Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề án
Doanh nghiệp là nhân tố đặc biệt quan trọng thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế; là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước và là đơn vị sản xuất hàng hoá, dịch vụ đáp ứng nhu cầu chủ yếu của toàn xã hội. Đồng thời doanh nghiệp tạo ra sự cạnh tranh trong nền kinh tế và thúc đẩy sự phát triển bền vững. Khả năng cạnh tranh giúp tăng cường chất lượng, giảm giá, cung cấp sự đa dạng và thúc đẩy sự tiến bộ công nghệ. Những vai trò này cùng sức mạnh và tầm ảnh hưởng của doanh nghiệp có thể biến chúng thành tập đoàn lớn, tạo ra thành công kinh doanh và ảnh hưởng đến sự phát triển của một quốc gia.
Việc nghiên cứu về chuyển đổi loại hình doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với việc từng bước mở rộng và bảo hộ quyền tự do kinh doanh, tăng cường năng lực gia nhập thị trường của các doanh nghiệp, đặc biệt trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng như hiện nay. Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp phù hợp góp phần quyết định sự thành công hay thất bại của các nhà đầu tư. Do vậy, học viên lựa chọn đề tài “Pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam” làm Đề án thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật Kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề án
Tại Việt Nam, hoạt động nghiên cứu pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp được quan tâm trong khoảng 10 năm trở lại đây. Có thể khái quát một số công trình nghiên cứu có liên quan như sau:
- Thứ nhất, các bài viết khoa học: Luận văn: Pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam.
Nguyễn Văn Lâm (2022), “Hoàn thiện khung khổ pháp lý về chuyển đổi loại hình doanh nghiệp”, Tạp chí Tài chính kỳ số 2 tháng 3/2022. Tác giả bài viết phân tích tổng quan về chuyển đổi doanh nghiệp để thấy được những điểm phù hợp và không phù hợp; đồng thời đưa ra phương hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện những quy định của pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp. Tác giả nhận định: Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã có nhầm lẫn đáng tiếc trong sử dụng các thuật ngữ “công ty chuyển đổi” thành “công ty được chuyển đổi” trong quy định tại khoản 2, Điều 205. Cần thiết xem xét, chỉnh sửa cho phù hợp, thống nhất trong các quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 hiện hành.
Luật sư Nguyễn Đức Hoàn (2021), “Chuyển đổi loại hình: Một số vấn đề doanh nghiệp cần quan tâm”, Tạp chí Luật sư Việt Nam đăng tải ngày 07/03/2021.1 Tác giả phân tích về chuyển đổi doanh nghiệp đồng thời đưa ra những điểm cần lưu ý phương hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện những quy định của pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp.
Phan Thị Thy Thy (2022), “Pháp luật về chuyển đổi loại hình doanh nghiệp”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Huế, chuyên nghành luật kinh tế. Luận văn đã nghiên cứu trình bày các vấn đề lý luận về chuyển đổi doanh nghiệp từ đó đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật và đưa ra giải pháp hoàn thiện.
Vũ Tuấn Anh (2020), “Chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thành công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp năm 2014”, Luận văn thạc sĩ Luật Kinh tế, Học viện Khoa học xã hội (Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam). Luận văn đã phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về việc chuyển đổi mô hình công ty từ công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên thành công ty cổ phần từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Ngô Thị Ngọc Hương (2012), “Chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước sang công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hiện nay”, Luận văn thạc sĩ luật kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội. Luận văn đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về chuyển đổi mô hình từ công ty có vốn sở hữu nhà nước sang công ty trách nhiệm hữu hạn và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật.
Monesay Phinpachan (2017), “Chuyển đổi doanh nghiệp theo quy định của pháp luật Lào và Việt Nam dưới góc độ so sánh”, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội. Luận văn đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận về chuyển đổi doanh nghiệp theo pháp luật Lào và Việt Nam. Từ đó nêu ra các kiến nghị nhằm khắc phục các biện pháp còn tồn đọng.
Nguyễn Thị Loan (2019), “Chuyển đổi doanh nghiệp theo luật doanh nghiệp năm 2014 của Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Mở Hà Nội. Luận văn đã nghiên cứu chuyên sâu và trình bày một cách có hệ thống các vấn đề lý luận về chuyển đổi doanh nghiệp, đánh giá thực trạng pháp luật, tìm kiếm nguyên nhân bất cập, kiên nghị giải pháp lập pháp và tư pháp liên quan.
Trần Trọng Đại (2014), “Chuyển đổi doanh nghiệp theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội. Luận văn đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận về chuyển đổi doanh nghiệp. Nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam về chuyển đổi doanh nghiệp, từ đó đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về vấn đề này.
Những công trình khoa học trên là tài liệu vô cùng quý báu giúp học viên có thêm nhiều thông tin quan trọng phục vụ cho việc thực hiện Đề án. Luận văn: Pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam.
Về lý luận pháp luật: Đề án tiếp cận cơ sở lý luận trong các công trình, kế thừa một số khái niệm, cơ cấu pháp luật điều chỉnh hoặc gợi mở cho các giải pháp.
Về thực tiễn: Đề án tiếp cận thực tiễn thực hiện pháp luật về pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp được đề án kế thừa và nghiên cứu sâu sắc hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề án
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề án nhằm đưa ra các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thiện pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, đề án xác định các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
- Hệ thống cơ sở lý luận pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp;
- Phân tích, đánh giá pháp luật hiện hành về chuyển đổi doanh nghiệp;
- Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp;
- Đề xuất được giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện pháp luật chuyển đổi doanh nghiệp tại Việt Nam trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề án
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề án bao gồm:
- Nghiên cứu lý luận pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp;
- Nghiên cứu pháp luật Việt Nam về chuyển đổi doanh nghiệp (Luật Doanh nghiệp năm 2020 và các văn bản pháp luật có liên quan);
- Nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020 và các văn bản pháp luật có liên quan.
