Luận văn: Giải pháp về chấm dứt hợp đồng lao động trong DN

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp về chấm dứt hợp đồng lao động trong DN hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Giải pháp áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động tại tòa án nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh bình dương dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động tại Tòa án nhân dân

Trong hệ thống pháp luật lao động của Nhà nước ta, sau Hiến pháp, BLLĐ giữ vị trí hết sức quan trọng điều chỉnh lĩnh vực rộng lớn các quan hệ lao động có tính kinh tế – xã hội quan trọng, liên quan đến các thành phần kinh tế, bao gồm doanh nghiệp, các tổ chức, cơ sở sản xuất kinh doanh và người lao động. Các quy định trong BLLĐ đã tạo hành lang pháp lý để NSDLĐ và NLĐ thực hiện tốt hơn quyền và nghĩa vụ của mình trong quan hệ lao động, tạo tiền đề thúc đẩy các quan hệ lao động được hài hoà, ổn định và tiến lên, góp phần phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm việc làm và đời sống của NLĐ.

Hiện nay, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mang đến nhiều cơ hội việc làm cho NLĐ và cơ hội lựa chọn NLĐ đa dạng của NSDLĐ, nhưng cũng đặt ra không ít thách thức đối với thị trường lao động của Việt Nam nói chung và tỉnh Bình Dương nói riêng; những thách thức đối với vai trò của nhà nước trong quản lý và điều hòa QHLĐ. Là một quốc gia thành viên của ILO, Việt Nam có nghĩa vụ tôn trọng và có lộ trình hiện thực hóa các tiêu chuẩn lao động quốc tế quy định trong các Công ước này. Do đó, Việt Nam cần điều chỉnh các quy định về đơn phương chấm dứt HĐLĐ phù hợp với xu hướng chung của thế giới. Đặc biệt, với việc gia nhập các Hiệp định Thương mại tự do (FTA), Cộng đồng kinh tế ASEAN (ASEAN Economic Community – AEC) và Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Việt Nam có nghĩa vụ đáp ứng được các tiêu chuẩn pháp lý được đặt ra trong các điều ước này.

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng phải xây dựng và điều chỉnh chức năng của các cơ quan quản lý nhà nước về QHLĐ nhằm đảm bảo thực hiện hiệu quả cả hai chức năng quản lý và hỗ trợ, đồng thời đảm bảo sự thống nhất và điều hành hiệu quả giữa các cấp từ trung ương đến địa phương. Tập trung nhất vào đổi mới cơ chế, thiết chế hướng tới việc thực hiện hiệu quả hơn cơ chế trung gian, hoà giải, trọng tài và xét xử trong GQTC lao động.

Hoạt động GQTC đơn phương chấm dứt HĐLĐ tại TAND được tiến hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ và bản án, quyết định của TAND được đảm bảo thực thi bằng quyền lực Nhà nước. Bên cạnh những điểm mạnh thì đây cũng là điểm hạn chế của phương thức GQTC này không chỉ tác động tiêu cực đến các quan hệ kinh tế, lao động trong nước mà còn ảnh hưởng không tốt đến môi trường đầu tư và hợp tác quốc tế.

Như vậy, hoàn thiện quy định pháp luật Việt Nam về đơn phương và GQTC đơn phương chấm dứt HĐLĐ góp phần ổn định QHLĐ, giải quyết TCLĐ tại TAND nhanh gọn, khách quan, công bằng hơn.

3.2. Định hướng hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động tại Tòa án nhân dân Luận văn: Giải pháp về chấm dứt hợp đồng lao động trong DN.

3.2.1 Đảm bảo lợi ích của cả người lao động và người sử dụng lao động khi chấm dứt quan hệ lao động

Đơn phương chấm dứt HĐLĐ là quyền năng pháp lý của cả NLĐ và NSDLĐ nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

Tuy vậy, quyền chấm dứt HĐLĐ của các bên là khác nhau và có giới hạn trong phạm vi quy định của pháp luật. Pháp luật lao động có xu hướng hạn chế nhiều hơn, quy định chặt chẽ hơn về quyền chấm dứt HĐLĐ của NSDLĐ.

Do vậy, pháp luật lao động quy định thủ tục đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NSDLĐ chặt chẽ hơn so với thủ tục đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ (từ căn cứ, trình tự, thủ tục, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên đến các trường hợp NSDLĐ không được đơn phương chấm dứt HĐLĐ) để hạn chế sự lạm dụng quyền, tùy tiện của NSDLĐ.

QHLĐ khi bị chấm dứt thì dù đúng hay trái pháp luật đều có sự tác động đến các bên trong QHLĐ và sự phát triển lành mạnh của thị trường lao động.

Cần tạo điều kiện để duy trì sự ổn định của QHLĐ này, tránh QHLĐ phải đi đến bước chấm dứt. Để làm được điều này thì cần thiết phải xây dựng QHLĐ hài hòa giữa các bên trong QHLĐ. Sự hài hòa này quyết định hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và là cơ sở của việc kết hợp hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước với lợi ích của doanh nghiệp và lợi ích của NLĐ trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

3.2.2. Thủ tục giải quyết tranh chấp đơn phương chấm dứt lao động đơn giản, chặt chẽ, linh hoạt và tạo sự tiện lợi cho các bên tranh chấp Luận văn: Giải pháp về chấm dứt hợp đồng lao động trong DN.

Có thể nói ưu tiên hàng đầu của việc GQTC lao động tại TAND theo thủ tục tố tụng dân sự là đảm bảo sự ổn định của QHLĐ và nâng cao chất lượng GQTC, để việc GQTC lao động tại Tòa án thực sự là một phương thức GQTC lao động cá nhân có hiệu quả, giải quyết dứt điểm các TCLĐ cá nhân, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia QHLĐ.

Để đạt được mục tiêu đó thì khi hoàn thiện pháp luật về GQTC phải có cơ chế phù hợp để TAND thực hiện được vai trò của mình. Cụ thể, cần quy định thủ tục đơn giản, tạo sự tiện lợi cho các bên tranh chấp, thủ tục GQTC lao động cá nhân tại Tòa án phải phản ánh được tính đặc thù của TCLĐ và đảm bảo tính thống nhất và đồng bộ của cơ chế GQTC lao động để đáp ứng được yêu cầu của cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền trong thời đại hội nhập.

Trong các cơ chế giải quyết TCLĐ cá nhân thì tố tụng tại TAND là phương thức có nhiều ưu điểm (trình tự, thủ tục chặt chẽ, được đảm bảo thi hành án bằng quyền lực nhà nước…). Tuy nhiên, phương thức này vẫn còn tồn tại một số hạn chế (thủ tục phức tạp, kéo dài). Do đó, pháp luật về GQTC đơn phương chấm dứt HĐLĐ tại TAND phải được hoàn thiện để là công cụ tin cậy để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, góp phần vào sự phát triển thị trường lao động và hội nhập quốc tế.

3.2.3. Chuyên môn hóa hoạt động xét xử các vụ án đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Hầu hết các tranh chấp đơn phương chấm dứt HĐLĐ được xét xử sơ thẩm tại TAND cấp huyện. Tuy nhiên, thực tế của TAND cấp huyện tại tỉnh Bình Dương và nhiều địa phương khác tại Việt Nam đều cho thấy số lượng cán bộ Tòa án có kiến thức và kĩ năng chuyên nghiệp về lĩnh vực lao động là không nhiều nên việc GQTC đơn phương chấm dứt HĐLĐ còn gặp không ít khó khăn. Còn tại TAND cấp tỉnh tuy có tổ chức Tòa Lao động nhưng Thẩm phán và HTND không phải chỉ xét xử án lao động mà còn tham gia xét xử nhiều loại án khác.

Vì những lý do trên mà phương hướng hoàn thiện pháp luật về GQTC đơn phương chấm dứt HĐLĐ hiện nay cần theo hướng đổi mới cơ cấu, tổ chức của các Tòa Lao động để từng bước chuyên môn hóa hoạt động xét xử các vụ án đơn phương chấm dứt HĐLĐ và chuyên nghiệp hóa đội ngũ Thẩm phán, HTND về lao động. Chuyên môn hóa trong hoạt động GQTC đơn phương chấm dứt HĐLĐ để làm cơ sở để từng bước chuyên nghiệp hóa đội ngũ Thẩm phán và HTND trong lĩnh vực này, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả GQTC lao động trong thực tế. Luận văn: Giải pháp về chấm dứt hợp đồng lao động trong DN.

3.2.4. Đảm bảo tính khả thi của các quy định về giải quyết tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Tính khả thi là yêu cầu tất yếu của mọi quy phạm pháp luật vì nếu không mang tính khả thi thì việc ban hành các quy định về giải quyết tranh chấp đơn phương chấm dứt HĐLĐ không thể đáp ứng được yêu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội, không đảm bảo được chức năng của pháp luật. Vì vậy, đảm bảo tính khả thi của các quy định về GQTC đơn phương chấm dứt HĐLĐ là một trong những phương hướng quan trọng khi hoàn thiện pháp luật lao động về vấn đề này.

Tính khả thi này cần được xây dựng theo phương hướng sau đây:

  • Thứ nhất, các quy định về GQTC đơn phương chấm dứt HĐLĐ phải phù hợp giữa nội dung của văn bản với các điều kiện kinh tế – xã hội hiện tại.
  • Thứ hai, các quy định về GQTC đơn phương chấm dứt HĐLĐ phải phù hợp với đường lối chính sách của Đảng, và lợi ích của các bên trong QHLĐ.
  • Thứ ba, nội dung các quy định về GQTC đơn phương chấm dứt HĐLĐ phải phù hợp với đối tượng tác động và truyền thống đạo đức, phong tục tập quán, văn hóa, lối sống.
  • Thứ tư, các quy định về GQTC đơn phương chấm dứt HĐLĐ phải phù hợp với pháp luật lao động quốc tế, pháp luật các nước trong khu vực và trên thế giới.

3.3. Giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam hiện hành giải quyết tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động tại TAND

3.3.1. Giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự về giải quyết đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

  • Thứ nhất, nên quy định một chương riêng về tố tụng lao động trong BLTTDS

Việc áp dụng thủ tục tố tụng dân sự để giải quyết TCLĐ cá nhân còn nhiều khó khăn, vướng mắc do thủ tục khá nhiều, thời gian giải quyết lâu và nếu phải trải qua nhiều cấp xét xử sẽ làm cho mối QHLĐ giữa các bên trong tranh chấp bị ảnh hưởng. Mặt khác, các bên tham gia tranh chấp khi giải quyết luôn mong muốn GQTC một cách nhanh chóng, hiệu quả, công bằng.

Như vậy, có thể thấy, việc quy định một chương riêng về tố tụng lao động trong BLTTDS hợp lý hơn, cụ thể:

  • Thủ tục khởi kiện, thụ lý vụ án lao động phải thật đơn giản nhằm tạo cơ hội cho các bên có liên quan dễ tiếp cận với tố tụng Tòa án. Luận văn: Giải pháp về chấm dứt hợp đồng lao động trong DN.
  • Bảo đảm sự tham gia của tổ chức Công đoàn và các tổ chức trợ giúp pháp lý trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ.
  • Thủ tục tố tụng tại Tòa án phải thật tối giản, nhanh gọn, tạo môi trường tranh tụng dân chủ, lành mạnh.
  • Cần có cơ chế để bảo vệ NLĐ đối tượng yếu thế hơn trong QHLĐ. Về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, trong các vụ việc, vụ án dân sự, pháp luật Việt Nam quy định nghĩa vụ cung cấp chứng cứ thuộc về các đương sự.

Thứ hai, cần sửa đổi các quy định của pháp luật để có thể áp dụng thủ tục giải quyết rút gọn vụ án lao động theo BLTTDS 2015 đạt được hiệu quả Điều 65 BLTTDS 2015 quy định “Việc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn do một Thẩm phán tiến hành”. Đồng thời, khoản 3 Điều 316 và Điều 317 BLTTDS 2015 quy định về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn.

Như vậy, để TCLĐ được áp dụng thủ tục rút gọn nhằm bảo vệ kịp thời, nhanh chóng quyền và lợi ích của đương sự thì cần sửa đổi, bổ sung và có quy định cụ thể về việc xác định phạm vi các vụ TCLĐ cần áp dụng theo thủ tục rút gọn làm cơ sở để vận dụng các quy định của BLTTDS 2015 về thủ tục giải quyết rút gọn vụ án khi giải quyết các TCLĐ.

Thứ ba, pháp luật cần có những quy định cụ thể, rõ ràng về phạm vi và yêu cầu khởi kiện

Điều 5 BLTTDS 2015 quy định: “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”. Đây là quy định hết sức tiến bộ, thể hiện đúng tinh thần tự chủ, tự quyết và định đoạt của đương sự. Tuy nhiên, pháp luật mới chỉ quy định Tòa án chỉ được giải quyết vụ việc trong “phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu” của đương sự nhưng giới hạn để phân biệt việc “giải quyết vượt quá yêu cầu” hay “giải quyết không triệt để vụ án” lại chưa có quy định hoặc hướng dẫn chi tiết. Do đó, các văn bản hướng dẫn cần quy định cụ thể thế nào là “giải quyết vượt quá yêu cầu” hoặc “giải quyết không triệt để vụ án” để tạo sự thống nhất trong áp dụng pháp luật của các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền trong việc GQTC, đảm bảo việc GQTC được hiệu quả, nhanh chóng, đúng quy định pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.

Thứ tư, sửa đổi quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án TCLĐ cá nhân tại Điều 190 của Bộ luật Lao động năm 2019

Tác giả cho rằng cần xem xét thay đổi quy định về thời hiệu khởi kiện đối với TCLĐ là 02 năm để đảm bảo phù hợp với quy định về thời hiệu khởi kiện của các tranh chấp dân sự; hoặc có thể điều chỉnh theo hướng thời hiệu khởi kiện là 2 năm bổ sung quy định theo hướng “khi các bên đưa yêu cầu ra Tòa án để giải quyết sau 1 năm thì phần tiền công, tiền lương do mất việc, lãi suất từ khoản phải trả giữa các bên (nếu có) chỉ được tính trong khoản thời gian 1 năm này”.

3.3.2. Kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động tại các Toà án nhân dân trên địa bàn tỉnh Bình Dương Luận văn: Giải pháp về chấm dứt hợp đồng lao động trong DN.

Thứ nhất, tập trung nâng cao việc tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật lao động đến mọi người, đặc biệt là NLĐ và NSDLĐ.

Các TAND trên địa bàn tỉnh Bình Dương cần tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật về tố tụng dân sự, đặc biệt là các quy định liên quan đến thẩm quyền giải quyết tranh chấp đơn phương chấm dứt HĐLĐ của TAND, tạo cơ hội để NLĐ có thể nắm bắt được các vấn đề liên quan, đặc biệt là nhận thức đúng vị trí, vai trò của Tòa án với tư cách là một cơ quan Nhà nước thực hiện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ.

Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác xét xử lưu động góp phần phổ biến, giáo dục pháp luật đến NLĐ ở nhiều địa phương khác nhau.

Thứ hai, cần chú trọng công tác quán triệt việc tuân thủ pháp luật và nâng cao tinh thần trách nhiệm, bên cạnh đó chú trọng việc khắc phục quan điểm coi nhẹ công tác giải quyết các vụ việc lao động trong nội bộ ngành Tòa án, từ đó góp phần thúc đẩy công tác giải quyết các vụ án lao động một cách nhanh chóng, kịp thời, khách quan và đúng pháp luật.

Thứ ba, cần xử lý nghiêm minh đối với những trường hợp doanh nghiệp vi phạm nghiêm trọng pháp luật lao động, ngăn chặn kịp thời trường hợp các doanh nghiệp lợi dung khe hở của pháp luật để “lách luật” nhằm mưu cầu lợi ích riêng. Thường xuyên thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra để phát hiện kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật lao động và áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp.

Thứ tư, cần chú trọng công tác nâng cao năng lực của đội ngũ chuyên môn làm công tác tố tụng tại Tòa án. Đây là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến hiệu quả của hoạt động giải quyết tranh chấp lao động tại các TAND. Đặc biệt, cần tăng cường các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về pháp luật lao động cho đội ngũ nhân sự chuyên trách của Tòa án. Đồng thời, cũng cần lưu ý đến việc chấn chỉnh và xử lý kịp thời, nghiêm khắc các vi phạm, khuyết điểm trong công tác của cán bộ, công chức, đồng thời xem xét trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị có người vi phạm nhằm tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong toàn ngành. Luận văn: Giải pháp về chấm dứt hợp đồng lao động trong DN.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

  • Với những nội dung đã nêu ở Chương 3, rút ra một số kết luận như sau:

Thứ nhất, đơn phương chấm dứt HĐLĐ dù đúng hay trái pháp luật đều có những ảnh hưởng mạnh mẽ đến NLĐ, NSDLĐ và từ đó tác động tới lợi ích của Nhà nước và toàn xã hội. GQTC đơn phương chấm dứt HĐLĐ cũng vì vậy mà trở thành vấn đề không đơn giản. Vì thế, đòi hỏi sự nỗ lực từ các chủ thể trong QHLĐ, các cơ quan quản lý Nhà nước và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan khi thực hiện quyền đơn phương.

Thứ hai, để nâng cao hiệu quả đòi hỏi các quy định của pháp luật lao động về quyền chấm dứt HĐLĐ của NSDLĐ cần đảm bảo tính khả thi, sự linh hoạt trong điều chỉnh QHLĐ và phù hợp với những đặc điểm của thị trường lao động Việt Nam. Ngoài ra, trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, hệ thống pháp luật lao động cũng cần có sự tương thích với pháp luật thế giới, những công ước và đề xuất của ILO. Để giải quyết những vướng mắc trên không những đòi hỏi sự nỗ lực của những người làm công tác xét xử mà cần cả sự tự ý thức bảo vệ mình của các bên trong QHLĐ bằng cách nghiêm túc tuân thủ quy định của pháp luật về đơn phương chấm dứt HĐLĐ.

Thứ ba, để đảm bảo các quy định của pháp luật lao động phát huy hiệu quả không chỉ tập trung vào việc sửa đổi, bổ sung các quy định hiện hành mà còn cần phải đổi mới công tác tuyên truyền pháp luật nâng cao ý thức pháp luật cho NLĐ và NSDLĐ, nâng cao năng lực của tổ chức đại diện NSDLĐ cũng như vai trò của Nhà nước trong việc định hướng, điều tiết thị trường lao động.

Ngoài ra, để pháp luật lao động nói chung và pháp luật về đơn phương chấm dứt HĐLĐ của các bên có thể đi vào thực tiễn, cần phải tăng cường công tác thông tin, phổ biến, tuyên truyền, giáo dục và nâng cao ý thức về pháp luật nói chung và đơn phương chấm dứt HĐLĐ nói riêng. Phải nâng cao vai trò, trách nhiệm của tổ chức Công đoàn và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý những vi phạm pháp luật về đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp về chấm dứt hợp đồng lao động trong DN.

Quan hệ lao động là loại quan hệ mang tính chất lâu dài, nhưng nó không phải là quan hệ “vĩnh cửu” vì nó có thể chấm dứt bằng các căn cứ khác nhau và đơn phương chấm dứt HĐLĐ là một trong các căn cứ đó.

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là một thực trạng khách quan tồn tại trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ở Việt Nam. .. Việc đơn phương chấm dứt trái pháp luật cho dù bắt nguồn bất cứ nguyên nhân nào cũng gây ra các tác động xấu đến lợi ích của mỗi bên trong quan hệ lao động. Theo đó có thể rút ra một số kết luận sau:

Thứ nhất, tình trạng vi phạm pháp luật về đơn phương chấm dứt (căn cứ, trình tự, thủ tục. ..) đã và đang làm nảy sinh một số mâu thuẫn, tranh chấp giữa các bên trong quan hệ lao động. Bên cạnh đó, trong quá trình triển khai thực hiện, một số quy định về giải quyết tranh chấp đơn phương chấm dứt HĐLĐ đã bộc lộ những bất cập, vướng mắc nhất định. Việc thu hút vốn, kỹ thuật đầu tư từ nước ngoài của Việt Nam những năm qua đã dẫn đến quan hệ lao động có yếu tố nước ngoài ngày một phổ biến, là những nguyên nhân chính gây nên sự phức tạp của thực trạng tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của Toà án nhân dân các cấp tại tỉnh Bình Dương.

Thứ hai, việc tháo gỡ vướng mắc trong giải quyết tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của Tòa án nhân dân các cấp tại tỉnh Bình Dương chỉ hiệu quả nếu áp dụng đồng thời các giải pháp về pháp luật và các giải pháp khác (ví dụ: tuyên truyền giáo dục pháp luật lao động nâng cao tinh thần trách nhiệm của từng thẩm phán, nâng cao năng lực, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; xử lý nghiêm các hành vi cố tình vi phạm của doanh nghiệp…). Đơn phương chấm dứt HĐLĐ liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên trong QHLĐ và lợi ích chung của xã hội. Bởi vậy, khi điều chỉnh pháp luật về đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ phải chủ ý phối kết hợp hài hoà bảo vệ lợi ích của NLĐ và quyền lợi hợp pháp của NSDLĐ, bảo vệ lợi ích của từng chủ thể tham gia QHLĐ song song với việc bảo vệ lợi ích chung của cộng đồng.

Việc bảo vệ sự lành mạnh của thị trường lao động không đồng nghĩa với việc sẽ dành mọi ưu tiên cho người lao động mà là xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa giữa người sử dụng lao động và người lao động, để cả hai bên nhận thức đúng đắn về quyền, nghĩa vụ của mình và từ đó xử sự đúng pháp luật. Do đó, trên cơ sở nghiên cứu về thực trạng giải quyết tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của Tòa án nhân dân các cấp tại tỉnh Bình Dương hiện nay, luận văn đưa ra một số giải pháp, kiến nghị để xây dựng và hoàn thiện pháp luật cũng như tổ chức thực hiện pháp luật đối với đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Các giải pháp, kiến nghị này nhằm góp phần thực hiện nhiệm vụ trọng tâm là bảo vệ sự hài hoà của quan hệ lao động, đáp ứng những nhu cầu của nền kinh tế thị trường Việt Nam./. Luận văn: Giải pháp về chấm dứt hợp đồng lao động trong DN.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động trong DN

One thought on “Luận văn: Giải pháp về chấm dứt hợp đồng lao động trong DN

  1. Pingback: Luận văn: Thực trạng về chấm dứt hợp đồng lao động trong DN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464