Luận văn: Hướng dẫn khách du lịch khiếm thính bằng ký hiệu

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hướng dẫn khách du lịch khiếm thính bằng ký hiệu hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Hướng dẫn cho khách du lịch khiếm thính bằng ngôn ngữ ký hiệu Hoa Kỳ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Sự phát triển kinh tế xã hội vượt bậc của loài người trong những thế kỷ qua kéo theo nhiều hệ quả tích cực mà một trong số đó là sự phát triển của hoạt động du lịch. Từ chỗ là thú chơi xa xỉ dành cho giới thượng lưu, du lịch giờ đây trở thành hoạt động phổ quát của mọi người trong xã hội. Từ chỗ là một hoạt động xã hội đơn thuần, du lịch trở thành một ngành kinh tế hàng đầu của nhiều quốc gia, là động lực thúc đẩy nhiều nền kinh tế. Lượng du khách và thu nhập từ du lịch của các quốc gia tăng mạnh mẽ trong suốt thế kỷ qua theo thống kê của của Tổ chức Du lịch Thế giới là minh chứng cho nhận định đó.

Hoạt động du lịch ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống con người hiện đại. Nó có mối quan hệ tương tác đặc biệt với nhiều mặt của xã hội. Du lịch giúp con người nâng cao sức khỏe, tăng cường nhận thức về thế giới, giao lưu văn hóa giữa các dân tộc, nhóm người, góp phần vào bảo vệ hòa bình chung toàn cầu, phát triển kinh tế, văn hóa các quốc gia, vùng miền…Và chính vì những ích lợi đó, du lịch cũng góp phần vào việc giúp cho con người bình đẳng hơn trước những quyền mà tạo hóa đã ban cho họ. Luận văn: Hướng dẫn khách du lịch khiếm thính bằng ký hiệu.

Xu thế xã hội hóa thành phần du khách là một trong số những xu thế phát triển của du lịch ngày nay. Ngày càng có nhiều nhóm người, nhiều tầng lớp trong xã hội tham gia du lịch. Đó là xu hướng tất yếu bởi sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội giúp cho con người được giải phóng, có nhiều thông tin hơn kích thích họ tìm hiểu về thế giới theo nhiều chiều khác nhau. Trong những thành phần du khách ngày càng đa dạng tham gia vào hoạt động du lịch hiện nay, chúng ta cần phải kể đến những người tàn tật như một thành phần không thể thiếu của hoạt động du lịch.

Người tàn tật, theo Pháp lệnh Người tàn tật Việt Nam không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn. [1, 24]

Trong xã hội hiện đại, mọi người đều có quyền bình đẳng và được hưởng những lợi ích chung mà xã hội tạo ra. Những người tàn tật hiển nhiên được hưởng những lợi ích đó như những người bình thường khác. Họ cũng có nhu cầu đi lại, giao lưu, gặp gỡ, trao đổi, học tập, thư giãn… Hoạt động du lịch là hoạt động thỏa mãn những nhu cầu đó của họ. Với tư cách là một con người, họ được quyền hưởng những dịch vụ du lịch như những người không tàn tật. Các Công ước quốc tế và chính sách của các quốc gia trong đó có Việt Nam đều thừa nhận và khuyến khích hoạt động của người tàn tật.

Với sự phát triển của khoa học công nghệ và nhận thức về vai trò của người tàn tật trong xã hội, người tàn tật dần được quan tâm đúng mức và tham gia vào nhiều hoạt động cộng đồng hơn. Du khách là những người tàn tật giờ đây không phải là khách hàng xa lạ trong những chương trình du lịch của các hãng lữ hành trên thế giới.

Trong những năm gần đây, nhiều tài liệu quốc tế sử dụng thuật ngữ “Du lịch tiếp cận được” (Accessible tourism) để chỉ loại hình du lịch mà các dịch vụ cũng như phương tiện, trang thiết bị hướng tới đối tượng người tàn tật, giúp cho người tàn tật tiếp cận, sử dụng các dịch vụ dễ dàng hơn.

Thành phần những người tàn tật đi du lịch vì vậy cũng trở nên đa dạng: những người bị khuyết tật vận động (tay, chân…), khuyết tật giác quan (thị giác, thính giác…), khuyết tật giao tiếp (diễn đạt ngôn ngữ), khuyết tật trí tuệ, tâm thần, khuyết tật ẩn (khó thở, bệnh tim, huyết áp cao)… Luận văn: Hướng dẫn khách du lịch khiếm thính bằng ký hiệu.

Thông thường, khi nhắc tới khách du lịch tàn tật, người ta nghĩ ngay tới những người ngồi xe lăn. Trên thực tế đó chỉ là một trong những đối tượng du khách tàn tật, ngoài ra còn có du khách khiếm thính, du khách khiếm thị, du khách có những khuyết tật ẩn khác…

Khách du lịch là người khiếm thính (nếu không có các khuyết tật khác) là đối tượng dễ dàng tham gia hầu hết các hoạt động du lịch mà ít bị những rào cản về kỹ thuật vì phần lớn họ có khả năng tự làm được mọi việc như những người không tàn tật. Đặc điểm nổi bật của đối tượng này là khó tiếp cận với các nguồn âm thanh nên trong các hoạt động giao tiếp cũng như du lịch họ cần một phương thức giao tiếp khác với ngôn ngữ nói – ngôn ngữ kí hiệu (ngôn ngữ cử chỉ).

Trong các dịch vụ của ngành du lịch, dịch vụ hướng dẫn là một dịch vụ đặc thù, không thể thiếu được trong các chương trình du lịch, tham quan. Nó giúp cho du khách có thêm thông tin, khám phá sự khách biệt của điểm đến đồng thời giúp cho du khách hưởng thụ các dịch vụ khác một cách trôi chảy.  Dịch vụ hướng dẫn có thể theo suốt chương trình du lịch và được thực hiện bởi các hướng dẫn viên tuyến, hướng dẫn viên điểm và nó chiếm một phần thời lượng không nhỏ trong chương trình. Trong suốt quá trình hướng dẫn và phục vụ, hướng dẫn viên cung cấp, trao đổi nhiều loại thông tin cho du khách. Với tầm quan trọng như vậy, việc hướng dẫn cho khách du lịch khiếm thính bằng ngôn ngữ của họ (ngôn ngữ ký hiệu) là một việc hoàn toàn cần thiết và đúng đắn, mang tính xã hội cao đặc biệt là trong bối cảnh hoạt động du lịch ngày càng đóng vai trò quan trọng như hiện nay.

Ngôn ngữ ký hiệu (còn gọi là ngôn ngữ dấu hiệu, thủ ngữ) của người khiếm thính cũng như những ngôn ngữ nói khác, nó không thống nhất giữa các dân tộc vùng miền. Trên lãnh thổ Việt Nam, có ít nhất 7 loại ngôn ngữ ký hiệu mà người khiếm thính (ở các địa phương khác nhau) sử dụng được các chuyên gia nghiên cứu ghi nhận một cách chính thức trong “Từ điển ký hiệu giao tiếp của người khiếm thính” (Dự án của Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh). Trong đó tiêu biểu là ngôn ngữ ký hiệu của 3 vùng: Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh. Cùng một khái niệm, cùng một từ nhưng ở mỗi địa phương, người khiếm thính lại diễn đạt một cách khác nhau.

Trong số các ngôn ngữ ký hiệu trên thế giới, ngôn ngữ ký hiệu Hoa Kỳ (American Sign Language-ASL) được ghi nhận như một ngôn ngữ có hệ thống ký hiệu hoàn chỉnh, thống nhất, chặt chẽ được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng người khiếm thính Hoa Kỳ. Các tài liệu hướng dẫn học tập ngôn ngữ này cũng có thể dễ dàng tiếp cận thông qua các phương tiện từ đĩa VCD, DVD tới internet với hơn 11.000 ký hiệu. [20] Luận văn: Hướng dẫn khách du lịch khiếm thính bằng ký hiệu.

Năm 2006, tại Hải Phòng, khóa học ASL đầu tiên kéo dài 2 tháng đã được triển khai với sự giảng dạy của Tiến sỹ Scott Benson (giảng viên đại học San Jose, Hoa Kỳ và là một người điếc bẩm sinh) và hỗ trợ của Công ty Cổ phần Du lịch dịch vụ Hải Phòng. Chương trình này hướng tới đối tượng thanh niên khiếm thính và ý tưởng của Tiến sỹ Scott Benson là giúp cho các thanh niên này trở thành hướng dẫn viên du lịch đón tiếp khách du lịch khiếm thính sử dụng ASL. Công ty Cổ phần Du lịch dịch vụ Hải Phòng đã triển khai sau đó một số chương trình dành cho nhóm nhỏ những khách du lịch khiếm thính đến từ Hoa Kỳ.

Năm 2008, Công ty Dịch vụ du lịch Nụ cười (Thành phố Hồ Chí Minh) triển khai hoạt động đào tạo cho một nhóm những thanh niên khiếm thính để phục vụ khách du lịch khiếm thính trong những chương trình du lịch của công ty.