- Phạm vi không gian: Đề án nghiên cứu trên lãnh thổ Việt Nam.
- Phạm vi thời gian nghiên cứu thực tiễn: Thời gian từ năm 2018 đến năm 2023 (trong đó tập trung giai đoạn sau khi Luật Doanh nghiệp năm 2020 có hiệu lực thi hành).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề án Luận văn: Pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam.
5.1. Phương pháp luận
Đề án được thực hiện trên cơ sở vận dụng các quan điểm của Đảng và Nhà nước về pháp Luật Doanh nghiệp năm 2020 kết hợp với phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau để thực hiện đề tài:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp để làm rõ vấn đề lý luận chung về chuyển đổi doanh nghiệp, phương pháp này được sử dụng xuyên suốt các chương của đề án.
- Phương pháp hệ thống hóa lý thuyết được sử dụng nhằm làm rõ một số vấn đề lý luận pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp tại chương 1.
- Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp so sánh, phương pháp bình luận, đối chiếu được sử dụng nhằm làm rõ thực trạng pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp tại chương 2.
- Phương pháp nghiên cứu tình huống điển hình để thực hiện việc đánh giá tình hình thực tiễn của việc áp dụng pháp luật nhằm đưa ra cái nhìn khách quan về thực trạng pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp của nước ta hiện nay tại chương 2.
- Phương pháp thống kê số liệu, phương pháp đánh giá kết hợp phân tích, tổng hợp số liệu được sử dụng nhằm làm rõ thực tiễn pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp tại chương 3.
6 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề án
6.1. Ý nghĩa khoa học của đề án
Nội dung và kết quả nghiên cứu của đề án góp phần hệ thống hóa, phát triển cơ sở lý luận pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp và hoàn thiện pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp. Luận văn: Pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề án
Kết quả nghiên cứu của đề án có thể được sử dụng làm tài liệu nghiên cứu giảng dạy, học tập cho các giảng viên, sinh viên chuyên ngành luật; đồng thời có thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho các cơ quan chuyên môn có thẩm quyền khác khi giải quyết các vụ việc phát sinh trong thực tế có liên quan đến chuyển đổi doanh nghiệp.
7. Kết cấu của đề án
Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục Tài liệu tham khảo, đề án kết cấu thành 3 chương như sau:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp
- Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP
1.1. Khái quát pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp
1.1.1. Khái quát về các loại hình doanh nghiệp
Việc nghiên cứu các loại hình doanh nghiệp rất quan trọng, mỗi loại hình có những ưu điểm nổi bật, nhược điểm khác nhau. Doanh nghiệp bao gồm:
Thứ nhất, công ty trách nhiệm hữu hạn bao gồm Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Luận văn: Pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam.
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là một hình thức đặc biệt của công ty trách nhiệm hữu hạn. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ sở hữu; Chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp và có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác.
Đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên là doanh nghiệp, trong đó có từ 02 đến 50 thành viên là tổ chức, cá nhân. Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 47 của Luật Doanh nghiệp năm 2020 năm 2020.
Thứ hai, doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.
Thứ ba, công ty hợp danh là một hình thức công ty ra đời sớm nhất trong lịch sử loài người, bao giờ cũng được nhắc tới trước tiên trong các đạo luật hay các công trình nghiên cứu về công ty.
Thứ tư, công ty cổ phần là doanh nghiệp có tối thiểu 03 thành viên và số lượng thành viên tối đa không giới hạn. Tại Điều 111 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định vốn điều lệ sẽ được chia thành các phần bằng nhau (cổ phần), mỗi cổ đông nắm giữ cổ phần có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác trừ trường hợp đặc biệt quy định tại khoản 3 Điều 120 và khoản 1 Điều 127 Luật Doanh nghiệp năm 2020 năm 2020.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp
1.1.2.1. Khái niệm pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp
Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã sắp xếp chuyển đổi doanh nghiệp vào “Chương IX – Tổ chức lại, giải thể, phá sản doanh nghiệp”, gồm 4 trường hợp chuyển đổi: (1) Chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn thành công ty cổ phần;
Chuyển đổi công ty cổ phần thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên; (3) Chuyển đổi công ty cổ phần thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; (4) Chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh. Luận văn: Pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam.
1.1.2.2 Đặc điểm pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp
Về nguyên tắc, doanh nghiệp là chủ thể của quan hệ kinh doanh và bản thân doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ, nghĩa vụ tài chính khác bằng toàn bộ tài sản của mình. Chuyển đổi doanh nghiệp thực chất là một hành vi pháp lý rất phức tạp. Các đặc điểm pháp luật chuyển đổi doanh nghiệp có thể được tóm tắt như sau:
Thứ nhất, chuyển đổi doanh nghiệp mang tính đa quy chế pháp lý Thứ hai, chuyển đổi doanh nghiệp mang tính trọng hình thức
1.1.3. Nội dung cơ bản của pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp
1.1.3.1. Các hình thức chuyển đổi loại hình doanh nghiệp
- Thứ nhất, chuyển đổi hình thức giữa các doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn với nhau
- Thứ hai, chuyển đổi từ doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm vô hạn với nhau
- Thứ ba, chuyển đổi từ doanh nghiệp có chế độ trách nhiệm hữu hạn thành công ty có chế độ trách nhiệm vô hạn và ngược lại
- Thứ tư, chuyển đổi từ doanh nghiệp tư nhân sang doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn
1.1.3.2. Điều kiện chuyển đổi hình thức doanh nghiệp
Thứ nhất, các thành viên doanh nghiệp phải góp vốn hoặc thanh toán cổ phần đã đăng ký mua. Đối với các loại hình mà thành viên/cổ đông của có trách nhiệm hữu hạn, thì số vốn phải góp theo cam kết, cổ phần đã đăng ký mua phải thực hiện thanh toán chính là giới hạn trách nhiệm.
