Luận văn: Giải pháp thu hút khách du lịch đến Quảng Ngãi

Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút khách du lịch đến Quảng Ngãi

3.1. Quan điểm phát triển du lịch Quảng Ngãi 

Phát triển bền vững, phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển du lịch chung của cả nước và chiến lược phát triển du lịch khu vực miền Trung – Tây nguyên.

Khai thác hợp lý, có hiệu quả các lợi thế về tiềm năng tài nguyên du lịch, phát triển có trọng điểm để hình thành các khu, điểm du lịch hấp dẫn, tạo thương hiệu cho du lịch Quảng Ngãi, góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng tỷ trọng đóng góp của ngành Du lịch vào tổng thu nhập của tỉnh.

Phát triển du lịch gắn với huy động các nguồn lực của các thành phần kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng hội nhập của các doanh nghiệp và phát triển du lịch dựa vào cộng đồng, góp phần xóa đói giảm nghèo.

Bảo tồn, tôn tạo và phát triển bền vững môi trường, tài nguyên du lịch, phát huy truyền thống bản sắc văn hóa dân tộc.

Nâng cao năng lực quản lý nhà nước và năng lực tham mưu của các cơ quan chuyên môn, năng lực cạnh tranh và khả năng hội nhập kinh tế quốc tế của các doanh nghiệp.

Phát triển du lịch gắn với nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội.

3.2. Phương hướng và mục tiêu phát triển du lịch Quảng Ngãi

3.2.1 Phương hướng

Phát triển du lịch của tỉnh trở thành một trong những tâm điểm nằm trong chuỗi du lịch miền Trung – Tây Nguyên theo hướng phát huy tiềm năng, lợi thế về du lịch biển, đảo, núi thế mạnh về hệ thống di tích văn hoá, lịch sử, cách mạng gắn với quá trình phát triển của Khu Kinh tế Dung Quất và đô thị mới Vạn Tường.

Phấn đấu đến năm 2029, du lịch Quảng Ngãi cơ bản trở thành ngành kinh tế có vị trí quan trọng trong cơ cấu khối dịch vụ, tạo tiền đề đến năm 2035 là ngành kinh tế có vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế chung với hệ thống cơ sở hạ tầng du lịch đồng bộ; sản phẩm du lịch chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang bản sắc văn hóa Quảng Ngãi, thân thiện với môi trường, đưa Quảng Ngãi trở thành một trong những điểm đến đạt mức trung bình khá của vùng duyên hải Nam Trung Bộ và của cả nước.

3.2.2 Mục tiêu

  • Mục tiêu cụ thể đến năm 2029 và định hướng đến năm 2035:
  • Khách du lịch:

Trong năm 2025, thu hút được 700.000 lượt khách du lịch, trong đó khách quốc tế là 54.000 lượt; tổng thu du lịch đạt 620 tỷ đồng, trong đó thu ngoại tệ là 6,5 triệu USD

Đến năm 2029 đạt 950.000 trong đó có 70.000 lượt khách quốc tế; đến năm 2035 đạt 1.350.000 lượt khách, trong đó có 90.000 lượt khách quốc tế.

Tốc độ tăng trưởng khách quốc tế giai đoạn 2023 – 2029 đạt 10 – 15%/năm; giai đoạn 2030 – 2035 đạt 8 – 10%/năm. Tốc độ tăng trưởng khách nội địa giai đoạn 2023 – 2029 đạt 7 – 9%/năm; giai đoạn 2030 – 2035 đạt từ 6 – 7%/năm.

Ngày lưu trú trung bình của khách quốc tế giai đoạn 2023 – 2029 đạt từ 2,8 ngày – 3,0 ngày; giai đoạn 2030 – 2035 đạt 3,0 ngày – 3,5 ngày. Mức chi tiêu bình quân giai đoạn 2023 – 2029 đạt từ 78 USD – 90 USD/người/ngày đêm; giai đoạn 2030 –  2035 đạt 100 USD/người/ngày đêm.

Ngày lưu trú trung bình của khách nội địa giai đoạn 2023 – 2029 đạt từ 2,4 ngày – 2,9 ngày; giai đoạn 2030 – 2035 đạt từ 3,0 ngày – 3,4 ngày. Mức chi tiêu bình quân giai đoạn 2023 – 2029 đạt từ 750.000 VNĐ – 850.000 VNĐ/người/ngày đêm; giai đoạn 2030 – 2035 đạt từ 900.000 VNĐ – 1.000.000 VNĐ/người/ngày đêm.

Tổng thu từ khách du lịch: Đến năm 2029 đạt 880 tỷ đồng; đến năm 2035 đạt 1.152 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng tổng thu du lịch giai đoạn 2023 – 2024 đạt 17,3 %/năm; giai đoạn 2025 – 2029 đạt 13 %/năm; giai đoạn 2030 – 2035 đạt 11 %/năm.

Số lượng cơ sở lưu trú: Đến năm 2029 có 4.000 buồng và đến năm 2035 có 5.800 buồng, trong đó tỷ lệ buồng đạt chất lương 3 sao trở lên chiếm 15 – 25% theo từng giai đoạn.

Chỉ tiêu việc làm: Đến năm 2029, tạo việc làm cho 13.000 người, trong đó lao động trực tiếp 4.200 người. Đến năm 2035 có 16.000 lao động trong đó có 5.200 lao động trực tiếp.

Về văn hoá, xã hội: Góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá, các giá trị di tích cảnh quan, tạo thêm nhiều việc làm, góp phần giảm nghèo, phát triển thể chất, nâng cao dân trí và đời sống văn hoá tinh thần nhân dân, cải thiện điều kiện sống cho đồng bào các dân vùng sâu, vùng xã…

Về môi trường: Phát triển du lịch “xanh”, du lich cộng đồng, du lịch có trách nhiệm; gắn hoạt động du lịch vời gìn giữ và phát huy các giá trị tài nguyên và bảo vệ môi trường.

Về quốc phòng, an ninh: Gắn phát triển du lịch đảm bảo trật tự, an toàn xã hội; giữ vững quốc phòng, an ninh đặc biệt là vùng biển, đảo.

3.3. Các giải pháp để tăng cường thu hút khách đến Quảng Ngãi 

3.3.1. Thực hiện và rà soát lại công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch Quảng Ngãi

Khẩn trương rà soát điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể du lịch của tỉnh để có cơ sở pháp lý lập quy hoạch và dự án đầu tư vào các khu, điểm du lịch theo quy định.

Rà soát, bổ sung, điều chỉnh các quy hoạch chi tiết của các khu du lịch : Mỹ Khê, Sa Huỳnh, Vạn Tường… để đầu tư xây dựng đem lại hiệu quả.

Từ năm 2019 đến nay thực hiện hoàn thành công  tác quy hoạch các khu, điểm du lịch, dịch vụ đã được xác định trong quy hoạch tổng thể du lịch của Tỉnh tại địa bàn các huyện, thành phố để có cơ sở pháp lý lập các dự án đầu tư và thu hút đầu tư vào các khu, điểm du lịch.

Thực hiện tốt công tác quản lý quy hoạch sau khi được phê duyệt, quản lý chặt chẽ hoạt động đầu tư của các nhà đầu tư theo dự án được duyệt; kiểm tra xử lý kịp thời các dự án đã được cấp phép nhưng không thực hiện đúng, đề nghị thu hồi giấy phép những dự án đầu tư không hiệu quả; không đúng tiến độ để cấp lại cho các doanh nghiệp khác có năng lực, đầu tư.

Quy hoạch, đầu tư phát triển một số điểm tham quan cảnh quan, sinh thái như:  Thác Trắng, hồ Đồng Cần (Minh Long), thác Cà Đú (Trà Bồng), suối Chí (Nghĩa Hành), rừng Nà (Mộ Đức), suối Mơ, núi Phú Thọ -Cổ luỹ Cô thôn (Tư Nghĩa), Khu cảnh quan đầu mối công trình thuỷ lợi Thạch Nham (Tư Nghĩa – Sơn Hà).

 Xây dựng đập dâng sông Trà Khúc để tạo cảnh quan khu du lịch 2 bên bờ sông Trà và phát triển dịch vụ du lịch trên sông

3.3.2. Xây dựng và triển khai các chương trình phát triển sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch của Quảng Ngãi

Xây dựng các làng nghề: Ngoài việc sắp xếp xây dựng các làng nghề truyền thống hiện có như: Làng nghề sản xuất đường phèn, đường phổi, kẹo gương (TP.Quảng Ngãi) tạo thành các sản phẩm phục vụ du lịch; cần phát triển các làng nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ: Thêu ren (TP Quảng Ngãi ), mây tre đan, chế tác sừng (Sơn Tịnh), dệt thổ cẩm (làng Teng-Ba Tơ), sản phẩm từ cây quế (Trà Bồng), sản phẩm phục vụ khách du lịch như cá bống Sông Trà.

Xây dựng các làng văn hoá du lịch thôn Tư Cung (Tịnh Khê- Sơn Tịnh) gắn với khu chứng tích Sơn Mỹ, xây dựng làng văn hoá dân tộc thôn Nước Đan (Ba Trang – Ba Tơ) gắn với tuyến du lịch theo dòng nhật ký Đặng Thuỳ Trâm, làng văn hoá dân tộc Tịnh Đố (xã Thanh An – Minh Long) gắn với điểm du lịch Thác Trắng (Minh Long)…

Phát triển các làng trồng hoa, trồng rau chuyên canh, nâng cao chất lượng và phát huy hiệu quả của làng cà phê vườn (TP Quảng Ngãi) để phục vụ du lịch…

Phát triển các dịch vụ: Ngân hàng, bưu chính viễn thông, vận tải, bảo hiểm đáp ứng yêu cầu.

3.3.3. Thực hiện công tác phối kết hợp liên ngành, liên vùng trong du lịch

Tăng cường phối hợp liên ngành, các cấp chính quyền để làm tốt trách nhiệm trong việc giữ gìn an ninh, an toàn, văn minh cho khách du lịch ; xử lý nghiêm các hành vi cướp giật, hành hung, lừa đảo KDL. Tuyên truyền, hướng dẫn các đơn vị kinh doanh lữ hành, các địa phương có điểm du lịch, khu du lịch, đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch cần chú trọng hướng dẫn khách tôn trọng pháp luật, phong tục tập quán và tín ngưỡng của địa phương.

Tuyên truyền nâng cao nhận thức trách nhiệm, ý thức chấp hành pháp luật của các đơn vị hoạt động kinh doanh du lịch, các tổ chức cơ quan, đơn vị và cộng đồng dân cư trong công tác phòng ngừa, ngăn chặn các tệ nạn xã hội.

Mở rộng hợp tác phát triển du lịch giữa các trung tâm du lịch trong cả nước. Tổ chức ký kết thỏa thuận về du lịch đưa đón khách tham quan ở các doanh nghiệp lữ hành quốc tế để thực hiện mở các tuyến du lịch với Lào, Campuchia, Thái Lan và các nước khác trong khu vực, nhằm khai thác nguồn KDLbằng đường bộ trục hành lang Đông – Tây và đường hàng không đến các tỉnh miền Trung, đến Quảng Ngãi và ngược lại

3.3.4. Đảm bảo khai thác, bảo vệ, tôn tạo để nâng cao giá trị nguồn tài nguyên du lịch Quảng Ngãi

Các dự án đầu tư xây dựng các khu du lịch phải có báo cáo đánh giá tác động môi trường; các khu, điểm du lịch phải được xây dựng đảm bảo môi trường xanh – sạch – đẹp. Hàng năm bố trí nguồn vốn sự nghiệp môi trường ở các khu, điểm du lịch.

Phải xây dựng quy chế bảo vệ môi trường tại từng điểm, từng khu tham quan du lịch

Bảo tồn và tôn tạo tài nguyên du lịch nhân văn: phải chọn được các sản phẩm đặc thù, nổi trội nhất về tài nguyên nhân văn phục vụ phát triển du lịch và có kế hoạch bảo tồn, tôn tạo nguồn tài nguyên này. Phối hợp nhiều nguồn lực (nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng…) đầu tư thỏa đáng để bảo tồn, tôn tạo phục vụ cho phát triển du lịch.

3.3.5. Khuyến khích đầu tư xây dựng các khu vui chơi giải trí chuyên đề, tổng hợp tại trung tâm thành phố Quảng Ngãi và các cơ sở cung cấp dịch vụ bổ sung có chất lượng cao

Nguồn vốn ngân sách đầu tư: Ngoài các nguồn vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội gắn với phát triển du lịch; hằng năm các cấp ngành dành một phần ngân sách để đầu tư phát triển du lịch theo hướng sau:

Đầu tư xây dựng quy hoạch các khu, điểm du lịch và lập dự án đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch.

Đầu tư xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng chính yếu tại các khu, điểm du lịch, đầu tư nâng cấp hệ thống các di tích lịch sử, di tích văn hoá tạo thành những sản phẩm tham quan du lịch hấp dẫn.

Các huyện, thành phố chủ động đầu tư và xúc tiến, thu hút đầu tư váo các khu, điểm du lịch thuộc địa bàn của địa phương mình trên cơ sở quy hoạch được duyệt và phân cấp quản lý theo thẩm quyền ; đầu tư tôn tạo, nâng cấp các di tích lịch sử, văn hoá tạo ra những điểm tham quan du lịch hấp dẫn.

Khuyến khích các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng các khu, điểm du lịch xây dựng hệ thống cơ sở lưu trú, các cơ sở dịch vụ du lịch tại các khu, điểm du lịch đã được phê duyệt quy hoạch; tại các địa bàn trọng điểm như: Thành phố Quảng Ngãi, thành phố Vạn Tường, các thị trấn, các huyện… tạo ra các loại hình dịch vụ du lịch phong phú, hấp dẫn, đảm bảo thoả mãn nhu cầu lưu trú, nghỉ dưỡng, tham quan, giải trí, tiêu dùng của khách du lịch.

3.3.6 Có chính sách ưu tiên cho việc phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ngãi

Tiếp tục sắp xếp, nâng cao chất lượng các tổ chức, cơ quan tham mưu, quản lý hoạt động du lịch. Tập trung thu hút, đào tạo, bồi dưỡng, tăng cường đội ngũ cán bộ quản lý về du lịch ở cơ quan quản lý nhà nước, ban quản lý các khu du lịch. Khi có đủ điều kiện thì thành lập Sở Du lịch.

Phát triển nguồn nhân lực theo Nghị quyết số 24/2022/NQ-HĐND ngày 10 tháng 12 năm 2022 của HĐND tỉnh Quảng Ngãi:  Phát triển nguồn nhân lực du lịch đảm bảo số lượng, chất lượng, cân đối về cơ cấu, ngành nghề và trình độ đào tạo đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch. Đào tạo, bồi dưỡng để thực hiện chuẩn hóa nguồn nhân lực du lịch theo bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch Việt Nam (tiêu chuẩn VTOS), đáp ứng các yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Xây dựng lực lượng lao động làm việc trong ngành du lịch có tính chuyên nghiệp. Thu hút, khuyến khích nhân lực du lịch chất lượng cao về làm việc tại địa phương.

Nghiên cứu, ứng dụng tiếp thu những công nghệ thông tin, thương mại điện tử tiên tiến trong lĩnh vực kinh doanh và quản lý du lịch như quản lý khách sạn, tổ chức tour, tuyến;  hướng dẫn, tổ chức các khu du lịch có quy mô lớn, khu du lịch sinh thái, phát triển du lịch dựa vào cộng đồng, nâng cao sự hiểu biết về du lịch cho cộng đồng.

3.3.7 Đẩy mạnh chính sách xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá cho ngành Du lịch Quảng Ngãi

Thực hiện xã hội hoá hoạt động tuyên truyền, quảng bá, vận động tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội đầu tư phát triển du lịch, trong đó nhà nước đóng vai trò chủ đạo, doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng và mỗi người dân là một thành viên góp phần quảng bá hình ảnh, truyền thống quê hương và con người Quảng Ngãi.

Hình thành, phát triển các tuyến du lịch trong tỉnh theo hướng tạo sự liên kết giữa phát triển đô thị với các khu, điểm du lịch, các di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh. Từ nay đến năm 2035, phấn đấu hình thành 03 tuyến du lịch:

Tuyến du lịch lấy thành phố Quảng Ngãi làm trung tâm nối với huyện Sơn Tịnh, trên cơ sở liên kết các khu, điểm du lịch như : Khu công viên Thiên Bút, khu công viên văn hoá Thiên Ấn, chứng tích Sơn Mỹ, đền thờ Trương Định, khu du lịch Mỹ Khê.

Tuyến du lịch lấy địa bàn huyện Bình Sơn làm trung tâm nối với huyện Trà Bồng, Lý Sơn trên cơ sở liên kết các khu, điểm du lịch như: Khu du lịch Thiên Đàng, khu du lịch sinh thái Vạn Tường, khu du lịch sinh thái Cà Đam Nước Trong và điểm du lịch biển đảo Lý Sơn.

Tuyến du lịch lấy địa bàn huyện Đức Phổ làm trung tâm nối với huyện Mộ Đức, Ba Tơ trên cơ sở liên kết các khu, điểm du lịch như: Sa Huỳnh, quần thể di tích lịch sử “theo dòng nhật ký Đặng Thùy Trâm”, nhà lưu niệm cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Bảo tàng khởi nghĩa Ba Tơ.

Đẩy mạnh hợp tác phát triển du lịch giữa tỉnh với các trung tâm du lịch trong cả nước như: Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Trung – Tây Nguyên để hình thành các tuyến du lịch.

Đẩy mạnh hoạt động kêu gọi đầu tư, thực hiện tốt các cơ chế ưu đãi đầu tư theo quy định, áp dụng có hiệu quả cơ chế 1 cửa rút ngắn thời gian hoàn thành các thủ tục đầu tư cho các nhà đầu tư vào tỉnh.

Tổ chức hợp tác quốc tế, phát triển du lịch giữa tỉnh với các tỉnh thuộc các nước Lào, Cam-pu chia, Thái Lan và các nước trong khu vực, tiến tới hình thành các tuyến du lịch quốc tế nhằm khai thác nguồn khách du lịch bằng đường bộ trục hành lang Đông- Tây và đường hàng không đến các tỉnh miền Trung, Quảng Ngãi và ngược lại.

Tăng cường công tác quảng bá và xúc tiến du lịch trong tỉnh, trong nước và kể cả nước ngoài. Nhất quán trong tuyên truyền quảng bá, tạo nên những thương hiệu nổi trội của du lịch Quảng Ngãi như : Văn minh Sa Huỳnh, Về với Mỹ Khê, Trở lại với Sơn Mỹ, Hành trình đến Vương quốc tỏi, Hành trình theo dòng nhật ký Đặng Thuỳ Trâm…

Quảng bá xúc tiến cần theo chương trình thống nhất nhằm đưa lên đầy đủ tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân văn của Quảng Ngãi; Xây dựng chương trình quảng cáo, trang Web, đĩa VCD về du lịch Quảng Ngãi.

Tham gia và chủ trì mở các đợt xúc tiến quảng bá hội chợ, triễn lãm, hội thảo, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng. Xây dựng kênh thông tin trao đổi, cập nhật thường xuyên giữa trung tâm thông tin du lịch của tỉnh với các tỉnh miền Trung – Tây Nguyên, các Công ty lữ hành về du lịch Quảng Ngãi.

Mỗi năm xây dựng một số sự kiện nổi bật để làm “điểm nhấn”, tổ chức các sự kiện lễ hội tránh trùng lặp về sản phẩm và thời gian để thu hút khách du lịch.

Tiểu kết chương 3

Trên đây là quan điểm, phương hướng và giải pháp để tăng cường thu hút khách du lịch đến tỉnh Quảng Ngãi.

Với quan điểm phát triển bền vững, phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển du lịch chung của cả nước và chiến lược phát triển du lịch khu vực miền Trung – Tây nguyên. Đưa ngành Du lịch sẽ trở thành ngành kinh tế có đóng góp quan trọng trong tổng sản phẩm của tỉnh. Trên cơ sở của các mục tiêu và phương pháp thu hút khách đến với tỉnh Quảng Ngãi như quy hoạch, đầu tư phát triển một số điểm tham quan cảnh quan, sinh thái như:  Thác Trắng, hồ Đồng Cần (Minh Long), thác Cà Đú (Trà Bồng); xây dựng và triển khai các chương trình phát triển sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch của Quảng Ngãi; đảm bảo khai thác, bảo vệ, tôn tạo để nâng cao giá trị nguồn tài nguyên du lịch Quảng Ngãi; khuyến khích đầu tư xây dựng các khu vui chơi giải trí chuyên đề, tổng hợp tại trung tâm thành phố Quảng Ngãi và các cơ sở cung cấp dịch vụ bổ sung có chất lượng cao; có chính sách ưu tiên cho việc phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ngãi; đẩy mạnh chính sách xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá cho ngành Du lịch Quảng Ngãi.

KẾT LUẬN

Tỉnh Quảng Ngãi có nhiều tiềm năng tự nhiên và văn hóa để phát triển nhiều loại hình và sản phẩm du lịch mang những dấu ấn đặc thù riêng, hấp dẫn khách du lịch.

Địa hình đa dạng tạo nên nhiều thắng cảnh đẹp với hệ sinh thái phong phú như Núi Ấn – Sông Trà, Cổ lũy Cô thôn, Thác Trắng, Cà Đam.v.v…Đây là những địa danh hấp dẫn KDL tham quan, nghỉ dưỡng.

Quảng Ngãi có các bãi biển với giá trị du lịch như Mỹ Khê, Sa Huỳnh, Vạn Tường…Ngoài ra đảo Lý Sơn, là tiềm năng phát triển du lịch biển, đảo; Về văn hóa, Quảng Ngãi có nhiều di tích lịch sử văn hóa, lịch sử cách mạng hấp dẫn du khách tham quan, tìm hiểu và có ý nghĩa giáo dục như Trường Lũy, Ba Tơ, Sơn Mỹ, Vạn Tường, Dung Quất.v.v…

Trên cơ sở phát huy tiềm năng và lợi thế đó, Cùng với tiến trình phát triển của  ngành du lịch tỉnh Quảng Ngãi cũng như ngành du lịch cả nước đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận và có những đóng góp nhất định trong sự phát triển kinh tế-xã hội; góp phần bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá, bảo vệ môi trường và giữ vững quốc phòng, an ninh trên địa bàn.

Những năm gần đây, xu hướng hội nhập, hợp tác, cạnh tranh toàn cầu, giao lưu mở rộng và tăng cường ứng dụng khoa học và công nghệ trong nền kinh tế tri thức trên thế giới đang tạo những cơ hội to lớn đồng thời cũng là thách thức đối với phát triển du lịch cả nước trong đó có du lịch Quảng Ngãi.

Chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập của Việt Nam với việc gia nhập các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới đã, đang và sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế đối ngoại, trong đó có du lịch phát triển. Việc Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO vào đầu năm 2016 đã tạo ra nhiều cơ hội, thuận lợi cho ngành Du lịch phát triển.

Phấn đấu đến năm 2029, du lịch Quảng Ngãi cơ bản trở thành ngành kinh tế có vị trí quan trọng trong cơ cấu khối dịch vụ, tạo tiền đề đến năm 2035 là ngành kinh tế có vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế chung với hệ thống cơ sở hạ tầng du lịch đồng bộ; sản phẩm du lịch chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang bản sắc văn hóa Quảng Ngãi, thân thiện với môi trường, đưa Quảng Ngãi trở thành một trong những điểm đến đạt mức trung bình khá của vùng duyên hải Nam Trung Bộ và của cả nước.

Để thu hút KDL đến Quảng Ngãi, Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch cần phải tăng cường hoàn thiện các chính sách về đầu tư, xúc tiến và quảng bá cho du lịch địa phương tại các hội chợ du lịch của vùng hoặc quốc gia. Bên cạnh đó, cơ quan này cũng cần xiết chặt cơ chế quản lý các địa điểm và các doanh nghiệp hoạt động du lịch để tránh các hiện tượng chèo kéo; chặt chém khách; Tăng cường sự hợp tác liên ngành với các khu vực để tạo ra sản phẩm tour du lịch đặc thù của các vùng với nhau như: thiết kế các tour du lịch liên kết giữa tỉnh này với tỉnh kia: Quảng Nam Và Quảng Ngãi (du lịch Đà Nẵng – Đảo Lý Sơn)…Đồng thời nắm rõ các đặc điểm thị trường của từng đối tượng khách hàng, nhóm khách hàng, hoặc tâm lý KDL của từng đất nước, từng khu vực để tìm ra chiến lược, phương pháp thu hút KDL đến với Quảng Ngãi.

Bên cạnh sự cố gắng nỗ lực của các cơ quan chức năng  thì  cần có sự tham gia của cộng đồng địa phương để tạo ra những sản phẩm du lịch đặc sắc, hấp dẫn, lôi cuốn du khách. Ngoài ra, khách hàng có quay trở lại đây hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào sự thân thiện, hiếu khách của dân cư bản địa. Và cũng chính cung cách phục vụ này của nhân viên và dân cư địa phương sẽ tạo ra nét đặc thù riêng làm níu chân du khách khi đến với Quảng Ngãi.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464