Những việc làm này mở ra một cách làm mới của hoạt động du lịch trong nước. Bên cạnh đó nó còn có ý nghĩa xã hội sâu sắc đó là giúp người khiếm thính nói riêng, người tàn tật nói chung có cơ hội hòa nhập cộng đồng và thể hiện vai trò bình đẳng của mình trong xã hội, góp phần tạo ra những giá trị cho cuộc sống tốt đẹp hơn.

Tuy nhiên, việc sử dụng ngôn ngữ ký hiệu (đặc biệt là ASL) trong hướng dẫn du lịch – vốn là một hoạt động đa dạng, phức tạp với nhiều công việc khác nhau, là một điều không đơn giản. Việc hướng dẫn cho khách du lịch khiếm thính bằng ASL kết hợp với những nguyên tắc phục vụ khách du lịch là người tàn tật là một thách thức đặc biệt khi người phục vụ còn thiếu thông tin và kỹ năng giao tiếp với người khuyết tật.

Từ những lý do và điều kiện thực tiễn đó, tác giả chọn đề tài “Hướng dẫn cho khách du lịch khiếm thính bằng ngôn ngữ ký hiệu Hoa Kỳ” làm đề tài tốt nghiệp của mình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Nhận Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2. Tổng quan tài liệu Luận văn: Hướng dẫn khách du lịch khiếm thính bằng ký hiệu.

Người tàn tật là một bộ phận cơ hữu của xã hội, họ tham gia vào hầu hết những hoạt động sinh hoạt xã hội. Vì thế những nghiên cứu về người tàn tật đã được thực hiện từ rất lâu. Tuy vậy, những nghiên cứu về hoạt động du lịch cho người tàn tật nói chung và người khiếm thính nói riêng xuất hiện muộn hơn. Cần phải hiểu rằng hoạt động du lịch không phải là một hoạt động độc lập, nó liên quan đến nhiều ngành khác, nó sử dụng dịch vụ, sản phẩm của nhiều ngành khác nhau. Từ quan điểm đó, những nghiên cứu này ban đầu chủ yếu tập trung vào vấn đề thiết kế các khu vực công cộng mang lại thuận lợi cho người tàn tật. Năm 1975, Hội đồng Phục hồi tàn tật Úc đã thiết kế ấn phẩm “Thiết kế phục vụ tiếp cận và di chuyển”.[13, 11] Ấn phẩm này được Phòng Du lịch và Giải trí của Canberra (Úc) xuất bản và giới thiệu. Ấn phẩm này mở ra một tầm nhìn định hướng đối với những nhà thiết kế phục vụ cộng đồng trong đó có người tàn tật. Đó đồng thời là dấu hiệu cho sự ra đời của nhiều công trình nghiên cứu và ứng dụng khác trong thiết kế công trình phục vụ việc sinh hoạt, đi lại của người tàn tật.

Tiếp theo đó, người ta cũng sớm nhận ra hoạt động đi lại của người tàn tật cũng cần được quan tâm như những cơ sở lưu trú. Năm 1977, tại Hoa Kỳ, Hội Phục hồi tàn tật quốc tế đã có báo cáo 30 trang “Những chương trình lữ hành quốc tế cho người tàn tật”.[13, 21] Đây là một trong những công trình đầu tiên đề cập tới hoạt động du lịch dành cho người tàn tật. Với báo cáo này, người tàn tật đã được chính thức đề cập với vai trò là khách du lịch – người tham gia các chương trình du lịch, sử dụng dịch vụ của các hãng lữ hành.

Quan tâm tới người tàn tật dưới góc độ là khách du lịch – “tourist” (chứ không đơn thuần là người đi lại – “traveller”), năm 1979, Funk tại Washington D.C, Hoa Kỳ đã cho ra đời ấn phẩm “Những nguyên tắc của Đại lý Lữ hành trong việc lập lịch trình cho những người tàn tật”. [13, 3] Những ấn phẩm này thực sự mang lại lợi ích cho không chỉ du khách là người tàn tật mà cho cả các hãng lữ hành. Điều này cũng chứng tỏ nhận thức sâu sắc của xã hội và những người làm kinh doanh lữ hành về vai trò của những khách du lịch tàn tật.

Sau này nhiều quốc gia, tổ chức đã xuất bản những ấn phẩm hướng dẫn cho người tàn tật trong hoạt động du lịch cùng với việc thuật ngữ “Du lịch tiếp cận được” được hình thành và sử dụng rộng rãi. Bên cạnh đó là những hướng dẫn cho những nhà cung ứng dịch vụ du lịch cho người tàn tật. Tiêu biểu gần đây là ấn phẩm “Cải thiện thông tin về du lịch tiếp cận được cho người tàn tật” do Cộng đồng châu Âu xuất bản năm 2002.[20] Luận văn: Hướng dẫn khách du lịch khiếm thính bằng ký hiệu.

Năm 1981 được Liên Hợp Quốc phát động là “Năm quốc tế về người tàn tật”. Từ đây nhiều nghiên cứu về hoạt động du lịch cho người tàn tật đã được triển khai. Một trong số đó là “Người tàn tật tham gia đầy đủ vào hoạt động du lịch” của Davis (1981) tại Sydney, Úc.[13, 7] Đây là báo cáo có tính mở đầu với quan điểm người tàn tật có thể tham gia vào mọi lĩnh vực trong hoạt động du lịch với vai trò không chỉ là người sử dụng dịch vụ mà còn là người cung ứng các dịch vụ.

Với quan niệm du lịch không chỉ là một hoạt động xã hội mà là một hoạt động kinh tế, các nhà nghiên cứu thị trường du lịch đã có những phân tích thị trường đối với phân khúc người tàn tật. Từ năm 1988, Phòng Dịch vụ phúc lợi xã hội (Department of Welfare Services) của Queensland, Úc đã có “Báo cáo về các dịch vụ và tiện nghi dành cho người tàn tật được cung cấp tại Hội chợ thế giới năm 88”. Năm 1993, Touche Ross đã công bố tại London, Anh ấn phẩm “Thu lợi từ những cơ hội – Một thị trường mới trong du lịch”. Có thể nói sự phát triển của thị trường khách du lịch tàn tật thu hút được sự quan tâm của những nhà nghiên cứu. Năm 2006, tổ chức OSSATE (One-stopshop for Accessible tourism in Europe) đã công bố nghiên cứu 88 trang về thị trường khách du lịch tàn tật châu Âu. Nghiên cứu này đánh giá chỉ riêng châu Âu số người có nhu cầu du lịch tiếp cận đượccó thể lên tới 127 triệu người (bằng 27% dân số châu Âu). Thu nhập từ đối tượng này (nếu đi du lịch cùng gia đình bè bạn…) có thể lên tới 80 tỉ Euro.[11, 7]

Từ quan điểm này, các nhà nghiên cứu, kinh doanh đã xây dựng sản phẩm du lịch tiếp cận được. Năm 2005 Dự án Eu.for.me ở châu Âu đã nghiên cứu và tổng kết thành công trình “Quảng bá và tiếp thị sản phẩm du lịch tiếp cận được”[14]

Tổ chức Keroul, Canada cũng thường xuyên có những nghiên cứu và báo cáo về sự phát triển của thị thường khách du lịch là người tàn tật. Năm 2003, tại Hội nghị APEC, tổ chức này đã có “Báo cáo về những điển hình thành công nhất thực hiện du lịch tiếp cận được cho người khuyết tật cơ thể”. Báo cáo đã nhắc tới Úc, Canada, Đài Loan, Hồng Kông, Nhật, Hoa Kỳ, Thái Lan…như những điển hình thành công.[10, 3] Luận văn: Hướng dẫn khách du lịch khiếm thính bằng ký hiệu.

Những nghiên cứu sâu sắc, liên tục về hoạt động du lịch cho người tàn tật được thực hiện bởi một số nhà nghiên cứu như Ross (Học viện bách khoa Virginia, Hoa Kỳ) Simon Darcy (Trường thể thao & Du lịch, Đại học Kỹ thuật Sydney, Úc), Pheroza Daruwalla (Đại học Western Sydney), Foggin (Đại học Montreal)….

