Luận văn: Hoàn thiện bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoàn thiện bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Hoàn thiện và đảm bảo thực thi các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu vấn đề về các phương diện lý luận và thực tiễn ở các chương trước, Chương 4 của luận án xác định những yêu cầu, nội dung và kiến nghị giải pháp hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự ở Việt Nam, đồng thời đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định này trong thực tiễn.

4.1. Những yêu cầu và nội dung cần hoàn thiện của các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay

4.1.1. Những yêu cầu đối với việc hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay

Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm, phương thức của việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự, những chuẩn mực quốc tế về vấn đề này cũng như sự thể hiện của các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự thực định có thể chỉ ra rằng: để đảm bảo tính hợp lý và hiệu quả, các quy định nhằm bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự hiện nay cần phải được hoàn thiện trên cơ sở đáp ứng những yêu cầu sau:

Một là: việc hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS phải thể chế hóa được quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo vệ quyền phụ nữ

Việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự có những ý nghĩa hết sức quan trọng: Đó là việc tôn trọng và thực thi yêu cầu của pháp luật quốc tế liên quan đến nhân quyền của một nửa nhân loại; là việc góp phần thực hiện mục tiêu cách mạng: xóa bỏ bất bình đẳng về chủng tộc, giai cấp và giới; là sự thể hiện quan điểm, thái độ coi trọng của Đảng, Nhà nước đối với quyền phụ nữ và góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân trong việc tôn trọng, bảo vệ các quyền phụ nữ; là một trong những phương diện đảm bảo mục đích tồn tại của luật hình sự, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ pháp luật. Chính vì vậy, Đảng ta đã đề ra những quan điểm chỉ đạo sâu sắc đối với việc hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự cả ở góc độ hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và hoàn thiện chính sách, pháp luật đối với phụ nữ nói riêng.

Trước hết, hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự hiện nay là một nội dung cụ thể nhằm thực hiện chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quan điểm chỉ đạo đầu tiên đối với chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật hiện nay được thể hiện trong Nghị quyết số 48 năm 2005 của Bộ Chính trị là:

Thể chế hoá kịp thời, đầy đủ, đúng đắn đường lối của Đảng, cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; bảo đảm quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân; xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển văn hoá – xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh [5, mục 2.1, phần I]. Luận văn: Hoàn thiện bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.

Trên cơ sở quan điểm chỉ đạo đó, định hướng thứ hai trong sáu định hướng xây dựng và hoàn thiện pháp luật đến năm 2020 là xây dựng và hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân [5, mục 2, phần 2].

Như vậy, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về quyền con người chính là một chiến lược trọng tâm về xây dựng, hoàn thiện pháp luật của Đảng ta. Trong khi đó, quyền phụ nữ chính là quyền con người của một nửa thế giới, là nhân quyền của nhóm xã hội dễ bị tổn thương cần được đặc biệt quan tâm, bảo vệ. Vậy nên, việc xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự nhằm bảo vệ quyền phụ nữ phải hướng tới thực hiện chiến lược hoàn thiện pháp luật về quyền con người của Đảng.

Thứ hai, việc hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự chính là một nhiệm vụ cơ bản của công tác phụ nữ trong thời đại hiện nay.

Công tác phụ nữ luôn được Đảng ta xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Riêng vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ đặc biệt được nhấn mạnh với tư cách là một chủ trương trọng tâm nhằm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII bởi các nội dung:

Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ. Nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện các luật pháp, chính sách đối với lao động nữ, tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò của mình; tăng tỷ lệ phụ nữ tham gia gia vào cấp ủy và bộ máy quản lý nhà nước. Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và hành vi bạo lực, buôn bán, xâm hại và xúc phạm nhân phẩm phụ nữ [24, tr.129].

Theo đó, “kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và hành vi bạo lực, buôn bán, xâm hại và xúc phạm nhân phẩm phụ nữ” là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng nhằm bảo vệ quyền phụ nữ, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện nhiệm vụ này, pháp luật hình sự phải được hoàn thiện nhằm trở thành cơ sở pháp lý hữu hiệu, phương tiện đắc lực phục vụ công tác đấu tranh chống mọi hành vi xâm phạm nghiêm trọng các quyền phụ nữ.

Hai là: các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS phải đảm bảo tính thống nhất với Hiến pháp và các đạo luật khác của quốc gia. Đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật là một yêu cầu cơ bản của nền pháp chế xã hội chủ nghĩa. Vì thế, mục tiêu hàng đầu của Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2020 được xác định là: “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch…” [5, mục 1, phần I]. Thực hiện mục tiêu trên, BLHS – một đạo luật cơ bản trong hệ thống pháp luật Việt Nam – nhất định phải thống nhất với Hiến pháp và các luật khác của Nhà nước Việt Nam. Về phương diện bảo vệ quyền phụ nữ, BLHS phải bảo vệ đầy đủ và hữu hiệu các quyền con người, quyền công dân của phụ nữ mà Hiến pháp và các luật khác quy định. Điều đó không chỉ đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật mà còn là việc thực hiện vai trò, chức năng của luật hình sự bởi vì với tư cách là ngành luật bảo vệ, luật hình sự luôn được các ngành luật khác dẫn chiếu đến để chống lại các vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong lĩnh vực quan hệ xã hội mà chúng điều chỉnh. Luận văn: Hoàn thiện bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.

Ba là: các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS phải được hoàn thiện nhằm đáp ứng các yêu cầu của pháp luật quốc tế, tương thích với pháp luật của các quốc gia trên thế giới

“Phát huy cao độ nội lực, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế” là một trong những quan điểm chỉ đạo đối với Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2020 [5]. Theo đó, việc xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về bảo hộ đối với các nhân quyền của phụ nữ được đề ra bởi các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia. Hơn nữa, quyền phụ nữ là một giá trị phổ biến như Tuyên bố Vienna và Chương trình hành động thông qua tại Hội nghị thế giới về quyền con người năm 1993 đã khẳng định: “Các quyền của phụ nữ và trẻ em gái là một bộ phận cấu thành, gắn liền và không thể tách rời khỏi các quyền mang tính phổ biến của con người” [48]. Do đó, việc ghi nhận, bảo vệ các quyền này trong pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật hình sự nói riêng phải dựa trên cơ sở những giá trị nhân quyền được cộng đồng nhân loại tiến bộ thừa nhận.

Bên cạnh đó, tương thích pháp luật với các quốc gia khác là một điều kiện quan trọng để hội nhập trong xu thế toàn cầu hóa. Đồng thời, với khuynh hướng diễn biến xuyên quốc gia của nhiều loại tội phạm xâm phạm quyền phụ nữ thì công cuộc hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống nhất định đòi hỏi đến tính tương đồng, gần gũi của hệ thống pháp luật ở các quốc gia có liên quan.

Bốn là: các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS phải được hoàn thiện trên lập trường quan điểm vị nữ quyền, phù hợp với đặc thù giới. Như đã chỉ ra (ở Chương 2), quyền phụ nữ phản ánh những đặc thù giới và đòi hỏi được bảo hộ bằng một chế độ riêng phù hợp với những đặc thù giới. Các quy định nhằm bảo vệ quyền phụ nữ nếu được xây dựng trên tư duy nam giới, lập trường nam tính hoặc trung tính thì sẽ không đem đến một sự bảo vệ đầy đủ theo nhu cầu, nguyện vọng của phụ nữ, khó phù hợp với đặc tính tâm lý, tình cảm, hành vi, phản ứng thực tế của phụ nữ. Do đó, việc xây dựng, hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự phải chú trọng đến yếu tố “nữ tính”, phải dựa trên lập trường vị nữ quyền.

Năm là: các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS phải được xây dựng với chất lượng cao về mặt kỹ thuật lập pháp. Một trong những thuộc tính, của pháp luật là tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức: nội dung pháp luật phải được thể hiện trong những hình thức xác định, quy định rõ ràng, chặt chẽ để đảm bảo dễ hiểu và chỉ được hiểu theo một nghĩa duy nhất [106, tr.210-211]. Đây vừa là thuộc tính, đồng thời là yêu cầu về hình thức của pháp luật. Đối với pháp luật hình sự, tính chặt chẽ về mặt hình thức lại càng đòi hỏi cao hơn nữa vì quy phạm pháp luật hình sự là cơ sở cho việc xác định loại vi phạm pháp luật nghiêm trọng nhất, cho phép áp dụng những chế tài hà khắc nhất trong hệ thống pháp luật. Đáp ứng yêu cầu chung đó, các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS phải được thiết kế chính xác, rõ ràng và hợp lý. Thực tiễn pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự hiện nay đã chứng minh việc tồn tại những mô tả chưa cụ thể, bất nhất, quy định không công bằng ở các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS không chỉ làm ảnh hưởng đến uy tín của đạo luật mà còn gây ra nhiều khó khăn, vướng mắc trong áp dụng các quy định này. Do vậy, hoàn thiện các quy định của BLHS nói chung, trong đó quy định bảo vệ quyền phụ nữ nói riêng cần phải đáp ứng yêu cầu chất lượng cao về kỹ thuật lập pháp, làm cơ sở cho việc áp dụng chính xác, thống nhất để bảo vệ một cách hiệu quả các quyền phụ nữ. Luận văn: Hoàn thiện bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.

Sáu là: các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS phải được xây dựng phù hợp với thực tiễn tội phạm và khả thi. Đây là những yêu cầu chung đối với mọi quy định pháp luật hình sự chứ không phải riêng các quy định bảo vệ quyền phụ nữ. Tuy nhiên, qua phân tích thực trạng pháp luật cho thấy nhiều quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam còn chưa phản ánh chính xác hoặc không theo kịp diễn biến của thực tiễn tội phạm dẫn đến vướng mắc, bất cập trong áp dụng. Một số quy định có mô tả không đầy đủ, rõ ràng, cụ thể dẫn đến không thể áp dụng trực tiếp hoặc mang tính “trang trí” chứ rất ít được thực thi trong thực tế. Do đó, việc tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS trong thời gian tới phải phù hợp với thực tiễn tội và khả thi.

4.1.2. Những nội dung cần hoàn thiện của các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay

4.1.2.1. Những nội dung đã được hoàn thiện bởi các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong Bộ luật hình sự năm 2015

Nhận thức được những hạn chế trong việc bảo vệ nữ quyền của BLHS năm 1999 và tầm quan trọng của vấn đề nên khi xây dựng BLHS năm 2015 các nhà lập pháp Việt Nam đã có nhiều sửa đổi liên quan đến vấn đề này. BLHS năm 2015 được Quốc hội nước ta thông qua vào ngày 27/11/2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có những cải cách quan trọng liên quan đến bảo vệ quyền phụ nữ như sau:

Về việc ghi nhận nhiệm vụ bảo vệ quyền phụ nữ của pháp luật hình sự, Bộ luật mới đã ghi nhận các quyền phụ nữ được bảo vệ với tính phổ quát của nó. BLHS năm 1999 xác định các quyền phụ nữ được bảo vệ với tư cách là quyền công dân trong trong quy định về nhiệm vụ của Đạo luật và định nghĩa tội phạm. BLHS năm 2015 đã ghi nhận rõ ràng “BLHS có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân,…” (Điều 1). Theo đó, các quyền của phụ nữ được luật hình sự bảo vệ với tính chất là quyền của mọi cá nhân mang giới tính nữ chứ không phải chỉ nữ công dân Việt Nam. Tương đồng với nhiệm vụ của đạo luật, quyền con người, trong đó có quyền phụ nữ cũng được khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2005 xác định là khách thể của tội phạm – quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Ở các Chương cụ thể thuộc Phần các tội phạm của Bộ luật, những quyền, tự do này cũng được thừa nhận dưới tư cách quyền con người (Chương XIV, XV).

Trong việc bảo vệ thiên chức làm mẹ của phụ nữ, BLHS năm 2015 đã sửa chữa nhiều hạn chế của BLHS năm 1999:

Một là: BLHS năm 2015 sử dụng thuật ngữ thống nhất để mô tả tình trạng đang mang thai của người phụ nữ. Tất cả các điều, khoản đề cập đến tình trạng của người phụ nữ đều dùng từ “có thai” chứ không bất nhất như BLHS năm 1999. Mặc dù việc sử dụng thuật ngữ không thống nhất của Bộ luật cũ không gây ra cách hiểu khác biệt khi áp dụng nhưng về mặt kỹ thuật thì hình thức văn bản của đạo luật phải thống nhất, chính xác. Luận văn: Hoàn thiện bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.

Hai là: BLHS mới mở rộng phạm vi áp dụng và áp dụng hợp lý hơn tình tiết định khung tăng nặng phạm tội với phụ nữ mà biết là có thai. BLHS năm 2015 bổ sung việc áp dụng tình tiết định khung tăng nặng này đối với nhiều tội phạm có tính bạo lực, có khả năng gây tổn hại tính mạng, sức khỏe hoặc ảnh hưởng xấu đến việc mang thai. Ngoài các tội mà BLHS năm 1999 đã áp dụng tình tiết này (giết người, cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, hành hạ người khác, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy), BLHS 2015 còn áp dụng thêm đối với các tội: làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 127); bức tử (Điều 130); gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 137); lây truyền HIV cho người khác (Điều 148); cố ý truyền HIV cho người khác (Điều 149); bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 157); buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật (Điều 162); cướp tài sản (Điều 168); cưỡng đoạt tài sản (Điều 170); cướp giật tài sản (Điều 171); ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình (Điều 185); cưỡng bức lao động (Điều 272); bắt cóc con tin (Điều 301); ra bản án trái pháp luật (Điều 370); ra quyết định trái pháp luật (Điều 371); dùng nhục hình (Điều 373); bức cung (Điều 374) lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật (Điều 377). Những quy định này thể hiện chính sách tăng cường sự bảo hộ đối với thiên chức làm mẹ.

Việc áp dụng tình tiết định khung tăng nặng “phạm tội đối với phụ nữ mà biết là có thai” ở BLHS mới cũng công bằng, hợp lý hơn Bộ luật cũ vì Bộ luật mới đã yêu cầu dấu hiệu nhận thức chủ quan của người phạm tội ở tất cả các tội bị áp dụng. Chỉ khi nào người phạm tội biết được nạn nhân đang có thai thì mới bị áp dụng khung hình phạt tăng nặng còn trường hợp người phạm tội không biết tình tiết đó thì vẫn áp dụng với tư cách tình tiết tăng nặng TNHS chung.

Ba là: BLHS mới đã tội phạm hóa hành vi tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại. Như đã phân tích, tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại chính là một hình thức kinh doanh cơ thể phụ nữ, rẻ dúng nhân phẩm của họ, đồng thời khiến người phụ nữ mang thai hộ phải thực hiện thiên chức làm mẹ một cách bất đắc dĩ nên Điều 187 BLHS năm 2015 quy định hành vi này là tội phạm. Đối với tội phạm mới này, nhà làm luật quy định hai khung hình phạt với các hình phạt gồm: phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù. Mức phạt tiền cao nhất là 200 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ cao nhất đến 02 năm, phạt tù cao nhất đến 05 năm. Khung tăng nặng được áp dụng trong các trường hợp: phạm tội đối với 02 người trở lên; phạm tội 02 lần trở lên; tái phạm nguy hiểm. Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Với loại tội phạm nhằm mục đích kinh tế này thì mức hình phạt và biện pháp trừng phạt nhằm ngăn ngừa tái phạm như vậy là rất hợp lý. Luận văn: Hoàn thiện bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.

Bốn là: BLHS mới đã trừng phạt nghiêm khắc hơn hẳn đối với hành vi xâm hại thiên chức làm mẹ trong lĩnh vực lao động, việc làm nhằm đáp ứng yêu cầu về chế độ bảo hộ đặc biệt đối với quyền này. Theo Điều 128 BLHS năm 1999, hành động sa thải, buộc người người lao động, cán bộ, công chức nữ thôi việc trái pháp luật trong thời gian mang thai, nuôi con nhỏ chỉ phải chịu hình phạt cao nhất đến 01 năm tù như các trường hợp sa thải trái pháp luật người lao động bình thường khác (kể cả khi có thể áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS là phạm tội với phụ nữ có thai). Hình phạt đó rõ ràng chưa đủ sức răn đe, chưa tương xứng với tính chất nghiêm trọng của tội phạm cũng như chưa thể hiện được chính sách bảo hộ đặc biệt cho lao động nữ trong thời gian thai sản, nuôi con nhỏ. BLHS năm 2015 đã bù đắp khiếm khuyết này bằng cách thêm một khung hình phạt tăng nặng đối với tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật trong các trường hợp phạm tội “đối với phụ nữ mà biết là có thai” và “đối với người đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi” (điểm b và c khoản 2 Điều 162). Trong các trường hợp này, người phạm tội phải chịu khung hình phạt tăng nặng là đến 03 năm tù (khung cơ bản vẫn được giữ nguyên như BLHS năm 1999 là đến 01 năm tù). Quy định mới đã thể hiện được quan điểm nhấn mạnh chính sách bảo hộ đặc biệt trong lao động nhằm đảm bảo điều kiện kinh tế cho việc thực hiện thiên chức làm mẹ của phụ nữ.

Năm là: khi bổ sung quy định mới về tha tù trước thời hạn có điều kiện, BLHS mới đã có chính sách ưu tiên nhằm tạo điều kiện cho người phụ nữ thực hiện thiên chức làm mẹ. Khoản 1 Điều 66 BLHS năm 2015 quy định về các điều kiện để người đang chấp hành án tù được tha tù trước thời hạn, trong đó có quy định ưu tiên phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi về điều kiện liên quan đến khoảng thời gian đã chấp hành hình phạt. Theo đó, điều kiện về thời gian đã chấp hành hình phạt của phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi và một số đối tượng ưu tiên khác chỉ là ít nhất một phần ba hình phạt tù có thời hạn và 12 năm đối với tù chung thân, trong khi những người bình thường phải đáp ứng điều kiện là ít nhất đã chấp hành một phần hai hình phạt tù có thời hạn và 15 năm đối với tù chung thân. Quy định này đã góp phần thể hiện tính phù hợp giữa hệ thống các quy định về hình phạt của BLHS với chế độ bảo hộ đặc biệt đối với thiên chức làm mẹ trong những chuẩn mực chung về quyền phụ nữ.

Để bảo vệ tự do và an ninh cá nhân của phụ nữ, BLHS mới đã hoàn thiện quy định về tội mua bán người với mô tả cấu thành cụ thể. BLHS năm 1999 chỉ quy định tội mua bán phụ nữ và khung hình phạt (Điều 119), sau đó được sửa đổi thành tội mua bán người (năm 2009) nhưng vẫn không có mô tả cụ thể. Điều này như đã phân tích: vừa gây khó khăn cho việc xác định cấu thành tội phạm, vừa dẫn đến bỏ lọt nhiều dạng của hành vi mua, bán người được quy định bởi các văn kiện pháp lý quốc tế cũng như đạo luật liên quan của quốc gia. Để khắc phục, khoản 1 Điều 150 BLHS năm 2015 đã mô tả các dạng hành vi cấu thành tội mua bán người như sau: Luận văn: Hoàn thiện bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.

Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lừa gạt hoặc bằng thủ đoạn khác thực hiện một trong các hành vi sau thì bị…:

  1. Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để giao, nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;
  2. Chuyển giao hoặc tiếp nhận người để bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động, lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân hoặc vì mục đích vô nhân đạo khác;
  3. Tuyển mộ, vận chuyển, chứa chấp người khác để thực hiện hành vi quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản này.

Theo đó, chỉ cần thực hiện bất kỳ hành vi thuộc một khâu nào trong việc mua bán người với bất kỳ thủ đoạn nào đều đã cấu thành tội mua bán người. Quy định này rõ ràng và hoàn toàn tương thích với định nghĩa của Nghị định thư bổ sung cho Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000 và Luật Phòng chống mua bán người năm 2011 của Việt Nam.

Bên cạnh việc hoàn thiện quy định về tội mua bán người, Bộ luật mới bổ sung tình tiết thể hiện sự chú trọng đối với nữ tính hơn trong quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người khác. Đó là tình tiết “Dùng a-xít sunfuric (H2SO4) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” tại điểm b khoản 1 Điều 134. Ngoài những tổn hại đối với sức khỏe, thủ đoạn phạm tội này gây ra sự hủy hoại nghiêm trọng đối với hình thức thẩm mỹ của nạn nhân. Mà như đã nêu, đối với phụ nữ việc bị hủy hoại dung mạo đặc biệt gây đau khổ và bất hạnh. Vậy nên BLHS năm 2015 đã quy định tình tiết dùng a-xít sunfuric (H2SO4) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là tình tiết định tội nếu thương tật gây ra chưa đạt ngưỡng định tội (11%) và là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt nếu thương tật gây ra đã đủ định tội.

Trong việc bảo vệ quyền tự do và an toàn tình dục, BLHS năm 2015 đã có cải cách thể hiện quan điểm vị nữ quyền sâu sắc hơn và phù hợp với thực tiễn tội phạm hơn. Các phân tích ở phần trên đã chỉ ra rằng, BLHS năm 1999 chỉ thừa nhận hành vi giao cấu mới là hành vi thuộc mặt khách quan của các tội hiếp dâm, cưỡng dâm. Điều này vừa thiếu sót bởi chưa chú trọng bảo vệ sự toàn vẹn thể xác, tinh thần và tự chủ về tình dục của phụ nữ; vừa không phản ánh đúng thực tiễn tội phạm với những khuynh hướng biến thái về hành vi tình dục đang ngày càng gia tăng. Sửa chữa cho điều này, BLHS 2015 ghi nhận bên cạnh hành vi giao cấu thì “hành vi quan hệ tình dục khác” cũng cấu thành các tội hiếp dâm, cưỡng dâm ở Điều 141, 142, 143 và 144.

Như vậy, khi xây dựng BLHS năm 2015 các nhà lập pháp Việt Nam đã có nhiều cải cách tích cực liên quan đến nhiệm vụ bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự. Mặc dù vậy nhưng trong số những hạn chế đã nêu của BLHS năm 1999, có hạn chế đã được Bộ luật mới khắc phục hoàn toàn, có hạn chế được sửa chữa nhưng chưa triệt để và có cả những hạn chế chưa hề được quan tâm, hoàn thiện. Luận văn: Hoàn thiện bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.

4.1.2.2. Những nội dung cần tiếp tục hoàn thiện của các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong Bộ luật hình sự năm 2015

Các phân tích ở trên cho thấy: bên cạnh những bước tiến rõ rệt trong việc bảo vệ quyền phụ nữ, BLHS năm 2015 vẫn còn duy trì một số khiếm khuyết đã thấy ở BLHS năm 1999, cần phải tiếp tục được hoàn thiện.

Một là: BLHS năm 2015 vẫn quy định áp dụng tình tiết tăng nặng định khung phạm tội với phụ nữ mà biết có thai một cách không tương xứng. Mặc dù đã bổ sung việc áp dụng tình tiết phạm tội đối với phụ nữ mà biết là có thai để định khung tăng nặng hình phạt ở hầu hết các tội có tính bạo lực, có khả năng gây tổn hại tính mạng, sức khỏe hoặc ảnh hưởng xấu đến việc mang thai nhưng Bộ luật mới vẫn bỏ qua tội hiếp dâm, cưỡng dâm. Trong khi tội hiếp dâm, cưỡng dâm có đầy đủ các tính chất trên và việc hiếp dâm, cưỡng dâm phụ nữ mà biết là có thai rõ ràng thể hiện sự vô nhân tính, dã man đặc biệt nhưng BLHS năm 2015 chưa coi đây là tình tiết định khung tăng nặng đối với tội phạm này. Tình tiết nạn nhân bị hiếp dâm, cưỡng dâm là phụ nữ có thai sẽ chỉ bị xem xét với tư cách là tình tiết tăng nặng TNHS chung “phạm tội với phụ nữ có thai”. Điều đó khiến trường hợp thủ phạm biết rõ nạn nhân là phụ nữ có thai mà vẫn hiếp dâm, cưỡng dâm vốn có tính dã man hơn hẳn chỉ bị trừng phạt ở cùng khung hình phạt với trường hợp thủ phạm không biết điều này.

Hai là: BLHS năm 2015 vẫn duy trì khiếm khuyết của BLHS năm 1999 trong các quy định về tội phạm tình dục khi chưa ghi nhận tình tiết làm nạn nhân sảy thai là tình tiết tăng nặng TNHS riêng đối với các tội phạm về tình dục. Như đã chỉ ra, bạo lực tình dục đối với phụ nữ có thai chứa đựng nguy cơ gây sảy thai một cách rõ rệt. Sảy thai đối với phụ nữ gây ra thiệt hại tinh thần nghiêm trọng cho bản thân nạn nhân và thân nhân của họ, nó cũng có thể gây suy giảm hoặc mất khả năng sinh sản về sau. Và trong khi ghi nhận tình tiết làm nạn nhân có thai là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt đối với các tội phạm tình dục mà không thừa nhận vị trí tương tự của tình tiết làm nạn nhân sảy thai là không hợp lý.

Ba là: BLHS năm 2015 vẫn quy định một cách thiếu chặt chẽ về Tội phá thai trái phép. Tội phá thai trái phép ở Điều 316 Bộ luật này đã được sửa đổi so với Điều 243 của Bộ luật năm 1999 tuy nhiên việc sửa đổi chỉ làm rõ hơn căn cứ áp dụng của các khung hình phạt chứ không làm rõ cấu thành của tội phạm. Do đó, Điều luật không làm rõ được rằng chỉ hành vi phá thai do người không có thẩm quyền, tại cơ sở y tế không có thẩm quyền (không được phép, trái phép) mới phạm tội hay cả những hành vi phá thai mà không đảm bảo quy trình, điều kiện chuyên môn, kỹ thuật cũng phạm tội này.

Bốn là: BLHS năm 2015 vẫn chưa tội phạm hóa hành vi quấy rối tình dục.

Như đã nêu, đây là hành vi xâm phạm sự tự do, riêng tư về tình dục, chà đạp nhân phẩm con người đã bị pháp luật quốc tế và quốc gia nghiêm cấm. Diễn biến của hành vi này đã được nghiên cứu trong thực tiễn ở nước ta là khá nghiêm trọng nhưng BLHS năm 2015 cũng giống như BLHS năm 1999, chưa tội phạm hóa hành vi này. Ở BLHS năm 2015 cũng không thể áp dụng tội dâm ô để xử lý quấy rối tình dục người lớn vì Điều 146 của Bộ luật vẫn quy định về Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi giống như BLHS năm 1999 quy định về Tội dâm ô đối với trẻ em (Điều 116).

Năm là: mặc dù đã tội phạm hóa hành vi tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại nhưng BLHS năm 2015 lại chưa có chính sách xử lý phù hợp đối với trường hợp có tính chất đặc biệt nghiêm trọng của tội phạm này là cưỡng bức mang thai hộ vì mục đích thương mại. Cưỡng bức mang thai hộ là hành vi chà đạp nghiêm trọng quyền thực hiện thiên chức của phụ nữ, sự an toàn và phẩm giá của con người. Cưỡng bức mang thai hộ khiến người phụ nữ buộc phải thực hiện thiên chức làm mẹ khi họ không mong muốn, bắt ép họ phải chịu một nguy cơ rủi ro về sức khỏe và đặc biệt, đó là một hình thức bóc lột phụ nữ trên cơ sở sỉ nhục nhân phẩm của họ khi coi cơ thể họ là một “cỗ máy” để lợi dụng kiếm tiền. Trường hợp này nguy hiểm hơn hẳn hành vi tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại mà bản thân người phụ nữ mang thai hộ ưng thuận thực hiện điều đó. Nếu như cưỡng bức mại dâm là một trường hợp bị trừng phạt với khung hình phạt tăng nặng của tội chứa mại dâm thì tương tự như vậy, cưỡng bức phụ nữ thực hiện việc mang thai hộ cũng phải chịu hình phạt nghiêm khắc hơn hẳn.

Sáu là: BLHS năm 2015 vẫn chưa có giải pháp ngăn chặn hành vi phá thai lý do giới tính. Tội phá thai trái phép ở Điều 316 nằm trong Chương Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng nên nó chỉ hướng tới việc điều chỉnh những hành vi vi phạm quy định của Nhà nước về thẩm quyền, điều kiện tiến hành việc phá thai nhằm đảm bảo an toàn cho thai phụ chứ không hướng tới bảo vệ quyền sống của thai nhi. Hành vi phá thai vì lý do giới tính là hành vi tước đoạt cơ hội sống của con người vì giới tính của người ấy nên có bản chất khác, không thuộc loại xâm phạm an toàn công cộng.

Như vậy, mặc dù đã có những bước tiến đáng kể nhưng BLHS năm 2015 vẫn còn nhiều hạn chế trong việc bảo vệ quyền phụ nữ. Để khắc phục những tồn tại, khiếm khuyết liên quan đến bảo vệ quyền phụ nữ như phân tích ở trên, BLHS vừa mới thông qua này cần phải được tiếp tục hoàn thiện theo định hướng và giải pháp cụ thể được đề xuất dưới đây.

4.2. Định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay Luận văn: Hoàn thiện bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.

4.2.1. Định hướng tiếp tục hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay

Như đã chỉ ra ở trên, BLHS năm 2015 được ban hành nhằm thay thế cho BLHS năm 1999 đã có những bước tiến đáng kể so với Bộ luật cũ trong việc bảo vệ quyền phụ nữ. Tuy nhiên, Bộ luật mới vẫn duy trì một số hạn chế của Bộ luật cũ mà có thể khắc phục được với phương hướng như sau:

Thứ nhất: Bổ sung tình tiết “phạm tội với phụ nữ mà biết là có thai”, “phạm tội làm nạn nhân sảy thai” là tình tiết tăng nặng định khung đối với tội hiếp dâm, cưỡng dâm. Những trường hợp này có tính chất nghiêm trọng tương đương với những trường hợp hiếp dâm, cưỡng dâm có tính chất loạn luân hoặc làm nạn nhân có thai. Vì vậy phạm tội hiếp dâm, cưỡng dâm đối với phụ nữ mà biết có thai; hiếp dâm, cưỡng dâm làm nạn nhân sảy thai nên xếp vào cùng một khung hình phạt với những trường hợp trên.

Thứ hai: Sửa đổi quy định về tội phá thai trái phép thành tội vi phạm các quy định về phá thai an toàn và làm rõ cấu thành tương ứng với tội danh. Đây là tội xâm phạm quy định quản lý nhà nước về hoạt động phá thai, bao gồm tất cả các trường hợp: việc phá thai thực hiện bởi người không có thẩm quyền, phá thai ở nơi không có thẩm quyền, phá thai không đáp ứng yêu cầu chuyên môn gây tổn hại tính mạng, sức khỏe của người được phá thai.

Thứ ba: Tội phạm hóa hành vi quấy rối tình dục hoặc sửa đổi Tội dâm ô với người dưới 16 tuổi để có thể áp dụng cả trong trường hợp hành vi quấy rối tình dục diễn ra đối với nạn nhân là người lớn.

Thứ tư: Tội phạm hóa hành vi cưỡng bức mang thai hộ vì mục đích thương mại hoặc xem xét đây như một trường hợp định khung tăng nặng hình phạt của Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại.

Thứ năm: Tội phạm hóa hành vi phá thai vì lý do giới tính. Tuy nhiên, việc ngăn chặn hành vi phá thai vì lí do giới tính bằng pháp luật hình sự nếu không được thực hiện bởi một phương án chặt chẽ, hợp lý sẽ vấp phải nhiều rào cản như: không có khả năng chứng minh tội phạm trong thực tế; không công bằng nếu bỏ qua những trường hợp phá thai một cách tùy tiện, vô nhân đạo khác; dễ xung đột với một số quyền, tự do của phụ nữ và chính sách kế hoạch hóa gia đình hoặc trở thành ngăn cản phi lý đối với những trường hợp cần thiết phải phá thai vì lí do nhân đạo; thậm chí có thể thúc đẩy hoạt động phá thai trái phép, đe dọa an toàn về tính mạng, sức khỏe của người mang thai. Luận văn: Hoàn thiện bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.

Nếu lựa chọn phương án trực tiếp quy định hành vi phá thai vì lí do giới tính là tội phạm sẽ phải đối mặt với hai vấn đề: khó khăn trong chứng minh tội phạm và không công bằng vì bỏ qua những trường hợp phá thai vô nhân đạo khác. Khi quy định tội danh phá thai vì lí do giới tính thì động cơ vì lí do giới tính là dấu hiệu cấu thành bắt buộc của tội phạm nhưng lại rất khó chứng minh bởi động cơ là thứ diễn ra bên trong ý thức chủ quan của người phạm tội và kể cả pháp luật không ngăn cấm thì người mong muốn phá thai vì lí do giới tính cũng luôn có khuynh hướng che giấu động cơ đó bởi sự e ngại về phương diện đạo đức. Quy định tội danh phá thai vì lí do giới tính cũng có nghĩa là cấu thành tội này không đề cập đến những dạng hành vi phá thai có tính chất vô nhân đạo khác, chẳng hạn như tùy tiện chấm dứt sự sống của những thai nhi đã phát triển, có cảm giác, cảm xúc gần như con người hoàn thiện. Bỏ qua những hành vi như vậy trong khi phá thai vì lí do giới tính bị trừng phạt là không công bằng. Mặt khác, để công bằng mà quy định thêm tội danh khác nhằm xử lý về hình sự đối với những hành vi tùy tiện tước đoạt quyền sống của thai nhi một cách tàn nhẫn, vô nhân đạo lại khiến đạo luật hình sự trở nên cồng kềnh không cần thiết.

Nếu lựa chọn phương án tội phạm hóa tất cả các hành vi phá thai, không phân biệt động cơ, mục đích nhằm khắc phục khó khăn trong chứng minh tội phạm và ngăn chặn được mọi hành vi tước đoạt quyền sống của thai nhi thì lại xung đột với một số quyền, tự do của phụ nữ và chính sách kế hoạch hóa gia đình, trở thành ngăn cản phi lý đối với những trường hợp cần thiết phải phá thai vì lí do nhân đạo, thúc đẩy hoạt động phá thai trái phép, thiếu an toàn.

Trước hết, việc ngăn cấm mọi hành vi phá thai rõ ràng xung đột với quyền tự do riêng tư và một số quyền về tính mạng, sức khỏe của phụ nữ. Thực hiện thiên chức làm mẹ là quyền chứ không phải nghĩa vụ của phụ nữ nên trong những trường hợp người phụ nữ không mong muốn mang thai và sinh nở, sự tự do lựa chọn của họ cần được tôn trọng. Bên cạnh đó, trong thực tế có rất nhiều trường hợp người phụ nữ có thai không thể tiếp tục mang thai và sinh ra đứa trẻ vì điều đó đe dọa tính mạng, sức khỏe thể chất và tinh thần của họ. Cấm phá thai trong những trường hợp này lại xâm phạm đến quyền được bảo đảm về tính mạng, sức khỏe của phụ nữ. Hơn nữa, quyền tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, bao gồm cả các dịch vụ liên quan đến kế hoạch hóa gia đình cũng là một quyền mà Công ước của Liên Hợp Quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW 1979) đòi hỏi các quốc gia thành viên phải đảm bảo cho phụ nữ.

Bên cạnh đó, ngăn cấm hoàn toàn tối với hành vi phá thai sẽ cản trở việc thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình của Nhà nước. Để phòng ngừa sự gia tăng đột biến về dân số, Nhà nước ta quy định một trong các quyền và nghĩa vụ của các cặp vợ chồng, cá nhân trong thực hiện kế hoạch hóa gia đình là sinh 01 hoặc 02 con (Điều 10 Pháp lệnh Dân số năm 2003 sửa đổi, bổ sung). Những người đã có đủ 02 con nhưng không được phép phá thai khi tiếp tục mang thai mà sẽ vi phạm chính sách này. Không chỉ vi phạm chính sách kế hoạch hóa gia đình, việc buộc phải sinh ra một đứa trẻ ngoài ý muốn còn có thể ảnh hưởng tiêu cực đến tình trạng kinh tế, công việc, hạnh phúc của cá nhân, gia đình.

Đồng thời, cấm hoàn toàn việc phá thai cũng là rào cản phi lý đối với những trường hợp mà việc phá thai cần phải được thực hiện vì lí do nhân đạo như: thai nhi bị khuyết tật hoặc có nguy cơ phát triển không bình thường, thai nhi được thụ thai do bị hiếp dâm, cưỡng dâm… Cấm phá thai trong những trường hợp này có thể gây ra đau khổ cho người mang thai, bản thân đứa trẻ khi được sinh ra và những người liên quan. Luận văn: Hoàn thiện bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.

Ngoài ra, không cho phép phá thai trong mọi trường hợp sẽ tạo ra nguy cơ thúc đẩy hoạt động phá thai trái phép, không đảm bảo an toàn cho tính mạng, sức khỏe của người phá thai. Như đã chỉ ra, nhu cầu được phá thai rõ ràng là cần thiết trong các trường hợp mang thai ngoài ý muốn, việc mang thai đe dọa tính mạng, sức khỏe của thai phụ, thai nhi có nguy cơ dị tật hoặc phát triển không bình thường… Nếu hành vi phá thai bị cấm, người mang thai trong những trường hợp đó sẽ nỗ lực giải quyết nhu cầu bức thiết bằng cách lén lút thực hiện hành vi phá thai trái phép tại những nơi có thể không đủ điều kiện về chuyên môn y tế để đảm bảo cho tính mạng, sức khỏe của họ.

Như vậy, việc bảo vệ một cách tuyệt đối quyền sống của thai nhi trong mọi trường hợp hay cho phép chấm dứt quyền sống đó bất kỳ lúc nào, vì bất cứ lý do gì để đảm bảo sự tự do riêng tư của phụ nữ đều là không thỏa đáng và vi phạm nhân quyền. Quyền sống của thai nhi, quyền tự do riêng tư của phụ nữ, tính chất nhân đạo khi cân nhắc lựa chọn giữa hai quyền trên đều phải được giải quyết một cách hài hòa. Nghiên cứu pháp luật một số quốc gia trên thế giới cho thấy kinh nghiệm lập pháp rút ra từ các quy định liên quan trong pháp luật hình sự nước Cộng hòa Liên bang Đức là một giải pháp hợp lý, cho phép giải quyết một cách cân đối những vấn đề trên. Theo quy định tại Điều 218, 218a, 218b, 218c của BLHS Cộng hòa Liên bang Đức (ban hành năm 1994, sửa đổi năm 2009) thì phá thai là tội phạm trừ khi việc phá thai đáp ứng những điều kiện rất chặt chẽ sau đây: 1) Được thực hiện bởi một bác sĩ; 2) Diễn ra trong thời gian không quá 12 tuần kể từ khi thụ thai; 3) Có sự đồng ý của thai phụ sau khi được tư vấn đầy đủ và có giấy chứng nhận về việc tư vấn theo quy định. Đối với những trường hợp thụ thai do bị cưỡng dâm, hiếp dâm, lạm dụng tình dục thì việc phá thai cũng chỉ được coi là hợp pháp với đầy đủ các điều kiện trên. Tuy nhiên, trong trường hợp việc phá thai là để ngăn chặn nguy cơ gây hại nghiêm trọng mà không thể khắc phục đối với tính mạng, sức khỏe (cả thể chất và tinh thần) của thai phụ thì không cần đáp ứng điều kiện về tuần tuổi của thai nhi. Nếu việc phá thai không đáp ứng được những điều kiện trên thì cả thai phụ và người tiến hành phá thai đều bị trừng phạt với hình phạt tiền hoặc tước đoạt tự do [95, tr.352-360]. Luận văn: Hoàn thiện bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.

Theo đó, pháp luật hình sự Đức tội phạm hóa tất cả những hành vi phá thai trên 12 tuần tuổi trừ khi việc phá thai là để ngăn chặn nguy cơ gây hại nghiêm trọng mà không thể khắc phục đối với tính mạng, sức khỏe (cả thể chất và tinh thần) của thai phụ. Bằng cách đó, pháp luật hình sự Đức vẫn cho phép người mang thai được tự do cân nhắc, định đoạt việc có tiếp tục mang thai và sinh nở trong khoảng thời gian là 12 tuần kể từ khi mang thai. Sau khoảng thời gian này quyền tự do định đoạt đó mới bị chấm dứt. Mốc thời gian 12 tuần khá hợp lý vì nó đủ để những người phụ nữ với nhận thức bình thường có thể nhận thức việc mang thai, cân nhắc quyết định có tiếp tục mang thai hay không. Về mặt y học, phá thai trước 12 tuần tuổi (khi bào thai chưa phát triển đầy đủ) còn giảm thiểu những rủi ro về tính mạng, sức khỏe từ việc phá thai đối với thai phụ. Quyết định chấm dứt thai kỳ được đưa ra trước 12 tuần kể từ khi mang thai cũng đảm bảo yêu cầu về nhân đạo bởi thai nhi trong giai đoạn này là phôi thai chứ chưa trở thành một bào thai hoàn thiện gần như con người nên hành vi phá thai được coi như không quá tàn nhẫn.

Mặc dù đặt ra mốc 12 tuần tuổi để xác định tính bất hợp pháp của hành vi phá thai nhưng pháp luật hình sự Đức cũng không coi là tội phạm nếu hành vi phá thai sau 12 tuần tuổi là để ngăn chặn nguy cơ gây hại nghiêm trọng mà không thể khắc phục đối với tính mạng, sức khỏe của thai phụ. Điều này phù hợp với thực tiễn bởi trong suốt quá trình mang thai, bao gồm những giai đoạn sau 12 tuần, rất nhiều nguy cơ rủi ro về tính mạng, sức khỏe khác có thể xảy ra đối với thai phụ do mang thai. Trong trường hợp đó, quyền được đảm bảo về tính mạng, sức khỏe của thai phụ cần được ưu tiên hơn quyền sống của thai nhi bởi thai phụ là một cá nhân đích thực đang sinh sống, hiện diện thực tế còn sinh mạng của thai nhi mới đang trong quá trình hình thành.

Như vậy, pháp luật hình sự Đức đã đặt ra mốc 12 tuần tuổi để xác định tính bất hợp pháp của hành vi phá thai nhằm đảm bảo một khoảng thời gian cho phép người phụ nữ được tự do định đoạt việc mang thai đồng thời đảm bảo sự an toàn đối với sức khỏe, tính mạng của thai phụ và tính nhân đạo trong việc định đoạt sự sống của thai nhi. Ở Việt Nam, với mục đích ngăn chặn việc phá thai được thực hiện vì lí do giới tính thì mốc giới hạn 12 tuần tuổi thai cũng khá hợp lý bởi bằng kỹ thuật thăm khám thông thường hiện nay thì đó là khoảng thời gian bắt đầu có thể xác định được giới tính thai nhi. Mốc thời gian 12 tuần để xác định việc phá thai là phạm pháp hay không cũng tương đồng với quy định trong Dự thảo Luật dân số của Việt Nam. Điều 21 Dự thảo Luật này cho phép phá thai dưới 12 tuần tuổi trừ trường hợp phá thai để lựa chọn giới tính thai nhi, phá thai gây hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe phụ nữ. Phá thai từ 12 tuần tuổi trở lên là bất hợp pháp, trừ các trường hợp: việc mang thai gây nguy hại đến tính mạng hoặc sức khỏe của thai phụ, thai nhi; có thai do loạn luân; do bị hiếp dâm; có những bằng chứng về nguy cơ sinh ra đứa trẻ có dị tật hoặc có nguy cơ phát triển không bình thường [11].

So với các quy định trong BLHS Đức năm 1994 thì Dự thảo luật dân số Việt Nam bổ sung thêm trường hợp cho phép phá thai trên 12 tuần tuổi khi có những bằng chứng về nguy cơ sinh ra đứa trẻ có dị tật hoặc có nguy cơ phát triển không bình thường. Điều này là cần thiết bởi trong thực tế có nhiều loại khuyết tật nghiêm trọng chỉ được phát hiện khi thai nhi đã phát triển ở những mức độ nhất định, có thể sau 12 tuần hoặc nhiều hơn nữa. Chấm dứt sinh mệnh của thai nhi trong trường hợp này là để đáp ứng yêu cầu nhân đạo đối với chính bản thân thai nhi đó cũng như những người thân thích.

Như vậy, tội phạm hóa tất cả những hành vi phá thai đối với thai nhi trên 12 tuần tuổi nhưng loại trừ các trường hợp việc mang thai gây nguy hại đến tính mạng hoặc sức khỏe của thai phụ; có thai do loạn luân; do bị hiếp dâm, cưỡng dâm; có những bằng chứng về nguy cơ sinh ra đứa trẻ có dị tật hoặc có nguy cơ phát triển không bình thường là giải pháp có thể đáp ứng đồng thời tất cả các yêu cầu: ngăn chặn việc phá thai được thực hiện vì lí do giới tính, đảm bảo các quyền, tự do chính đáng của phụ nữ, đảm bảo tính nhân đạo của hành vi phá thai. Luận văn: Hoàn thiện bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.

Hành vi phá thai bất hợp pháp sau khi bị tội phạm hóa nên được đặt cùng chương và gần các tội xâm phạm tính mạng con người vì bản chất của nó là hành vi tước đoạt cơ hội sống của cá nhân. Tuy đây là loại hành vi nguy hiểm nhưng hình phạt không cần phải đặc biệt nghiêm khắc vì chỉ riêng việc bị coi là tội phạm và đe dọa áp dụng hình phạt đã đủ sức răn đe bởi những người phạm tội này chủ yếu xuất phát từ định kiến giới hoặc vì lợi ích kinh tế.

4.2.2. Giải pháp hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay

Trên cơ sở định hướng hoàn thiện đã được xác định, mô hình lập pháp cụ thể đối với các quy định bảo vệ quyền phụ nữ cần sửa đổi, bổ sung của BLHS năm 2015 được kiến giải như sau:

  • Bổ sung hai tình tiết mới vào khoản 2 Điều 141 về tội hiếp dâm và khoản 2 Điều 143 về tội cưỡng dâm:
  • Sửa đổi tội danh và mô tả lại cấu thành tội phạm tại khoản 1 Điều 316 về tội phá thai trái phép
  • Sửa tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi thành tội dâm ô đối với người khác để có thể xử lý đối với mọi trường hợp có hành vi dâm ô, quấy rối tình dục.

Theo đó cần thay đổi mô tả cấu thành của tội phạm và ghi nhận trường hợp phạm tội đối với người dưới 16 tuổi là trường hợp tăng nặng định khung hình phạt như mô hình đề xuất dưới đây:

  • Bổ sung tình tiết “cưỡng bức mang thai hộ” làm tình tiết định khung tăng nặng đối với tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại ở Điều 187.
  • Tội phạm hóa hành vi phá thai bất hợp pháp để ngăn chặn phá thai vì lý do giới tính. Tội phạm mới này được đặt ở Chương các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe… của con người.

Tiếp thu kinh nghiệm lập pháp hình sự của Cộng hòa liên bang Đức có thể xây dựng mô hình lý luận về tội phá thai bất hợp pháp trong BLHS Việt Nam như sau: Luận văn: Hoàn thiện bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.

Điều….: Tội phá thai bất hợp pháp

  1. Người nào xúi giục, ép buộc người khác phá thai, thực hiện việc phá thai, cung cấp phương tiện, biện pháp để phá thai hoặc đồng ý cho người khác phá thai cho mình đối với thai đủ 12 tuần tuổi trở lên trừ các trường hợp: việc mang thai gây nguy hại đến tính mạng hoặc sức khỏe của thai phụ; có thai do loạn luân; do bị hiếp dâm, cưỡng dâm; có những bằng chứng về nguy cơ sinh ra đứa trẻ có dị tật hoặc có nguy cơ phát triển không bình thường thì bị phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 50 triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.
  2. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

4.3. Một số giải pháp đảm bảo thực thi các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam

Việc hoàn thiện bản thân các quy định nhằm bảo vệ quyền phụ nữ của BLHS là cơ sở quan trọng để đảm bảo hiệu quả thực thi của chúng. Tuy nhiên, hiệu quả thực thi pháp luật còn phụ thuộc nhiều yếu tố chủ quan, khách quan khác nên bên cạnh hoàn thiện pháp luật còn cần tiến hành phối hợp một số giải pháp nhằm đảm bảo thực thi các quy định ấy để nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự. Trên cơ sở những nguyên nhân hạn chế đã được chỉ ra trong thực thi các quy định bảo vệ quyền phụ nữ của BLHS năm 1999 thì việc tiến hành đồng bộ một số giải pháp dưới đây là cần thiết và cấp bách.

4.3.1. Nhóm giải pháp về xây dựng, kiện toàn lực lượng Luận văn: Hoàn thiện bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.

4.3.1.1. Kiện toàn các cơ quan tư pháp nhằm đảm bảo nhiệm vụ bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự

Như đã đề cập ở trên, một trong những nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong thực thi các quy định bảo vệ quyền phụ nữ của BLHS là do hạn chế về lực lượng của các cơ quan tư pháp hình sự và năng lực, đạo đức của một bộ phận cán bộ trong các cơ quan này. Để khắc phục tình trạng đó, cần xây dựng bộ phận chuyên trách và đầu tư đào tạo chuyên môn phù hợp cho việc thực thi các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS; tăng cường tuyển dụng nữ cán bộ làm việc cho các cơ quan tư pháp, chú trọng bố trí cán bộ nữ để đảm bảo tính nhạy cảm về giới khi giải quyết các vụ án liên quan đến phụ nữ; thường xuyên bồi dưỡng kiến thức về giới, kỹ năng đặc thù cho việc giải quyết các vụ án liên quan đến phụ nữ cho các cán bộ tư pháp nói chung. Đồng thời với việc xây dựng lực lượng cần phải thường xuyên giáo dục đạo đức, bồi dưỡng bản lĩnh nghề nghiệp cho cán bộ tư pháp để nâng cao trách nhiệm, sự tận tụy, mẫn cán nghề nghiệp và tinh thần kiên định trước những tác động của định kiến, dư luận xã hội về giới.

Bên cạnh đó, tăng cường hợp tác quốc tế và tổng kết kinh nghiệm liên quan đến công tác bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự cũng là một biện pháp cần thiết để nâng cao năng lực của các cơ quan tư pháp trong công tác này. Bảo vệ quyền phụ nữ được đặt ra trong pháp luật hình sự của mọi quốc gia văn minh trên thế giới. Bởi vậy, trao đổi, học tập kinh nghiệm lập pháp và thực thi các quy định này của các quốc gia tiến bộ là một phương thức hoàn thiện nhanh chóng và nâng cao hiệu quả thực thi các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS Việt Nam. Hơn nữa, tính chất xuyên quốc gia của một số loại tội phạm xâm phạm quyền phụ nữ đòi hỏi phải hợp tác quốc tế chặt chẽ để đấu tranh phòng chống. Đồng thời với học tập kinh nghiệm, hợp tác quốc tế, các cơ quan tư pháp hình sự phải thường xuyên tổng kết, rút kinh nghiệm thực thi các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong luật hình sự để kịp thời cập nhật với sự phát triển của các nhân quyền và sự biến đổi của tội phạm trong đời sống xã hội.

4.3.1.2. Phát huy sức mạnh của các lực lượng, phương tiện kiểm soát xã hội đối với các tội xâm phạm quyền phụ nữ

Các tội phạm xâm phạm quyền phụ nữ diễn ra hàng ngày, hàng giờ, ở mọi nơi trong đời sống xã hội, từ môi trường công cộng đến riêng tư. Do vậy, nếu chỉ đơn độc các cơ quan chức năng phải đảm đương nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống các tội phạm này là bất khả thi. Để tăng cường khả năng phòng ngừa, phát giác, đấu tranh xử lý các tội phạm chống lại phụ nữ cần phát huy tổng hợp sức mạnh của nhiều lực lượng trong xã hội như gia đình, nhà trường, cộng đồng dân cư, tổ chức chính trị, xã hội, nhất là các tổ chức đoàn thể có đông đảo phụ nữ và trẻ em gái là thành viên như Hội liên hiệp phụ nữ, Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên tiền phong… Luận văn: Hoàn thiện bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.

Cùng với việc phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng xã hội này cần phối hợp nhiều phương tiện, công cụ tham gia kiểm soát, ngăn ngừa, phát hiện tội phạm như phương tiện truyền thông, thiết bị giám sát an ninh công cộng, thiết bị tự vệ cá nhân cho phụ nữ…. Có như vậy các tội xâm phạm quyền phụ nữ mới bị ngăn ngừa, phát giác, xử lý kịp thời mọi lúc, mọi nơi.

4.3.2. Nhóm giải pháp về giải thích pháp luật và tuyên truyền, giáo dục

4.3.2.1. Giải thích thống nhất, tuyên truyền, phổ biến quy định của BLHS

Để các quy định của BLHS được thực thi nghiêm túc và nhất quán, trước tiên cần giải thích thống nhất, tuyên truyền, phổ biến quy định của Bộ luật này. Các quy định của BLHS năm 2015 đã có những cải cách đáng kể trong việc bảo vệ quyền phụ nữ. Bộ luật này sẽ sớm có hiệu lực sau khi được thông qua việc sửa đổi. Để đảm bảo thực thi thống nhất, các quy định mang tính khái quát cao của Bộ luật cần phải được giải thích, hướng dẫn áp dụng trong thực tiễn một cách cụ thể. Liên quan đến bảo vệ quyền phụ nữ, đơn cử như các quy định về tội phạm tình dục cần phải được nhận thức thống nhất. Mặc dù Bộ luật mới đã thừa nhận cả các hình vi quan hệ tình dục khác bên cạnh hành vi giao cấu là thỏa mãn mặt khách quan của các tội hiếp dâm, cưỡng dâm. Tuy nhiên, cần nhận thức thống nhất rằng hành vi giao cấu hay quan hệ tình dục khác không nhất thiết phải diễn ra giữa nam và nữ để phù hợp với với những khuynh hướng tình dục đa dạng thực tế đời sống hiện nay. Để thống nhất nhận thức như vậy, cơ quan chức năng cần ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể.

Bên cạnh đó, để Bộ luật đi vào đời sống, cần tiến hành tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trong quần chúng nhân dân, nhất là quần chúng nhân dân ở vùng sâu, vùng xa, nông thôn, miền núi. Rất nhiều hành vi phạm tội xâm hại quyền phụ nữ xảy ra do thiếu hiểu biết pháp luật hoặc nhiều trường hợp chính nạn nhân của các tội xâm phạm quyền phụ nữ và những người xung quanh chấp nhận, dung túng những hành vi xâm hại vì không biết đó là các tội phạm bị Nhà nước kịch liệt lên án bằng cách đe dọa trừng phạt.

4.3.2.1. Giáo dục, nâng cao nhận thức và ý thức bảo vệ quyền phụ nữ

Để nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự, việc giáo dục nhận thức, ý thức bảo vệ quyền phụ nữ trước hết phải hướng đến đối tượng là chính phụ nữ và trẻ em gái. Bản thân nữ giới phải có nhận thức đầy đủ về sự bình đẳng, toàn vẹn về tự do và nhân quyền của giới mình thì mới có ý thức cảnh giác, tự phòng ngừa, tự đấu tranh phản kháng những hành vi xâm phạm nhân quyền của họ. Cùng với nhận thức và ý thức tự bảo vệ, phụ nữ cần được trang bị kiến thức, kỹ năng ứng phó với các vi phạm pháp luật, tội phạm chống lại phụ nữ. Do đó, việc cung cấp thông tin, đào tạo những kỹ năng này nên được gia đình, nhà trường, các tổ chức chính trị, xã hội chú trọng lồng ghép trong giáo dục, quản lý đối với các thành viên nữ.

Để nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo vệ quyền phụ nữ cho toàn thể quần chúng nhân dân, công tác giáo dục trước hết phải nhằm đến mục tiêu xóa bỏ định kiến và những quan niệm lệch lạc về giới, về địa vị, vai trò của phụ nữ trong gia đình, xã hội. Chỉ khi nào những tư tưởng, nhận thức sai lầm đó bị xóa bỏ thì mọi người mới thực sự thừa nhận và tôn trọng sự bình đẳng, toàn vẹn các nhân quyền của phụ nữ, ghi nhận, tôn vinh vai trò, sự đóng góp của phụ nữ đối với xã hội. Trên cơ sở đó, nhận thức về tính nguy hiểm của những hành vi chà đạp thô bạo quyền phụ nữ và ý thức trách nhiệm đấu tranh chống lại những hành vi ấy sẽ hình thành trong quần chúng nhân dân.

4.3.3. Nhóm giải pháp về hoàn thiện các cơ chế hỗ trợ nạn nhân của các tội xâm phạm quyền phụ nữ Luận văn: Hoàn thiện bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.

Để đảm bảo hiệu quả áp dụng của các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS thì các cơ chế hỗ trợ nạn nhân của các tội xâm phạm quyền phụ nữ phải đầy đủ, chặt chẽ và có khả năng hoạt động hữu hiệu. Ví dụ: biện pháp cấm tiếp xúc giữa thủ phạm với nạn nhân của bạo lực gia đình; các biện pháp bảo vệ an toàn cho nạn nhân của tội buôn bán người và thân nhân của họ là yếu tố đặc biệt cần thiết trong phòng ngừa, đấu tranh xử lý các tội phạm này… Tuy nhiên, quy định pháp luật liên quan đến các cơ chế trên hiện nay vẫn còn nhiều bất cập. Chẳng hạn, điều kiện để áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình được quy định tại Điều 20 Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 là:

  1. Có đơn yêu cầu của nạn nhân bạo lực gia đình, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; trường hợp cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có đơn yêu cầu thì phải có sự đồng ý của nạn nhân bạo lực gia đình;
  2. Hành vi bạo lực gia đình gây tổn hại hoặc đe doạ gây tổn hại đến sức khỏe hoặc đe doạ tính mạng của nạn nhân bạo lực gia đình;
  3. Người có hành vi bạo lực gia đình và nạn nhân bạo lực gia đình có nơi ở khác nhau trong thời gian cấm tiếp xúc.

Việc đòi hỏi có đơn yêu cầu của nạn nhân, có sự đồng ý của nạn nhân là chưa là chưa phù hợp với thực tiễn và chưa bảo vệ được các nạn nhân của bạo lực gia đình vì: hầu hết nạn nhân bị bạo lực là người vợ, người con trong đó nhiều người bị phụ thuộc vào người chồng về kinh tế, đặc biệt là người phụ nữ lại rất gắn bó với con cái, nên dù bị đối xử tàn nhẫn nhưng họ vẫn có thể cam chịu, tiếp tục sống chung với người có hành vi bạo lực. Điều kiện về việc có nơi riêng giữa thủ phạm và nạn nhân là không khả thi, vì đa số hành vi bạo lực gia đình xảy ra giữa những người trong gia đình, sống chung trong một mái nhà nên họ không có nơi ở khác.

Liên quan đến bảo vệ nạn nhân của hành vi mua bán người và thân nhân của họ, Điều 10 Nghị định số 62/2012/NĐ-CP về “căn cứ xác định nạn nhân bị mua bán và bảo vệ cho an toàn cho nạn nhân, người thân thích của họ” quy định bước đầu tiên trong thủ tục áp dụng biện pháp bảo vệ là: Luận văn: Hoàn thiện bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.

Tổ chức, cá nhân đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ phải có văn bản đề nghị gửi cơ quan có thẩm quyền. Trường hợp khẩn cấp có thể đề nghị trực tiếp hoặc qua điện thoại và các hình thức thông tin, liên lạc khác nhưng sau đó phải thể hiện bằng văn bản.

Văn bản đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ phải ghi rõ: Thời gian, địa điểm làm văn bản; họ tên, ngày, tháng, năm sinh, quê quán, nghề nghiệp, nơi cư trú của người làm văn bản; đề nghị bảo vệ cho ai… lý do đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ và những nội dung khác có liên quan.

Quy định chặt chẽ này rất khó khả thi vì đa số nạn nhân bị mua bán người là trẻ em hoặc phụ nữ có trình độ văn hóa thấp, ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, ít hiểu biết pháp luật, hạn chế khả năng trình bày các văn bản hành chính…

Chính những bất cập của các cơ chế liên quan như vậy là một trong những yếu tố tạo ra hạn chế năng lực về năng lực đáp ứng của hệ thống tư pháp hình sự đối với nạn nhân của các tội phạm chủ yếu nhằm vào phụ nữ, dẫn đến những loại tội phạm này không được xử lý triệt để. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả thực thi của các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS, nhất định phải hoàn thiện quy định pháp luật về các cơ chế liên quan đến việc bảo vệ quyền phụ nữ.

Ngoài những cơ chế trực tiếp bảo vệ quyền phụ nữ, có những cơ chế khác cũng ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi các quy định bảo vệ quyền phụ nữ của BLHS. Chẳng hạn như cơ chế về hoạt động của các phương tiện truyền thông. Thông tin truyền thông chứa đựng định kiến giới gây ảnh hưởng rất bất lợi cho công tác bảo vệ quyền phụ nữ. Do đó, cơ quan chức năng cần nhanh chóng ban hành các quy định pháp luật chặt chẽ về tiêu chuẩn, chỉ số giới đối với hoạt động thông tin truyền thông.

Kết luận Chương 4 Luận văn: Hoàn thiện bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.

Dựa trên tiền đề là những nghiên cứu lý luận và thực tiễn ở các chương trước của luận án, Chương 4 đã xác định những yêu cầu, nội dung và kiến nghị giải pháp hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự Việt Nam, đồng thời đề xuất những biện pháp nâng cao hiệu quả thực thi những quy định này trong thực tiễn. Cụ thể như sau:

Hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự đang là một yêu cầu cấp thiết bởi đây là một nhiệm vụ cụ thể trong chủ trương về chiến lược xây dựng và hoàn thiện pháp luật của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự được hoàn thiện đúng hướng và hiệu quả thì việc hoàn thiện phải đáp ứng được những yêu cầu sau: phải thể chế hóa được quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo vệ quyền phụ nữ; phải được hoàn thiện trên lập trường quan điểm vị nữ quyền, phù hợp với đặc thù giới; phải được xây dựng với chất lượng cao về mặt kỹ thuật lập pháp; phải đảm bảo tính thống nhất với Hiến pháp và các đạo luật khác của quốc gia; phải đáp ứng các yêu cầu của pháp luật quốc tế, tương thích với pháp luật của các quốc gia trên thế giới; phải phù hợp với thực tiễn tội phạm và khả thi.

Nghiên cứu so sánh nội dung quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong hai BLHS năm 1999 và 2015 cho thấy BLHS năm 2015 mới được ban hành đã có những sửa đổi quan trọng trong bảo vệ quyền phụ nữ. Tuy nhiên, bên cạnh những bước tiến rõ rệt trong việc bảo vệ quyền phụ nữ, BLHS năm 2015 vẫn còn duy trì một số khiếm khuyết đã thấy ở BLHS năm 1999, cần phải tiếp tục được hoàn thiện. Đó là: BLHS năm 2015 vẫn quy định áp dụng tình tiết tăng nặng định khung hình phạt “phạm tội với phụ nữ mà biết có thai” một cách không tương xứng, chưa thừa nhận tình tiết làm nạn nhân sảy thai là một tình tiết khiến các tội hiếp dâm, cưỡng dâm có tính chất nghiêm trọng hơn hẳn và phải trừng phạt nghiêm khắc hơn. BLHS năm 2015 vẫn quy định một cách thiếu chặt chẽ về tội phá thai trái phép; vẫn chưa tội phạm hóa hành vi quấy rối tình dục, hành vi phá thai vì lý do giới tính.

Để hoàn thiện quy định của BLHS năm 2015 nhằm bảo vệ hiệu quả các quyền phụ nữ thì cần giải quyết 05 vấn đề với phương hướng sau: Bổ sung các tình tiết phạm tội đối với phụ nữ mà biết là có thai, làm nạn nhân sảy thai là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt đối với tội hiếp dâm, tội cưỡng dâm; Sửa đổi quy định về tội phá thai trái phép thành tội vi phạm các quy định về phá thai an toàn và làm rõ cấu thành tương ứng với tội danh; Tội phạm hóa hành vi quấy rối tình dục hoặc sửa đổi tội dâm ô với người dưới 16 tuổi để có thể áp dụng cả trong trường hợp hành vi quấy rối tình dục diễn ra đối với nạn nhân là người lớn; xem xét hành cưỡng bức mang thai hộ vì mục đích thương mại như một trường hợp định khung tăng nặng hình phạt của tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại; Tội phạm hóa các hành vi phá thai tùy tiện, vô nhân đạo để ngăn chặn phá thai vì lý do giới tính. Trên cơ sở định hướng hoàn thiện trên, luận án đã đề xuất mô hình lập pháp cụ thể đối với các quy định sẽ sửa đổi, bổ sung của BLHS năm 2015.

Đồng thời với giải pháp hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền phụ nữ của BLHS, luận án kiến nghị một số giải pháp đảm bảo thực thi các quy định này như: xây dựng lực lượng, kiện toàn các cơ quan tư pháp nhằm đảm bảo nhiệm vụ bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự; giải thích thống nhất, tuyên truyền, phổ biến quy định của BLHS; giáo dục nâng cao nhận thức và ý thức bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự; hoàn thiện các cơ chế liên quan đến việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.

KẾT LUẬN Luận văn: Hoàn thiện bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.

Việc nghiên cứu đề tài bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự hiện nay là hết sức cấp thiết bởi ý nghĩa chính trị, xã hội, pháp lý của vấn đề cũng như những nhu cầu về mặt lý luận, thực tiễn, lập pháp. Chính vì vậy, trên thế giới cũng như ở

Việt Nam những năm gần đây có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến đề tài. Tuy nhiên, qua khảo sát tình hình nghiên cứu đề tài này trong các công trình khoa học tiêu biểu trong và ngoài nước cho thấy: các nghiên cứu hiện có chủ yếu đánh giá về pháp luật hình sự thực định hoặc thực tiễn áp dụng các quy định ấy, hầu như chưa có nghiên cứu nào đồng thời giải quyết toàn diện các vấn đề lý luận, thực tiễn về đề tài bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự. Là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu, đồng bộ cả phương diện lý luận, thực tiễn liên quan đến đề tài ở cấp độ luận án tiến sĩ, Luận án này cho phép rút ra một số kết luận như sau:

Bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự là việc chống lại sự xâm hại đối với các quyền con người đặc thù của riêng nữ giới và các quyền con người dễ bị tổn thương do chủ thể là nữ giới từ phía những hành vi có tính chất tội phạm cũng như từ phía hoạt động xây dựng pháp luật hình sự.

Các quyền phụ nữ phải được bảo vệ bằng pháp luật hình sự bởi vì được pháp luật bảo vệ là một thuộc tính của các quyền phụ nữ (quyền con người nói chung) mà ngành luật có chức năng bảo vệ trong hệ thống pháp luật là luật hình sự. Việc bảo vệ quyền phụ nữ phải được đặt ra một cách chuyên biệt trên nền của chế độ bảo vệ quyền con người nói chung trong pháp luật hình sự bởi tính gắn liền với đặc thù giới và dễ bị tổn thương của các quyền phụ nữ.

Pháp luật hình sự bảo vệ quyền phụ nữ bằng các phương thức đặc trưng là: Tội phạm hóa và đe dọa trừng phạt những hành vi xâm hại quyền phụ nữ; 2) Phi tội phạm hóa những tội phạm mà cấu thành của nó hạn chế quyền phụ nữ; 3) Đảm bảo hệ thống hình phạt phù hợp với các tiêu chí về quyền phụ nữ.

Thực hiện nhiệm vụ bảo vệ quyền phụ nữ, BLHS Việt Nam năm 1999 đã có một hệ thống các quy định từ Phần chung cho đến Phần các tội phạm nhằm bảo vệ quyền phụ nữ. Bộ luật này đã xác định nhiệm vụ bảo vệ quyền phụ nữ thông qua nhiệm vụ bảo vệ quyền công dân; tội phạm hóa và trừng phạt nghiêm khắc những hành vi xâm hại quyền bình đẳng, quyền thực hiện thiên chức làm mẹ, quyền tự do và an toàn tình dục, quyền tự do và an ninh cá nhân, quyền tự do hôn nhân của phụ nữ; trì hoãn hoặc loại trừ việc áp dụng, thi hành những hình phạt mà gây ảnh hưởng, cản trở quyền phụ nữ; coi đặc điểm tâm sinh lý của phụ nữ mang thai, sinh nở là một yếu tố để xem xét giảm nhẹ hình phạt áp dụng đối với phụ nữ.

Tuy nhiên, về phương diện bảo vệ nữ quyền, BLHS năm 1999 vẫn còn những hạn chế, thiếu sót như: quan điểm về các quyền phụ nữ được bảo vệ chưa đảm bảo tính phổ quát của những quyền này; một số quy định bảo vệ quyền phụ nữ chưa thực sự phù hợp với nữ tính, thiếu cụ thể và bất cập so với thực tiễn tội phạm; nhiều quy định nhằm bảo vệ quyền phụ nữ còn mắc lỗi kỹ thuật khiến cho Bộ luật không nhất quán, khó áp dụng hoặc có kẽ hở; Bộ luật còn bỏ lọt tội phạm hoặc một số dạng của tội phạm cụ thể mà các văn kiện pháp lý quốc tế và quốc gia ngăn cấm; chưa đáp ứng được yêu cầu về chế độ bảo hộ đặc biệt đối với thiên chức làm mẹ trong quan hệ lao động; chưa phản ánh đầy đủ biểu hiện khách quan của một số hành vi phạm tội trong thực tiễn, bỏ lọt tội phạm hoặc chưa theo kịp diễn biến của chúng trong đời sống xã hội.

Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự 10 năm gần đây cho thấy: mặc dù đã được thực thi nghiêm túc để trấn áp các loại tội phạm xâm hại quyền phụ nữ, đảm bảo quyền của người phụ nữ phạm tội trong quan hệ pháp luật hình sự nhưng việc thực thi các quy định bảo vệ quyền phụ nữ của BLHS năm 1999 vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế. Hiệu quả áp dụng của các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS chưa cao, tội phạm xâm phạm quyền phụ nữ vẫn gia tăng, nhiều loại tội xâm phạm quyền phụ nữ còn ở tình trạng ẩn đa số. Việc áp dụng những quy định bảo hộ đặc biệt đối với quyền thực hiện thiên chức làm mẹ của BLHS dễ bị lợi dụng để trốn tránh TNHS. Nhiều hành vi xâm hại nghiêm trọng quyền phụ nữ và nguy hiểm đến mức đe dọa an ninh xã hội, diễn ra phổ biến trong thực tế nhưng không bị áp dụng TNHS. Quan điểm cứng nhắc trong việc áp dụng quy định về các tội phạm tình dục dẫn đến việc xử lý tội phạm không thỏa đáng với tính chất, hậu quả của hành vi hoặc bất cập trước sự biến đổi của tội phạm trong tình hình mới. Luận văn: Hoàn thiện bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.

Những tồn tại, hạn chế trên, xuất phát từ nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan khác nhau. Về khách quan: bản thân các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS năm 1999 còn nhiều thiếu sót; những quan niệm bất bình đẳng giới, định kiến giới còn tồn tại và ảnh hưởng mạnh mẽ trong xã hội; phần lớn các loại tội xâm phạm quyền phụ nữ thường xảy ra ở những môi trường có tính riêng tư nên khó phát giác, xử lý; nhận thức về quyền phụ nữ, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống các tội xâm phạm quyền phụ nữ trong xã hội chưa cao. Về chủ quan: các lực lượng thực thi, bảo vệ pháp luật còn hạn chế về nhân lực và chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với công tác bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự; khả năng của các cơ quan tư pháp hình sự trong việc đáp ứng nhu cầu trợ giúp của nạn nhân của các tội xâm phạm quyền phụ nữ chưa cao; nhận thức, quan điểm của cơ quan thực thi pháp luật hình sự còn có một số bất cập hoặc chịu sự ảnh hưởng bởi định kiến; một bộ phận nhỏ cán bộ thực thi pháp luật còn thiếu trách nhiệm, tinh thần mẫn cán nghề nghiệp… Do đó, để nâng cao hiệu quả thực thi các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS cần phải khắc phục đồng thời cả những nguyên nhân khách quan và chủ quan trên.

Thực trạng trên cho thấy việc hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong pháp luật hình sự đang là một yêu cầu cấp thiết. Để đảm bảo hiệu quả, việc hoàn thiện các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong BLHS phải đáp ứng được những yêu cầu sau: phải thể chế hóa được quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo vệ quyền phụ nữ; phải được hoàn thiện trên lập trường quan điểm vị nữ quyền, phù hợp với đặc thù giới; phải được xây dựng với chất lượng cao về mặt kỹ thuật lập pháp; phải đảm bảo tính thống nhất với Hiến pháp và các đạo luật khác của quốc gia; phải đáp ứng các yêu cầu của pháp luật quốc tế, tương thích với pháp luật của các quốc gia trên thế giới; phải phù hợp với thực tiễn tội phạm và có tính khả thi.

BLHS năm 2015 mới được ban hành đã có những cải cách quan trọng trong bảo vệ quyền phụ nữ như: ghi nhận các quyền phụ nữ được bảo vệ với tính phổ quát của nó; nhiều quy định đã thể hiện quan điểm vị nữ quyền sâu sắc hơn và phù hợp với thực tiễn tội phạm hơn; sử dụng thuật ngữ thống nhất để mô tả tình trạng đang mang thai của người phụ nữ; tăng cường việc áp dụng và áp dụng hợp lý hơn tình tiết định khung tăng nặng phạm tội với phụ nữ mà biết có thai; làm rõ cấu thành và quy định hợp lý các tội: tội giết con mới đẻ, tội mua bán người, tội buộc công chức, viên chức thôi việc hoặc sa thải người lao động trái pháp luật; tội phạm hóa hành vi tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại…

Tuy nhiên, BLHS năm 2015 cũng chưa giải quyết được toàn bộ, triệt để những thiếu sót của BLHS năm 1999.

Bên cạnh những bước tiến rõ rệt trong việc bảo vệ quyền phụ nữ, BLHS năm 2015 vẫn còn duy trì một số khiếm khuyết đã thấy ở BLHS năm 1999, cần phải tiếp tục hoàn thiện. Đó là: BLHS năm 2015 vẫn quy định áp dụng tình tiết tăng nặng định khung phạm tội với phụ nữ mà biết có thai một cách không tương xứng; chưa thừa nhận tính nghiêm trọng của các trường hợp xâm hại về tình dục mà làm nạn nhân sảy thai; vẫn quy định một cách thiếu chặt chẽ về tội phá thai trái phép; vẫn chưa tội phạm hóa hành vi quấy rối tình dục, phá thai vì lý do giới tính; bỏ qua tính nghiêm trọng của trường hợp cưỡng bức mang thai hộ khi tội phạm hóa hành vi tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại.

Để hoàn thiện quy định của BLHS năm 2015 nhằm bảo vệ hiệu quả các quyền phụ nữ cần giải quyết 05 vấn đề với phương hướng như sau: Bổ sung tình tiết phạm tội với phụ nữ mà biết là có thai, phạm tội làm nạn nhân xảy thai làm tình tiết tăng nặng định khung đối với tội hiếp dâm, tội cưỡng dâm; Sửa đổi quy định về tội phá thai trái phép thành tội vi phạm các quy định về phá thai an toàn và làm rõ cấu thành tương ứng với tội danh; Sửa đổi tội dâm ô với người dưới 16 tuổi để có thể áp dụng cả trong trường hợp hành vi quấy rối tình dục diễn ra đối với nạn nhân là người lớn; xem xét hành vi cưỡng bức mang thai hộ vì mục đích thương mại như một trường hợp định khung tăng nặng hình phạt của tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại; tội phạm hóa tất cả các hành vi phá thai tùy tiện, vô nhân đạo nhằm ngăn chặn hành vi phá thai vì lý do giới tính. Trên cơ sở định hướng hoàn thiện trên, luận án đã đề xuất mô hình lập pháp cụ thể đối với các quy định được sửa đổi, bổ sung của BLHS năm 2015.

Đồng thời với giải pháp hoàn thiện pháp luật, trên cơ sở đánh giá các nguyên nhân hạn chế trong áp dụng các quy định bảo vệ quyền phụ nữ của BLHS, luận án kiến nghị một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định này như: hoàn thiện các cơ chế liên quan đến việc bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình; xây dựng, củng cố lực lượng đảm bảo nhiệm vụ bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự; nâng cao nhận thức và ý thức bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự… Luận văn: Hoàn thiện bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Bảo vệ quyền phụ nữ bằng pháp luật hình sự Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464