Luận văn: Hoàn thiện thuế thu nhập cá nhân của người lao động

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoàn thiện thuế thu nhập cá nhân của người lao động hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: bất cập và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động trong doanh nghiệp tại TP.Hồ Chí Minh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Bất cập trong việc áp dụng các quy định pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động trong doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh

  • Quản lý người lao động trong doanh nghiệp nộp thuế thu nhập cá nhân còn hạn chế

Phân biệt giữa người lao động cư trú và không cư trú gặp nhiều khó khăn trong quản lý thu nhập của người lao động nộp thuế Thu nhập cá nhân. Trong quá trình hội nhập quốc tế trên Việt Nam đang tham gia nhiều tổ chức quốc tế với đa dạng các lĩnh vực khác nhau nên nhiều công dân Việt Nam đi lao động, làm việc ở nước ngoài ngắn hạn, và dài hạn; đồng thời, người nước ngoài vào Việt Nam cũng không ít. Do vậy, việc xác định thu nhập chịu và thu nhập tính thuế rất phức tạp, trong khi Nhà nước Việt Nam muốn làm đơn giản mọi thủ tục hành chính, người lao động đóng thuế tự tính, tự kê khai và đóng thuế bằng thủ tục điện tử. TP. HCM đang trong trên đà phát triển, đã huy động được một số dự án đầu tư từ các nước khác nên có người lao động nước ngoài vào TP. Hồ Chí Minh làm việc nhưng việc quản lý còn khó khăn.

  • Quản lý thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân của người lao động còn vướng mắc

Các quy định về thu nhập chịu thuế thường xuyên thay đổi mang lại sự khó khăn trong việc quản lý. Các quy định mới được ban hành dẫn đến thay đổi không đồng loạt trong công tác quản lý mã số thuế cho cá nhân người lao động. Hiện nay nước ta đã thực hiện thay đổi căn cước công dân (hay mã số định danh) thay cho chứng minh nhân dân cũ. Điều này đồng nghĩa với việc mã số thuế sẽ dễ bị áp trùng cho một cá nhân. Tức là, khi người lao động làm việc tại nhiều cơ quan khác nhau, thực hiện đăng ký mã số thuế cho cơ quan chi trả thu nhập bằng chứng minh nhân dân nhưng không cung cấp mã số thuế cho các cơ quan khác mà lại làm thủ tục đăng ký tiếp bằng căn cước công dân ( do cơ quan đó tự đăng ký hoặc cá nhân tự thực hiện cung cấp) sẽ dẫn đến cá nhân người lao động đó tồn tại 2 mã số thuế khác nhau. Từ đó, dẫn đến khó khăn trong công tác quản lý cũng như tra, kê khai,…thuế thu nhập cá nhân. Luận văn: Hoàn thiện thuế thu nhập cá nhân của người lao động.

  • Mức thu nhập chịu thuế từ người lao động chưa thỏa đáng với tình hình kinh tế
  • Bảng 3.1. Bảng lương tối thiểu các vùng và CPI bình quân 2012-2022

Trong vòng 10 năm kể từ khi áp dụng luật Thuế thu nhập cá nhân sửa đổi, mức lương tối thiểu vùng của Chính phủ đã điều chỉnh tăng 9 lần ( riêng năm 2021 không tăng do chịu tác động bởi tình hình đại dịch Covid-19), tăng từ 2.000.000vnđ/người/tháng lên 4.680.000vnđ/tháng, tương ứng tăng gần 2,4 lần nhưng mức giảm trừ gia cảnh cho người lao động nộp thuế và người phụ thuộc chỉ được điều chỉnh một lần giữa năm 2020. Cụ thể, trường hợp người lao động nộp thuế giảm trừ do gia cảnh tăng từ 9.000.000vnđ lên 11.000.000vnđ/tháng, người phụ thuộc tăng từ 3.600.000vnđ lên 4.400.000vnđ/tháng. Ngưỡng thuế này kể từ khi được điều chỉnh và áp dụng đã lạc hậu do không đủ đảm bảo mức sinh hoạt của người lao động, nhất là tại các tỉnh, thành phố lớn có mức sống cao như Hà Nội, TP.HCM.

Ngoài ra quy định đối với người lao động có thu nhập trên 1 triệu đồng/tháng thì không được coi là người phụ thuộc vẫn tiếp tục giữ nguyên. Kể từ khi thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân sửa đổi năm 2013, mức thu nhập trên 1 triệu đồng/tháng thấp xa so với mức lương tối thiểu vùng do chính phủ quy định. Thậm chí, mức thu nhập đó còn kém xa chuẩn nghèo mà chính phủ đặt ra trong năm nay. Thu nhập bình quân đầu người ở thành thị từ 2 triệu đồng trở xuống và từ 1,5 triệu đồng/người/tháng trở xuống ở nông thôn. Điều này khiến nhiều người lao động phải phụng dưỡng cha mẹ, anh chị em… bị mất khả năng lao động, tàn tật… nhưng với mức trợ cấp hàng tháng 1-2 triệu đồng cũng không được giảm trừ gia cảnh như người phụ thuộc.

Cùng với tình trạng như vậy, việc tạm trích 10% cho mỗi 2 triệu đồng thu được của người lao động được cho là quá thấp và đã lỗi thời vì đã được áp dụng 10 năm. Do ngưỡng tạm khấu trừ quá thấp nên cuối mỗi năm làm hồ sơ xin hoàn thuế (cuối năm chưa đạt ngưỡng khấu trừ (132 triệu đồng/năm) thì người lao động phải đi Cục Thuế TP.HCM để làm thủ tục hoàn thuế), số tiền hoàn thuế từ một trăm đồng đến một triệu đồng. Điều này đã dẫn đến tình trạng quá tải hồ sơ của cơ quan thuế, người lao động thu nhập mức thấp phải mất thời gian đi hoàn thành giấy tờ để được hoàn thuế… Bản thân cơ quan thuế nhiều năm nay cũng gặp khó khăn với quy định bất hợp lý này, đồng thời kiến nghị tăng mức lên 5 triệu đồng từ năm 2017 tuy vậy cho đến nay vẫn chưa có sự thay đổi.

  • Thực hiện giảm trừ gia cảnh cho người lao động còn bất cập

Việc kê khai giảm trừ gia cảnh chủ yếu là dựa vào ý thức của lao động nộp thuế. Việc thực thi kê khai số người phụ thuộc chính xác thực sự khó khăn. Ví dụ, cùng 1 ông bố hay bà mẹ, nhưng sẽ được tính trùng thành 2 bởi cả 2 người con ở 2 địa phương khác nhau đều cùng kê khai và chính quyền địa phương sở tại đó xác nhận. Trong quá trình quản lý ở TP. Hồ Chí Minh cho thấy, nhiều địa phương khi nhận được đơn đề nghị xác nhận người lao động cư trú có trách nhiệm nuôi dưỡng người phụ thuộc ở địa phương khác (ông, bà, cháu… ở quê), họ không thể xác định được quan hệ của người phụ thuộc đang sống ở tỉnh khác và người dân đang cư trú trên địa bàn, càng khó biết được có đúng là người dân đang cư trú trên địa bàn có trách nhiệm nuôi dưỡng người đang sống ở tỉnh khác hay không, dẫn tới tình trạng nơi thì chứng nhận quá dễ dàng, nơi thì từ chối chứng nhận khiến ngời lao động gặp khó khăn trong việc đóng thuế. Ngoài ra, cũng khó khăn khi người lao động nộp thuế Thu nhập cá nhân xin xác nhận đối tượng phụ thuộc không có thu nhập. Luận văn: Hoàn thiện thuế thu nhập cá nhân của người lao động.

  • Thực thi quy định về đăng ký thuế Thu nhập cá nhân cho người lao động nộp thuế còn một số điểm bất cập.

Việc hoàn thuế Thu nhập cá nhân cho NLĐ được đặt ra khi số tiền thuế thu nhập cá nhân đã nộp lớn hơn số thuế phải nộp trong kỳ tính thuế, hoặc người lao động đã nộp thuế nhưng có thu nhập tính thuế chưa đến mức phải nộp thuế hoặc các trường hợp khác theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Chỉ có người lao động đã đăng ký thuế và có mã số thuế mới được thực hiện việc hoàn thuế. Khi NLĐ đã ủy quyền quyết toán thuế cho đơn vị thanh toán thu nhập thực hiện quyết toán thay thì việc hoàn thuế của người lao động được thực hiện thông qua tổ chức, cá nhân đó. Đối với người lao động tự quyết toán thuế tại cơ quan quản lý thuế, thực hiện việc hoàn thuế tại cơ quan quản lý thuế. Việc hoàn thuế Thu nhập cá nhân chủ yếu đối với người lao động có thu nhập không thường xuyên và gặp khó khăn khi làm thủ tục hoàn thuế với số tiền không nhiều nhưng mất nhiều thời gian. Đối với cơ quan quản lý thuế cũng gặp nhiều bất cập do hồ sơ hoàn thuế với số tiền ít tốn nhiều nhân lực, thời gian nên hiệu quả không cao.

3.2. Kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập cá nhân hiện nay Luận văn: Hoàn thiện thuế thu nhập cá nhân của người lao động.

3.2.1. Về đối tượng nộp thuế, thu nhập chịu thuế, giảm trừ gia cảnh và thuế suất thuế thu nhập cá nhân

  • Về đối tượng nộp thuế

Việc phân biệt đối tượng cư trú và không cư trú chỉ nên giới hạn trong việc xác định các thủ tục hành chính thuế, không nên phân biệt về nghĩa vụ thuế, vì sẽ không đảm bảo sự bình đẳng giữa đối tượng cư trú và không cư trú đối với cùng một loại thu nhập (ví dụ: Thu nhập từ hoạt động kinh doanh phải cùng xác định trên thu nhập bằng doanh thu trừ chi phí, không thể áp dụng trên doanh thu đối với riêng đối tượng không cư trú). Do đó, trừ những quy định nhằm đảm bảo tránh đánh thuế hai lần thì việc xác định nghĩa vụ thuế đối với những khoản thu nhập phát sinh ở Việt Nam của người không cư trú cần phải quy định bình đẳng với người cư trú. Cần quy định cụ thể việc thực thi các hiệp định tránh đánh thuế trùng làm cơ sở đảm bảo quyền lợi đối với các đối tượng có thu nhập từ nhiều quốc gia khác nhau vì quy định chung chung áp dụng theo điều ước quốc tế sẽ dẫn đến việc áp dụng tùy tiện.

  • Về chiết trừ gia cảnh (giảm trừ gia cảnh)

Đây là quy định nhằm tạo điều kiện cho người chịu thuế thực hiện các nghĩa vụ vật chất mang tính đạo đức đối với những người thân. Tại các nước phương đông, với truyền thống gia đình tương thân, tương ái, đoàn kết thì quy định về giảm trừ gia cảnh trong pháp luật thuế Thu nhập cá nhân trở thành một biện pháp để Nhà nước thực hiện các mục tiêu xã hội bên cạnh các mục tiêu kinh tế.

Đối với Việt Nam, cần xem xét theo hướng không quy định cụ thể một mức giảm trừ gia cảnh mà nên tính theo lương tối thiểu đối với công chức nhân với hệ số lương chuẩn được điều chỉnh. Điều này sẽ tạo hiệu lực lâu dài cho đạo luật thuế và đảm bảo được bản chất của giảm trừ gia cảnh (ngưỡng thu nhập không đánh thuế đối với người nộp thuế) là Nhà nước không đánh thuế vào phần thu nhập tối thiểu trung bình xã hội dùng để tái tạo sức lao động của người nộp thuế, bao gồm phần tái tạo sức lao động của bản thân người nộp thuế và phần để nuôi dưỡng những người phụ thuộc. Ngoài ra, khi chính sách tiền lương thay đổi thì mức giảm trừ gia cảnh cũng mặc nhiên thay đổi theo, không cần phải sửa đổi luật liên quan. Quy định về mức chiết trừ gia cảnh cần lưu ý đến mặt bằng chi tiêu thực tế của các địa phương. Nếu mức thu nhập chịu thuế và mức chiết trừ gia cảnh giống nhau thì nơi nào có chi phí bình quân cao hơn thì người nộp thuế sẽ bị thiệt về thuế, vì thế có thể quy định mức chiết trừ gia cảnh cụ thể cho từng địa phương hoặc từng vùng có mức chi phí bình quân tương đồng.

  • Về thuế suất thuế thu nhập cá nhân

Biểu thuế lũy tiến được xây dựng căn cứ vào nguyên tắc đánh thuế dựa trên khả năng nộp thuế của các cá nhân. Những chủ thể có thu nhập cao thì có nhiều khả năng nộp thuế cao hơn những người có thu nhập thấp và ngược lại. Khoảng cách tương đối giữa các bậc thuế suất sẽ quyết định tính chất lũy tiến mạnh hay yếu của biểu thuế. Khoảng cách quá xa sẽ có thể tạo điều kiện cho hành vi chuyển dịch thu nhập để tránh thua, ngược lại sẽ tạo ra sự bất hợp lý trong điều tiết thu nhập của một nhóm đối tượng nộp thuế. Do đó nên quy định mở rộng khoảng cách giữa các bậc thu nhập và hạ mức thuế suất khởi điểm nhằm động viên, khuyến khích cá nhân làm giàu hợp pháp và tăng khả năng thu hút nguồn lực nước ngoài, đảm bảo nền kinh tế phát triển và hội nhập quốc tế. Cụ thể như: Mức thuế suất bậc 1 là 3%, bậc 2 là 8%, tiếp theo là 13%, 18%, 23% và 28%. Để tạo động lực cho người dân tuân thủ nghĩa vụ thuế một cách tự nguyện, pháp luật thuế Thu nhập cá nhân nên bỏ mức thuế suất 35% và chỉ còn lại 6 bậc trong biểu thuế hiện hành.

3.2.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về khai thuế và khấu trừ thuế Luận văn: Hoàn thiện thuế thu nhập cá nhân của người lao động.

  • Hoàn thiện về khai thuế thu nhập cá nhân

Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công đạt ngưỡng thu nhập chịu thuế và phải nuôi người phụ thuộc thì cá nhân đó phải soạn hai bản khai đăng ký giảm trừ cho người phụ thuộc và hoàn thành nghĩa vụ đóng cho phía doanh nghiệp chi trả thu nhập. Hàng tháng, căn cứ vào khoản thu nhập và bản đăng ký người phụ thuộc của người lao động, doanh nghiệp chi trả thực hiện tạm giảm trừ cho cá nhân lao động có thu nhập và người phụ thuộc, sau đó sẽ tính ra kết quả thuế phải đóng để khấu trừ.

Dựa vào văn bản kê khai của cá nhân đã nộp cho cơ quan quản lý và hồ sơ chứng minh người phụ thuộc, cơ quan quản lý thuế sẽ kiểm tra đối chiếu nội dung, nếu phát hiện xuất hiện vấn đề không đúng, không đủ hoặc không phù hợp với tờ khai đăng ký người phụ thuộc, cơ quan quản lý thuế thông báo cho người nộp thuế điều chỉnh hoặc bổ sung.

Trong vài trường hợp bộ phận quản lý thuế phối hợp với đơn vị chi trả và Hội đồng tư vấn thuế địa phương để kiểm soát và quản lý phát hiện kịp thời các trường hợp cá nhân nộp thuế cố tình khai gian, khai trùng, khai sai về người phụ thuộc. Những minh chứng về người phụ thuộc gửi tới cơ quan thuế được nhập vào hệ thống cơ sở dữ liệu. Dựa trên cơ sở dữ liệu đó, hệ thống quản lý thông tin tại cơ quan quản lý xác lập số định danh, nhận diện người phụ thuộc và mã nhận diện này sẽ hỗ trợ cơ quan thuế bài trừ những trường hợp gian lận nhằm mục đích tránh thuế, lách thuế.

  • Hoàn thiện về khấu trừ thuế thu nhập cá nhân Luận văn: Hoàn thiện thuế thu nhập cá nhân của người lao động.

Khấu trừ thuế Thu nhập cá nhân là biện pháp nhằm đảm bảo thu thuế Thu nhập cá nhân, tránh hiện tượng trốn thuế, gian lận thuế. Tuy nhiên, trên cơ sở mức giảm trừ gia cảnh tăng lên thì mức tiền mỗi lần chi trả thu nhập phải thực hiện khấu trừ thuế cũng phải tăng lên. Thực tế việc chi trả thu nhập thường xuyên thường được trả một tuần một lần, hai tuần một lần và thông thường nhất là một tháng một lần. Vì vậy, nên quy định các tổ chức, cá nhân chi trả tiền hoa hồng đại lý bán hàng hoá; tiền lương, tiền công, tiền dịch vụ khác, tiền chi khác cho cá nhân thực hiện các dịch vụ có tổng mức trả thu nhập mỗi lần chi trả bằng 1/4 so với mức chiết trừ gia cảnh đối với Người nộp thuế trở lên thì thực hiện khấu trừ thuế trước khi trả thu nhập cho cá nhân. Quy định như vậy vừa tránh được tình trạng trốn thuế vừa tránh được những thủ tục hành chính phức tạp cho Người nộp thuế và cơ quan thuế do phải thực hiện hoàn thuế Thu nhập cá nhân khi tổng thu nhập một tháng của Người nộp thuế chưa đến mức phải nộp thuế Thu nhập cá nhân nhưng vẫn phải thực hiện khấu trừ thuế. Điều chỉnh, bổ sung quy định về mức khấu trừ thuế đối với các tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân thực hiện các dịch vụ mà không ký hợp đồng lao động như tiền nhuận bút; tiền dịch sách; tiền giảng dạy; tiền tham gia các Hiệp hội, Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Ban quản lý,…; tiền thực hiện các dịch vụ khoa học kỹ thuật; dịch vụ văn hoá; thể dục thể thao; các dịch vụ tư vấn thiết kế xây dựng, dịch vụ pháp lý. Khấu trừ thuế Thu nhập cá nhân tại nguồn gắn liền với công tác cấp mã số thuế. Những người lao động tự do tại TP. Hồ Chí Minh cũng như cả nước chưa quen với việc đăng ký để được cấp mã số thuế Thu nhập cá nhân, vì vậy cơ quan thuế khó kiểm soát được hết tất cả các đối tượng có thu nhập trong xã hội. Nhà nước đang hướng đến việc toàn dân trong độ tuổi lao động đều phải có mã số thuế cá nhân, và mã số này sẽ theo mỗi cá nhân suốt đời. Do đó, Bộ Tài chính và Bộ Công an phối hợp khi cấp chứng minh nhân dân cho mỗi công dân từ 15 tuổi trở lên thì lấy mã định danh làm mã số thuế Thu nhập cá nhân, vì căn cước công dân và mã số thuế đều đi theo mỗi cá nhân suốt đời. Để khuyến khích tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập thực hiện tốt hơn việc khấu trừ thuế Thu nhập cá nhân tại nơi chi trả thu nhập nên có quy định cụ thể về quyền lợi tương ứng với nghĩa vụ mà tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập phải thực hiện nhằm bù đắp những chi phí để thực hiện khấu trừ thuế Thu nhập cá nhân tại nguồn.

3.2.3. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm

  • Về tăng cường thanh tra, kiểm tra Luận văn: Hoàn thiện thuế thu nhập cá nhân của người lao động.

Việc áp dụng công tác thanh tra, kiểm tra thuế Thu nhập cá nhân đều hướng đến mục tiêu đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật thuế Thu nhập cá nhân của Người nộp thuế, kịp thời phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật thuế Thu nhập cá nhân để có biện pháp xử lý, ngăn chặn. Trước đây, ở nước ta việc thanh tra, kiểm tra được thực hiện trên cơ sở các quy định của pháp luật về quản lý thuế. Những quy định này được áp dụng cho việc thanh tra, kiểm tra trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Vì vậy, việc áp dụng trong lĩnh vực đặc thù như lĩnh vực thuế gặp rất nhiều khó khăn do thiếu tính cụ thể, chi tiết. So với trước đây, pháp luật về quản lý thuế đã có nhiều điểm được quy định cụ thể, hoàn thiện hơn như quy định những nguyên tắc khi thực hiện thanh tra thuế (từ giai đoạn xác định đối tượng, xây dựng kế hoạch cho tới lúc thực hiện kiểm tra, thanh tra và cuối cùng là xử lý kết quả); đã phân định rõ ràng giữa kiểm tra và thanh tra thuế; quy định rõ nội dung, quy định về xử lý kết quả kiểm tra, thanh tra thuế. Mặc dù đã được quy định khá đầy đủ, chi tiết nhưng vẫn một số điều cần hoàn thiện thêm về kiểm tra, thanh tra thuế. Pháp luật nên có quy định rõ trong từng trường hợp cụ thể như thế nào thì cơ quan quản lý được tiến hành ấn định thuế Thu nhập cá nhân và trường hợp nào cơ quan thuế có nghĩa vụ phải kiểm tra thuế tại nơi làm của Người nộp thuế. Nên quy định rõ trách nhiệm của cơ quan thuế trong trường hợp Người nộp thuế đã cung cấp đầy đủ hồ sơ, tài liệu nhưng cơ quan thuế khi kiểm tra, thanh tra thuế không phát hiện vi phạm, sau đó hành vi vi phạm bị phát hiện bởi cơ quan thi hành pháp luật khác. Quy định như vậy giúp tăng cán bộ nhận thức rõ bổn phận của mình khi thực hiện kiểm tra thuế, thanh tra thuế, tránh được tình trạng câu kết với Người nộp thuế để che giấu lỗi vi phạm. Nhằm tăng cường củng cố hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra thuế đối với công tác quản lý thuế Thu nhập cá nhân, cần quy định rõ: Bộ phận kiểm tra, thanh tra thuế sau khi thực hiện hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế phải tổng kết những mắc mứu của cơ quan thuế cũng như của Người nộp thuế trong quá trình thực hiện pháp luật thuế; đề xuất ý kiến, giải pháp gửi về Tổng cục thuế mỗi quý một lần để từ nền tảng đó Tổng cục thuế đề xuất các cơ quan lập pháp thực hiện sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các văn bản quy định pháp luật về thuế Thu nhập cá nhân.