Ross đã nghiên cứu thái độ hướng về người tàn tật trong các tổ chức tiếp thị điểm đến (Destination Marketing Organizations). Tác giả này đã đi sâu nghiên cứu cả những vấn đề đạo đức, niềm tin…liên quan tới sự đối xử của những nhân viên là người tàn tật trong các tình huống tại các cơ sở lưu trú, cơ sở du lịch. Cùng góc nhìn với Ross, Pheroza Daruwalla nghiên cứu những quan điểm, thái độ đối với người tàn tật thể hiện trong ngành công nghiệp khách sạn và du lịch.[13, 4]

Simon Darcy đã có hơn 40 công trình liên quan tới nghiên cứu mối quan hệ xã hội của du lịch với người tàn tật tại Úc. Trong những nghiên cứu của mình, Darcy chỉ ra tương tác giữa hoạt động du lịch với khách du lịch là người tàn tật và những vấn đề xã hội trong hoạt động du lịch của người tàn tật. [13, 14]

Foggin và Darcy cùng chia sẻ quan điểm trong nghiên cứu về “du lịch không rào cản dành cho người tàn tật”. Foggin cũng nghiên cứu những trải nghiệm của khách du lịch tàn tật trong khi đi du lịch, thư giãn, nghỉ ngơi. Từ đó tác giả đưa ra những giải pháp hỗ trợ mang lại thuận lợi hơn cho người tàn tật thông qua những thay đổi từ phía nhà cung ứng.[13, 4, 16]

Mặc dù được nghiên cứu với nhiều góc độ và trên diện rộng song những vấn đề mà những nhà nghiên cứu quan tâm tập trung nhiều ở đối tượng người tàn tật nói chung. Có rất ít những nghiên cứu du lịch riêng cho người khiếm thính mặc dù hoạt động thực tiễn của họ rất phong phú. Có thể nhắc tới tài liệu “Người điếc tiếp cận hội thảo” của Hội đồng Chống phân biệt đối xử New South Wale năm 2001 hoặc tài liệu “Cải thiện thông tin về du lịch tiếp cận được cho người tàn tật”[17] do Cộng đồng châu Âu xuất bản năm 2004 như những ví dụ tiêu biểu.[20, 15]

3. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Hướng dẫn khách du lịch khiếm thính bằng ký hiệu.

Mục đích nghiên cứu của luận văn là đưa ra được những giải pháp nhằm đảm bảo chất lượng hoạt động hướng dẫn du lịch bằng ngôn ngữ ký hiệu Hoa Kỳ cho khách du lịch khiếm thính.

4. Đối tượng & phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động hướng dẫn du lịch bằng ngôn ngữ ký hiệu Hoa Kỳ cho khách du lịch khiếm thính. Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động hướng dẫn du lịch, các công việc cụ thể của hoạt động này có sử dụng ngôn ngữ ký hiệu Hoa Kỳ trong khi phục vụ khách du lịch khiếm thính

4.2 Phạm vi nghiên cứu công tác đón tiếp, phục vụ, hướng dẫn tham quan trong chương trình du lịch tại một số doanh nghiệp du lịch Hải Phòng, Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh.

5. Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp thu thập và xử lý thông tin 

Thông qua phương pháp này, một khối lượng lớn các tư liệu lý thuyết đã được tập hợp như những nội dung nghiên cứu liên quan đến du lịch cho người khuyết tật, người khiếm thính, những lý luận của hoạt động hướng dẫn du lịch; những nghiên cứu về ngôn ngữ ký hiệu Hoa Kỳ.

Bên cạnh đó, luận văn cũng đã thu thập được các kinh nghiệm thực tiễn từ hoạt động hướng dẫn du lịch cho người khiếm thính của các doanh nghiệp.

5.2 Phương pháp khảo sát thực địa

Phương pháp này được thực hiện bằng việc tham gia của tác giả vào một số chương trình du lịch cho người khiếm thính, lớp học ngôn ngữ ký hiệu và sinh hoạt của người khiếm thính tại một số địa điểm như Trường Tư thục Kinh tế & Du lịch Hoa Sữa, Trường đào tạo Nghề cho trẻ câm & điếc Hải Phòng, Công ty Du lịch Thiện Nguyện…

5.3 Phương pháp phỏng vấn chuyên gia Luận văn: Hướng dẫn khách du lịch khiếm thính bằng ký hiệu.

Để có thông tin đầy đủ về hoạt động du lịch tương đối mới mẻ này, tác giả đã thực hiện phỏng vấn các chuyên gia đào tạo ngôn ngữ ký hiệu tại Trường đào tạo Nghề cho trẻ câm & điếc Hải Phòng, Trường Câm Điếc Xã Đàn, tổ chức Quan Tâm Thế Giới, Hà Nội; chuyên gia tổ chức chương trình du lịch của Công ty Du lịch Thiện Nguyện, Công ty Du lịch Nụ cười, thành phố Hồ Chí Minh…

5.4 Phương pháp diễn giải:

Do đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động hướng dẫn du lịch bằng ngôn ngữ ký hiệu Hoa Kỳ nên để có thể hiểu rõ đối tượng cần có sự diễn giải bằng những hình ảnh minh họa cụ thể. Việc diễn giải bằng hình ảnh này được thực hiện thông qua đoạn phim thuyết minh về Văn Miếu Quốc Tử Giám, Hà Nội. Đoạn phim được thực hiện ghi hình tại Văn Miếu Quốc Tử Giám và làm hậu kỳ trong 7 ngày với người thuyết minh là cô Vũ Thùy Linh – người khiếm thính thuộc Câu lạc bộ Người Điếc Hà Nội. Kịch bản được xây dựng với sự hỗ trợ của bà Lê Thị Kim Cúc (Tổ chức Quan Tâm Thế Giới), ông Đỗ Minh Tiến (Trường Câm Điếc Xã Đàn).

6. Bố cục luận văn

 Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo luận văn được bố cục gồm 3 chương.

  • Chương 1: Khách du lịch khiếm thính và ngôn ngữ ký hiệu Hoa Kỳ
  • Chương 2: Tổ chức hướng dẫn
  • Chương 3: Một số giải pháp đảm bảo chất lượng hoạt động hướng dẫn

CHƯƠNG 1 KHÁCH DU LỊCH KHIẾM THÍNH VÀ NGÔN NGỮ KÝ HIỆU HOA HỲ

1.1 Khách du lịch khiếm thính

1.1.1 Người khiếm thính

1.1.1.1 Khái niệm Luận văn: Hướng dẫn khách du lịch khiếm thính bằng ký hiệu.

Trước khi nói tới người khiếm thính, ta cần xem xét khiếm thính là gì? Khiếm thính hay khiếm khuyết/khuyết tật thính giác là những thuật ngữ để miêu tả việc mất thính giác hoàn toàn, không nghe được chút nào cả hoặc giảm sút nhiều về thính giác, nghe không rõ. Trong ngôn ngữ phổ thông hiện tượng này được gọi là “điếc”.

Trong ngành y, khiếm thính hay điếc có nghĩa là suy giảm hoặc mất toàn bộ hay một phần sức nghe. Sức nghe được đo bằng những bài kiểm tra sức nghe dựa trên mức độ phát của âm thanh từ nhỏ hơn 20dB tới hơn 90dB.[8, 14]

Nghe bình thường: nghe được âm thanh nhỏ hơn 20dB (có thể nghe được cả lời nói thầm)

  • Điếc mức 1 (nhẹ): nghe được âm thanh từ 21dB đến 40dB (chỉ nghe được lời nói bình thường khi đứng cách không quá 1 mét)
  • Điếc mức 2 (trung bình): nghe được âm thanh từ 41dB đến 70dB (chỉ có thể nghe lời nói lớn khi đứng cách không quá 1mét)
  • Điếc mức 3 (nặng): nghe được âm thanh từ 71dB đến 90dB (chỉ có thể nghe khi được hét sát vào tai.)
  • Điếc mức 4 (sâu): nghe được âm thanh từ 71dB đến 90dB (không nghe được cả những từ hét sát tai)

Vậy có thể nói, người khiếm thính là người mắc tật không nghe được hoặc nghe không rõ.

Sử dụng thuật ngữ “khiếm thính” thay vì “điếc”, tác giả muốn thể hiện rõ nội dung của tật này và đó cũng là một cách diễn đạt mang tính xã hội cao.

Những người mắc tật khiếm thính thường do 2 nguyên nhân: bẩm sinh và mắc phải (môi trường lao động, thói quen, tai nạn, chăm sóc y tế…)

1.1.1.2 Đặc điểm

  • Số lượng Luận văn: Hướng dẫn khách du lịch khiếm thính bằng ký hiệu.

Trung bình, cứ 1000 trẻ sinh ra thì có 2 trẻ bị điếc bẩm sinh từ mức nhẹ đến mức sâu, trong số 1000 trẻ đó lại có thêm 2 trẻ bị điếc mắc phải (điếc sau khi sinh). Đây là tỉ lệ trung bình, còn tỉ lệ trẻ bị điếc có thể cao hay thấp hơn tuỳ thuộc ở mỗi xã hội khác nhau. Đối với một số trẻ bị giảm sức nghe, âm thanh mà trẻ nghe được chỉ nhỏ hơn so với bình thường. Đối với một số trẻ bị giảm sức nghe khác, âm thanh mà trẻ nghe được có thể vừa bị nhỏ hơn, vừa bị méo mó. Chỉ có một số ít trẻ bị điếc sâu mà không còn nghe được chút nào cả (con số này nhỏ hơn 5% tổng số người khiếm thính).

Theo số liệu thống kê của WHO năm 2000, trên thế giới có khoảng 250 triệu người điếc, chiếm 4,2 % dân số. WHO cũng ước tính số người điếc trên 14 tuổi của vùng Đông Nam Châu Á là 63 triệu người.

Việt Nam hiện có 13 triệu người tàn tật (15,3% dân số – số liệu mới nhất của Tổng cục Thống kê), 13% là người khiếm thính và 4/5 trong số người tàn tật ở độ tuổi lao động. [30]

Do điều kiện kinh tế xã hội, ở nước ta người tàn tật nói chung, người khiếm thính nói riêng có trình độ học vấn chưa cao. Điều này dẫn tới hệ quả là người khiếm thính gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt đời sống hàng ngày và tìm công ăn việc làm.

Những định kiến về người tàn tật còn tồn tại phổ biến trong xã hội khiến môi trường tiếp xúc, sinh hoạt của người khiếm thính cũng bị thu hẹp.

Điều kiện công nghệ, kỹ thuật, phương pháp giáo dục cho người khiếm thính còn nhiều hạn chế nên phần lớn người khiếm thính không nói được (không kể những người bị câm-điếc). Trong khi đó ở một số quốc gia như Hoa Kỳ, Anh, Nhật…do trẻ em điếc được giáo dục từ sớm nên vẫn có thể nói được.

  • Đặc điểm sinh hoạt

Do đặc điểm sinh lý và rào cản tâm lý của những người xung quanh khiến những người tàn tật gặp khó khăn trong giao tiếp. Điều này lâu dần khiến người tàn tật cảm thấy mình bị xa lánh và không tự tin trong tiếp xúc, sinh hoạt với cộng đồng.

Tuy nhiên so với những cộng đồng người tàn tật khác, người khiếm thính có nhiều thuận lợi hơn. Do đặc điểm khuyết tật của mình, họ vẫn có thể tự làm nhiều việc phục vụ cá nhân và tham gia các hoạt động của cộng đồng. Điều này khiến cộng đồng người khiếm thính khá phát triển và có nhiều sinh hoạt tập thể mạnh mẽ. Hiện nay ở Việt Nam sinh hoạt của cộng đồng người khiếm thính rất mạnh mẽ và thường xuyên với sự tham gia của các thành viên đến từ Câu lạc bộ người Điếc Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Ninh Bình, Thái Bình, Thái Nguyên, Đà Nẵng, Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh…Trên thế giới đã có “Liên đoàn người Điếc” (World Federation of the Deaf) với thành viên là các Hiệp hội người Điếc của hàng chục quốc gia.

Hoạt động của người khiếm thính cũng rất đa dạng như thể thao, du lịch.

Olimpic người khiếm thính diễn ra 4 năm 1 lần và đã tổ chức được 20 kỳ, kỳ 21 sẽ được tổ chức tại Đài Loan vào hè năm 2009. Giải golf cho người khiếm thính của Hiệp hội golf Hoa Kỳ. Các cuộc thi Hoa hậu người khiếm thính cũng được tổ chức thường xuyên tại một số quốc gia. Việc trao đổi thông tin giữa cộng đồng người khiếm thính thông qua các diễn đàn trực tuyến trên internet cũng rất rộng rãi. Họ sử dụng internet như một công cụ hữu ích để gặp gỡ, giao lưu, phát triển. Một số diễn đàn nổi tiếng là: Luận văn: Hướng dẫn khách du lịch khiếm thính bằng ký hiệu.

  • http://fookembug.wordpress.
  • http://www.deafzone.
  • http://www.deafforum.co.
  • http://www.alldeaf.
  • http://drdvietnam.

Tại các diễn đàn này ta có thể thấy người khiếm thính trao đổi với nhau về mọi mặt của cuộc sống từ công việc, sức khỏe, sở thích tới kinh nghiệm cuộc sống, tình yêu, tình bạn, giáo dục giới tính. Qua đó có thể thấy người khiếm thính thể hiện tính cộng đồng rất cao. Họ thường xuyên có những sinh hoạt tập thể, cộng đồng như giao lưu, học tập, du lịch, dã ngoại.

Từ những nội dung trao đổi trong đời sống sinh hoạt thường nhật của người khiếm thính cũng có thể nhận thấy người khiếm thính đang vượt qua những trở ngại tâm lý  của bản thân và xã hội, họ đã dần dần tự tin và biết tự hào về bản thân mình. Ý thức về bản thân được nâng cao giúp họ hiểu rõ giá trị của mình và của những người cùng hoàn cảnh, vì vậy tính cộng đồng càng mạnh mẽ hơn. Ngoài ra họ cũng nhận thức được ý nghĩa quan trọng của những hoạt động xã hội đối với đời sống của cộng đồng mình.

  • Hình 1.1 Giao diện trang Danh bạ Web về người khiếm thính toàn cầu
  • Hình 1.2: Giao diện trang Diễn đàn “alldeaf.com”, mục Du lịch
  • Hình 1.3 Giao diện trang Web DRD Vietnam.com “Chương trình hội thảo: Cộng đồng người điếc phấn đấu vươn lên”

Đặc điểm giao tiếp

Theo TS Nguyễn Thị Hoàng Yến [8], những người bình thường giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ nói là chủ yếu. Ngoài ra còn có sự tham gia của cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt, nét mặt…tạo nên hiệu quả của việc giao tiếp. Khi giao tiếp luôn có sự luân phiên giữa các nhân vật tham gia giao tiếp. Ở vai trò người nói, bộ phận đầu tiên quan trọng nhất để tiến hành giao tiếp là bộ não. Bộ não người giúp cho người nói sắp xếp các ý tưởng (nói gì? các gì nên nói trước? cái gì nên nói sau, cái gì không nên nói, duy trì cuộc giao tiếp như thế nào?), lựa chọn từ ngữ, cách diễn đạt sao cho phù hợp với người nói, hoàn cảnh giao tiếp, vai vế giao tiếp (giao tiếp thân mật bạn bè, giao tiếp công việc, giao tiếp ngoại giao, giao tiếp với người hơn tuổi… ).

Khi nói, người nói bộ não còn có chức năng giải mã các thông tin, tín hiệu phản hồi từ phía người nghe. Ví dụ họ đồng tình hay phản đối, họ có chú ý nghe hay không, đề tài có thu hút được sự chú ý của người nghe hay không, từ đó có những điều chỉnh kịp thời trong việc sắp xếp các ý tưởng, lựa chọn từ ngữ và cách diễn đạt. Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ nói thì cơ quan không thể thiếu được là cơ quan phát âm bao gồm miệng, thanh quản… Tuy nhiên miệng đóng vai trò quan trọng bậc nhất. Miệng phát ra những lời nói, những âm thanh… Việc phát âm chuẩn sẽ tạo điều kiện cho việc tiếp nhận thông tin ở phía người nghe dễ dàng và thuận lợi hơn (phát âm rõ ràng, đúng trọng âm, ngữ điệu phù hợp, không nói ngọng, không nuốt âm…).

Giọng nói có thể thu hút sự chú ý đặc biệt từ phía người nghe (ví dụ: giọng nói ấm, truyền cảm…). Những giọng nói the thé, oang oang sẽ làm người nghe tiếp nhận thông tin rất khó chịu. Khiếu kể chuyện hay khiếu nói cũng là một yếu tố thu hút được sự chú ý của người nghe. Có những câu chuyện người nghe đã nghe quá nhiều lần rồi nhưng với những người có cách kể hấp dẫn họ (người nghe) vẫn có thể lắng nghe một cách rất chăm chú. Ngoài ra, việc kết hợp tay, nét mặt, cơ thể cũng tạo nên hiệu quả to lớn trong giao tiếp (ví dụ: nhún vai, vung tay, nét mặt rạng rỡ, ánh mắt vui tươi, trìu mến, căm hờn, hằn học…). Những tín hiệu phi ngôn ngữ này sẽ làm cho người tiếp nhận có thể dễ dàng nắm bắt thông tin từ phía người nói bằng việc việc vừa kết hợp lắng nghe vừa kết hợp quan sát (ví dụ: khi kể về niềm vui thì nét mặt không thể ủ rũ, khi nói chuyện nghiêm trang không thể vừa nói vừa cười…). Luận văn: Hướng dẫn khách du lịch khiếm thính bằng ký hiệu.

Ở vai trò người nghe – người tiếp nhận thông tin, lúc này bộ não không đóng vai trò sắp xếp ý tưởng, lựa chọn từ ngữ nữa mà lại chủ yếu tập trung vào việc giải mã các thông tin, phân tích ý nghĩa những điều mà tai vừa nghe, mắt vừa quan sát thấy. Điều này giúp cho người nghe hiểu được các thông tin tiếp nhận được thông qua các giác quan. Việc nắm bắt được những thông tin này làm cho cuộc giao tiếp được tiếp tục vì rằng “người nói phải có kẻ nghe”. Đây chính là “cách lắng nghe” trong giao tiếp: đồng tình hay phản đối, lưỡng lự hay thờ ơ… Nó cho phép người nói có thể quan sát, nhận thấy và điều chỉnh, người nói có nên tiếp tục nội dung đang được trình bày hay không. Với vai trò này, cơ quan thính giác và thị giác đóng vai trò quan trọng. Lắng nghe các thông tin, quan sát các cử chỉ sẽ giúp cho người nghe hiểu được các nội dung vừa được trình bày. Người nghe cũng phải biết lắng nghe thông tin, điều đó cho phép duy trì giao tiếp. Trong khi lắng nghe cũng cần có sự tham gia của ánh mắt, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ…(ví dụ: khi đang lắng nghe, người nghe làm động tác trở mình cộng với nét mặt tỏ vẻ không hài lòng có nghĩa là họ không muốn nghe nội dung đang được trình bày hoặc là họ đã biết, hoặc là nghe nhưng chẳng hiểu…).

Đôi khi hiểu sai ý nghĩa các thông tin sẽ dẫn đến những điều đáng buồn hoặc sự không hiểu lẫn nhau giữa các bên tham gia giao tiếp (ví dụ: người nói sử dụng cách nói lóng, nói bóng nói gió, xếch mé, dùng tiếng địa phương, chơi chữ…). Hiệu quả của giao tiếp bằng ngôn ngữ nói như thế nào hoàn toàn phụ thuộc vào khả năng tham gia của các cơ quan trong cơ thể vào việc giao tiếp. Ở đây, để tạo nên hiệu quả của giao tiếp cần có sự phối, kết hợp của tất cả các giác quan được đặt dưới sự chỉ huy của bộ não. Nói là hình thức phổ biến nhất trong các hình thức đang tồn tại trong xã hội. Ngoài ra, ngôn ngữ ký hiệu, cử chỉ điệu bộ, những chất liệu ngôn ngữ phi lời nói được sử dụng khá phổ biến.

Ở vai trò người nói (người phát tin), người điếc có thể có khả năng sử dụng ngôn ngữ nói để giao tiếp. Tuy nhiên, việc phát âm của người điếc còn phụ thuộc vào yếu tố khác như độ mất thính lực của người điếc, thời điểm mắc phải tật điếc có mắc một hội chứng nào khác. Nếu điếc nhẹ, ngôn ngữ của người điếc vẫn có thể phát triển bình thường nhưng chậm hơn so với người nghe. Nếu bị điếc sau khi ngôn ngữ đã phát triển khá đầy đủ thì họ vẫn có thể sử dụng vốn ngôn ngữ đã có (nhất là khả năng phát âm) để giao tiếp. Nếu điếc bẩm sinh và ở mức độ nặng thì rất khó cho người điếc có thể sử dụng được ngôn ngữ nói không thể phát âm thành lời nói được. Trong trường hợp này người điếc có khuynh hướng sử dụng ngôn ngữ ký hiệu, cử chỉ điệu bộ hơn là sử dụng ngôn ngữ nói. Vì vậy, vai trò của các giác quan sử dụng trong giao tiếp của người khiếm thính nói chung, người khiếm thính nói riêng có sự thay đổi nhất định so với trong giao tiếp của người nghe được bình thường.

Hình 1.4 Một số phương tiện gia o tiếp thường xuất hiện trong quá trình giao tiếp của người khiếm thính.

Trong quá trình giao tiếp người khiếm thính thường sử dụng các phương tiện chủ yếu sau:

  • Tiếng nói
  • Chữ viết
  • Chữ cái ngón tay
  • Ký hiệu
  • Tiếng nói:

Thông qua việc đọc hình miệng: là cách tiếp thu (hiểu) tiếng nói thông qua những chuyển động của cơ quan phát âm (chủ yếu là môi và miệng). Luận văn: Hướng dẫn khách du lịch khiếm thính bằng ký hiệu.

Tác dụng của việc đọc hình miệng: Đối với người khiếm thính, đọc hình miệng là một trong cách tiếp thu tiếng nói quan trọng nhất. Người khiếm thính không chỉ nghe tiếng nói mà chủ yếu còn “nhìn” tiếng nói.

Ở nhiều người, “nhìn” tiếng nói là cách tiếp thu quan trọng hơn nghe. Nếu không nhìn miệng người nói người khiếm thính khó có thể hiểu được người đối thoại nói gì.

Nếu được rèn kỹ năng đọc hình miệng thì khả năng tiếp thu thông tin sẽ tốt hơn. Nhiều trẻ sau 4, 5 năm học tập có thể tiếp thu tiếng nói bằng đọc hình miệng đạt 60 – 70% lượng thông tin.

  • Yêu cầu khi đọc hình miệng:

Đọc hình miệng không phải đọc hình môi của từng âm một mà là đọc hình miệng của một cụm từ, một câu. Khi nói cụm từ, câu, hình môi sẽ chuyển động theo một mẫu nhất định, những hình ảnh âm thanh (của từ, của câu) sẽ được người tiếp thu ghi nhớ và sẽ được tái hiện khi lặp lại ở lần sau.

Khả năng đọc hình miệng ở người khiếm thính phụ thuộc rất nhiều vào năng lực suy đoán. Trong một câu nói, có thể người khiếm thính chỉ đọc được một phần, phần còn lại người khiếm thính đoán ý dựa vào kinh nghiệm của bản thân, ngữ cảnh và tình huống lúc đối thoại cùng những yếu tố khác nữa.

Khi sử dụng hình thức này, người khiếm thính mong muốn sẽ tận dụng và phát huy hết khả năng nghe còn lại của mình để có thể nói và giao tiếp với những người xung quanh. Hiện nay, hình thức đọc hình miệng được sử dụng nhiều trong quá trình giao tiếp và giáo dục người khiếm thính.

  • Chữ viết Luận văn: Hướng dẫn khách du lịch khiếm thính bằng ký hiệu.

Một cách giao tiếp thông thường nhất giữa hai người khiếm thính hoặc giữa một người khiếm thính và một người nghe bình thường là sử dụng chữ viết của ngôn ngữ lời nói

Tác dụng: Chữ viết giúp những người giao tiếp hiểu được chính xác những ý tưởng của nhau mà không sợ bị nhầm lẫn. Đôi khi người khiếm thính có khả năng ghi nhớ chữ viết rất tốt bởi vì chữ viết là một hình thức trực quan của ngôn ngữ âm thanh. Bằng hình thức này, cả hai bên giao tiếp, người nghe và người khiếm thính dễ dàng hiểu và giao tiếp với nhau. Nhưng có một điều bất lợi là hình thức giao tiếp này mất thời gian và tốn giấy mực, đồng thời nó phụ thuộc vào vốn hiểu biết về ngôn ngữ nói của người khiếm thính.

  • Yêu cầu khi sử dụng chữ viết:

Hình thức này chỉ được sử dụng khi cả hai bên giao tiếp đều có những kiến thức và hiểu biết cơ bản về mã ngôn ngữ nói của nhau, ví dụ: người khiếm thính Việt Nam muốn sử dụng chữ viết để giao tiếp với người nghe bình thường Việt Nam thì cả hai đều phải biết tiếng Việt.

Người khiếm thính phải sử dụng chính xác từ ngữ và tuân theo cấu trúc ngữ pháp của ngôn ngữ nói.

Giao tiếp bằng phương tiện này đòi hỏi phải có đủ thời gian và giấy mực để diễn đạt các ý tưởng.

  • Chữ cái ngón tay (đánh vần bằng tay)

Chữ cái ngón tay là: hệ thống chữ cái được biểu thị bằng ngón tay. Mỗi chữ cái được biểu thị bằng một biểu tượng nhất định của các ngón tay. Trong giao tiếp, người khiếm thính có thể sử dụng chữ cái ngón tay để tạo thành từ, tạo thành câu, thông qua đó diễn đạt ý kiến. Mỗi quốc gia có một hệ thống chữ cái riêng.

  • Yêu cầu khi sử dụng chữ cái ngón tay

Để có thể sử dụng hình thức này trong giao tiếp, cả hai bên cần phải biết hệ thống chữ cái ngón tay, sau đó học cách ghép các chữ cái đó cho đúng trình tự để tạo thành từ. Để diễn đạt một cụm từ, một câu, cần đánh vần bằng tay lần lượt các từ trong đó. Vì vậy, với những câu trong giao tiếp quá dài hoặc chứa nhiều ý, sẽ mất thời gian và công sức để đánh dấu tay và khi vừa nói vừa đánh vần bằng tay đôi khi có thể có những sai sót.

Trong thực tế, ít người khiếm thính chỉ dùng hình thức đánh vần bằng tay để giao tiếp, trò chuyện, trao đổi.

Khi đánh vần bằng tay cần lưu ý: Luận văn: Hướng dẫn khách du lịch khiếm thính bằng ký hiệu.

  • Tay được để ở vị trí thoải mái nhất, thường là khoảng không gian trước mặt bên dưới vai.
  • Cánh tay và cằng tay nên gập tạo thành góc 45 độ
  • Không chuyển động cánh tay và cẳng tay khi đánh chữ cái ngón tay, chỉ có các bộ phận từ cổ tay trở đi là chuyển động
  • Mỗi hình dạng bàn tay phải làm rõ ràng
  • Khi đánh từ có nhiều chữ cái, giữa các chữ cái nên có dừng lại một chút.
  • Ký hiệu

Ký hiệu: ở đây chính là những sự biểu đạt hình ảnh, chủ yếu là của bằng bàn tay các khái niệm, các ý tưởng. Nó là cách truyền tải nội dung giao tiếp bằng phương tiện hình ảnh, được thực hiện bằng tay và có kết hợp với sự diễn tả trên khuôn mặt, cử chỉ điệu bộ… Cùng một hệ thống ký hiệu nhưng mỗi người khiếm thính có những cách sử dụng khác nhau.

  • Sử dụng các ký hiệu để chuyển tải nội dung giao tiếp:

Không giống như ngôn ngữ nói, ngôn ngữ ký hiệu không chuyển tải thông qua phương tiện truyền âm mà thông qua phương tiện hình ảnh, nó được “phát âm” thông qua cử chỉ được thực hiện bằng tay. Hệ thống “từ vựng” của ngôn ngữ ký hiệu là các ký hiệu. Hệ thống các ký hiệu bằng tay được bổ sung thêm và được bổ nghĩa bởi cách thể hiện trên nét mặt và cử động của cơ thể theo cấu trúc riêng của ngôn ngữ ký hiệu.

Ví dụ: Để diễn đạt một câu: “Tôi thích ăn táo”, người khiếm thính sẽ nói theo trật tự từ vựng sau: Tôi-ăn táo-thích. Khi đó, trật tự từ vựng bị thay đổi, đồng thời ký hiệu “ăn táo” bị cách điệu cho phù hợp với hình dạng và chuyển động của bàn tay làm ký hiệu.

Hiện nay trong quá trình giao tiếp với người khiếm thính thường bắt gặp hình thức ký hiệu tiếng nói. Đây chính xác là một hình thức biểu thị của ngôn ngữ tiếng nói. Mặc dầu người ta cũng sử dụng các ký hiệu trong khi giao tiếp nhưng mỗi ký hiệu được sử dụng để diễn đạt một từ được nói ra. Tức là mỗi một từ được nói ra đều được diễn dịch lại bằng một ký hiệu cụ thể.

Có thể dùng hình thức giao tiếp đồng thời để diễn đạt. Ký hiệu ngôn ngữ nói không phải là ngôn ngữ ký hiệu mà là một hệ thống được phát triển thành công cụ để dạy người điếc. Hệ thống này dựa trên cơ sở vốn từ của ngôn ngữ ký hiệu với những ký hiệu bổ sung phát sinh để diễn đạt chính xác ngôn ngữ nói. Việc làm ký hiệu có kèm theo chữ cái ngón tay và những điểm nhấn cụ thể có liên quan đến ngữ pháp (ví dụ: chỉ thời quá khứ, thời tương lai, số ít, số nhiều – thêm các ký hiệu chỉ số nhiều, hoặc các từ chỉ sự sở hữu – thêm các ký hiệu như “của”, thêm các từ nối…). Những ký hiệu được làm đồng thời với lời nói để truyền đạt chính xác những thành tố của ngôn ngữ nói và tuân theo cấu trúc ngữ pháp của ngôn ngữ nói.

Điểm đáng chú ý là các ký hiệu sử dụng ở đây là những ký hiệu đã phát triển hoàn chỉnh trong hệ thống các ký hiệu của ngôn ngữ ký hiệu nhưng phương diện cú pháp của các ký hiệu trong hai cách sử dụng đó là khác nhau. Trong ngôn ngữ ký hiệu, các ký hiệu được đặt theo cấu trúc của ngôn ngữ ký hiệu còn trong ký hiệu ngôn ngữ nói, các ký hiệu được đặt theo trật tự của ngôn ngữ nói. Ký hiệu ngôn ngữ nói không phải là một ngôn ngữ ký hiệu thực thụ nhưng cũng được dùng như là một phương tiện dạy học, sử dụng cùng lúc với tiếng nói. Luận văn: Hướng dẫn khách du lịch khiếm thính bằng ký hiệu.

  • Sử dụng ký hiệu để hỗ trợ ngôn ngữ nói

Đây là một thuật ngữ để chỉ sự kết hợp các ký hiệu vào trong ngôn ngữ nói với đặc điểm cấu trúc các ký hiệu tuân theo theo cấu trúc ngữ pháp của ngôn ngữ nói và chỉ làm ký hiệu cho một số từ quan trọng, kết hợp với cử chỉ điệu bộ, sự thể hiện trên khuôn mặt và kèm thao lời nói của người giao tiếp. Nó có tác dụng làm cho ngôn ngữ lời nói được trực quan hơn. Điểm khác nhau cơ bản giữa hệ thống này với hệ thống ký hiệu ngôn ngữ nói là người ta không làm ký hiệu cho tất cả các từ được nói ra mà chỉ có một số từ chính trong dòng hội thoại mới được làm ký hiệu hỗ trợ. Có nghĩa là cuộc hội thoại có thể diễn ra theo tốc độ bình thường. Điểm yếu của hệ thống này là những thông tin ngữ pháp thường chỉ được nhận ra nhờ đọc hình miệng.

Ngôn ngữ ký hiệu đã được thế giới chứng minh là ngôn ngữ của cộng đồng người điếc và là ngôn ngữ đầu tiên. Đây là thứ ngôn ngữ “được ưa chuộng về mặt sinh học” của rất nhiều người khiếm thính. Ngôn ngữ ký hiệu là ngôn ngữ hình ảnh, sử dụng hình dạng bàn tay, chuyển động, sự thể hiện của khuôn mặt và ngôn ngữ cơ thể để chuyển tải ý nghĩa do đó nó rất phù hợp với đặc điểm tiếp nhận thông tin bằng thị giác và biểu đạt thông tin thiên về hành động, hình ảnh của người khiếm thính. Khác với những suy nghĩ thường gặp về ngôn ngữ ký hiệu, ngôn ngữ ký hiệu là một ngôn ngữ đầy đủ và hoàn thiện với vốn từ vựng độc đáo, có cấu trúc ngữ pháp riêng biệt, khác với ngôn ngữ lời nói thông thường. Trên thế giới có những ngôn ngữ ký hiệu đã khẳng định được vị trí và vai trò tương đương như ngôn ngữ lời nói của người nghe bình thường trong xã hội. Do đó những gì có thể nói bằng ngôn ngữ nói cũng có thể diễn đạt bằng ngôn ngữ ký hiệu. Giống như ngôn ngữ nói, ngôn ngữ ký hiệu cũng có những điểm mạnh, điểm yếu đặc biệt. Đây là ngôn ngữ tuyệt vời có thể bày tỏ cảm xúc trong giao tiếp, trần thuật, mô tả và hoàn toàn có thể dùng để thu nhận các phức cảm và ý tưởng tinh tế. Giống như những ngôn ngữ khác nhau, ngôn ngữ ký hiệu cũng phát triển theo thời gian và chứa đầy tính phương ngữ.

  • Khi sử dụng ký hiệu trong ngôn ngữ lời nói (ký hiệu lời nói và ký hiệu hỗ trợ lời nói):

Điểm thuận lợi của cách sử dụng phương tiện ký hiệu theo này là đối với những người không làm ký hiệu việc học sẽ dễ dàng hơn khi họ không cần phải thông thạo hệ thống ngữ pháp của Ngôn ngữ ký hiệu Việt, hệ thống ngữ pháp tương đối khác biệt với ngôn ngữ nói. Ngữ pháp của ngôn ngữ ký hiệu Việt chỉ có thể học được khi có thời gian để học từ những người làm ký hiệu bản ngữ. Những cha mẹ nghe được của trẻ điếc có thể không có thời gian và cơ hội để làm điều này. Bằng cách học những ký hiệu của ngôn ngữ ký hiệu Việt nhưng sử dụng theo kiểu Ký hiệu hỗ trợ tiếng Việt, họ có thể tiến hành giao tiếp cơ bản với con mình mà không phải mất nhiều thời gian. Tuy nhiên, điều quan trọng cần nhớ rằng đây không phải là một ngôn ngữ trọn vẹn và nhờ có việc đọc hình miệng làm điểm tựa mà mới có thể tránh khỏi hiểu lầm.

1.1.2 Khách du lịch khiếm thính Luận văn: Hướng dẫn khách du lịch khiếm thính bằng ký hiệu.

Phần trên, luận văn đã trình bày những vấn đề cơ bản về người khiếm thính. Đó là một trong những cơ sở để có thể có một quan niệm về khách du lịch là người khiếm thính. Một cơ sở khác là những định nghĩa về khách du lịch hoặc du khách đã được công bố.

Theo Trần Đức Thanh, “Du khách là người từ nơi khác đến với (hoặc kèm theo) mục đích thẩm nhận tại chỗ những giá trị  vật chất hoặc tinh thần hữu hình hay vô hình của thiên nhiên và (hoặc) của cộng đồng.

Về phương diện kinh tế, du khách là người sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp du lịch”

Theo Luật Du lịch 2005 của Việt Nam, “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”

Các định nghĩa đề cập tới khách du lịch tới nhiều góc độ khác nhau. Trong phạm vi luận văn này, với quan niệm khách du lịch khiếm thính là những người khiếm thính đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, sử dụng dịch vụ của ngành du lịch. Quan niệm này phù hợp với đối tượng nghiên cứu là hoạt động hướng dẫn du lịch bằng ngôn ngữ ký hiệu Hoa Kỳ. Hoạt động hướng dẫn là hoạt động đặc thù của kinh doanh du lịch và gắn liền với nhu cầu, hoạt động của du khách trong suốt chương trình du lịch.

1.2 Ngôn ngữ ký hiệu Hoa Kỳ (ASL) Luận văn: Hướng dẫn khách du lịch khiếm thính bằng ký hiệu.

Ngôn ngữ ký hiệu từ lâu đã được xem như một phương tiện giao tiếp chính thức của người khiếm thính. Cộng đồng người khiếm thính ở mỗi một quốc gia, một địa phương đều có hệ thống ký hiệu riêng để giao tiếp với nhau. Mặc dù một số khái niệm có thể được diễn đạt bằng các ký hiệu tương đối giống nhau ở nhiều nơi nhưng cấu trúc câu hoặc những đặc điểm ngữ pháp khác có thể có sự khác biệt. Ngôn ngữ ký hiệu Hoa Kỳ cũng có những đặc trưng của mình

1.2.1 Thuật ngữ

ASL là từ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “American Sign Langugage” dịch sang tiếng Việt là “Ngôn ngữ ký hiệu Hoa Kỳ”. [22]

1.2.2 Lịch sử hình thành

Ngôn ngữ ký hiệu từ lâu đã tồn tại như một phương tiện giao tiếp cơ bản của người khiếm thính. Vì vậy ASL, nếu xét dưới góc độ là phương tiện giao tiếp của người khiếm thính Hoa Kỳ, thì đã có lịch sử ra đời cùng với lịch sử của nước Hoa Kỳ.

Tuy vậy, nói tới ASL chuẩn hóa như ngày nay thì cần phải kể tới vai trò tiên phong của Thomas Hopkins Gallaudet (1787-1851) từ đầu thế kỷ 19. Sau khi tới Châu Âu nghiên cứu phương pháp dạy học cho người khiếm thính, ông trở về Hoa Kỳ cùng Louis Laurent Marie Clerc (1785-1869) – một giáo viên người Pháp chuyên dạy ngôn ngữ ký hiệu cho người khiếm thính. Louis Laurent Marie Clerc cũng là một người khiếm thính và khuyết tật vị giác, khứu giác. Tháng 4 năm 1817, họ  mở trường công dành cho người điếc đầu tiên của Hoa Kỳ tại Hartford, Connecticut. [22]

Việc Thomas Hopkins Gallaudet tới nghiên cứu ở Pháp và sự có mặt của Louis Laurent Marie Clerc giải thích vì sao có nhiều sự tương đồng về từ vựng giữa ASL và ngôn ngữ ký hiệu Pháp hiện đại. Trong khi đó có rất ít sự tương đồng giữa từ vựng của ASL với ngôn ngữ ký hiệu Anh Quốc. Luận văn: Hướng dẫn khách du lịch khiếm thính bằng ký hiệu.

Sự phát triển của hệ thống trường dạy học cho người khiếm thính trên lãnh thổ Hoa Kỳ kéo theo sự phát triển và chuẩn hóa ngôn ngữ của người khiếm thính Hoa Kỳ. Mặc dù vậy, cũng như với bất kỳ một ngôn ngữ nào khác của con người, ASL có những “phương ngữ” của mình.

Quá trình chuẩn hóa và nghiên cứu ASL được đánh dấu mốc quan trọng bằng sự ra đời của cuốn sách đầu tiên về ASL của William Stokoe (19192000) vào năm 1960. Cuốn sách có tên “Sign Language Structure” (Cấu trúc ngôn ngữ ký hiệu). Đây là công trình đầu tiên, với những nghiên cứu ngôn ngữ học, nhìn nhận ASL dưới góc độ một “ngôn ngữ”.[27]

Năm 1965, cuốn “A Dictionary of American Sign Language on Linguistic Principles” (Từ điển ngôn ngữ ký hiệu Hoa Kỳ dựa trên những nguyên tắc ngôn ngữ học) được xuất bản.

Năm 1986, trường Gallaudet, trường đại học đầu tiên dành cho người khiếm thính và giảng dạy bằng ASL được thành lập tại Hoa Kỳ. Trường đại học này không chỉ là nơi giảng dạy mà còn là địa điểm nghiên cứu hàng đầu Hoa Kỳ về ASL. Việc này góp phần không nhỏ vào việc đẩy mạnh công tác giảng dạy, ứng dụng ASL không chỉ tại Hoa Kỳ mà còn trong những cộng đồng người khiếm thính khác trên thế giới.

ASL ngày nay vẫn phát triển liên tục như những ngôn ngữ nói khác. Nó vẫn xuất hiện thêm nhiều ký hiệu để mô tả hoạt động của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội.

1.2.3 Đối tượng sử dụng Luận văn: Hướng dẫn khách du lịch khiếm thính bằng ký hiệu.

ASL hiện được sử dụng rộng rãi không chỉ trong cộng đồng người khiếm thính tại Mỹ mà còn ở một số nước như Cananda, Phillipines, Nhật Bản, Nicaragua… Không chỉ những người khiếm thính mới sử dụng ASL mà cả cha mẹ, người thân của họ cũng sử dụng ASL để giao tiếp với người khiếm thính. Bên cạnh đó còn có những nhà nghiên cứu, những phiên dịch viên ASL cũng sử dụng ngôn ngữ này hàng ngày. Ước tính tại Hoa Kỳ số người sử dụng ASL có thể lên đến 2 triệu người.[23] Ở Việt Nam, một số người khiếm thính ở Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh tham gia khóa học ASL của Scott Benson có thể sử dụng được ASL để giao tiếp bình thường.

1.2.4 Cấu trúc 

Cần phải khẳng định ngay, ASL mặc dù được sử dụng rộng rãi tại Hoa Kỳ, Canada và một số nước nói tiếng Anh khác nhưng nó có một cấu trúc ngữ pháp và cách sử dụng hoàn toàn độc lập so với tiếng Anh. [27]

Tuy nhiên, ký hiệu tất cả mọi nơi trên thế giới đều có những điểm tương đồng nhất định. Ví dụ: ký hiệu “uống nước” thì nước nào cũng làm như nhau là giả bộ cầm cốc uống nước, ký hiệu “lái ô tô” thì giả bộ cầm vô lăng ô tô quay quay, v.v. Mỗi người (dù bình thường hay câm điếc) đều có sẵn 30% kiến thức ngôn ngữ ký hiệu. Do ngôn ngữ ký hiệu phát triển hơn trong cộng đồng người khiếm thính, nên những người thuộc cộng đồng này của hai nước khác nhau có thể giao tiếp với nhau tốt hơn hai người bình thường nhưng mà không biết ngoại ngữ. Cũng như nhiều ngôn ngữ ký hiệu khác, ASL cũng thể hiện 2 đặc điểm cơ bản trong diễn đạt là: tính giản lược và tính có điểm nhấn  Tính giản lược trong ASL hay ngôn ngữ ký hiệu khác được hiểu là sự rút gọn những từ không cần thiết trong mỗi câu. Đặc điểm này xuất phát từ đặc trưng của ngôn ngữ ký hiệu trong khi giao tiếp không thể đạt tốc độ cao như dùng ngôn ngữ nói.

Ví dụ: ngôn ngữ nói “Anh có khỏe không?” thì ngôn ngữ ký hiệu và ASL sẽ điễn đạt là “Khỏe không?”

Tính có điểm nhấn được hiểu là sự nhấn mạnh vào nội dung chính của câu. Đặc điểm này gắn chặt với tính giản lược vì trong quá trình giản lược hóa, hiển nhiên những yếu tố chính, quan trọng nhất được giữ lại và vì thế nổi bật lên trong khi diễn đạt.

Trong ví dụ ở trên, điểm nhấn là KHỎE. Luận văn: Hướng dẫn khách du lịch khiếm thính bằng ký hiệu.

Theo William Stokoe, dưới góc độ một ngôn ngữ, ASL cũng có hệ thống “âm vị” (những yếu tố cấu thành âm – ở đây hiểu là những yếu tố tạo thành ký hiệu); từ loại; ngữ nghĩa; ngữ pháp; cấu trúc câu…[22]

Những yếu tố cấu thành ký hiệu bao gồm sự kết hợp của hàng loạt thành phần:

  • Hình dạng tay (khi thể hiện ký hiệu)
  • Hướng bàn tay
  • Vị trí tay
  • Chuyển động của tay, cơ thể
  • Những dấu hiệu phi cử chỉ (nét mặt, ánh mắt) [27]

Từ loại: ASL cũng có hệ thống từ loại đầy đủ, bao gồm: đại từ, danh từ động từ, tính từ, trạng từ, giới từ, thán từ…

  • Cấu trúc câu: thông thường câu trong ASL có cấu trúc cơ bản là CHỦ ĐỀ + BÌNH LUẬN hoặc CHỦ NGỮ + VỊ NGỮ
  • Trong đó CHỦ ĐỀ: là đối tượng chính được đề cập tới. BÌNH LUẬN: có thể là một đánh giá, câu hỏi, vị ngữ, tính từ… Ví dụ:
  • Ngoài ra còn có cấu trúc: THỜI GIAN + ĐỀ TÀI (CHỦ NGỮ) + BÌNH LUẬN (VỊ NGỮ)

Ví dụ:

  • Và cấu trúc: CHỦ NGỮ + HÀNH ĐỘNG + TÂN NGỮ (đối tượng chịu tác động của hành động)

Ví dụ:

  • Xem xét những cấu trúc câu này ta thấy có nhiều điểm tương đồng với cấu trúc câu trong tiếng Việt. Đây là một điểm thuận lợi rất lớn cho người Việt Nam khi học ASL.
  • Với câu hỏi, người hỏi sẽ dùng ký hiệu hỏi (ngón trỏ tay phải móc lại) và/hoặc nét mặt như hình minh họa
  • Câu hỏi “Có-Không”, người hỏi sẽ thể hiện nét mặt bằng lông mày nhướn lên, mắt mở to, đầu hơi nghiêng về phía trước (như hình minh họa) và/hoặc ký hiệu hỏi bằng ngón tay

Hình 1.6 Nét mặt trong câu hỏi “Có-Không”

Câu hỏi có từ để hỏi, người hỏi sẽ thể hiện nét mặt bằng lông mày hơi nhíu lại trước hoặc sau câu hỏi (như hình minh họa) và/hoặc ký hiệu hỏi bằng ngón tay. Luận văn: Hướng dẫn khách du lịch khiếm thính bằng ký hiệu.

Hình 1.7 Nét mặt trong câu hỏi có từ để hỏi

Vấn đề thời gian (thời của động từ) trong ASL được thể hiện như sau:

  • Việc sử dụng những trạng từ thời gian trong câu như: hôm qua, hôm nay, ngày mai, bản thân nó đã thể hiện ý nghĩa về thời mà không cần có sự thay đổi về dạng thức động từ.
  • Nếu trong câu hoặc tình huống không đề cập tới thời quá khứ, tương lai thì được hiểu là ở thời hiện tại.
  • Thời quá khứ, những việc xảy ra trong quá khứ có thể được miêu tả bằng ký hiệu lòng bàn tay phải hướng ra và di chuyển về phía sau vai phải (như hình minh họa). [27]
  • Thời tương lai, những việc sẽ xảy ra trong tương lai có thể được miêu tả bằng ký hiệu bàn tay phải di chuyển từ phía vai phải hướng về phía trước (như hình minh họa)

Để ký hiệu những danh từ riêng, chữ số…ASL dùng các ký hiệu tương ứng

Hình 1.10  Bảng chữ cái và chữ số ASL

1.2.5 Tài liệu học tập

Vì ASL là một ngôn ngữ đã được nghiên cứu một cách hệ thống từ lâu và được sử dụng rộng rãi tại Hoa Kỳ nên những tài liệu phục vụ học tập ngôn ngữ này có rất nhiều dạng và dễ tiếp cận, cập nhật. Đây là một thuận lợi cho người quan tâm tới ASL.

ASL là một ngôn ngữ ký hiệu nên việc học bằng hình ảnh là hiệu quả nhất. Bên cạnh sách in, các bộ từ điển bằng đĩa CD, đĩa DVD là những công cụ cần thiết để người học nhanh chóng nắm bắt được ASL.

Một nguồn tài liệu cập nhật, phổ biến, dễ tiếp cận và chi phí thấp là mạng Internet. Người học có thể học ASL tại một số trang web như:

  • http://www.aslpro.c
  • http://commtechlab.msu
  • http://www.handspeak.
  • http://www.lifeprint.
  • http://www.youtube.

Ngoài ra còn có thể học trực tiếp với người khiếm thính qua việc sử dụng “video chat”. Chương trình “video chat” được nhiều người khiếm thính sử dụng là “Camfrog Video chat”. Chương có thể tải tại địa chỉ.

ASL một ngôn ngữ sống nên việc thực hành sử dụng, “nói” hàng ngày là rất quan trọng để phát triển kỹ năng giao tiếp với người khiếm thính. Luận văn: Hướng dẫn khách du lịch khiếm thính bằng ký hiệu.

Với nguồn tài liệu dễ tiếp cận lại được cập nhật thường xuyên, việc học ASL không phải là một thách thức quá lớn với phần đông mọi người.

1.3 Vai trò của ASL trong hoạt động hướng dẫn cho khách du lịch khiếm thính:

Khách du lịch là trung tâm của hoạt động du lịch, họ sử dụng những dịch vụ mà nhà cung ứng du lịch thực hiện. Trong hàng loạt những dịch vụ được cung ứng, hướng dẫn du lịch là một dịch vụ đặc thù gắn chặt với sản phẩm du lịch. Hoạt động này là tổng hợp của nhiều công việc khác nhau và luôn bao gồm hoạt động giao tiếp, trao đổi thông tin. Du khách khiếm thính khi tham gia vào hoạt động này cũng có những nhu cầu liên quan tới giao tiếp thông qua phương tiện giao tiếp là ngôn ngữ ký hiệu.

Cũng như bất kỳ ngôn ngữ nào khác, ASL là một phương tiện giao tiếp giữa những người tham gia giao tiếp. Phương tiện này giúp truyền tải thông tin giữa những người tham gia giao tiếp. Thay vì sử dụng lời nói, người tham gia giao tiếp dùng các ký hiệu theo những quy tắc nhất quán để trao đổi với nhau.

Với hoạt động hướng dẫn du lịch cho khách du lịch khiếm thính, việc sử dụng ASL tạo cơ hội tiếp cận thông tin trong chương trình du lịch một cách chính xác và đầy đủ hơn cho cả du khách và người phục vụ. Ngôn ngữ ký hiệu trong hoạt động hướng dẫn du lịch cho khách khiếm thính không chỉ dừng lại ở vai trò phương tiện giao tiếp mà nó còn là cách thức xóa bỏ rào cản giao tiếp giữa người khiếm thính và người không khiếm thính. Chính ở vai trò này,  ngôn ngữ ký hiệu tạo sự tự tin cho các bên tham gia vào quá trình hướng dẫn du lịch, từ đó giúp cho quá trình phục vụ du khách tạo ra nhiều ấn tượng tốt đẹp hơn.

Việc sử dụng ASL trong hoạt động hướng dẫn du lịch giúp nhà tổ chức cung cấp thông tin liên quan tới chương trình du lịch cho du khách được chính xác, nhanh chóng, đầy đủ. Tiêu biểu là công tác thuyết minh tham quan du lịch. Thuyết minh tham quan du lịch chỉ là một phần nhỏ của hướng dẫn du lịch nhưng có ý nghĩa quan trọng vì nó gắn chặt với việc truyền tải thông tin về các điểm tham quan trong chương trình du lịch. Khi những thông tin cơ bản về một điểm tham quan được truyền tải tới khách thông qua ngôn ngữ ký hiệu, khách du lịch khiếm thính sẽ có hình dung đầy đủ và xác thực hơn về điểm tham quan đó. Từ đó, việc sử dụng ngôn ngữ ký hiệu góp phần vào quá trình đảm bảo chất lượng dịch vụ của chương trình du lịch và tạo ra sự khác biệt về sản phẩm của doanh nghiệp. Luận văn: Hướng dẫn khách du lịch khiếm thính bằng ký hiệu.

Đối với du khách khiếm thính, ngôn ngữ ký hiệu là phương tiện giao tiếp chính thức, một phần cuộc sống của họ. Việc được dùng ngôn ngữ ký hiệu để trao đổi trong chương trình du lịch là một quyền hiển nhiên và chính đáng của họ. Với vai trò là người sử dụng dịch vụ hướng dẫn du lịch, du khách khiếm thính hoàn toàn có quyền được sử dụng ngôn ngữ ký hiệu và yêu cầu người phục vụ sử dụng ngôn ngữ ký hiệu. ASL được dùng như phương tiện giao tiếp chính thức trong hướng dẫn du lịch cho người khiếm thính là cơ hội thuận tiện cho du khách mở rộng cảm nhận về thế giới xung quanh và tiếp cận tự tin, dễ dàng hơn.

Việc sử dụng ngôn ngữ ký hiệu nói chung, ASL nói riêng trong hướng dẫn du lịch mang lại lợi ích, sự thuận tiện, bình đẳng cho cả nhà cung ứng dịch vụ và khách du lịch khiếm thính. Vì vậy việc sử dụng ASL phải đáp ứng được yêu cầu của du khách và nhà cung ứng dịch vụ trong khi chương trình du lịch diễn ra. Luận văn: Hướng dẫn khách du lịch khiếm thính bằng ký hiệu.

Như vậy chương 1 đã giới thiệu một cách tổng quát về người khiếm thính cũng như quan niệm về khách du lịch khiếm thính; ngôn ngữ ký hiệu Hoa Kỳ (ngôn ngữ được người khiếm thính Hoa Kỳ và một số nước khác sử dụng trong đời sống của mình); vai trò của việc sử dụng ngôn ngữ này trong công tác hướng dẫn du lịch. Trong khi giới thiệu về ngôn ngữ ký hiệu Hoa Kỳ, luận văn đã chỉ ra một số thuận lợi trong việc học ngôn ngữ này qua một số cấu trúc câu và nguồn tài liệu học tập. Việc phân tích vai trò của ASL trong hướng dẫn cho khách du lịch khiếm thính đặt tiền đề cho những nội dung được trình bày trong chương 2.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Thực trạng đảm bảo chất lượng hoạt động hướng dẫn

One thought on “Luận văn: Hướng dẫn khách du lịch khiếm thính bằng ký hiệu

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp đảm bảo chất lượng hoạt động hướng dẫn

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464