Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hệ quả và phương thức xử lý đối với di chúc bị hủy bỏ hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Hệ quả và các phương thức xử lý đối với di chúc bị hủy bỏ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Hệ quả người được chỉ định thừa kế theo di chúc không được hưởng di sản
Khi tranh chấp về di chúc phát sinh, việc xác định di chúc hợp pháp, di chúc không hợp pháp toàn bộ, di chúc hợp pháp một phần, di chúc không hợp pháp một phần có ý nghĩa quan trọng để làm căn cứ phân chia di sản thừa kế đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các đương sự. Nếu xác định phần di chúc bị hủy bỏ đúng, đương nhiên việc phân chia di sản sẽ đảm bảo, nếu xác định sai thì hệ quả pháp lý của việc chia di sản không đúng và các bản án, quyết định có nguy cơ bị hủy, sửa. Do đó, nếu xác định di chúc bị hủy thì người chỉ định thừa kế theo di chúc không được hưởng di chúc. Khi di chúc được hủy bỏ bởi di chúc mới thì người có tên trong di chúc bị hủy bỏ không được hưởng tài sản đã được định đoạt lại (đồng thời hủy bỏ di chúc cũ) có giá trị pháp lý thì người có tên trong di chúc mới được hưởng di sản.
2.1.1. Xác định phần di chúc bị hủy bỏ (không phát sinh hiệu lực).
Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế. Tuy nhiên, không phải bản di chúc nào đều phát sinh hiệu lực, mà chỉ trong phạm vi tại Điều 643, BLDS năm 2015. Tuy nhiên, tại Điều 643 nêu rất nhiều nội dung di chúc có hiệu lực và di chúc không phát sinh hiệu lực chứ không phải riêng di chúc bị hủy bỏ mới vô hiệu. Việc xác định di chúc bị hủy bỏ dẫn đến không làm phát sinh quyền thừa kế có ý nghĩa quan trọng trong việc phân chia di sản, giúp cho cơ quan xét xử thực hiện tốt nhiệm vụ.
Khoản 2, Điều 643 BLDS năm 2015 xác định di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp: Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực. Nội dung quy định này đã rõ, phù hợp với thực tiễn và khi áp dụng ít vướng mắc, bất cập. Còn tại các khoản 3,4,5 Điều này xác định di chúc không có hiệu lực, nếu: di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực; Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực; Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực. Ở đây luật thực định quy định có tính khái quát cao, do đó khi áp dụng vào thực tiễn trong từng trường hợp cụ thể sẽ có hệ quả khác nhau. Trong chương 1 tác giả đã phân tích các trường hợp hủy bỏ di chúc và ví dụ bằng những bản án cụ thể. Tuy nhiên, chỉ dừng lại làm rõ những bất cập của vấn đề hủy bỏ di chúc còn ở phần này tác giả phân tích rõ thêm hệ quả pháp lý, xác định phần di chúc không phát sinh hiệu lực.
Trong vụ án được bình luận theo Quyết định số 179/2006/DT-GĐT ngày 27/7/2006 của TANDTC, trường hợp cụ Diễn đã định đoạt luôn tài sản của cụ Nhiên (di chúc định đoạt tài sản người khác). Trong trường hợp này, di chúc không phát sinh hiệu lực đối với phần tài sản của cụ Nhiên. Nếu tòa án đơn thuần chỉ xác định 1/2 di chúc không phát sinh hiệu lực thì hệ quả pháp lý của việc phân chia di sản sẽ không thuyết phục. Di chúc này chỉ có hiệu lực 9/16 và phần không phát sinh hiệu lực là 7/16 tài sản. Mặt khác, đối với những trường hợp di chúc bị hủy bỏ có xen lẫn các yếu tố truất quyền hưởng di sản hoặc định đoạt tài sản chung của hộ gia đình thì cách xác định phần bị hủy bỏ cũng được xem xét một cách toàn diện.
Tuy nhiên, cũng có quan điểm cùng với quan điểm của tòa án cho rằng trong trường hợp này di chúc không phát sinh hiệu lực 1/2. Vì kỷ phần trong 1/2 tài sản của cụ Nhiên chưa được cụ Diễn khai nhận di sản để xác lập quyền sở hữu thì chưa có quyền để di chúc tiếp cho người khác. Luận văn: Hệ quả và phương thức xử lý đối với di chúc bị hủy bỏ.