Việc chưa đăng ký, kê khai và nộp thuế thu nhập cá nhân diễn ra phổ biến ở hầu hết các nơi trên thế giới trong đó có TP. Hồ Chí Minh và trong cả nước. Hiện trạng nói trên tác động xấu đến mục đính mà luật thuế Thu nhập cá nhân muốn mang lại là tạo nguồn thu cho ngân sách và đảm bảo được tính công bằng. Cán bộ thanh tra có nhiệm vụ tìm ra những tổ chức, cá nhân có hành vi trốn tránh nghĩa vụ đăng ký, kê khai và nộp thuế Thu nhập cá nhân, những sai phạm từ cá nhân quản lý thuế Thu nhập cá nhân. Qua việc thanh tra sẽ giúp cơ quan quản lý thấy được những quy định của pháp luật chưa phù hợp với thực tế cuộc sống, những vi phạm từ hoạt động quản lý thuế và Người nộp thuế. Thanh tra định kỳ sẽ làm giảm ý định trốn nghĩa vụ thuế của các đối tượng, tăng tính răn đe của pháp luật, hạn chế vi phạm việc tự kê khai và khấu trừ thu nhập trước khi chi trả thu nhập của tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập, hạn chế các hành vi bao che, cấu kết giữa cán bộ quản lý với Người nộp thuế. Từ đó đảm bảo việc thu đúng và đủ thuế cho nguồn thu Ngân sách nhà nước. Vì vậy, cần đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra thuế để phát hiện ra các trường hợp cố tình khai man, trốn thuế; nghiêm túc xử lý các hành vi vi phạm. Trong trường hợp có dấu hiệu không hợp tác người thi hành công vụ cần có sự can thiệp kịp thời của các cơ quan chức năng bảo vệ pháp luật. Việc xử phạt thật nghiêm minh sẽ là điều kiện quan trọng để giảm bớt các trường hợp vi phạm, tăng cường chống thất thu thuế Thu nhập cá nhân và mang đến sự bình đẳng trong thực thi pháp luật về đăng ký, kê khai và nộp thuế Thu nhập cá nhân.

  • Về xử lý vi phạm pháp luật thuế thu nhập cá nhân Luận văn: Hoàn thiện thuế thu nhập cá nhân của người lao động.

Việc xử phạt đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế. Theo quy định thì Người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế, hết thời gian gia hạn nộp hồ sơ khai thuế thì bị coi là trốn thuế và bị phạt từ 1 đến 3 lần số thuế trốn. Quy định này chưa phù hợp vì khi Người nộp thuế có những lý do khách quan chưa thể nộp thuế đúng thời hạn nhưng đã tự giác nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế thì không thể coi là hành vi trốn thuế. Vì vậy nên quy định trường hợp nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế mà có lý do chính đáng thì chỉ bị xử phạt hành chính về hành vi chậm nộp hồ sơ khai thuế, không coi là hành vi trốn tránh, gian lận thuế. Đồng thời cũng đưa ra những lý do nào được coi là chính đáng, hồ sơ chứng minh gồm những gì và các biện pháp xử lý đối với trường hợp chậm nộp hồ sơ khai thuế quá 90 ngày mà có lý do chính đáng. Để có sự công bằng giữa việc Người nộp thuế chậm nộp tiền thuế và cơ quan thuế cần quá nhiều thời gian để xét duyệt hồ sơ hoàn thuế thì pháp luật nên quy định trách nhiệm trả số tiền lãi bằng với mức mà Người nộp thuế chậm nộp thuế bị xử lý chậm nộp thuế khi cơ quan thuế chậm trễ trong việc đưa ra quyết định hoàn thuế.

3.3. Kiến nghị hoàn thiện cơ chế thực thi pháp luật thuế thu nhập cá nhân

3.3.1. Về quản lý thông tin người nộp thuế thu nhập cá nhân, quản lý thu nhập cá nhân trong các doanh nghiệp

  • Hoàn thiện về quản lý thông tin người nộp thuế thu nhập cá nhân

Quản lý thông tin của chủ thể nộp thuế đóng vai trò quan trọng trong phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn và được quy định thành nội dung cơ bản trong pháp luật quản lý thuế ở các quốc gia, đặc biệt là các nước thực hiện quản lý thuế theo cơ chế tự khai, tự nộp. Để những tổ chức quản lý thuế có thể phát hiện nhanh nhất các tình huống vi phạm mà vẫn cam kết tôn trọng quyền tự do, dân chủ, tự chịu trách nhiệm của chủ thể nộp thuế trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế, nhiều quốc gia đã ứng dụng phương pháp quản lý thuế trên cơ sở dữ liệu thông tin tổng hợp và quản lý rủi.

Từ kinh nghiệm tổ chức quản lý thuế ở một số nước dẫn chứng rằng một trong những điều quan trọng nhất để đảm bảo tính hiệu quả trong công cuộc quản lý thuế là cơ quan quản lý thuế phải có được hệ thống cơ sở dữ liệu thông tin đầy đủ về người nộp thuế và khả năng ứng dụng tốt những thành tựu về công nghệ thông tin trong thu thập, quản lý và sử dụng các nguồn thông tin về người nộp thuế. Do vậy, cần hoàn thiện thêm những quy định cụ thể vào nội dung quản lý thông tin chủ thể nộp thuế.12

Trong quá trình quản lý thuế Thu nhập cá nhân cần xây dựng hệ thống thông tin đầy đủ, chính xác về người nộp thuế nhằm kiểm soát được tất cả các đối tượng chịu thuế, căn cứ tính thuế, người phụ thuộc, phát giác nhanh chóng các vi phạm pháp luật thuế Thu nhập cá nhân. Để đáp ứng nhu cầu đó, hệ thống thông tin cá nhân Người nộp thuế cần phải đầy đủ các thông tin bắt buộc như: Thông tin về đăng ký thuế, kê khai thuế, quyết toán thuế, tình hình chấp hành pháp luật thuế và các thông tin khác có liên quan. Nhằm đề cao tính chính xác của thông tin về chủ thể nộp thuế thì pháp luật cần quy định trách nhiệm của đơn vị quản lý thuế khi tiếp nhận thông tin từ các nguồn khai thác được phải có trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu để nhận định độ trung thực, chính xác của thông tin, và cũng cần quy định trách nhiệm cung cấp thông tin một cách trung thực, chính xác và đề ra hướng xử lý nghiêm ngặt và rõ ràng với những tình huống khai báo gian dối thông tin, không trung thực của các chủ thể. Cần hướng dẫn cụ thể quy trình thu thập, hình thành quy chế quản trị hệ thống thông tin của người nộp thuế. Trong đó quy định rõ trách nhiệm của cơ quan thuế, người nộp thuế và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan. Để tạo niềm tin đảm bảo quyền riêng tư về thông tin của chủ thể nộp thuế như bí mật kinh doanh, bí mật đời tư, ngoài ra pháp luật cần quy định chế tài cho cơ quan thuế và cán bộ, công chức thuế trong việc đàm bảo quyền riêng tư về thông tin cần được của chủ thể nộp thuế, chỉ rõ chi tiết từng trường hợp cụ thể nào cơ quan thuế được cung cấp thông tin cho các cơ quan khác khi có yêu cầu. Đồng thời cũng cần quy định rõ trách nhiệm bồi thường thiệt hại, xử lý vi phạm hành chính trong vi phạm lĩnh vực thuế và thậm chí có thể là chịu trách nhiệm hình sự đối với những cán bộ thuế cố tình dùng những thông tin bí mật của Người nộp thuế để tư lợi không vì mục đích quản lý. Quy định này giúp xây niềm tin với nhân dân để cơ quan quản lý thông tin thuế có thể dễ dàng thu thập được nhiều dữ liệu về chủ thể nộp thuế, từ đó có được một bộ máy hệ thống thông tin đa chiều, đầy đủ nhằm phục vụ tốt công tác quản lý thuế Thu nhập cá nhân.

Quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế trong việc xây dựng hệ thống thông tin về người phụ thuộc của người nộp thuế Thu nhập cá nhân đơn giản hóa việc tra cứu trên toàn hệ thống thông tin từ Trung ương tới địa phương. Trường hợp có nghi ngờ một người được nhiều người nộp thuế Thu nhập cá nhân kê khai đăng ký giảm trừ người phụ thuộc thì quy định việc đưa hồ sơ người phụ thuộc giữa các cơ quan thuế để phát hiện các trường hợp kê khai trùng người phụ thuộc và biện pháp xử lý.

  • Hoàn thiện công tác quản lý thu nhập của lao động trong các doanh nghiệp

Nước ta vẫn còn đang chậm về việc quản lý thu nhập của lao động trong các doanh nghiệp so với các nước phát triển hiện nay. Vấn đề này xảy ra do việc thanh toán, giao dịch phát sinh trong xã hội ở các nước bạn đã chuyển sang một hình thức chi trả khác, không sử dụng tiền mặt giúp việc kiểm soát của họ trở nên dễ dàng hơn, giám sát chặt chẽ hơn. Trong khi đó nước ta vẫn còn nhiều vùng chưa tiếp cận được với công nghệ số nên vẫn còn tiếp tục sử dụng tiền mặt, kéo theo nhiều giao dịch vẫn còn đang chấp nhận hình thức thanh toán tiền mặt. Từ đó, ta mất dần sự kiểm soát đối với các giao dịch thế này. Ta vẫn còn kiểm soát bằng hình thức gián tiếp thông qua các thông tin được cung cấp bởi các doanh nghiệp, cơ quan chi trả thu nhập hay các sở, ban ngành, hội đồng, chính quyền các cấp.

3.3.2. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật thuế thu nhập cá nhân Luận văn: Hoàn thiện thuế thu nhập cá nhân của người lao động.

Nhằm nâng cao nhận thức về chấp hành pháp luật thuế Thu nhập cá nhân cho nhân dân thì đầu tiên phải nâng cao độ nhận diện trong pháp luật. Phổ biến tuyên truyền là một biện pháp quan trọng để vận động quần chúng là một hình thái của công tác tư tưởng.

Độ nhận diện tức là mức độ phổ biến và không bị nhầm lẫn giữa các quy định pháp luật thuế Thu nhập cá nhân với các hình thức quy phạm khác. Cần hợp tác với các phương thức truyền đạt như báo chính thống từ điện tử, đến tạp chí, lẫn trên các kênh thông tấn truyền hình để đưa đến người xem, người đọc nhiều thông tin hơn. Khi người dân được tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin như giải thích các điều luật hiện hành, các sự đổi mới trong công tác thực hiện thuế hiện nay,… dần sẽ trở thành tiền đề, mối quan tâm chung để người dân có cơ hội, ý thức tìm hiểu chi tiết hơn. Ngoài ra giúp người lao động nộp thuế chủ động cập nhật những thay đổi mới để kịp thời tra cứu, đối chiếu lại thông tin cập nhật với cơ quan, cán bộ thuế.

3.3.3. Nâng cao trình độ chuyên môn, đạo đức của công chức ngành thuế và trang bị cơ sở vật chất hợp lý để ngành thuế hoàn thành nhiệm vụ

  • Xây dựng tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp và chuyên môn của cán bộ ngành thuế.

Khởi nguyên từ yêu cầu công tác quản lý hành chính, nhiệm vụ xây dựng, kiện toàn công chức ngành thuế chính quy, hiện đại là yêu cầu hết sức cấp bách để ngành thuế có được đội ngũ chuyên viên có tinh thần chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp, kiến thức nghiệp vụ chắc, ứng dụng số hóa trong quản lý vận hành và kiểm tra hoạt động thuế, có khả năng ứng dụng phát triển khoa học kỹ thuật vào công tác quản lý thu thuế nhằm cải cách trình tự cách thức thực hành của các thủ tục hành chính về thuế theo hướng hiện đại. Để đạt được yêu cầu đó, cần có một số giải pháp nâng cao nghiệp vụ thuế. Việc tuyển dụng nhân viên vào làm việc trong ngành thuế đòi hỏi phải đặt một trình độ kiến thức nhất định về các ngành liên quan theo yêu cầu, có tố chất và đạo đức tốt mới được tuyển dụng. Thực hiện bồi dưỡng đối với cán bộ đang làm bộ phận về tài chính, kế toán,về chính sách trong quy định thuế hiện hành, kỹ năng sử dụng ngoại ngữ, tin học. Bên cạnh vấn đề nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ thuế, cũng không nên đặt nhẹ việc nâng cao tư tưởng cách mạng, nhận thức trách nhiệm cá nhân, tập thể, ý thức nghĩa vụ phục vụ nhân dân nhằm đề cao tính tự giác của các công chức thuế. Bởi lẽ trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại những mặt trái, có mối quan hệ biện chứng với đời sống, tâm lý và đạo đức của con người, trong đó có cán bộ công chức thuế khi không vững tinh thần dễ bị sa ngã về phẩm chất, có tâm tính vụ lợi, đã xuất hiện hành vi tiêu cực gây mất niềm tin và đánh đồng quan niệm về công chức từ người nộp thuế… gây thất thoát cho ngân sách nhà nước. Song hành với đó, cần phải tăng cường công tác kiểm định chất lượng hoạt động của cơ quan thuế. Thời gian qua đa phần những điểm sơ hở, thiếu sót của cán bộ thuế xuất phát từ việc tố giác hoặc từ kết luận điều tra của cơ quan kiểm định sau khi đã có sai sót . Để ngăn chăn và cắt bỏ kịp thời những tiêu cực từ những cán bộ thuế tha hóa, sa lầy, biến chất thì cần phải tăng cường xúc tiến những công tác giám sát hoạt động của cơ quan thuế các cấp như: Lập tổ công tác giám sát nội bộ; phổ biến các công tác của các bộ phận khác nhau trong đơn vị nhằm dễ dàng tiến hành kiểm tra chéo; Lập bộ phận ghi nhận phản hồi góp ý từ người nộp thuế để kịp thời tiếp nhận và đưa ra phương thức xử lý kịp thời những trường hợp vi phạm của cán bộ thuế. Luận văn: Hoàn thiện thuế thu nhập cá nhân của người lao động.

  • Trang bị cơ sở vật chất hợp lý để ngành thuế hoàn thành nhiệm vụ tốt hơn.

Cơ sở vật chất bao gồm trụ sở làm việc, phương tiện công tác và các tài sản khác. Cơ sở vật chất các cục thuế còn rất hạn chế: Trụ sở làm việc chật hẹp xuống cấp, một số đơn vị phải mượn tạm trụ sở để làm việc, thiếu phương tiện công tác cho đến nay bằng nhiều nguồn kinh phí sửa chữa – xây dựng – mua sắm do Tổng cục thuế cấp, nguồn kinh phí hỗ trợ của địa phương và kinh phí tiết kiệm được, ngành thuế đã từng bước trang bị vật chất cho toàn ngành về cơ bản phải đáp ứng được nhu cầu cần thiết cho công tác. Tuy vậy, hiện nay còn một số Đội thuế phường, xã trụ sở làm việc chật hẹp, xuống cấp đòi hỏi phải được tiếp tục xem xét đưa vào kế hoạch hàng năm bảo đảm cho các Đội ở xã, phường có trụ sở làm việc, thuận tiện cho người dân đến liên hệ nộp thuế. Ngành thuế cần hoàn thiện hơn nữa cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin nhằm khắc phục nhanh sự cố vào lúc cao điểm thực hiện thao tác đăng ký và kê khai thuế Thu nhập cá nhân khi mạng bị nghẽn; liên kết hệ thống thông tin thuế; giữa thuế và kho bạc; xây dựng hệ thống tự tính, tự khai và tự nộp thuế; xây dựng chương trình đối chiếu hóa đơn; đăng ký thuế Thu nhập cá nhân và xây dựng hệ thống xử lý tính thuế thu nhập cá nhân. Để thực hiện được cần phải có nguồn lực tài chính, do đó Bộ Tài chính tham mưu đề ra kế hoạch để Chính Phủ ban hành cơ chế tài chính phù hợp để thực hiện.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Trên cơ sở thực tiễn thi hành pháp luật thuế Thu nhập cá nhân cho người lao động trong doanh nghiệp , tác giả kiến nghị hoàn thiện về pháp luật thuế thu nhập cá nhân như đối tượng nộp thuế, thuế suất, chiết trừ gia cảnh; nhóm kiến nghị nâng cao chất lượng tổ chức thực thi pháp luật thuế Thu nhập cá nhân như kê khai, khấu trừ, thanh tra vi phạm, kiểm tra xử lý vi phạm; và nhóm tác động tới việc tổ chức thực thi như truyền đạt phổ biến pháp luật liên quan thuế Thu nhập cá nhân, đặt ra vấn đề đào tạo bồi dưỡng trình độ chuyên môn và đạo đức cách mạng cho cán bộ thuế; cơ sở vật chất để cơ quan thuế thực hành tốt chức năng và nghĩa vụ của cơ quan. Tác giả hy vọng các điều giải pháp được đặt ra và áp dụng để góp phần thiết thực vào việc cải thiện pháp luật thuế Thu nhập cá nhân và tổ chức thực hiện ở TP.HCM.

KẾT LUẬN Luận văn: Hoàn thiện thuế thu nhập cá nhân của người lao động.

Từ quá trình nghiên cứu pháp luật về thuế thu nhập cá nhân của đối tượng người lao động làm việc tại các doanh nghiệp trong địa bàn Tp. Hồ Chí Minh, Luận văn đưa ra những đúc kết sau:

Những quy định về thuế Thu nhập cá nhân tác động tới đối tượng là người lao động trong doanh nghiệp được đề cập và áp dụng không những phổ biến rộng rãi mà còn là sắc thuế trực thu đóng góp một phần quan trọng ở các nước phát triển trên thế giới. Tại nước ta hiện nay, thuế Thu nhập cá nhân riêng đối với người lao động trong doanh nghiệp cũng góp phần thúc đẩy nền kinh tế trong nước được thúc đẩy, phát triển. Tại Tp. Hồ Chí Minh, nơi được xem là một trong những trung tâm kinh tế bậc nhất cả nước, việc quan tâm đến sự ảnh hưởng của thuế Thu nhập cá nhân ở người lao động là điều đáng chú ý. Áp dụng luật thuế Thu nhập cá nhân cho người lao động đúng và phù hợp với từng thời kỳ kinh tế là rất cần thiết. Điều này có tác động tích cực cho nền kinh tế cả trong và ngoài nước. Đặc biệt khi một trong những trung tâm kinh tế lớn ở Việt Nam như Tp. Hồ Chí Minh phát triển sẽ dẫn đến việc kích các nền kinh tế thị trường trong cùng khu vực được phát triển theo. Vậy nên việc xây dựng, sửa chữa, đổi mới hệ thống pháp luật về thuế Thu nhập cá nhân đặc biệt là đối với người lao động là việc đáng chú tâm và nên làm.

Trong phạm vi nghiên cứu tác giả đã đưa ra những giải pháp cơ bản cho những vấn đề đã đặt ra như sau:

Một là, đối với nền tảng cơ sở lý luận, thuế Thu nhập cá nhân của người lao động được căn cứ dựa trên thuế thu nhập cá nhân. Luận văn đã sơ lược lịch sử quá trình từ thuở ban sơ thành lập và phát triển của thuế Thu nhập cá nhân ở các nước nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Khai thác những nội dung cơ bản mà hầu hết pháp luật tại các quốc gia phát triển trên thế giới quy định như: Người chịu thuế là những ai, mức thu nhập nào chịu hay không chịu thuế, các nền tảng để lập phương thức tính thuế và thuế suất đặt ra trong từng trường hợp cụ thể. Căn cứ vào đó xác định được người lao động trong doanh nghiệp là đối tượng chịu thuế theo thuế Thu nhập cá nhân. Bên cạnh đó khái quát các quy định có liên quan đến đối tượng là thuế Thu nhập cá nhân của người lao động trong quan hệ lao động tại doanh nghiệp.

Hai là, về phần thực trạng của việc thi hành các quy định về thuế Thu nhập cá nhân đối với cá nhân là người lao động trong quan hệ lao động với doanh nghiệp, trên cơ sở thực thi theo quy định của pháp luật Luận văn chỉ ra những con số, số liệu thực tiễn thay đổi khi áp dụng các văn bản pháp luật vào thực tế. Song song đó, xác định và nghiên cứu sâu hơn những vấn đề tác động đến việc áp dụng pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với người lao động trong doanh nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh. Xác định đâu là nguyên nhân gây ra sự ảnh hưởng của những yếu tố trên. Các dữ liệu số ở phần này đã góp phần làm rõ và tăng tính thực tiễn cho Luận văn. Đưa góc nhìn chân thực hơn đối với thực trạng áp dụng pháp luật thuế Thu nhập cá nhân của người lao động trong doanh nghiệp. Luận văn: Hoàn thiện thuế thu nhập cá nhân của người lao động.

Ba là, phần cuối của Luận văn đề cập đến những bất cập và những kiến nghị mang ý xây dựng, hoàn thiện thuế Thu nhập cá nhân đối với cá nhân là người lao động trong doanh nghiệp nói chung và thuế thu nhập với cá nhân nói riêng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân của người lao động

One thought on “Luận văn: Hoàn thiện thuế thu nhập cá nhân của người lao động

  1. Pingback: Luận văn: Thực trạng thuế thu nhập cá nhân của người lao động

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464