Thứ hai, công ty phải thanh toán các khoản nợ. Một trong những đặc trưng căn bản của chuyển đổi hình thức công ty là công ty chuyển đổi kế thừa các quyền và nghĩa vụ của công ty được chuyển đổi.
Thứ ba, việc chuyển đổi doanh nghiệp phải xem xét đến quyền lợi của thành viên. Cụ thể đối với trường hợp chuyển đổi doanh nghiệp theo lựa chọn mà việc quyết định không theo nguyên tắc nhất trí mà theo một tỷ lệ nhất định thì, thành viên, cổ đông có thể buộc phải chấp nhận việc chuyển đổi mặc dù không biểu quyết thông qua.
Thứ tư, việc chuyển đổi phải chú ý tới người lao động. Nhà làm luật thường quy định điều kiện đảm bảo kế thừa nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ lao động. Người lao động với vấn đề việc làm ngày nay thường là mối quan tâm đặc biệt của của mỗi quốc gia.
Thứ năm, việc chuyển đổi phải bảo đảm số lượng thành viên hoặc cổ đông tối thiểu theo pháp luật quy định đối với doanh nghiệp chuyển đổi đến. Hiện tại, pháp luật các nước có quy định khác nhau về số lượng thành viên hoặc cổ đông tối thiểu áp dụng cho từng loại hình doanh nghiệp.
1.1.3.3. Thủ tục chuyển đổi hình thức công ty
Thứ nhất, căn cứ chuyển đổi doanh nghiệp: Đối với trường hợp chuyển đổi tự nguyện, việc chuyển đổi hoàn toàn do sự quyết định của hội đông thành viên thông qua. Luận văn: Pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam.
Thứ hai, các căn cứ chứng minh chuyển đổi và văn bản thể hiện ý chí chuyển đổi doanh nghiệp các thành viên như biên bản họp, Quyết định hợp lệ của hội đồng thành viên thông qua việc chuyển đổi doanh nghiệp; các tài liệu khác.
1.1.3.4. Những nội dung khác liên quan đến pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp
Sự thay đổi mô hình công ty tại Việt Nam có thể ảnh hưởng đến chế độ lao động của nhân viên theo nhiều cách khác nhau. Dưới đây là một số điểm mà doanh nghiệp cần xem xét khi thực hiện thay đổi mô hình công ty:
Khi có sự thay đổi mô hình công ty, quyền lợi của nhân viên có thể bị ảnh hưởng. Điều này bao gồm các chế độ như lương, phúc lợi, và các quy định về thời gian làm việc.
Mô hình công ty mới có thể áp đặt chế độ lao động khác biệt so với mô hình cũ. Điều này có thể liên quan đến thời gian làm việc, nghỉ ngơi, chính sách thưởng phạt, và các điều kiện làm việc khác.
Trong quá trình thay đổi, việc thông báo kịp thời và thương lượng với nhân viên về các điều kiện làm việc mới là rất quan trọng để tránh xung đột và đảm bảo sự hài lòng của nhân viên. Doanh nghiệp cần bảo đảm rằng bất kỳ thay đổi nào đều tuân thủ các quy định pháp luật lao động của Việt Nam.
Việc thay đổi mô hình công ty có thể ảnh hưởng đến chế độ bảo hiểm xã hội và y tế của nhân viên. Doanh nghiệp cần kiểm tra và điều chỉnh các khoản đó để đảm bảo tuân thủ các quy định.
Nhìn chung, quá trình thay đổi mô hình công ty đòi hỏi sự cân nhắc kỹ lưỡng và thực hiện cẩn thận để đảm bảo rằng mọi thay đổi không chỉ tuân thủ pháp luật mà còn duy trì sự ổn định và hài lòng của nhân viên.
Bên cạnh đó, chế độ tài chính và thuế có thể ảnh hưởng đáng kể đến quá trình thay đổi loại hình doanh nghiệp.
Loại hình doanh nghiệp cũng có thể ảnh hưởng đến nghĩa vụ nộp thuế giá trị gia tăng. Một số loại hình doanh nghiệp có thể phải đối mặt với các quy tắc giá trị gia tăng khác nhau, và chuyển đổi có thể ảnh hưởng đến cách tính và nộp thuế giá trị gia tăng.
1.1.4. Vai trò, ý nghĩa của pháp luật về việc chuyển đổi doanh nghiệp
Pháp luật đưa ra các quy định về chuyển đổi doanh nghiệp nhằm điều chỉnh về thủ tục chuyển đổi, các trường hợp chuyển đổi đảm bảo lợi ích, cho thấy được ưu điểm của việc chuyển đổi doanh nghiệp so với việc chấm dứt hoạt động doanh nghiệp cũ sau đó thành lập doanh nghiệp mới với hình thức như mong muốn, cụ thể như phương pháp này đảm bảo đối với vấn đề sở hữu tài sản đặc biệt là thương hiệu – một yếu tố doanh nghiệp không thể gây dựng trong thời gian ngắn
1.2. Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp Luận văn: Pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam.
Cũng như các vấn đề xã hội khác, việc thực hiện pháp luật chuyển đổi doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau. Các yếu tố này có thể thúc đẩy, cũng có thể kìm hãm việc thực hiện pháp luật. Do vậy, để bảo đảm đồng thời đẩy mạnh việc thực hiện pháp luật chuyển đổi doanh nghiệp cần chú trọng tăng cường các yếu tố có tác động tích cực và khắc phục, hạn chế các yếu tố có tác động tiêu cực.
- Thứ nhất, yếu tố chính trị
- Thứ hai, yếu tố lợi ích của doanh nghiệp
- Thứ ba, các cơ chế điều chỉnh xã hội khác
Tiểu kết Chương 1
Chuyển đổi doanh nghiệp không chỉ quan trọng về pháp Luật Doanh nghiệp năm 2020 mà còn là quá trình phát triển và tái cấu trúc pháp lý theo năng lực tài chính, điều kiện và mục tiêu của nhà đầu tư. Đây là giải pháp kinh tế và pháp lý an toàn cho nhà đầu tư, giúp tiết kiệm thời gian, chi phí, đặc biệt là chi phí thuế so với việc thành lập mới hoặc giải thể doanh nghiệp cũ. Chuyển đổi giúp doanh nghiệp kế thừa các quyền, đặc biệt là những quyền khó chuyển giao giữa các chủ thể. Phân loại chuyển đổi thành tự nguyện và theo quy định pháp luật giúp định rõ điều kiện và thủ tục. Quy định pháp luật cũng áp dụng các biện pháp bảo vệ hữu hiệu, bao gồm vô hiệu hóa công ty không đạt tiêu chuẩn, nhằm bảo vệ trật tự công cộng, đạo đức xã hội và quyền lợi của cộng đồng, chủ nợ, và người lao động. Các yếu tố như chính trị, lợi ích kinh tế và cơ chế điều chỉnh xã hội quyết định hiệu quả của pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp. Tự do kinh doanh là nền tảng cho việc lựa chọn chuyển đổi loại hình doanh nghiệp và các quyết định kinh doanh khác.
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
2.1. Thực trạng pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp
2.1.1. Quy định pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp
2.1.1.1. Quy định chung của pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp
Về các quy định về chuyển đổi loại hình doanh nghiệp thì Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã bổ sung thêm việc cho phép doanh nghiệp tư nhân được chuyển đổi thành công ty cổ phần, công ty hợp danh chứ không như trước đây là chỉ cho phép chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn. Đây là một sự tiến bộ trong cải cách về doanh nghiệp đem đến thành công của Luật Doanh nghiệp năm 2020 trong sự thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phục hồi và phát triển.
Đối với các quy định về chuyển đổi doanh nghiệp từ công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thành công ty cổ phần về cơ bản Luật Doanh nghiệp năm 2020 không có điều chỉnh gì về phương thức chuyển đổi mà chỉ có duy nhất một điểm đáng chú ý đó là có sự kết hợp các phương thức hiện hành với “các phương thức khác”.
Một điểm nổi bật đáng chú ý nữa là Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã rút ngắn thời gian về thực hiện thủ tục hành chính đối với thực hiện việc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp từ 05 ngày làm việc xuống còn 03 ngày làm việc đối với tất cả các chuyển đổi loại hình doanh nghiệp trong đó có chuyển đổi loại hình doanh nghiệp từ công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thành công ty cổ phần. Luận văn: Pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam.
Đối với các loại hình doanh nghiệp, việc chuyển loại hình chỉ là sự thay đổi về hình thức pháp lý kinh doanh, còn pháp nhân doanh nghiệp vẫn tồn tại, các quyền lợi và nghĩa vụ mà doanh nghiệp đã cam kết dưới hình thức cũ vẫn tồn tại. Pháp nhân là một khái niệm để chỉ một loại chủ thể quan hệ pháp luật độc lập với các chủ thể khác và chủ sở hữu của pháp nhân. Pháp nhân ra đời đáp ứng điều kiện của đời sống xã hội và hoạt động lập pháp. Các loại hình công ty có tư cách pháp nhân là chủ thể độc lập trong quan hệ pháp luật. Nếu loại hình doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân thì tham gia quan hệ pháp luật với tư cách thể nhân của chủ sở hữu doanh nghiệp.
- Thứ nhất, về số lượng thành viên, cổ đông tối thiểu
- Thứ hai, về quyền lợi của các thành viên hoặc cổ đông
- Thứ ba, về trách nhiệm của các thành viên/cổ đông
- Thứ tư, trách nhiệm của thành viên/cổ đông trước và sau khi chuyển đổi
- Thứ năm, về bảo đảm quyền lợi hợp pháp của bên thứ ba
2.1.1.2. Quy định về chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn thành công ty cổ phần và ngược lại
Tại Điều 202 Luật Doanh nghiệp năm 2020 công ty trách nhiệm hữu hạn có thể chuyển đổi thành công ty cổ phần.
Tại Điều 203 Luật Doanh nghiệp năm 2020 năm 2020, công ty cổ phần có thể chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
Tại Điều 204 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định về phương thức chuyển công ty cổ phần thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.
2.1.1.3. Quy định về chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh
Chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh được quy định tại Điều 205 Luật Doanh nghiệp năm 2020, theo đó điều kiện để doanh nghiệp tư nhân được chuyển đổi gồm:
Doanh nghiệp được chuyển đổi phải có đủ các điều kiện được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại khoản 1 Điều 27 của Luật Doanh nghiệp năm 2020 năm 2020.
Chủ doanh nghiệp trước khi chuyển đổi chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân phải cam kết bằng văn bản chịu trách nhiệm cá nhân bằng toàn bộ tài sản của mình đối với tất cả khoản nợ chưa thanh toán và cam kết thanh toán đủ số nợ khi đến hạn; Có thỏa thuận bằng văn bản với các bên của hợp đồng chưa thanh lý về việc công ty được chuyển đổi tiếp nhận và tiếp tục thực hiện các hợp đồng đó; Cam kết bằng văn bản hoặc có thỏa thuận bằng văn bản với các thành viên góp vốn khác về việc tiếp nhận và sử dụng lao động hiện có của doanh nghiệp tư nhân. Luận văn: Pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam.
2.1.1.4. Thủ tục chuyển đổi doanh nghiệp
- Hồ sơ chuyển đổi doanh nghiệp
Về cơ bản, căn cứ theo Điều 26 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP quy định hồ sơ chuyển đổi doanh nghiệp sẽ được giải quyết tại Sở Kế hoạch và Đầu tư.
- Trường hợp đăng ký qua mạng điện tử sử dụng chữ ký số công cộng
Người nộp hồ sơ kê khai thông tin, tải văn bản điện tử, ký xác thực hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua trang thông tin điện tử và thanh toán phí, lệ phí đăng ký doanh nghiệp theo quy trình cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp (https://dangkykinhdoanh.gv.vn).
Sau khi hoàn thành bước gửi hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, người nộp hồ sơ sẽ nhận được Giấy biên nhận hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua trang thông tin điện tử. Nếu hồ sơ đáp ứng đủ điều kiện chuyển đổi doanh nghiệp, cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ cấp đăng ký kinh doanh và thông báo cho doanh nghiệp. Trường hợp hồ sơ chưa đáp ứng yêu cầu chuyển đổi doanh nghiệp, Phòng Đăng ký kinh doanh sẽ thông báo đến doanh nghiệp qua trang thông tin điện tử yêu cầu chỉnh sửa , bổ sung hồ sơ .
Trường hợp ủy quyền thực hiện thủ tục chuyển đổi doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử sử dụng Tài khoản đăng ký kinh doanh, văn bản ủy quyền phải có thông tin liên hệ của người ủy quyền để xác thực việc nộp hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử.
Về thời hạn giải quyết được quy định tại khoản 3 Điều 202, Điều 203. khoản 2 Điều 204 và khoản 2 Điều 205, Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan đăng ký kinh doanh nhận được hồ sơ chuyển đổi sẽ cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và tình trạng pháp lý doanh nghiệp sẽ được cập nhật trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
2.1.2. Đánh giá quy định của pháp luật hiện hành về chuyển đổi doanh nghiệp
Điều này giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian và chi phí. Quy định về chuyển đổi doanh nghiệp đặt sự chú ý đến việc bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan như cổ đông, người lao động và chủ nợ, giúp duy trì trật tự công cộng và công bằng trong quá trình chuyển đổi. Luận văn: Pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam.
Luật Doanh nghiệp năm 2020 ra đời thay thế Luật Doanh nghiệp năm 2020 năm 2014 là một điều tất yếu, khắc phụ được nhiều nhược điểm, góp phần không nhỏ vào thời kỳ hưng thịnh của các doanh nghiệp.
2.1.2.1. Quy định về chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn thành công ty cổ phần và ngược lại
Xét một cách đơn thuần, các quy định này đã thể hiện sự thông thoáng đảm bảo quyền tự do chuyển đổi doanh nghiệp. Chỉ cần một quyết định của đại hội đồng cổ đông, hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty là có thể chuyển đổi doanh nghiệp. Tuy nhiên, thực tế áp dụng cho thấy có rất nhiều vấn đề bất cập:
Thứ nhất, pháp luật không quy định cụ thể về điều kiện chuyển đổi, dẫn đến không ít các khó khăn khi thực hiện và quyền lợi của người thứ ba luôn có nguy cơ bị xâm hại
Thứ hai, đối với trường hợp chuyển đổi công ty trách nhiệm hữu hạn thành công ty cổ phần được quy định tại điều 202 Luật Doanh nghiệp năm 2020. Quy định này thay thế quy định tại Điều 33 Nghị định 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010.
Thứ ba, đối với trường hợp chuyển đổi công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên được quy định cụ thể tại Điều 203 Luật Doanh nghiệp năm 2020.
2.1.2.2. Quy định về chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân thành công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh
Về các quy định về chuyển đổi loại hình doanh nghiệp thì Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã bổ sung thêm việc cho phép Doanh nghiệp tư nhân được chuyển đổi thành công ty cổ phần, công ty hợp danh chứ không như trước đây là chỉ cho phép chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn. Đây là một sự tiến bộ trong cải cách về doanh nghiệp đem đến thành công của Luật Doanh nghiệp năm 2020 trong sự thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phục hồi và phát triển.
2.1.2.3. Thủ tục chuyển đổi doanh nghiệp
Một điểm nổi bật đáng chú ý nữa là Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã rút ngắn thời gian về thực hiện thủ tục hành chính đối với thực hiện việc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp từ 05 ngày làm việc xuống còn 03 ngày làm việc đối với tất cả các chuyển đổi loại hình doanh nghiệp trong đó có chuyển đổi loại hình doanh nghiệp từ công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thành công ty cổ phần. Đây cũng là điểm tiến bộ trong cải cách thực hiện thủ tục hành chính nhằm giúp các doanh nghiệp giảm thiểu thời gian trong thực hiện thủ tục chuyển đổi.
Có thể thấy quy định pháp luật hiện hành về chuyển đổi doanh nghiệp trong pháp luật hiện hành đã đạt được những cải tiến đáng kể, tuy nhiên, vẫn còn những điểm cần được bổ sung và điều chỉnh để tối ưu hóa quá trình chuyển đổi và đảm bảo tính công bằng và minh bạch. Luận văn: Pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam.
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam
2.2.1. Kết quả đạt được trong thực hiện pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp
Thông qua báo cáo tình hình đăng ký doanh nghiệp do Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư qua từng năm của nước ta thì số doanh nghiệp thành lập mới trong năm 2021 là 116,8 nghìn doanh nghiệp, 43,1 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động của năm 2021 là 159,9 nghìn doanh nghiệp, bình quân mỗi tháng có 13,3 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Bên cạnh đó tổng số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, doanh nghiệp ngừng hoạt động và đã hoàn tất thủ tục giải thể là 119,8 nghìn doanh nghiệp, bình quân mỗi tháng của năm 2021 có gần 10 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Số doanh nghiệp chuyển đổi loại hình là 12,5 nghìn doanh nghiệp, chiếm 7,82% so với tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động và chỉ bằng khoảng 10,4% so với tổng số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, doanh nghiệp ngừng hoạt động và đã hoàn tất thủ tục giải thể. Suy ra bình quân mỗi tháng cả nước có hơn 1 nghìn doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi loại hình.
Bước qua năm 2022, thị trường doanh nghiệp có nhiều khởi sắc với chính sách mở cửa trong tình hình mới của chính phủ cũng như số ca dịch tăng mạnh như đã kiểm soát được. Số doanh nghiệp thành lập mới đạt 148,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 27,1% so với năm trước. Bên cạnh đó còn có 59,8 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 38,8% so với năm 2021), nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động năm 2022 lên gần 208,3 nghìn doanh nghiệp, tăng 30,3% so với năm trước. Bình quân một tháng có 17,4 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, ngưng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể và hoàn tất thủ tục giải thể là 143,2 nghìn doanh nghiệp, tăng 16,34% so với năm trước, bình quân một tháng có gần 12 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Số doanh nghiệp chuyển đổi loại hình là 15,7 nghìn doanh nghiệp, tăng 20,1% so với năm 2021 và chiếm 7,53% so với tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp trở lại hoạt đổng và chỉ bằng 11% so với tổng số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, doanh nghiệp ngừng hoạt động và đã hoàn tất thủ tục giải thể. Suy ra bình quân mỗi tháng cả nước có hơn 1,3 nghìn doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi loại hình.
Trong 9 tháng năm 2023, dù gặp rất nhiều khó khăn, số lượng doanh nghiệp chuyển đổi loại hình là 8,5 nghìn doanh nghiệp so với 165 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động thì chiếm khoảng 5,2% và so với số lượng doanh nghiệp tạm ngừng và rút lui khỏi thị trường 135,1 nghìn doanh nghiệp thì chuyển đổi doanh nghiệp chỉ bằng 6,3%. Điều này cho thấy lượng doanh nghiệp chuyển đổi vẫn tiếp tục tăng, là một kết quả đáng ghi nhận khi đặt trong bối cảnh quốc tế, trong nước có rất nhiều khó khăn, biến động. Luận văn: Pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam.
Như vậy, tính đến thời điểm hiện tại, với sự hiện hữu của Luật Doanh nghiệp năm 2020 năm 2020, việc chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam đang trải qua quá trình từng bước được hoàn thiện nhờ vào công tác tuyên truyền, phổ biến bằng nhiều hình thức như ban hành kế hoạch tuyên truyền, tổ chức hội nghị triển khai trực tiếp để các doanh nghiệp nhận thức được ưu điểm của chuyển đổi doanh nghiệp giúp giảm số lượng doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường là đẩy mạnh số lượng doanh nghiệp tiếp tục hoạt động. Tuy nhiên số lượng doanh nghiệp chuyển đổi doanh nghiệp vẫn chưa thật sự là con số ấn tượng.
2.2.2. Vướng mắc trong thực tiễn thực hiện pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp
Thứ nhất, các quy định về chuyển đổi doanh nghiệp vẫn còn chung chung và trừu tượng của các quy định, điều này đã dẫn đến việc xuất hiện nhiều văn bản hướng dẫn quy phạm có hiệu lực thấp và chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu và mong muốn của cộng đồng, gây khó khăn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
Thứ hai, phần lớn các loại hình doanh nghiệp mà Luật Doanh nghiệp năm 2020 công nhận đã được phép chuyển đổi. Tuy nhiên, việc thực hiện pháp luật có nhiều vấn đề cần phải xem xét cẩn trọng để tránh tác động không tốt từ việc chuyển đổi doanh nghiệp đến trật tự công.
Thứ ba, pháp luật chưa có quy định cụ thể về việc xác định vốn điều lệ của doanh nghiệp chuyển đổi, nên thực tiễn chuyển đổi doanh nghiệp người ta có thể tự biến hóa miễn sao được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận.
2.2.3. Nguyên nhân của những vướng mắc trong thực tiễn thực hiện pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp
Qua thực tiễn cho thấy pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp thực sự phát triển từ khi Luật Doanh nghiệp năm 2020 có hiệu lực thi hành. Thực tế cho thấy, sự phát triển của pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp đã góp phần bảo đảm cho nhà đầu tư quyền tự do kinh doanh, qua đó tạo ra nhiều giá trị về kinh tế. Tuy nhiên, chế định này vẫn còn có những hạn chế, khó khăn nhất định trong thực tiễn thực hiện pháp luật như sau:
Thứ nhất, nhà lập pháp chưa xác định đúng bản chất pháp lý về cổ phần và phần vốn góp. Đối với cổ phần, quyền sở hữu chỉ được xác lập khi cổ đông doanh nghiệp đăng ký mua khi thành lập doanh nghiệp đã thanh toán.
Thứ hai, nhà lập pháp chưa thể hiện quan niệm rõ ràng về căn cứ chuyển đổi doanh nghiệp. Chuyển đổi doanh nghiệp là một quá trình đặc biệt, bởi điểm xuất phát của chuyển đổi, cũng như điểm đến của chuyển đổi đều là doanh nghiệp, nhưng chỉ khác nhau về hình thức.
Thứ ba, nhà lập pháp chưa dự liệu hết được các yếu tố tác động của chuyển đổi doanh nghiệp có thể gây xâm phạm đến quyền và lợi ích của người thứ ba, nên chưa đặt ra các điều kiện chuyển đổi, mà điều kiện đổi chính là “bức tường lửa” có chức năng ngăn ngừa sự gây ảnh hưởng của việc chuyển đổi đến các chủ thể, giá trị cần bảo vệ.
Tiểu kết Chương 2 Luận văn: Pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam.
Xã hội ngày càng phát triển, nền kinh tế Việt Nam ngày càng mạnh mẽ, góp phần tăng trưởng đáng kể và có sức ảnh hưởng toàn cầu. Từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã tích cực xây dựng hệ thống pháp luật linh hoạt để thu hút đầu tư nước ngoài và khuyến khích sự tham gia của nhà đầu tư trong nước thông qua doanh nghiệp. Chính sách pháp luật ngày càng hoàn thiện, đóng góp tích cực vào sự phát triển của các doanh nghiệp. Với việc Luật Doanh nghiệp năm 2020 chính thức có hiệu lực, thay thế Luật Doanh nghiệp năm 2020 2014, đã mở ra nhiều tiềm năng và thách thức, đặc biệt là trong lĩnh vực chuyển đổi doanh nghiệp.
Quy định về chuyển đổi doanh nghiệp trong Luật Doanh nghiệp năm 2020 đánh dấu một bước tiến quan trọng, thể hiện sự quan tâm đặc biệt từ phía nhà lập pháp đối với quyền tự do kinh doanh và phát triển kinh tế đất nước. Tuy nhiên, mặc dù đã có nhiều cải tiến, các quy định vẫn còn khá chung chung, tạo điều kiện cho việc ban hành văn bản quy phạm có hiệu lực thấp, không đáp ứng đầy đủ tâm tư nguyện vọng của cộng đồng.
Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp năm 2020 chưa thể đáp ứng đầy đủ về điều kiện chuyển đổi, đặc biệt là liên quan đến vấn đề góp vốn. Thiếu cơ quan kiểm tra và giám sát cụ thể để đảm bảo doanh nghiệp đã tuân thủ quy định về vốn góp, dẫn đến khả năng bảo vệ lợi ích của người thứ ba và khó khăn trong việc duy trì trật tự công.
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động chuyển đổi doanh nghiệp
Trong việc xây dựng môi trường pháp lý cho kinh doanh, việc ban hành Luật Doanh nghiệp năm 2020 là một sự nỗ lực đáng ghi nhận. Đạo luật này đã tạo điều kiện cho sự phát triển của các doanh nghiệp và mở rộng quyền tự do kinh doanh, chỉ tính trong năm 2022 có 148.533 doanh nghiệp đăng ký thành lập, tăng 27,1% so với năm 2021, gấp 1,1 lần mức bình quân giai đoạn 2017-2021 (129.611 doanh nghiệp); năm 2023 có 159.294 doanh nghiệp mới, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm 2022.
Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung quy định về điều kiện, thủ tục chuyển đổi doanh nghiệp. Việc góp vốn là nghĩa vụ của các thành viên doanh nghiệp khi thành lập mà họ đã cam kết. Thực hiện góp đủ vốn, khi doanh nghiệp có các khoản nợ thì họ không phải trả bởi nghĩa vụ của họ được giới hạn trong phạm vi phần vốn đã cam kết góp như khi đăng ký thành lập. Vốn được các thành viên góp đầy đủ nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của bên người ba và đảm bảo cho quá trình vận hành kinh doanh của doanh nghiệp. Luận văn: Pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam.
Thứ hai, đồng bộ pháp luật chuyển đổi doanh nghiệp gắn với sự đồng bộ pháp luật về hợp đồng. Như chúng ta đã biết, doanh nghiệp hình thành trên cơ sở bản chất là hợp đồng giữa các bên tham gia góp vốn thành lập doanh nghiệp.
Thứ ba, bổ sung quy định thời điểm xác lập sở hữu vốn đối với các thành viên. Hiện tại, chúng ta không có quy định nào về thời điểm xác lập sở hữu vốn đối với các thành viên việc này tạo ra khó khăn khi chuyển đổi doanh nghiệp và giải quyết các tranh chấp giữa các thành viên trong doanh nghiệp.
Thứ tư, bỏ quy định về số lượng cổ đông tối thiểu. Việc quy định về cổ số lượng cổ đông tối thiểu là không nên bởi trường hợp công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên chỉ có hai thành viên muốn chuyển đổi qua hình thức công ty cổ phần bắt buộc phải kết nạp thêm thành viên, trong trường hợp các thành viên vẫn muốn giữ nguyên cơ cấu thành viên sau khi chuyển đổi nhưng Luật lại quy định họ không đáp ứng điều kiện về thành viên nên bắt buộc phải kết nạp bằng cách chuyển một phần vốn góp hoặc nhận góp vốn thêm từ bên ngoài.
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp
Thứ nhất, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác đăng ký kinh doanh. Đội ngũ cán bộ, công chức là những người thực thi pháp luật, những quy định của pháp luật về doanh nghiệp đến với những người thực thi, nhiều khi họ hiểu khác nhau chưa thống nhất và quy định của pháp luật nên có thể mỗi nơi áp dụng một khác.
Thứ hai, tổ chức chương trình hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp đang chuyển đổi, có thể thông qua các gói vay ưu đãi, chính sách giảm thuế để đảm bảo rằng các chính sách thuế hỗ trợ việc chuyển đổi doanh nghiệp được thiết lập một cách linh hoạt và có lợi ích cho doanh nghiệp. Tạo các chiến dịch truyền thông để nâng cao nhận thức và hiểu biết về quy trình chuyển đổi doanh nghiệp cung cấp thông tin đầy đủ và chi tiết để doanh nghiệp có thể đưa ra quyết định chuyển đổi thông tin.
Những giải pháp trên có thể đóng góp vào việc tạo ra một môi trường kinh doanh linh hoạt và thuận lợi cho doanh nghiệp muốn chuyển đổi loại hình. Luận văn: Pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam.
Tiểu kết Chương 3
Sự phát triển của kinh tế thị trường cùng đó là quá trình hội nhập đang được đẩy mạnh thì nhu cầu đăng ký kinh doanh của các thương nhân, nhà đầu tư ngày càng tăng cao. Trong quá trình vận hành các thương nhân, nhà đầu tư có nhu cầu chuyển đổi doanh nghiệp. Chuyển đổi loại hình không những có vai trò và ý nghĩa về mặt kinh tế, mà còn đảm bảo an toàn pháp lý cho chủ đầu tư, đảm bảo quyền tự do kinh doanh của họ theo quy định của pháp luật. Các quy định về chuyển đổi doanh nghiệp này còn nhiều bất cập nên chúng ta cần phải có những phương hướng để ngày càng hoàn thiện hơn pháp luật nhằm tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi để các doanh nghiệp phát triển.
Để bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh cho các chủ thể tham gia chúng ta phải có các giải pháp xây dựng và hoàn thiện pháp luật theo định hướng: xây dựng và hoàn thiện pháp Luật Doanh nghiệp năm 2020 về chuyển đổi doanh nghiệp đồng thời gắn với xây dựng nhà nước pháp quyền; xây dựng và hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp bảo đảm quyền tự do ý chí trong kinh doanh của cá nhân/tổ chức tham gia hoạt động kinh doanh; hoàn thiện chuyển đổi doanh nghiệp đồng thời hoàn thiện các quy định về chuyển đổi loại hình doanh nghiệp khác và cùng lúc phải gắn với hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp; bổ sung thêm quy định hợp đồng thành lập doanh nghiệp/công ty trong Bộ luật Dân sự; bổ sung quy định thời điểm xác lập sở hữu vốn đối với các thành viên; sửa đổi, bổ sung quy định về điều kiện, thủ tục chuyển đổi, bỏ quy định về số lượng cổ đông tối thiểu; quy định về điều kiện vô hiệu khi chuyển đổi doanh nghiệp.
KẾT LUẬN Luận văn: Pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam.
Doanh nghiệp được hình thành bởi ý chí của các thành viên của nó để trở thành một thực thể kinh doanh nên việc chuyển đổi có thể thực hiện từ sự lựa chọn của các thành viên. Theo đó chuyển đổi doanh nghiệp xuất phát từ sự đồng lòng, nhất trí cùng thực hiện mục tiêu đạt được lợi nhuận từ hoạt động kinh của doanh nghiệp – một phương tiện có lợi thế vô song giúp cho các thành viên có thể tối ưu hóa lợi ích một cách hợp lý. Việc bảo vệ các quyền thành lập doanh nghiệp khi bắt đầu và quyền phát triển doanh nghiệp đó trong quá trình kinh doanh bằng cách chuyển đổi loại hình pháp lý có ý nghĩa rất quan trọng.
Chuyển đổi doanh nghiệp không những có ý nghĩa về khía cạnh kinh tế mà còn đảm bảo an toàn về mặt pháp lý cho các thành viên. Chuyển đổi doanh nghiệp là chuyển đổi hình thức kết cấu của thương nhân pháp nhân và việc chuyển đổi này không làm ảnh thay đổi nghĩa vụ trả nợ của thương nhân đó. Việc chuyển đổi doanh nghiệp có thể tác động đến quyền lợi hợp pháp của chính các thành viên trong một doanh nghiệp, lợi ích cộng đồng và người thứ ba, như người lao động, các chủ nợ bao gồm các chủ nợ thuế là Nhà nước. Do vậy, việc hoàn thiện pháp luật chuyển đổi doanh nghiệp là rất cần thiết, nhằm đảm bảo trật tự xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể chịu tác động từ việc chuyển đổi doanh nghiệp. Từ việc nghiên cứu, phân tích các vấn đề lý luận, thực tiễn tại Việt Nam, đề án đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp thời gian tới. Các giải pháp hướng đến mục tiêu pháp luật doanh nghiệp phải tạo cơ hội, tiền đề cho doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung tiếp tục phát triển./. Luận văn: Pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân trên internet
Luận văn: Pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam
Luận văn: Pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp ở Việt Nam
tôi cần luận văn này