Theo quan điểm tác giả, thời điểm mở thừa kế là thời điểm cụ Nhiên chết (03/11/1987) phát sinh quyền thừa kế theo pháp luật đối với các đồng sở hữu. Tại Điều 636, 639 BLDS năm 1995 quy định: Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Như vậy, cụ Diễn lập di chúc để lại toàn bộ nhà đất của 2 cụ cho ông Trù ngày 20/5/1996. Cụ Diễn đã định đoạt phần di sản cụ Nhiên là không đúng pháp luật. Tuy nhiên, kỷ phần mà cụ Diễn được thừa kế theo pháp luật từ cụ Nhiên thì cụ Diễn có quyền được di chúc lại cho người khác. Về mặt ý chí của cụ Diễn thể hiện để lại toàn bộ thì không có lý do nào kỷ phần mà cụ được hưởng từ cụ Nhiên không được định đoạt trong di chúc của mình và từ khi cụ nhiên chết đến khi cụ Diễn lập di chúc vẫn chưa quá thời hiệu thời kế. Do đó, khi xét xử đối với những trường hợp tương tự Tòa án nên công nhận kỷ phần mà người lập di chúc được hưởng trong khối tài sản chung định đoạt trong di chúc.
Hoặc trong trường hợp khác, văn bản hủy bỏ di chúc được xác định không phát sinh hiệu lực thì di chúc vẫn có hiệu lực đối với phần di sản người lập di chúc đã định đoạt.
Theo 01 vụ án do TAND thành phố Cần Thơ xử phúc thẩm có nội dung: Cha mẹ của ông T, bà Đ. có tổng cộng 4 người con và có tài sản chung là 01 căn nhà trên đất. Năm 1993, người mẹ chết không để lại di chúc. Tháng 3-2005, người cha lập di chúc để lại 1/2 nhà đất cùng 1/5 diện tích của 1/2 nhà đất còn lại (của người vợ đã chết) cho bà Đ. Đến tháng 12-2005, người cha làm 01 tờ hủy di chúc, nội dung thể hiện việc lập di chúc trên không phù hợp pháp luật vì ông chỉ có quyền với phần tài sản của ông, phần tài sản của vợ ông phải chia đều theo pháp luật… Sau đó, người cha không lập di chúc nào khác.
Năm 2009, người cha chết. Năm 2014, ông T. khởi kiện bà Đ. và yêu cầu tòa án chia tài sản thừa kế cho 04 anh em. TAND quận Ninh Kiều xét xử sơ thẩm (tháng 7-2015) cho rằng di chúc của người cha về hình thức, nội dung, trình tự đều đúng quy định pháp luật. Nội dung thể hiện ý chí của người cha là để lại 1/2 tài sản chung của vợ chồng cho bà Đ. là phù hợp pháp luật nên di chúc phát sinh hiệu lực đối với phần này. Đối với nội dung người cha thể hiện ý chí để lại phần thừa kế mà ông được hưởng từ vợ không phát sinh hiệu lực vì chưa phù hợp pháp luật (tính đến lúc lập di chúc, người vợ đã chết được 12 năm nên thời hiệu để chia thừa kế phần này đã hết). Luận văn: Hệ quả và phương thức xử lý đối với di chúc bị hủy bỏ.
Tòa án xác định tờ hủy di chúc của người cha không phát sinh hiệu lực. Vì các lý do: có chứng thực của UBND phường nhưng tại thời điểm chứng thực chưa có cơ sở chứng minh người cha có đủ minh mẫn hay không. Việc chứng thực của UBND phường không ghi ngày, tháng, năm chứng thực và không vào sổ chứng thực là chưa đúng quy định. Lý do hủy di chúc nêu ra không mâu thuẫn với nội dung di chúc bởi vẫn thể hiện người cha cho bà Đ. một nửa tài sản chung của vợ chồng, còn phần di sản của người mẹ thì chia theo pháp luật. Do đó, tiêu đề dù là “hủy di chúc” nhưng nội dung vẫn giống tờ di chúc đã lập nên di chúc vẫn có hiệu lực một phần như trên.
Từ những phân tích nêu trên, cho thấy xác định phần di chúc bị hủy bỏ có ý nghĩa quan trọng để làm căn cứ phân chia di sản thuyết phục cần hoàn thiện pháp luật như sau:
Hướng dẫn quy định tại Điều 614, BLDS năm 2015 về thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế. Tức là, kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Nhưng đối với bất động sản có phải thực hiện việc đăng ký khai nhận di sản trước khi thực hiện quyền để lại di chúc hay không thì pháp luật chưa quy định rõ ràng. Pháp luật đất đai chưa quy định rõ trường hợp đăng ký nào là đăng ký xác lập quyền và trường hợp nào là đăng ký để đối kháng với bên thứ ba, qua đó khó xác định giá trị công tín hay giá trị đối kháng của hoạt động đăng ký tài sản. Từ đó, tác giả kiến nghị Quốc hội sớm ban hành Luật đăng ký tài sản phù hợp với BLDS, Luật đất đai 2013 và các văn bản pháp luật khác.
Cần có án lệ theo hướng công nhận quyền để lại di sản đối với kỷ phần người chết được thừa kế theo pháp luật tiếp tục di chúc cho người khác nếu còn thời hiệu, như bản án của TAND thành phố Cần Thơ đã phân tích ở trên.
2.1.2. Những trường hợp cá biệt Luận văn: Hệ quả và phương thức xử lý đối với di chúc bị hủy bỏ.
Khoản 5, Điều 643, BLDS năm 2015 quy định: Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực. Tuy nhiên, trong thực tế có trường hợp để lại nhiều bản di chúc trong cùng thời điểm và không xác định được di chúc nào là di chúc sau cùng thì di chúc nào có hiệu lực? Vấn đề này theo quan điểm tác giả cần phải đặt trong mối quan hệ tổng thể về điều kiện có hiệu lực của di chúc để giải quyết vấn đề một cách cụ thể.
Trong thực tiễn xét xử thì có những quyết định công nhận cả di chúc trước và di chúc sau tùy thuộc vào nội dung di chúc và các loại tài sản có trùng lắp hay không. Theo Quyết định số 45/2013 của Hội đồng thẩm phán TANDTC: Cụ Tơ lập di chúc, trong đó có 3 bản di chúc lập năm 1996 có nội dung để lại căn nhà và toàn bộ tài sản ruộng vườn hiện có cho các cháu của ông là chị Thảo, chị Nguyệt và chị Hồng. Các bản di chúc trên đều có xác nhận của chính quyền địa phương. Cho đến khi chết cụ Tơ không hủy bỏ các di chúc nêu trên và các di chúc trên phù hợp với các quy định của pháp luật tại thời điểm cụ Tơ lập di chúc. Tuy nhiên, ngày 16/8/2005 tại Phòng công chứng cụ Tơ lập lập di chúc có nội dung cho ông Nghĩa thừa kế căn nhà 445/1 trên 198,5 m2 đất (thực đo là 288,9m2) tại ấp Hội, xã Kim Sơn. Di chúc trên có xác nhận của Phòng Công chứng và trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự xác nhận di chúc trên do cụ Tơ tự nguyện lập. Như vậy bằng việc lập di chúc ngày 16/8/2005 thì cụ Tơ đã thay đổi một phần di chúc lập năm 1996 (phần căn nhà 445/1 trên 288,9 m2 đất). Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm xác định di chúc năm 1996 của cụ Tơ hợp pháp đối với các phần đất và di chúc ngày 16/8/2005 hợp pháp đối với căn nhà 445/1, từ đó công nhận chị Thảo, chị Nguyệt, chị Hồng có quyền thừa kế các thửa đất theo di chúc năm 1996, còn ông nghĩa có quyền thừa kế căn nhà 445/1 theo di chúc ngày 16/8/2005 của cụ Tơ là có căn cứ, phù hợp với pháp luật. Như vậy thực tiễn đã xem xét từng trường hợp cụ thể. Vì khoản 5, Điều 643, BLDS năm 2015 quy định: “Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực”. Ở đây chúng ta phải hiểu cụm từ “một tài sản” chứ không phải nhiều tài sản. Do đó, trong trường hợp này cho phép suy luận trong trường hợp nhiều tài sản và có nhiều bản di chúc thì di chúc trước không bị hủy bỏ bởi di chúc sau, nếu các bản di chúc đó không mâu thuẫn và phải phù hợp với pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Luận văn: Hệ quả và phương thức xử lý đối với di chúc bị hủy bỏ.
Ở khía cạnh khác, cũng quy định tại khoản 5, Điều 643, BLDS năm 2015: “Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực”. Quy định này nhằm điều chỉnh trường hợp một người có nhiều bản di chúc được lập vào các thời gian khác nhau, nhưng nội dung của di chúc chỉ định đoạt đối với một tài sản nhất định thì di chúc được lập sau cùng có hiệu lực.
Tuy nhiên, nếu di chúc sau cùng không tuân thủ các điều kiện của di chúc theo luật định và bị xác định vô hiệu thì có thể cho phép suy luận di chúc được lập liền kề trước đó có hiệu lực hay không? Hoặc ở mỗi bản di chúc đều có những vi phạm về hình thức thì có được phép tổng hợp thành một bản di chúc hoàn chỉnh để có một bản di chúc mới có hiệu lực?
Pháp luật không quy định một người có quyền để lại tối đa bao nhiêu di chúc đối với một tài sản. Do vậy, để định đoạt tài sản, một người có thể có nhiều di chúc là vấn đề bình thường. Hoặc các BLDS năm 1995, 2005, 2015 chỉ có quy định: Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực, chứ không quy định trường hợp có nhiều bản di chúc mà mỗi di chúc đều có vi phạm hình thức thì được phép tổng hợp để có một bản di chúc mới có hiệu lực.
Trong vụ án theo Quyết định 175/2010/DS-GĐT ngày 27-4-2010 của Tòa dân sự TANDTC được bình luận. Năm 1999 cụ Tảng lập di chúc để lại ruộng, đất triền, đất nhà ở cho 5 người con là Lẹt, Lang, Đạm, Đực (Tám Dặm) và Đực (Út Nhỏ); Tuy nhiên, năm 1992 cụ Tảng lại lập một di chúc khác để lại nhà, đất cho 1 trong 5 người con (ông Đực -Tám Dặm).
Đối với di chúc đề năm 1990 là di chúc đánh máy, có xác nhận của UBND xã Tân Thông Hội (sau 27 ngày lập di chúc); còn di chúc năm 1992 được lập bằng chữ viết tay, có xác nhận của hai người làm chứng, nhưng một trong hai người làm chứng là cố Trầm (là cha của cụ Tảng, người không được phép làm chứng theo quy định của pháp luật), di chúc được UBND ấp Chánh và UBND xã Tân Thông Hội xác nhận, nhưng cũng không cùng thời điểm lập di chúc. Theo nhận định của Tòa án cả 02 bản di chúc trên được lập không đúng theo quy định của pháp luật.
Theo quan điểm tác giả, để giải quyết vấn đề một người lập nhiều bản di chúc đối với nhiều tài sản khác nhau cần bổ sung vào khoản 5, Điều 643, BLDS năm 2015 nội dung như sau: trường hợp một người để lại nhiều bản di chúc đối với nhiều tài sản khác nhau thì các bản di chúc đều có hiệu lực nếu không mâu thuẫn với nhau.
2.2. Các phương thức xử lý tài sản đã nhận nhưng di chúc đã bị hủy bỏ Luận văn: Hệ quả và phương thức xử lý đối với di chúc bị hủy bỏ.
Phương thức nhận lại di sản thừa kế khi di chúc bị hủy bỏ là những cách thức để người thừa kế hợp pháp được xác lập quyền sở hữu và nhận lại di sản thừa kế khi di chúc bị hủy bỏ. Điều 234, BLDS năm 2015 quy định: Xác lập quyền sở hữu do được thừa kế là: Người thừa kế được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản thừa kế theo quy định tại Phần thứ tư của Bộ luật này. Quyền sở hữu có thể được xác lập căn cứ vào bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác (Điều 235, BLDS 2015). Đối với di chúc bị hủy thì thời điểm người thừa kế hợp pháp được xác lập đối với di sản đã chia là thời điểm bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Do đó, việc nhận lại di sản sẽ được thực hiện trên thực tế do các bên thỏa thuận hoặc cơ quan có thẩm quyền thi hành bản án, Quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Như vậy, căn cứ vào bản án, Quyết định đã có hiệu lực pháp luật người thừa kế hợp pháp đăng ký sở hữu (đối với tài sản có đăng ký) cùng với tài sản hoặc nhận lại giá trị từ cơ quan có thẩm quyền.
Trong thực tế việc xử lý tài sản mà người thừa kế đã khai nhận nhưng sau đó di chúc bị hủy bỏ bởi Quyết định hoặc bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì người có quyền, lợi ích hợp pháp (người thừa kế hợp pháp) có thể bằng những phương thức khác nhau theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình để được nhận lại hoặc đòi lại di sản.
Theo Bản án DSST số 05/2014 ngày 28/4/2014, TAND huyện Tam Nông (Phú Thọ): Năm 2001, ông Phạm Văn Sảo và bà Đỗ Thị Khang, trú tại Khu 3, xã Xuân Quang, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ có di chúc cho con gái là Phạm Thị Viện toàn bộ khu nhà đất ông bà đang ở có diện tích 1.213m2 ở địa chỉ trên. Di chúc của ông Sảo, bà Khang hoàn toàn hợp pháp và đã được UBND xã xác nhận ngày 7/11/2001. Sở dĩ di chúc cho một mình bà Viện thừa kế vì ông Sảo, bà Khang có 6 người con, 4 trai, 2 gái, các con lớn lập gia đình đều được ông bà cho nhà, đất. Sau đó, 5 người con của ông bà đều đã chết, chỉ còn lại một mình bà Viện.
Năm 2012 bà Khang chết, 2013 ông Sảo chết. Ngôi nhà trên do bà Đỗ Thị Sáu (là một trong những người con dâu của ông Sảo) chiếm giữ. Lý do, nhà đất vẫn đứng tên bà Sáu (khu nhà đất đã được ông Sảo đổi cho bà Sáu nhưng chưa chuyển tên) và dù có ký tên trong buổi họp gia đình để lập bản di chúc này, bà Sáu vẫn cho rằng không biết có bản di chúc. Một lý do khác nữa là bà Sáu đã đưa ra bản “ghi lại lời di chúc của ông Sảo trước khi chết đã không đồng ý cho bà Viện thừa kế toàn bộ nhà đất trước đây mà để thờ cúng”. Luận văn: Hệ quả và phương thức xử lý đối với di chúc bị hủy bỏ.
Bản án cũng nhận định, việc gia đình bà Sáu có xuất trình biên bản ghi lại lời dặn của ông Sảo trước khi chết có nội dung không cho bà Viện hưởng khối di sản của ông Sảo được lập ngày 21/3/2013 là không có căn cứ. Bởi sau khi xảy ra tranh chấp, qua các buổi làm việc tại địa phương, UBND xã đã yêu cầu phía gia đình bà Sáu xuất trình chứng cứ nhưng bà Sáu không xuất trình được, trong khi đó, lời dặn trong bản ghi đều trái ngược hoàn toàn với bản di chúc. Mặt khác, đây chỉ là biên bản ghi lại ý chí của một người, trong thời điểm đó, ông Sảo không còn tỉnh táo, minh mẫn.
Từ những nhận định trên, Tòa án huyện Tam Nông đã tuyên, buộc bà Đỗ Thị Sáu phải trả lại toàn bộ tài sản là phần di sản của vợ chồng ông Phạm Văn Sảo cho bà Phạm Thị Viện.
Như vậy, dù là người đứng tên trong di sản thừa kế nhưng bà Sáu đã không còn quyền đối với di sản này kể từ khi bản án của Tòa án có hiệu lực. Bởi lẽ Tòa án đã công nhận di chúc 2001 của ông Phạm Văn Sảo và bà Đỗ Thị Khang là di chúc hợp pháp mà không công nhận di chúc miệng 2013 do bà Sáu xuất trình, mặc dù di chúc miệng bà Sáu xuất trình có sau di chúc năm 2001 và có nhiều yếu tố giả mạo.
2.2.1. Kiện đòi di sản
Là phương thức khi di sản đã phân chia hoặc đang thuộc sở hữu của người khác nhưng những người thừa kế hợp pháp phát hiện di chúc bị hủy bỏ hoặc có sự gian dối trong việc xác lập sở hữu nhưng trong bản án, quyết định của tòa án chưa đề cập đến di sản thì những người thừa kế hợp pháp có quyền kiện đòi di sản nếu đáp ứng các điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp di chúc đã bị hủy bỏ sẽ không làm phát sinh quyền đối với tài sản đã nhận. Người đang chiếm giữ tài sản này có nghĩa vụ hoàn trả tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp (người thừa kế hợp pháp). Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng phát sinh nghĩa vụ hoàn trả mà theo quy định của pháp luật. Luận văn: Hệ quả và phương thức xử lý đối với di chúc bị hủy bỏ.
Điều 645 BLDS năm 2005 quy định: “Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế“. Quy định này đã gây ra bất cập là có nhiều tài sản thừa kế bị tranh chấp nhưng do hết thời hiệu khởi kiện nên người thừa kế tài sản không thể đăng ký quyền sở hữu. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này như người thừa kế không nắm rõ các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế, xuất phát từ tình cảm gia đình, họ tộc, do điều kiện khách quan, hay xuất phát từ sự ràng buộc về đạo lý, truyền thống của dân tộc Việt Nam, con cái không dám yêu cầu chia thừa kế khi cha hoặc mẹ còn sống hoặc cha, mẹ qua đời trong thời gian ngắn.
Khắc phục bất cập trên, tại khoản 1, Điều 623, BLDS năm 2015 thì thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết theo điểm a,b của khoản 1, Điều này. Trong phạm vi luận văn tác giả phân tích trường hợp còn thời hiệu khởi kiện.
Thời hiệu yêu cầu chia di sản là bất động sản tăng từ 10 năm theo Bộ luật dân sự năm 2005 lên 30 năm theo Bộ luật dân sự năm 2015. Vì vậy, sẽ phát sinh tình huống pháp lý là những vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế mà trước ngày Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực (01/01/2017) Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện hoặc ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện vì lý do “thời hiệu khởi kiện đã hết” theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 thì nay các đương sự có quyền nộp đơn khởi kiện lại? Theo quy định tại khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017, hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2017. Theo đó, Điều 7 của Nghị quyết đã quy định các trường hợp cụ thể mà đương sự có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế như sau:
Đối với những vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản mà trước ngày 01/01/2017, Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện hoặc ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện vì lý do “thời hiệu khởi kiện đã hết” nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 623, điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015, thời hiệu khởi kiện vụ án đó vẫn còn, thì người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015 và điểm d khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Luận văn: Hệ quả và phương thức xử lý đối với di chúc bị hủy bỏ.
Đối với những vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản mà trước ngày 01/01/2017 đã được Tòa án giải quyết bằng bản án, quyết định (trừ quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự vì thời hiệu khởi kiện đã hết) đã có hiệu lực pháp luật thì theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, người khởi kiện không có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án đó.
Ví dụ: Vợ chồng Cụ A (có 05 người con) đều chết năm 2004, để lại di sản là căn nhà X nhưng không có di chúc và không có thỏa thuận khác. Năm 2012, ông B là một trong những người con của vợ chồng Cụ A khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế là căn nhà X nêu trên. Vụ án đã được xét xử qua hai cấp và Bản án số 123/2012/DS-PT ngày 15/5/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh G đã có hiệu lực pháp luật. Trường hợp này, ông B không có quyền nộp đơn khởi kiện lại yêu cầu chia di sản thừa kế là căn nhà X nêu trên.
Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán TANDTC đã giải quyết được vấn đề thời hiệu yêu cầu chia di sản là bất động sản tăng từ 10 năm theo BLDS năm 2005 lên 30 năm theo BLDS năm 2015. Tuy nhiên thời hiệu này chỉ xem xét thụ lý đối với những vụ án mà trước đây trả lại đơn do hết thời hiệu (chưa xem xét về nội dung) còn đối với những vụ án đã giải quyết nội dung, mặc dù còn thời hiệu 30 năm nhưng không có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án đó.
Theo quan điểm tác giả, BLDS năm 2015 và hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán TANDTC về thời hiệu khởi kiện về thừa kế là thuyết phục, có lợi cho người bị Tòa án trả lại đơn yêu cầu chia thừa kế do hết thời hiệu. Bởi vì theo quy định của BLDS năm 2005 và Nghị quyết 02 ngày 10-8-2004, của Hội đồng thẩm phán TANDTC có nhiều bất cập. Theo đó, khi hết thời hiệu khởi kiện thừa kế mà các đồng thừa kế có yêu cầu nhờ Tòa án chia khối di sản thì tòa vẫn thụ lý, giải quyết nếu các đồng thừa kế có văn bản cam kết di sản là tài sản chung chưa chia, không có tranh chấp về hàng thừa kế và nhờ tòa phân chia. Có vụ án được giải quyết khi các bên đương sự thừa nhận là tài sản chung. Nhưng ngược lại, cũng có vụ án bị “ách tắc” chỉ vì một nguyên nhân đơn giản: Một bên đương sự không thừa nhận đó là tài sản chung và không yêu cầu Tòa án phân chia. Như vậy, Tòa án không có hướng giải quyết dứt điểm.
2.2.2. Thi hành án Luận văn: Hệ quả và phương thức xử lý đối với di chúc bị hủy bỏ.
Theo quy định tại Khoản 3, Điều 135, Luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014, về thi hành quyết định giám đốc thẩm tuyên giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Toà án cấp dưới đã bị huỷ hoặc bị sửa: Đối với phần bản án, quyết định của Tòa án hủy, sửa bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới mà đã thi hành được một phần hoặc đã thi hành xong thì đương sự có thể thỏa thuận với nhau về việc hoàn trả tài sản, phục hồi lại quyền tài sản.
Trường hợp tài sản thi hành án là động sản phải đăng ký quyền sở hữu và bất động sản còn nguyên trạng thì cưỡng chế trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu.
Trường hợp tài sản đã được chuyển dịch hợp pháp cho người thứ ba chiếm hữu ngay tình thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa hoặc tài sản thi hành án đã bị thay đổi hiện trạng thì chủ sở hữu tài sản ban đầu không được lấy lại tài sản nhưng được bồi hoàn giá trị của tài sản.
Trường hợp có yêu cầu về bồi thường thiệt hại thì cơ quan ra bản án, quyết định bị huỷ, sửa giải quyết theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 74 Luật THADS năm 2014: “Trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án thì Chấp hành viên phải thông báo cho người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự….”
Theo quy định này, nếu người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất không tự thỏa thuận phân chia tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết, đồng thời người được thi hành án cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Châp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự, Chấp hành viên xử lý tài sản theo quyết định của Tòa án. Luận văn: Hệ quả và phương thức xử lý đối với di chúc bị hủy bỏ.
Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại điểm c khoản 2 Điều 24 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014: “Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng chung của vợ, chồng thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu của vợ, chồng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình và thông báo cho vợ, chồng biết.
Đối với tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì Chấp hành viên xác định phần sở hữu, sử dụng theo số lượng thành viên của hộ gia đình tại thời điểm xác lập quyền sở hữu tài sản, thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất. Chấp hành viên thông báo kết quả xác định phần sở hữu, sử dụng cho các thành viên trong hộ gia đình biết.
Trường hợp vợ hoặc chồng hoặc các thành viên hộ gia đình không đồng ý với việc xác định của Chấp hành viên thì có quyền yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thông báo hợp lệ. Hết thời hạn này mà không có người khởi kiện thì Chấp hành viên tiến hành kê biên, xử lý tài sản và trả lại cho vợ hoặc chồng hoặc các thành viên hộ gia đình giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của họ.
Trên thực tế, người phải thi hành án và các đồng sở hữu, sử dụng tài sản chung thì không bao giờ muốn khởi kiện, bởi vì họ không muốn tài sản của họ bị kê biên xử lý thi hành án. Bên cạnh đó, khi hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày được thông báo hợp lệ mà không có người khởi kiện thì Chấp hành viên phải tiến hành kê biên, xử lý tài sản và trả lại cho các thành viên hộ gia đình giá trị phần tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của họ. Như vậy, việc kê biên sẽ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người không có nghĩa vụ phải thi hành án, chi phí cho việc kê biên, thẩm định giá, bán đấu giá… cùng phát sinh những tranh chấp khác, trong đó có sự rủi ro mà Chấp hành viên là người phải gánh chịu hậu quả…Từ đó, có khả năng vụ án kéo dài.
Có ý kiến cho rằng: Chấp hành viên ra quyết định kê biên tài sản trước (kê biên toàn bộ tài sản chung) rồi mới thông báo cho đồng sở hữu chung để họ thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án phân chia tài sản, thông báo cho người được thi hành án hoặc Chấp hành viên sẽ yêu cầu Tòa án phân chia tài sản, việc xử lý tài sản chỉ được thực hiện khi có quyết định của Tòa án.
Ý kiến khác cho rằng: Chấp hành viên thực hiện việc thông báo cho đồng sở hữu chung để họ thỏa thuận hoặc yêu cầu Tòa án phân chia tài sản, thông báo cho người được thi hành án hoặc Chấp hành viên sẽ yêu cầu Tòa án phân chia tài sản, Chấp hành viên chỉ ra quyết định kê biên tài sản của người phải thi hành án khi có quyết định của Tòa án về việc xác định phần sở hữu của người phải thi hành án. Luận văn: Hệ quả và phương thức xử lý đối với di chúc bị hủy bỏ.
Khoản 1 Điều 74 Luật THADS năm 2014 không quy định chế tài bắt buộc người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất phải tự thỏa thuận phân chia tài sản chung, quyền sử dụng đất chung phải thi hành án hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy, khi họ không thực hiện theo yêu cầu của Chấp hành viên thì cũng không có biện pháp chế tài nào cả. Mặc khác, việc Chấp hành viên đang tổ chức thi hành án đã có văn bản yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất để thi hành án nhưng Tòa án cũng không thực hiện được vì vướng thủ tục tố tụng dân sự trong vụ kiện do không có người khởi kiện, người bị kiện…
Để khắc phục những bất cập nêu trên, tác giả kiến nghị văn bản hướng dẫn về xử lý tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo hướng: Nếu người có nghĩa vụ và các đồng sở hữu tài sản chung có thỏa thuận xác định phân chia thì yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận đó, trường hợp không thỏa thuận được thì thực hiện theo khoản 1 Điều 74 Luật THADS yêu cầu Tòa án phân chia, khi có kết quả Chấp hành viên thực hiện theo quyết định của Tòa án.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Trong chương 2, tác giả đã nghiên cứu và phân tích hệ quả của việc hủy bỏ di chúc và có thể rút ra một số kết luận sau:
Một là, hệ quả cơ bản nhất của việc hủy bỏ di chúc là người được chỉ định thừa kế theo di chúc không được hưởng di sản. Tuy nhiên, để xác định di chúc hủy bỏ toàn bộ hay từng phần trong những trường hợp luật thực định quy định chưa sát với thực tiễn thì phải xem xét, vận dụng pháp luật một cách linh hoạt, phù hợp. Bổ sung quy định: trường hợp một người để lại nhiều bản di chúc đối với nhiều tài sản khác nhau thì các bản di chúc đều có hiệu lực nếu không mâu thuẫn với nhau nhằm giải quyết những trường hợp phát sinh trên thực tế.
Hai là, tác giả đã phân tích luật thực định được áp dụng để giải quyết những trường hợp tài sản đã nhận nhưng di chúc đã bị hủy bỏ. Những bất cập giữa Luật thi hành án dân sự và BLDS khi áp dụng về vấn đề này. BLDS năm 2015 và Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 đã khắc phục được những bất cập về thời hiệu yêu cầu chia thừa kế do hết thời hiệu.
Ba là, để giải quyết bất cập về xử lý tài sản của người phải thi hành án trong khối tài sản chung tác giả đã kiến nghị theo hướng: Nếu người có nghĩa vụ và các đồng sở hữu tài sản chung có thỏa thuận xác định phân chia thì yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận đó, trường hợp không thỏa thuận được thì thực hiện theo khoản Điều 74 Luật THADS yêu cầu Tòa án phân chia, khi có kết quả Chấp hành viên thực hiện theo quyết định của Tòa án.
KẾT LUẬN Luận văn: Hệ quả và phương thức xử lý đối với di chúc bị hủy bỏ.
Những tranh chấp về thừa kế di sản nói chung và thừa kế theo di chúc nói riêng luôn luôn là vấn đề phức tạp do chính nội dung của vụ việc và còn do những quy định của pháp luật về vấn đề này chưa thật triệt để và cũng chưa theo kịp với đời sống xã hội. Thực trạng giải quyết tranh chấp xác định vấn đề hủy bỏ di chúc còn là vấn đề phức tạp, hơn nữa vì nó liên quan đến những điều kiện của di chúc do pháp luật quy định, nhưng không phải bao giờ và khi nào người lập di chúc cũng nhận thức được rõ và cụ thể những quy định của pháp luật về vấn đề này. Hơn nữa, do thời điểm phát sinh hiệu lực của di chúc, mà việc giải quyết những tranh chấp về hiệu lực của di chúc càng trở nên phức tạp hơn, di chúc nào đã hủy bỏ, di chúc nào có hiệu lực. Những tranh chấp phổ biến giữa những người thừa kế được TAND giải quyết có không ít những tranh chấp liên quan đến hiệu lực của di chúc và phổ biến là về việc hiểu nội dung của di chúc đều là những tranh chấp phức tạp, do những chứng cứ để chứng minh không phải bao giờ cũng xác định được cụ thể và rõ ràng. Vấn đề hủy bỏ di chúc được quy định ở mức độ khái quát cao, lại ít văn bản dưới luật hướng dẫn thực hiện đã dẫn đến những nhận thức khác nhau giữa những người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong các cơ quan xét xử. Những kiến nghị, đề xuất của tác giả luận văn với mong muốn góp một phần nhỏ bé vào quá trình nhận thức trong việc hoàn thiện pháp luật về thừa kế nói chung và những quy định về hủy bỏ di chúc nói riêng.
Với nhiệm vụ đặt ra là phân tích có hệ thống những quy định liên quan đến vấn đề hủy bỏ di chúc, tác giả đã làm rõ những vấn đề phù hợp, chưa phù hợp hoặc chưa đồng bộ của BLDS với các quy định hướng dẫn thực hiện Luật; Phân tích qua những vụ án cụ thể. Qua đó đưa ra được những giải pháp hoàn thiện, tác giả hy vọng luận văn phần nào đạt được mục đích. Việc áp dụng pháp luật dân sự về hủy bỏ di chúc trong thực tiễn xét xử của Tòa án cần được tổng kết, rút kinh nghiệm thường xuyên để tránh những sai sót, bất cập. Những quy định cần đi vào thực tế cuộc sống, từ thực tế mà được bổ sung, hoàn thiện hơn, như vậy mới linh hoạt và có tính ứng dụng cao. Luận văn: Hệ quả và phương thức xử lý đối với di chúc bị hủy bỏ.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Hủy bỏ di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Hủy bỏ di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam