Đỗ Văn Đại (2010), “Các biện pháp xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Tác giả đã đề cập đến khái niệm về vi phạm cơ bản hợp đồng và cho rằng chỉ nên coi những vi phạm có ảnh hưởng đến hợp đồng mới là cơ bản, việc xác định tính chất nghiêm trọng của hành vi vi phạm hợp đồng là phụ thuộc hoàn cảnh cụ thể và khi có tranh chấp Tòa án sẽ tự xác định.
Đỗ Văn Đại (2014), “Luật Hợp đồng Việt Nam – Bản án và Bình luận bản án tập 2”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Trên cơ sở tuyển chọn, trích dẫn các bản án có tính điển hình, tác giả tập trung phân tích, bình luận vấn đề pháp lý cơ bản của pháp luật hợp đồng Việt Nam, có so sánh, tham chiếu với những nội dung tương ứng của pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều quốc gia khác. Qua đó, tác giả đưa ra một số đánh giá, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật hợp đồng tại Việt
Nguyễn Thị Dung và Tập thể giảng viên Bộ môn Luật Thương mại Trường Đại học Luật Hà Nội (2017), “Luật kinh tế chuyên khảo”, Nhà xuất bản Lao động. Nội dung sách đã trình bày bao quát toàn bộ các vấn đề cơ bản quan trọng nhất trong hệ thống pháp luật kinh tế, cung cấp những kiến thức pháp luật cơ bản và cần thiết cho thực tiễn kinh doanh và thực tiễn quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.
3.3. Bài viết tạp chí
Đỗ Văn Đại (2011), “Hướng tới sự thống nhất pháp luật về xử lý vi phạm hợp đồng ở Việt Nam”, Kỷ yếu Hội thảo “Hoàn thiện các báo cáo rà soát Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Thương mại” do VCCI phối hợp với Văn phòng Chính phủ tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh, ngày 24/8/2011. Bài viết đã chỉ ra những bất cập trong việc áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng theo quy định tại Điều 308 Luật Thương mại và quyền hoãn thực hiện hợp đồng của bên mua theo quy định tại khoản 2 Điều 415 Bộ luật Dân sự năm 2005, vì những khó khăn trong việc xác định cái gọi là vi phạm cơ bản hợp đồng – điều kiện để áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng theo quy định của Luật Thương mại.
Lê Thị Hải Ngọc, Phạm Lê Nhật Hoàng (2020), “Thực trạng pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông tin hàng hóa của tổ chức, cá nhân kinh doanh và một số giải pháp hoàn thiện”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 42/2020, Tr.70-78.
Bài viết đã phân tích về thông tin hàng hóa, về trách nhiệm cung cấp thông tin hàng hóa của cá nhân, tổ chức kinh doanh, thực tiễn thi hành pháp luật và đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về trách nhệm cung cấp thông tin hàng hóa của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với người tiêu dùng.
Đoàn Đức Lương (2020), “Áp dụng Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại trong quan hệ hợp đồng”, Tạp chí Pháp luật và Thực tiễn, (43): 1-11. Bài viết đã phân tích vấn đề chọn luật áp dụng trong hợp đồng, thời điểm chọn luật áp dụng khi xác lập hợp đồng để làm căn cứ phát sinh các quyền và nghĩa vụ hoặc để giải quyết tranh chấp, hình thức chọn luật của các chủ thể, Bộ luật Dân sự hay Luật Thương mại áp dụng để giải quyết tranh chấp có phụ thuộc thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự hay vụ án kinh doanh thương mại.
Đinh Văn Cường (2020), “Thực trạng pháp luật và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về chế tài phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng thương mại và mối quan hệ giữa hai chế tài”, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, số (03). Bài viết tập trung phân tích thực trạng pháp luật và mối quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại, qua đó đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Các công trình nghiên cứu nêu trên làm sáng tỏ các vướng mắc, khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án nhân dân. Không những vậy, các công trình nghiên cứu cũng phân tích nguyên nhân dẫn đến tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu đề tài pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa vẫn là cấp thiết, bởi lẽ các quy định pháp luật về vấn đề này vẫn còn nhiều bất cập, chưa thực sự phù hợp với tình hình thực tiễn. Đồng thời, luận văn của tôi đi sâu tìm hiểu và nghiên cứu vấn đề giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa từ thực tiễn xét xử tại tỉnh Bình Dương là có tính đặc thù và cá biệt, chưa nêu ra được trong các công trình nghiên cứu gần đây. Tác giả đề tài mong muốn góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận cơ bản về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, chỉ ra những bất cập của hợp đồng mua bán hàng hóa các chủ thể kinh doanh mắc phải khi xác lập và thực hiện hợp đồng. Thực trạng áp dụng pháp luật khi giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án và đề xuất định hướng, giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật Việt Nam về việc giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án. Luận văn phân tích thực tiễn xét xử các vụ việc tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn không nghiên cứu toàn bộ các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, mà chỉ tập trung nghiên cứu trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương còn có những vướng mắc, bất cập, khó khăn gì trong thực tiễn áp dụng pháp luật.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ các vấn đề nghiên cứu, về mặt phương pháp luận, luận văn được hoàn thành trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước ta về phát triển kinh tế xã hội, về xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Về mặt phương pháp cụ thể, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như tổng hợp, thống kê, phân tích, khảo sát và điều tra, cụ thể như sau: Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.
Phương pháp phân tích và tổng hợp: Đây là hai phương pháp nghiên cứu quan trọng của luận văn, được sử dụng trong tất cả các chương của luận văn, nhằm phân tích, đánh giá các quy định pháp luật và thực tiễn xét xử các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa. Phương pháp tổng hợp còn được sử dụng để tổng hợp và đúc kết những kết quả của quá trình nghiên cứu.
Tại Chương 1: Tác giả tập trung sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu. Tác giả sử dụng phương pháp này để nghiên cứu các văn bản pháp luật có liên quan đến cơ sở lý luận các vấn đề về hợp đồng mua bán hàng hóa, tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa; các đề tài khoa học, chương trình, dự án, các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành. Đồng thời, tác giả còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp nêu lên cơ sở lý thuyết để khái quát thành những quan điểm, luận điểm làm nền tảng lý luận cho luận văn.
Tại Chương 2: Tác giả sử dụng phương pháp khảo sát, điều tra, thống kê và phân tích bản án. Tác giả sử dụng phương pháp này chủ yếu tại chương 2 của luận văn, các số liệu thu thập, điều tra được tổng hợp, phân tích làm cơ sở đánh giá thực trạng, qua đó đánh giá về hiệu quả và hạn chế để đưa ra những giải pháp giải quyết các vấn đề một cách cụ thể.
Tại Chương 3: Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu, phương pháp phân tích để đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
6. Đóng góp của nghiên cứu
Ý nghĩa lý luận: Trên cơ sở phân tích các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án, những ưu điểm, hạn chế khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án, để góp phần bổ sung và phát triển lý luận về vai trò của pháp luật và áp dụng pháp luật trong giải quyết các tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án nhân dân. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.
Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn đã đưa ra những bất cập trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành, đồng thời nêu ra một số trường hợp điển hình về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa, từ đó làm cơ sở đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật trong thời gian tới.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung Luận văn bao gồm ba chương:
- Chương 1: Lý luận về hợp đồng mua bán hàng hóa và giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án.
- Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật và tình hình giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại tỉnh Bình Dương.
Chương 1 LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA TẠI TÒA ÁN
1.1. Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa
1.1.1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa
Hoạt động mua bán hàng hóa là một hoạt động trung tâm trong giao lưu thương mại, có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Hoạt động này diễn ra hàng ngày, xung quanh chúng ta. Đây là một hoạt động thương mại được diễn ra giữa một bên bán hàng và một bên mua hàng hóa. Trong quan hệ mua bán hàng hóa, các bên thường giao kết với nhau bằng các thỏa thuận, thể hiện dưới hình thức pháp lý nhất định là hợp đồng mua bán hàng hóa.
Hợp đồng được hiểu là sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ trong những quan hệ xã hội cụ thể. Sự thỏa thuận được hình thành từ hai phía, theo đó một bên đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng và một bên chấp nhận đề nghị giao kết đó. Đề nghị giao kết và chấp nhận đề nghị giao kết được coi là điều kiện cần và đủ để hình thành nên hợp đồng. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.
Đã có nhiều định nghĩa về hợp đồng được pháp luật các quốc gia trên thế giới đưa ra như sau: “Hợp đồng là sự thỏa thuận theo đó một hoặc nhiều người cam kết với một hoặc nhiều người khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không làm một việc nào đó” (Điều 1101 Bộ luật dân sự Pháp năm 1804). “Hợp đồng được thừa nhận như một sự thỏa thuận được giao kết bởi hai hoặc nhiều người về việc phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự” (Điều 420 Bộ luật Dân sự Liên Bang Nga).
Tại Việt Nam, từ điển luật học đưa ra khái niệm về hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên có tư cách pháp nhân hoặc giữa những người có đầy đủ năng lực hành vi nhằm xác lập, thay đổi, phát triển hay chấm dứt quyền, quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên.
Theo quy định thì có nhiều loại hợp đồng. Hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản, hợp đồng phải có chữ ký đầy đủ của những người có thẩm quyền của các bên. Tuy nhiên, về mặt pháp lý thì khái niệm về hợp đồng như trên là chưa đầy đủ. Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Đây là điểm mới quan trọng, đáng chú ý, khái niệm “hợp đồng” của Bộ luật Dân sự năm 2015 thay thế cho khái niệm “hợp đồng dân sự” của Bộ luật Dân sự năm 2005 đã mở rộng phạm vi đối tượng áp dụng, làm tăng tính khả thi, minh bạch trong thực tiễn áp dụng.
Yếu tố cơ bản nhất của hợp đồng là thể hiện sự thỏa hiệp giữa các bên với nhau, tuân theo nguyên tắc được gọi là nguyên tắc hiệp ý. Khi giao kết hợp đồng, các bên được tự do thỏa thuận, bàn bạc các nội dung trong hợp đồng, xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ của các bên. Nhưng tự do hợp đồng không phải là tự do tuyệt đối mà phải tuân theo quy định của pháp luật, tôn trọng đạo đức, trật tự xã hội, trật tự công cộng.
Mua bán hàng hóa là việc trao đổi hàng hóa giữa bên có hàng hóa và bên có nhu cầu mua hàng hóa trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, tự do thỏa thuận theo ý chí của các bên. Luật Thương mại năm 2005 ghi nhận mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.
Mặc dù, Luật Thương mại năm 2005 có một chương quy định về mua bán hàng hóa (chương II), nhưng lại không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại. Tuy nhiên, có thể dựa trên khái niệm chung về hợp đồng dân sự, hợp đồng mua bán tài sản trong luật dân sự để xác định bản chất của hợp đồng mua bán hàng hóa. Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.
Qua đó, có thể thấy rằng hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung của hợp đồng, là sự thỏa thuận giữa bên mua và bên bán nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán. Đồng thời, hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản. Điểm để phân biệt giữa hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại với hợp đồng mua bán tài sản khác về đối tượng mua bán là hàng hóa và mục đích sinh lợi. Hàng hóa thuộc tài sản có phạm vi hẹp hơn tài sản, bao gồm động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và các vật gắn liền với đất. Trong khi mục đích chính của mua bán hàng hóa là có mục đích kinh doanh, thu lợi nhuận thì mua bán tài sản không nhất thiết là có mục đích thu lợi nhuận, mà còn có thể có mục đích khác như tiêu dùng, sở thích, tặng cho.
Như vậy, hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa, chuyển quyền sở hữu hàng hóa đó cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận. Việc giao hàng, thời gian, địa điểm giao hàng, số lượng, chất lượng hàng hóa và phương thức thanh toán được thực hiện theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng.
1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại
Hợp đồng mua bán hàng hóa là một trong những loại của hợp đồng mua bán tài sản, là sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên. Do đó, có thể xem xét các đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa trong mối liên hệ với hợp đồng mua bán tài sản theo nguyên lý của mối quan hệ giữa các riêng và cái chung. Hợp đồng mua bán hàng hóa có những đặc điểm chung của hợp đồng mua bán tài sản trong dân sự.
Thứ nhất, hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng ưng thuận. Quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh ngay sau khi các bên đã thỏa thuận xong về nội dung chủ yếu của hợp đồng. Tức hợp đồng mua bán hàng hóa được coi là giao kết tại thời điểm các bên thỏa thuận xong các điều khoản cơ bản, thời điểm có hiệu lực của hợp đồng không phụ thuộc vào thời điểm bàn giao hàng hóa. Việc bàn giao hàng hóa chỉ được coi là hành động của bên bán nhằm thực hiện nghĩa vụ của hợp đồng mua bán đã có hiệu lực.
Thứ hai, hợp đồng mua bán hàng hóa có tính đền bù. Bên bán khi thực hiện nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua sẽ nhận từ bên mua một lợi ích tương đương với giá trị hàng hóa theo thỏa thuận dưới dạng khoản tiền thanh toán.
Thứ ba, hợp đồng mua bán hàng hóa là hợp đồng song vụ. Đây là hình thức hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ với nhau. Hay nói cách khác, mỗi bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa đều bị ràng buộc bởi nghĩa vụ đối với bên kia, đồng thời cũng là bên có quyền đòi hỏi bên kia thực hiện nghĩa vụ đối với mình. Trong hợp đồng mua bán hàng hóa tồn tại hai nghĩa vụ chính mang tính chất qua lại, liên quan mật thiết với nhau. Bên bán có nghĩa vụ phải bàn giao hàng hóa cho bên mua và nghĩa vụ của bên mua là phải thanh toán cho bên bán. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.
Bên cạnh những đặc điểm chung của hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng mua bán hàng hóa có những có những đặc điểm nhất định, xuất phát từ bản chất thương mại của hành vi mua bán hàng hóa.
Về chủ thể, hợp đồng mua bán hàng hóa được thiết lập giữa các chủ thể chủ yếu là thương nhân. Theo quy định của Luật Thương mại năm 2005, thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Khái niệm thương nhân mà Luật Thương mại đề cập có thể là thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài. Thương nhân khi là chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa phải phù hợp với phạm vi và lĩnh vực của họ trong đăng ký kinh doanh. Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa. Hoạt động của bên chủ thể không phải thương nhân và không nhằm mục đích lợi nhuận trong quan hệ mua bán hàng hóa phải tuân theo Luật Thương mại khi chủ thể này lựa chọn áp dụng Luật Thương mại.
Về đối tượng, hợp đồng mua bán hàng hóa có đối tượng là hàng hóa. Hàng hóa là những sản phẩm lao động của con người, được tạo ra nhằm mục đích trao đổi để thỏa mãn nhu cầu của con người. Hàng hóa có thể là vật, là sức lao động của con người, là các quyền tài sản. Cùng với sự phát triển của xã hội, hàng hóa càng trở nên phong phú. Khái niệm hàng hóa theo quy định của luật pháp các nước dù có những khác biệt nhất định nhưng đều có xu hướng mở rộng đối tượng là những hàng hóa được phép lưu thông.
Công ước Viên năm 1980 của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế chỉ loại trừ đối với việc mua bán một số loại hàng hóa như chứng khoán, giấy đảm bảo chứng từ và tiền lưu thông, điện năng, phương tiện vận tải đường thủy, đường không, phương tiện vận tải bằng khinh khí cầu.
Theo luật pháp Hoa Kỳ, hàng hóa bao gồm mọi thứ có thể dịch chuyển quyền sở hữu được vào thời gian xác định theo hợp đồng mua bán hàng hóa, hàng hóa có thể đã có ở hiện tại hoặc sẽ có trong tương lai.
Nhìn chung, hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa phải là những hàng hóa được phép lưu thông và có tính thương mại. Nếu các bên giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa là hàng hóa bị cấm lưu thông trên thị trường thì hợp đồng mua bán hàng hóa đó sẽ bị vô hiệu. Do đó, việc xác định hàng hóa là đối tượng mua bán sẽ là một trong những điều kiện ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.
Tại Việt Nam, Luật Thương mại năm 2005 quy định hàng hóa bao gồm tất cả động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; những vật gắn liền với đất đai. Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa có thể là hàng hóa hiện đang tồn tại, hoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai. Nhưng đối tượng hàng hóa trong thương mại lại hẹp hơn đối tượng tài sản được phép giao dịch trong dân sự, chỉ bao gồm các loại tài sản hữu hình. Còn các tài sản vô hình là quyền tài sản như giấy tờ có giá (cổ phiếu, trái phiếu,..) không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Thương mại.
Về hình thức, hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được thể hiện dưới hình thức bằng lời nói, bằng văn bản hoặc xác lập bằng hành vi cụ thể. Trong một số trường hợp nhất định, tùy theo tính chất của hàng hóa hoặc tính phức tạp của quan hệ mua bán hàng hóa mà pháp luật quy định hợp đồng mua bán hàng hóa đó bắt buộc phải được lập thành văn bản hợp đồng, ngoài ra còn phải tuân thủ các quy định về công chứng, chứng thực. Như vậy, để đáp ứng thực tiễn của hoạt động mua bán hàng hóa, pháp luật quy định rất đa dạng về các hình thức thể hiện hợp đồng. Các bên được tự do lựa chọn hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa, trừ những trường hợp pháp luật có quy định về hình thức cụ thể của hợp đồng thì bên mua và bên bán phải tuân thủ theo quy định của pháp luật.
Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế CISG công nhận nguyên tắc tự do về hình thức hợp đồng, tức là hợp đồng mua bán hàng hóa không nhất thiết phải bằng văn bản mà có thể bằng lời nói, hành vi và có thể được chứng minh bằng mọi cách, kể cả nhân chứng. Đây là một điểm khác biệt cơ bản giữa CISG và pháp luật Việt Nam về hình thức hợp của hợp đồng. Nhưng sự khác biệt này không cản trở Việt Nam tham gia CISG vì Việt Nam có quyền bảo lưu sự khác biệt này theo Điều 96 của CISG.
Hình thức hợp đồng bằng lời nói thường được áp dụng trong quan hệ mua bán hàng hóa có giá trị vừa và nhỏ giữa các thương nhân đã có quan hệ bạn hàng lâu năm. Các bên có thể gặp nhau trực tiếp thỏa thuận hoặc trao đổi qua điện thoại. Thông qua lời nói, các thông tin về các nội dung cơ bản của hợp đồng được các bên giao kết hợp đồng thể hiện và thống nhất trong quá trình thương lượng với nhau (đề nghị giao kết và chấp nhận giao kết). Khi các bên thỏa thuận được các nội dung của hợp đồng thì đồng nghĩa hợp đồng đã được giao kết và có hiệu lực.
Hình thức hợp đồng bằng hành vi cụ thể thông thường được sử dụng khi bên thực hiện hành vi giao kết hợp đồng đã biết rõ nội dung của hợp đồng và chấp nhận tất các điều kiện mà bên kia đưa ra, và bên kia không loại trừ việc trả lời bằng hành vi hoặc không đưa ra yêu cầu rõ ràng về hình thức của sự trả lời chấp nhận. Có thể thấy hình thức hợp đồng bằng hành vi được thực hiện phổ biến trong việc mua bán hàng hóa qua hệ thống siêu thị. Bên bán hàng thể hiện việc muốn bán hàng hóa qua hành vi trưng bày hàng hóa và giá niêm yết. Bên mua hàng thể hiện việc muốn mua hàng hóa thông qua hành vi lấy hàng và thanh toán tiền cho bên bán. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.
Hình thức hợp đồng bằng văn bản là phổ biến giữa các thương nhân trong giai đoạn hiện nay. Các bên trong hợp đồng có thể trực tiếp gặp nhau ký kết vào một văn bản hợp đồng hoặc thông qua công văn, tài liệu giao dịch giữa các bên. Luật Thương mại năm 2005 cũng thừa nhận các hình thức có giá trị tương đương với văn bản gồm có điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật. Đây được xem là quy định tiến bộ phù hợp với sự phát triển của khoa học kỹ thuật. So với các hình thức khác thì hình thức hợp đồng thể hiện bằng văn bản có nhiều ưu điểm. Bởi văn bản ghi nhận một cách rõ ràng, cụ thể quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng. Văn bản là cơ sở pháp lý rõ ràng để các bên thực hiện đúng và đầy đủ hợp đồng. Đồng thời, văn bản cũng là tài liệu, chứng cứ quan trọng để cơ quan có thẩm quyền xem xét khi giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng đó.
Về nội dung, hợp đồng mua bán hàng hóa thể hiện các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mua bán. Theo đó, bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu cho bên mua và nhận tiền; còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng hóa và trả tiền cho bên bán. Hành vi mua bán của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa có tính chất hành vi thương mại. Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa là các điều khoản do các bên thỏa thuận, thể hiện quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong hợp đồng. Do đó, các bên thỏa thuận nội dung hợp đồng càng rõ ràng và chi tiết thì việc thực hiện hợp đồng của các bên sẽ càng chặt chẽ, thuận lợi, có thể phòng ngừa các tranh chấp phát sinh.
Luật Thương mại Việt Nam không quy định nội dung cụ thể cho một hợp đồng nói chung và hợp đồng kinh doanh nói riêng, các bên không bắt buộc phải thỏa thuận nội dung cụ thể nào. Tùy vào từng hợp đồng cụ thể, pháp luật chuyên ngành có những nội dung bắt buộc. Hợp đồng bắt buộc phải bao gồm những nội dung chủ yếu nào tùy thuộc quy định của pháp luật từng quốc gia. Việc pháp luật quy định nội dung trong hợp đồng mua bán hàng hóa nhằm hướng các bên tập trung vào thỏa thuận các nội dung quan trọng của hợp đồng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện, tránh các tranh chấp xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng. Như các nước thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa (Pháp, Bỉ) quy định hợp đồng mua bán hàng hóa cần phải thỏa thuận rõ về đối tượng, chất lượng và giá cả. Trong khi các nước thuộc hệ thống pháp luật Anh – Mỹ chỉ bắt buộc thỏa thuận điều khoản đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hóa, không coi điều khoản về giá cả là điều khoản chủ yếu mà có thể định giá dựa trên nguyên tắc giá thích hợp. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.
Nội dung của hợp đồng được phân thành các loại gồm điều khoản chủ yếu, điều khoản thông thường và điều khoản tùy nghi. Điều khoản chủ yếu là những điều khoản cơ bản, quan trọng nhất của hợp đồng. Khi giao kết hợp đồng, các bên phải thỏa thuận được các điều khoản chủ yếu của hợp đồng thì mới được giao kết. Điều khoản thông thường là những điều khoản đã được pháp luật quy định, nếu các bên không thỏa thuận được thì coi như mặc nhiên đã công nhận và đều phải thực hiện theo quy định của pháp luật. Điều khoản tùy nghi là những điều khoản do các bên tự lựa chọn và thỏa thuận khi pháp luật không quy định.
Trên cơ sở quy định của Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại, xuất phát từ tính chất của quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại, có thể thấy rằng, một hợp đồng mua bán hàng hóa phải chứa đựng sự thỏa thuận về đối tượng, chất lượng, giá cả, phương thức thanh toán, thời hạn và địa điểm giao nhận hàng. Ngoài ra, trong quan hệ mua bán hàng hóa, các bên không chỉ chịu sự ràng buộc bởi những điều khoản đã thỏa thuận với nhau, mà còn chịu sự ràng buộc bởi các quy định của pháp luật.
Về mục đích chủ yếu của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa là sinh lợi. Đặc điểm này xuất phát và gắn liền với đặc điểm về chủ thể chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hóa là thương nhân. Theo lý thuyết và thực tiễn, thương nhân thường xuyên thực hiện hoạt động thương mại, trong đó có hoạt động mua bán hàng hóa, với mục đích là lợi nhuận. Tuy nhiên, trong hợp đồng mua bán hàng hóa, ngoài chủ thể là thương nhân thì còn có các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân. Trong trường hợp này, chỉ có bên chủ thể là thương nhân nhằm mục đích sinh lợi, còn bên không phải thương nhân nhằm mục đích sinh hoạt, tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động của các cơ quan tổ chức. Những hợp đồng được thiết lập giữa bên không nhằm mục đích sinh lợi với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam, về nguyên tắc, không chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại, trừ khi bên không nhằm mục đích sinh lợi lựa chọn áp dụng Luật Thương mại.
1.2. Khái quát về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.
1.2.1. Khái niệm tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Tranh chấp được hiểu là sự xung đột về mặt quyền lợi giữa các bên liên quan. Trong đời sống xã hội luôn có những tranh chấp xảy ra trong mọi lĩnh vực, để xã hội ổn định và phát triển thì cần phải giải quyết những tranh chấp đó.
Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa diễn ra khi tồn tại sự bất đồng quan điểm giữa các bên trong hợp đồng về việc một trong các bên nhận thấy quyền, lợi ích hợp pháp bị ảnh hưởng hoặc bên còn lại không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận đã giao kết trong hợp đồng mua bán hàng hóa. Trên thực tế, các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa thường gặp nhất có thể do bên bán chậm giao hàng, bên bán giao hàng không đúng số lượng, chủng loại đã cam kết trong hợp đồng, bên mua vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Trường hợp phát sinh tranh chấp, các bên có thể lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp hiệu quả nhất nhằm tránh tổn thất cho các bên.
Qua đó, đưa ra khái niệm về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia trong hợp đồng mà chủ yếu là liên quan đến việc thực hiện hoặc không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng. Cũng có thể xảy ra tranh chấp phát sinh từ nội dung của hợp đồng, giải thích từ ngữ trong hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, thực hiện hợp đồng, sửa đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng.
Tại Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định những tranh chấp về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, bao gồm:
- tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận;
- tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận;
- tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty; Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.
- tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty TNHH hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong CTCP, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty;
- các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.
Như vậy, tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa chính là một dạng tranh chấp trong kinh doanh thương mại được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, tranh chấp này vẫn rất dễ nhầm với các tranh chấp dân sự thông thường. Cùng là mua bán hàng hóa, nếu hai công ty ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa nhằm mục đích sinh lợi, khi phát sinh tranh chấp được gọi là tranh chấp thương mại. Còn việc ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa giữa công ty và cá nhân không phải thương nhân, không nhằm mục đích sinh lợi và cá nhân không phải thương nhân không lựa chọn Luật Thương mại áp dụng thì khi xảy ra tranh chấp được gọi là tranh chấp dân sự. Và khi thuộc các tranh chấp khác nhau thì các vấn đề liên quan đến trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp cũng khác nhau.
1.2.2. Đặc điểm của tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa phát sinh khi các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng những điều khoản đã cam kết trong hợp đồng. Các đặc điểm của tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa được phân tích trên cơ sở các yếu tố làm phát sinh tranh chấp để quy trách nhiệm thuộc về bên mua hay bên bán.
Thứ nhất, chủ thể chủ yếu của tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa là thương nhân. Quan hệ mua bán hàng hóa có thể được thiết lập giữa các thương nhân với nhau hoặc giữa thương nhân với bên không phải thương nhân. Một tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa được coi là tranh chấp thương mại khi có ít nhất một bên là thương nhân. Ngoài ra, các cá nhân, tổ chức khác cũng có thể là chủ thể của tranh chấp khi trong giao dịch, bên không có mục đích sinh lợi chọn áp dụng Luật Thương mại. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.
Thứ hai, căn cứ làm phát sinh tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa là có sự vi phạm hợp đồng. Hành vi vi phạm hợp đồng là xử sự của các chủ thể không phù hợp với các nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng. Luật Thương mại năm 2005 quy định vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật Thương mại. Vi phạm hợp đồng thể hiện trong việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của hợp đồng. Sự vi phạm này có thể là giao hàng không đủ, không đúng thời gian, chất lượng hàng hóa không đúng như thỏa thuận hay thanh toán không đúng như cam kết. Tuy hợp đồng là sự thể hiện ý chí thống nhất giữa các bên, nhưng một khi đã được xác lập, ký kết thì việc thực hiện các nghĩa vụ đó là bắt buộc. Nếu một trong các bên không làm đúng như cam kết là có sự vi phạm hợp đồng. Việc xác định hành vi vi phạm hợp đồng là căn cứ trong việc áp dụng các hình thức chế tài xử lý vi phạm hợp đồng. Để xác định hành vi vi phạm hợp đồng có thể dựa trên các căn cứ gồm thỏa thuận của các bên ghi nhận tại các điều khoản trong hợp đồng hoặc quy định của pháp luật trong trường hợp các bên không thỏa thuận hoặc thỏa thuận trái quy định của pháp luật.
Thứ ba, có thiệt hại đối với bên bị vi phạm. Khi đã có hành vi vi phạm xảy ra thì tất yếu sẽ có thiệt hại. Đây là một căn cứ để bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm phải bồi thường thiệt hại cho hành vi đã gây ra. Trong quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa, thiệt hại thực tế xảy ra có thể là tổn thất về tài sản hay chi phí hợp lý để ngăn chặn thiệt hại. Tuy nhiên, nghĩa vụ chứng minh thiệt hại thuộc về bên bị vi phạm. Nếu không chứng minh được thì không có căn cứ để yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại của họ.
Thứ tư, phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại xảy ra. Hành vi vi phạm chính là nguyên nhân dẫn đến hậu quả là thiệt hại đối với bên bị vi phạm. Mối quan hệ này được xác định khi hành vi vi phạm và thiệt hại thực tế có mối liên hệ nội tại, tất yếu, hành vi vi phạm là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại. Bên có hành vi vi phạm hợp đồng chỉ phải bồi thường thiệt hại khi thiệt hại xảy ra là kết quả tất yếu của hành vi vi phạm.
Thứ năm, có lỗi của bên vi phạm. Lỗi là căn cứ bắt buộc phải có để xác định xem bên vi phạm có phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình hay không. Nếu một bên vi phạm hợp đồng mà không có lỗi thì không phải bồi thường thiệt hại. Nguyên tắc xác định lỗi trong hợp đồng mua bán hàng hóa dựa trên nguyên tắc suy đoán lỗi. Theo đó, mọi hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng hợp đồng đều bị suy đoán là có lỗi, trừ trường hợp bên vi phạm chứng minh được là mình không có lỗi. Do đó, bên vi phạm nếu muốn không phải chịu trách nhiệm thì phải tự chứng minh rằng mình không có lỗi. Nếu bên vi phạm không chứng minh được mình không có lỗi thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo phán quyết của Tòa án khi vụ án được đưa ra xét xử.
- Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa thường xảy ra các nội dung tranh chấp như sau:
Một là, việc mô tả hàng hóa không rõ ràng. Trên thực tế, bất kỳ một hợp đồng mua bán hàng hóa nào cũng có thỏa thuận về mô tả các tính chất, đặc điểm, số lượng, chất lượng, đóng gói bao bì của hàng hóa. Tuy nhiên, nếu việc mô tả về hàng hóa trong hợp đồng không rõ ràng, cụ thể, đến khi các bên tiến hành giao nhận hàng hóa thì bên mua cho rằng bên bán giao hàng không đúng theo thỏa thuận, không đồng ý nhận hàng, chính điều này sẽ dẫn đến tranh chấp.
Hai là, do bên bán vi phạm các điều kiện về thời điểm chuyển giao hàng hóa. Đây được xem là một dạng tranh chấp phổ biến trong mua bán hàng hóa, do bên bán đã giao hàng không đúng theo thời gian các bên thỏa thuận trong hợp đồng, mà không thông báo trước cho bên mua biết để đồng ý, làm phát sinh tranh chấp. Việc giao hàng chậm của bên bán cũng có thể do nhiều nguyên nhân khách quan như hoàn cảnh thay đổi, sự kiện bất khả kháng….
Ba là, việc các bên vi phạm các thỏa thuận về điều kiện giao nhận. Do tin tưởng nhau, các bên không đưa điều khoản về điều kiện giao nhận hàng vào hợp đồng, nên trong quá trình thực hiện, một hoặc các bên lại thực hiện không đúng, làm cho các bên xảy ra tranh chấp với nhau. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.
Bốn là, do bên mua vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Đây được xem là một dạng tranh chấp phổ biến trong mua bán hàng hóa, khi bên mua không thực hiện thanh toán trong thời hạn đã thỏa thuận với bên bán, hoặc thanh toán chậm dẫn đến bên bán bị thiệt hại, và tất yếu tranh chấp sẽ phát sinh.
Ngoài ra, tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa phát sinh bởi những chủ thể đặc thù, chủ yếu là các thương nhân, vì mục đích lợi nhuận nên việc giải quyết tranh chấp cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định như đảm bảo bí mật kinh doanh của doanh nghiệp, hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia quan hệ mua bán hàng hóa.
1.2.3. Nguyên nhân phát sinh tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Khi xét đến các nguyên nhân có thể dẫn đến tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa thì cần phân loại thành nguyên nhân khách quan và chủ quan để có cái nhìn tổng quát về nguyên nhân có thể làm phát sinh tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
- Nguyên nhân chủ quan
Trước hết, có thể thấy tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa thường chủ yếu do một trong các bên có hành vi vi phạm nội dung trong hợp đồng. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp là do sự chủ quan của các bên trong việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa. Trong quá trình giao kết, các bên đã bỏ qua những quy định, điều khoản cơ bản mà nhanh chóng ký kết, thực hiện mua bán nên nguy cơ rủi ro cao, khi đó tranh chấp lại phát sinh. Thực tiễn cho thấy việc các bên trực tiếp gặp nhau để đàm phán và ký kết hợp đồng không phải lúc nào cũng được thực hiện. Do sự tin tưởng hoặc tính chất nào đó, một số hợp đồng chỉ được thỏa thuận miệng nên khi bị ảnh hưởng rất khó chứng minh quyền lợi. Có trường hợp các bên chỉ trao đổi qua điện thoại, hay trao đổi thông tin rất nhanh dưới hình thức văn bản như đơn chào hàng, đơn đặt hàng qua mail, telex, fax nên nội dung của hợp đồng không đầy đủ. Nếu hợp đồng được thực hiện đúng thì không có vấn đề gì. Nhưng nếu có một vướng mắc xảy ra thì những thiếu sót của một hoặc các bên chính là nguyên nhân dẫn đến tranh chấp.
Vì vậy, trước khi tiến hành giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, các bên nên soạn thảo hợp đồng với đầy đủ nội dung, cụ thể các điều khoản và dự liệu được cách thức xử lý khi có tình huống phát sinh. Quá trình thực hiện nếu có nội dung nào chưa rõ thì cần có phụ lục kèm theo để làm sáng tỏ ngay nhằm ngăn ngừa những tranh chấp không đáng có xảy ra.
Thứ hai, tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa có thể phát sinh do ý chí chủ quan của các chủ thể trong hợp đồng, các bên cố tình không thực hiện đúng những gì đã cam kết vì lý do nào đó. Có thể hiểu đó là bất kỳ thỏa thuận nghĩa vụ nào mà một trong các bên thực hiện không đúng với thỏa thuận, biểu hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động. Vì bảo vệ quyền lợi của mình, các bên bất chấp xâm hại đến quyền lợi của bên liên quan. Chẳng hạn như bên bán không thực hiện đúng cam kết về hàng hóa giao cho bên mua: giao hàng không đúng chủng loại, số lượng, chất lượng ghi nhận trong hợp đồng; giao hàng chậm hơn so với thỏa thuận. Hay việc bên mua vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho bên bán. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của bên bán. Bởi mục đích lớn nhất khi các bên thiết lập giao dịch là tìm kiếm lợi nhuận. Việc bên mua cố tình vi phạm nghĩa vụ thanh toán làm cho quyền lợi của bên bán bị xâm phạm nghiêm trọng.
- Nguyên nhân khách quan Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.
Ngoài các nguyên nhân chủ quan, có thể kể đến các nguyên nhân khách quan mà các bên không lường trước được khi ký kết hợp đồng với nhau. Các bên mong muốn quyền lợi của mình không bị ảnh hưởng hoặc để giảm thiểu tối đa thiệt hại nên xảy ra tranh chấp.
Thứ nhất, hoạt động mua bán hàng hóa luôn chịu sự tác động của các chính sách kinh tế của nhà nước như các chính sách về thuế, biến động giá cả thị trường. Quá trình các bên đàm phán, thương lượng và ký kết hợp đồng mua bán đến khi thực hiện hợp đồng thường diễn ra trong một khoảng một thời gian nhất định.
Trong khi đó, giá trị của hợp đồng phụ thuộc rất nhiều vào biến động của thị trường theo quy luật cung cầu, quy luật giá trị. Chính sự biến động của thị trường, các yếu tố về giá cả, tỷ giá, cung cầu của mỗi quốc gia có sự thay đổi ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích của mỗi bên. Biến động của thị trường có thể tạo điều kiện cho doanh nghiệp tận dụng cơ hội mới thu được nhiều lợi nhuận. Nhưng thị trường biến động nhiều khi lại đẩy doanh nghiệp đến ngõ cụt, buộc phải vi phạm hợp đồng. Thực tế cho thấy chỉ cần sau khi ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa, nếu có một biến động nhỏ về tỷ giá cũng có thể khiến cho doanh nghiệp bị thua lỗ, dẫn đến mất khả năng thanh toán hoặc không chịu thanh toán hoặc từ chối nhận hàng như đã thỏa thuận trong hợp đồng làm phát sinh tranh chấp giữa các bên.
Thứ hai, do xảy ra sự kiện bất khả kháng. Sự kiện bất khả kháng xảy ra ngẫu nhiên ngoài khả năng kiểm soát của con người, là một trong những yếu tố được xem xét để miễn trách nhiệm. Mặc dù, sự kiện bất khả kháng ít khi xảy ra, nhưng khi xảy ra thường làm cho các bên lúng túng, bị động. Nguyên nhân là do khi ký kết hợp đồng, các bên không chú trọng đến các điều khoản bất khả kháng. Có trường hợp các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng các điều khoản miễn trách nhiệm khi có sự kiện bất khả kháng xảy ra. Tuy nhiên, do không thể lường trước được nên khi có vấn đề phát sinh các bên xảy ra mâu thuẫn việc xác định sự kiện nảy sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng có phải là sự kiện bất khả kháng hay không. Hoặc các sự kiện bất khả kháng xảy ra ngẫu nhiên trong thực tế sau khi các bên đã ký kết hợp đồng mà không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm.
Như tình hình đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp đã khiến cho việc thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa có nhiều tác động tiêu cực. Khi tranh chấp phát sinh có thể xem dịch bệnh Covid-19 là nguyên nhân khách quan dẫn đến vi phạm hợp đồng. Nhưng khi xem xét cần đánh giá thêm các yếu tố khách quan khác và việc dịch bệnh diễn ra các bên đã lường trước chưa, có thỏa thuận nào khác không.
Hiện nay, hợp đồng mua bán hàng hóa là loại hợp đồng phổ biến, với số lượng giao dịch ngày càng lớn, kéo theo các tranh chấp xảy ra ngày càng nhiều. Vì vậy, nếu giải quyết tốt và kịp thời các tranh chấp có ý nghĩa rất quan trọng, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, tháo gỡ các vướng mắc cho doanh nghiệp, tạo môi trường pháp lý công bằng, kỷ cương, thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển.
1.3. Khái quát về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án nhân dân Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.
1.3.1. Khái niệm, đặc điểm của phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa bằng Tòa án
- Khái niệm
Khi tham gia vào các quan hệ kinh doanh thương mại nói chung và mua bán hàng hóa nói riêng, các bên đều hướng tới những lợi ích nhất định. Trong quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng, việc xảy ra tranh chấp, mâu thuẫn về lợi ích là điều không thể tránh khỏi. Với đặc thù về chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa chủ yếu là thương nhân, họ luôn quan tâm đến việc giữ gìn uy tín cho doanh nghiệp, uy tín sản phẩm trước đối tác. Do đó, khi tranh chấp phát sinh, các bên luôn mong muốn tìm được biện pháp giải quyết tranh chấp phù hợp, có hiệu quả, đảm bảo tốt nhất về quyền lợi, ít ảnh hưởng nhất tới mối quan hệ giữa các bên, tiết kiệm về thời gian, tiền bạc.
Theo quy định của Luật Thương mại năm 2005, có bốn phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa gồm có thương lượng, hòa giải giữa các bên, giải quyết tại Trọng tài thương mại và Tòa án.
Trong đó, giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa bằng Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước, được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ. Các phán quyết có hiệu lực của Tòa án được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước.
Tòa án chỉ giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa khi có yêu cầu của các bên và tranh chấp đó phải thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.
- Đặc điểm
Đặc trưng cơ bản của thủ tục giải quyết tranh chấp tại Tòa án là thông qua hoạt động của bộ máy tư pháp và nhân danh quyền lực nhà nước để đưa ra phán quyết. Bản án hay quyết định của Tòa án nếu các bên không tự nguyện thực hiện sẽ được đảm bảo thi hành bằng sức mạnh của quyền lực nhà nước.
Giải quyết tranh chấp tại Tòa án phải tuân theo trình tự, thủ tục tố tụng chặt chẽ, được quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, từ khi nộp đơn khởi kiện đến khi xét xử. Các đương sự có nghĩa vụ thực hiện đúng theo trình tự thủ tục pháp luật quy định.
Việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án được thực hiện thông qua hai cấp xét xử là cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm. Nếu bản án sơ thẩm không thỏa mãn nguyện vọng của các bên thì các bên có thể kháng cáo, Viện kiểm sát có thể kháng nghị lên Tòa án cấp phúc thẩm. Phán quyết của Tòa án cấp phúc thẩm mang tính quyết định và có hiệu lực thi hành. Ngoài ra, trong một số trường hợp, bản án có hiệu lực pháp luật còn có thể được xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
1.3.2. Ưu điểm và hạn chế của phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa bằng Tòa án
- Ưu điểm
Thực tế ở Việt Nam do thói quen, truyền thống và hệ thống pháp luật tố tụng nên các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa nếu không thương lượng được thì các bên thường lựa chọn giải quyết tại Tòa án. Việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án có những ưu điểm sau đây:
Thứ nhất, so với các phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hòa giải, trọng tài thì giải quyết tranh chấp tại Tòa án là thông qua hoạt động của bộ máy tư pháp và nhân danh quyền lực nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên phải thi hành. Ưu điểm nổi bật của phương thức này là tính quyền lực nhà nước. Tòa án là cơ quan tư pháp nhân danh ý chí quyền lực của nhà nước khi tiến hành xét xử. Các bản án hay quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì các bên phải chấp hành. Trường hợp bản án, quyết định không được tự nguyện thi hành thì sẽ bị cưỡng chế bởi quyền lực nhà nước. Trong khi đó, tính cưỡng chế của phán quyết trọng tài thường không cao, mà phụ thuộc nhiều vào sự thiện chí và hợp tác của các bên. Trong một số trường hợp, phán quyết của trọng tài có thể bị hủy bởi quyết định của Tòa án theo Điều 68 Luật Trọng tài Thương mại năm 2010. Do vậy, khi giải quyết tranh chấp tại Tòa án, quyền lợi của bên thắng kiện sẽ được đảm bảo, nếu bên thua kiện không chấp hành phán quyết của Tòa án sẽ bị cưỡng chế bởi cơ quan thi hành án. Từ đó, cũng góp phần nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật của các chủ thể kinh doanh. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.
Thứ hai, công tác hòa giải tại Tòa án cũng được chú trọng. Tòa án sẽ tổ chức cho các bên tranh chấp hòa giải vụ việc, nếu các bên không đạt được thỏa thuận chung thì mới tiến hành thủ tục xét xử. Với nguyên tắc xét xử công khai thì việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án có tính răn đe đối với những thương nhân vi phạm pháp luật trong các hoạt động liên quan đến mua bán hàng hóa, uy tín của doanh nghiệp vi phạm sẽ bị ảnh hưởng khi thông tin được công khai. Các doanh nghiệp khác có thể biết được doanh nghiệp vi phạm và phòng tránh rủi ro cho doanh nghiệp mình.
Thứ ba, khi giải quyết tranh chấp tại Tòa án sẽ thông qua hai cấp xét xử là sơ thẩm và phúc thẩm. Một số bản án có hiệu lực pháp luật có thể được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Chính việc trải qua nhiều cấp xét xử tạo cơ hội để Tòa án cấp trên có thể sửa chữa những thiếu sót, sai lầm của các bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới, giúp cho quyết định của Tòa án ban hành được chính xác, khách quan, công bằng, đúng pháp luật. Đồng thời, tạo điều kiện cho thương nhân trong việc đòi lại quyền và lợi ích hợp pháp của mình, trong khi phương thức giải quyết tranh chấp thông qua thủ tục trọng tài thì quyết định của trọng tài có giá trị chung thẩm và không thể thay đổi. Đây là điểm khác biệt của phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án so với hình thức trọng tài.
Thứ tư, chi phí để giải quyết một tranh chấp thông qua Tòa án sẽ thấp hơn so với giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài.
- Hạn chế
Tuy nhiên, thủ tục giải quyết tranh chấp tại Tòa án có một số hạn chế là thủ tục thiếu linh hoạt, do phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định mang tính hình thức của pháp luật tố tụng, không được thay đổi. Điều này có thể gây trở ngại cho các bên tranh chấp, vì tính chất của hoạt động kinh doanh, thương mại đòi hỏi thủ tục giải quyết phải mềm dẻo và linh động.
Trong thủ tục xét xử tại Tòa án, các bên không được lựa chọn người giải quyết, mà do Tòa án quyết định. Trình độ chuyên môn, năng lực của Thẩm phán được phân công giải quyết cũng khác nhau làm ảnh hưởng đến việc giải quyết tranh chấp.
Nguyên tắc xét xử công khai dù được xem là tiến bộ, mang tính giáo dục, răn đe, nhưng đôi khi lại là cản trở đối với doanh nghiệp do bí mật kinh doanh bị tiết lộ, uy tín trên thương trường bị giảm sút.
Hơn nữa, phán quyết của Tòa án thường bị kháng cáo làm cho quá trình tố tụng bị kéo dài, xét xử nhiều lần gây bất lợi cho đương sự. Có những vụ việc kéo dài quá lâu khiến doanh nghiệp bị ảnh hưởng rất lớn, nhất là những tranh chấp lớn cần được giải quyết nhanh chóng, dứt điểm. Đây chính là điều khiến các doanh nghiệp e ngại khi lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Tòa án.
1.3.3. Các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa ngoài Tòa án Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.
Ở Việt Nam, việc hòa giải tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa được coi trọng. Các bên phải tự thương lượng, hòa giải với nhau khi phát sinh tranh chấp. Khi thương lượng, hòa giải không thành, mới đưa ra Trọng tài hay Tòa án giải quyết. Ngay tại Tòa án, các bên vẫn có thể tiếp tục hòa giải với nhau.
- Phương thức thương lượng
Thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp mà các bên cùng nhau bàn bạc và đi đến thỏa thuận mà không cần sự tác động hay trợ giúp từ bên thứ ba. Nếu việc thương lượng thành công thì các bên đạt được các cam kết, thỏa thuận về những giải pháp cụ thể để tháo gỡ những bất đồng đã phát sinh.
Đặc điểm cơ bản của thương lượng là các bên cùng nhau trình bày, phát biểu quan điểm, tìm kiếm các biện pháp thích hợp và đi đến thống nhất thỏa thuận để tự giải quyết bất đồng. Quá trình thương lượng, các bên không chịu sự điều chỉnh của pháp luật, không bị gò bó bởi các quy định chặt chẽ về quy trình tổ chức thương lượng, thành phần tham gia, thời gian thực hiện. Cách thức tiến hành thương lượng cũng đơn giản, thuận tiện, linh hoạt, nhanh chóng. Các bên chủ động sắp xếp thời gian và đảm bảo được bí mật kinh doanh, uy tín nghề nghiệp của doanh nghiệp. Trong thương lượng không có sự có mặt của bên thứ ba nên các bên ít tốn kém chi phí. Giải quyết bằng thương lượng cũng làm cho các bên ít căng thẳng về tâm lý, vì không giải quyết công khai như xét xử, ít gây hại đến mối quan hệ hợp tác vốn có giữa các bên, không gây tác động xấu trong kinh doanh. Do đó, thương lượng luôn được các doanh nghiệp ưu tiên lựa chọn và sử dụng.
Trong thực tế, chúng ta thấy khi có tranh chấp xảy ra, các bên thường tự nguyện và nhanh chóng liên hệ, gặp gỡ nhau để thương lượng nhằm giữ mối quan hệ kinh doanh tốt đẹp và duy trì lâu dài mối quan hệ này trên cơ sở thiện chí và hợp tác. Dù trong hợp đồng các bên không có thỏa thuận điều khoản giải quyết tranh chấp hoặc có nhưng không phải thương lượng thì các bên vẫn ưu tiên lựa chọn giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng bằng thương lượng. Do những ưu điểm của thương lượng, Nhà nước khuyến khích các bên giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng, trước khi tìm đến các phương thức giải quyết tranh chấp khác. Mặc dù vậy, pháp luật không bắt buộc các bên phải thương lượng trước khi giải quyết bằng các phương thức tài phán như Trọng tài hoặc Tòa án. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.
Tuy nhiên, hình thức thương lượng chỉ thích hợp với các bên thực sự có thiện chí muốn tìm giải pháp đối với tranh chấp. Việc thương lượng có thành công hay không đều phụ thuộc vào thiện chí, thái độ hợp tác của các bên tham gia. Nếu một trong các bên thiếu thiện chí thì quá trình giải quyết thường kéo dài, thậm chí bế tắc, buộc các bên phải tìm đến phương thức giải quyết tranh chấp khác. Trong trường hợp này, các bên lại mất nhiều thời gian hơn.
Kết quả của thương lượng phụ thuộc vào sự tự nguyện của bên có nghĩa vụ thi hành mà không có cơ chế bắt buộc các bên thực hiện như phán quyết của Trọng tài hay Tòa án. Nhiều trường hợp vì muốn kéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ mà một bên tìm cách trì hoãn quá trình thương lượng, nhất là khi thời hiệu khởi kiện không còn nhiều, gây thiệt hại cho bên bị vi phạm.
Do thương lượng thường được giải quyết khép kín, không công khai nên dễ nảy sinh tiêu cực, các công ty lớn sẽ gây áp lực với công ty yếu thế hơn mình để thương lượng theo hướng bất lợi cho công ty yếu thế. Hơn nữa, việc giải quyết bằng thương lượng cũng chỉ giải quyết được những tranh chấp không có mâu thuẫn quá lớn. Một khi quyền lợi bị ảnh hưởng quá nhiều các bên rất khó để thương lượng với nhau.
- Phương thức hòa giải
Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp với sự tham gia của bên thứ ba làm trung gian để hỗ trợ, thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các giải pháp nhằm loại trừ tranh chấp đã phát sinh.
Điểm khác so với thương lượng là hòa giải có sự xuất hiện của bên thứ ba làm trung gian. Bên thứ ba giữ vai trò trợ giúp, phân tích, đánh giá để các bên thỏa thuận được giải pháp có lợi nhất cho mỗi bên, chứ không thể đưa ra phán quyết. Kết quả của hòa giải vẫn do các bên tranh chấp tự định đoạt.
Ưu điểm của hòa giải là thủ tục tiến hành đơn giản, nhanh gọn, linh hoạt, hiệu quả và ít tốn kém. Với sự tham gia của bên thứ ba có trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm, am hiểu các lĩnh vực và vấn đề đang tranh chấp đã tạo niềm tin đối với các bên, góp phần không nhỏ tạo nên sự thành công của phiên hòa giải. Bí mật kinh doanh và uy tín của các bên vẫn được giữ kín. Hòa giải mang tính thân thiện giúp các bên tiếp tục giữ gìn và phát triển các mối quan hệ kinh doanh vì lợi ích của các bên. Kết quả hòa giải được ghi nhận và có sự chứng kiến của bên thứ ba nên mức độ tôn trọng và tuân thủ các cam kết trong quá trình hòa giải của các bên cũng cao hơn so với thương lượng. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.
Bên cạnh đó, giải quyết bằng hòa giải vẫn còn tồn tại những nhược điểm nhất định như việc hòa giải có được tiến hành hay không là do sự nhất trí của các bên. Hòa giải viên không được đưa ra bất kỳ ràng buộc hay áp đặt bất cứ vấn đề gì đối với các bên tranh chấp nên tranh chấp có thể kéo dài. Dù có sự trợ giúp của bên thứ ba làm trung gian mà một bên không trung thực, thiếu thiện chí trong quá trình đàm phán thì hòa giải cũng khó đạt được kết quả như mong đợi. Ngoài ra, do có sự xuất hiện của bên thứ ba nên uy tín, bí mật kinh doanh của doanh nghiệp dễ bị ảnh hưởng hơn thương lượng. Chi phí cho hòa giải cũng tốn kém hơn thương lượng do phải trả phí bên thứ ba. Kết quả hòa giải không có tính bắt buộc thi hành mà phụ thuộc vào sự tự nguyện thực hiện của các bên tham gia hòa giải.
- Phương thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài
Tại khoản 1 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này.
Như vậy, Trọng tài thương mại là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của Hội đồng trọng tài hoặc Trọng tài viên với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp bằng việc đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc các bên phải thi hành.
Giống với thương lượng, hòa giải, phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được hình thành trên cơ sở tự nguyện thỏa thuận lựa chọn của các bên. Các bên có quyền lựa chọn trọng tài viên, quy tắc tố tụng để giải quyết tranh chấp.
Nhưng khác với thương lượng, hòa giải thì trọng tài là một hình thức tài phán, trọng tài có quyền đưa ra quyết định giải quyết tranh chấp và quyết định này có giá trị cưỡng chế thi hành đối với các bên.
Ưu điểm của phương thức giải quyết bằng trọng tài là trình tự, thủ tục nhanh chóng, linh hoạt. Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định thủ tục trọng tài đơn giản, chủ yếu dựa trên thỏa thuận của các bên và đề cao sự thỏa thuận này. Các bên có thể chủ động về thời gian, địa điểm giải quyết tranh chấp giúp đẩy nhanh quá trình giải quyết tranh chấp. Thủ tục trọng tài không trải qua nhiều cấp xét xử như tại Tòa án nên tiết kiệm thời gian, chi phí cho các bên. Giải quyết bằng trọng tài không bị giới hạn về mặt lãnh thổ do các bên có quyền lựa chọn bất kỳ trung tâm trọng tài nào để giải quyết tranh chấp. Việc được quyền lựa chọn Trọng tài viên giúp các bên chọn được các chuyên gia có chuyên môn, kinh nghiệm thực tế, am hiểu sâu sắc vấn đề đang tranh chấp, đảm bảo chất lượng giải quyết tranh chấp. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.
Tố tụng trọng tài không được thực hiện công khai nên thông tin về toàn bộ quá trình giải quyết tranh chấp được giữ bí mật, các chủ thể giữ được bí mật kinh doanh, danh dự, uy tín của mình. Phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm và bắt buộc các bên phải thi hành, các bên không có quyền kháng cáo, kháng nghị. Đây chính là ưu thế vượt trội so với phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hòa giải, cũng là điểm khác biệt so với giải quyết tranh chấp bằng Tòa án.
Phán quyết trọng tài còn được sự công nhận quốc tế, có thể được cho công nhận và thi hành tại hơn 150 quốc gia và vùng lãnh thổ là thành viên Công ước New York về công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tại nước ngoài.
Tuy nhiên, giải quyết bằng trọng tài có hạn chế là chi phí cao, vụ việc càng kéo dài thì phí trọng tài càng cao. Đa phần các doanh nghiệp Việt Nam chưa thật sự quan tâm đến việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Không phải lúc nào việc thi hành bằng trọng tài cũng thuận lợi như thi hành bản án, quyết định của Tòa án, mà phụ thuộc rất nhiều vào thiện chí và hợp tác của các bên. Mặt khác, phán quyết trọng tài có thể bị Tòa án xem xét hủy khi một trong các bên tranh chấp yêu cầu Tòa án xem xét lại. Nếu phán quyết bị hủy thì hai bên vừa mất thời gian, chi phí tham gia tại Tòa án và sau đó mất thêm thời gian, chi phí đi khởi kiện tại Tòa án.
1.3.4. Ý nghĩa của việc giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án
Khi đất nước bước vào nền kinh tế thị trường, nhiều loại hình doanh nghiệp ra đời, hoạt động thương mại phát triển và đa dạng. Từ đó, kéo theo các tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa ngày càng gia tăng. Các bên có rất nhiều phương thức giải quyết tranh chấp để lựa chọn. Ở mỗi phương thức giải quyết tranh chấp đều có điều kiện áp dụng, những ưu điểm và hạn chế riêng, các bên tranh chấp cân nhắc tình hình thực tế để lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp. Đồng thời, qua nghiên cứu phương thức giải quyết tranh chấp tại Tòa án thấy được tầm quan trọng của Tòa án trong hoạt động thương mại nói chung và mua bán hàng hóa nói riêng. Đây là phương thức giải quyết giúp các bên tin tưởng, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể khi tham gia hoạt động thương mại.
Qua thực tiễn xét xử tại Tòa án, cho thấy các vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa luôn chiếm số lượng lớn trong tranh chấp hợp đồng thương mại hiện nay. Việc xác định đúng Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp có ý nghĩa quan trọng, là tiền đề để chuẩn bị hồ sơ khởi kiện, thụ lý vụ án và giải quyết tranh chấp cũng như thi hành phán quyết của Tòa án.
Khi lựa chọn giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án, trước hết phải xác định được tranh chấp đó có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án không. Trường hợp xác định tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì mới xem xét đến các yếu tố thẩm quyền theo lãnh thổ, theo cấp Tòa án hay theo sự lựa chọn của nguyên đơn. Pháp luật quy định linh hoạt về thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn đã tạo ra nhiều lợi thế cho nguyên đơn. Nói cách khác, trong một số trường hợp, nếu người khởi kiện đáp ứng được các điều kiện pháp luật quy định có thể chủ động tạo ra nhiều lợi thế như quyền lựa chọn Tòa án theo nhu cầu địa lý, lựa chọn Tòa án có điều kiện tốt nhất để thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.
Trong chương 1 của luận văn, tác giả đã làm rõ các khái niệm, đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa và tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa. Hợp đồng mua bán hàng hóa là công cụ pháp lý cơ bản trong các giao dịch mua bán hàng hóa, là cơ sở xác lập quyền và nghĩa vụ của người bán và người mua. Nguyên nhân dẫn đến các tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa có cả nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan. Do đó, việc soạn thảo một hợp đồng chặt chẽ, đầy đủ nội dung cần thiết, dự liệu được các tình huống xảy ra, cũng như về phương thức giải quyết tranh chấp là rất cần thiết, nhằm ngăn ngừa được những mâu thuẫn, bất đồng có thể xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng. Nếu chỉ vì chủ quan, các bên không quan tâm đến nội dung hợp đồng mà giao kết hợp đồng với nội dung sơ sài, thiếu các điều khoản quan trọng là nguyên nhân xảy ra tranh chấp.
Khi có tranh chấp, các bên thường tìm đến các phương thức giải quyết tranh chấp khác nhau để giải tỏa xung đột, bất đồng, tạo lập lại sự công bằng về lợi ích mà các bên có thể chấp nhận được. Việc nắm rõ các ưu điểm và nhược điểm của từng phương thức giải quyết tranh chấp sẽ giúp các doanh nghiệp chọn lựa được phương thức giải quyết phù hợp nhất, hạn chế việc lúng túng không biết chọn phương thức nào để giải quyết khi xảy ra tranh chấp.
Và, giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa tại Tòa án thường được các chủ thể lựa chọn để giải quyết tranh chấp do phán quyết của Tòa án có tính cưỡng chế cao. Trình tự, thủ tục tố tụng chặt chẽ và bảo đảm hiệu lực thi hành của phán quyết tại Tòa án. Nếu các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế bởi cơ quan thi hành án. Các bên muốn được bảo toàn quyền lợi của mình bắt buộc phải thực hiện theo phán quyết của Tòa án. Luận văn: Pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực tiễn về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp về giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán