Luận văn: Nghiên cứu thu hút khách du lịch đến Quảng Ngãi

Nghiên cứu đặc điểm nguồn khách và các giải pháp thu hút khách du lịch đến Quảng Ngãi

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Tỉnh Quảng Ngãi có nhiều tiềm năng phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch biển đảo. Việc các chuyên gia phát hiện thêm nhiều miệng núi lửa ở Bình Châu và Lý Sơn đã mở ra hướng đi mới cho ngành công nghiệp “không khói” của địa phương.

Với những lợi thế nhất định về vị trí và đặc điểm tài nguyên du lịch, trong đó nổi bật là tài nguyên du lịch biển, đảo, Quảng Ngãi được đánh giá là điểm đến quan trọng  của du khách, đặc biệt là trên tuyến du lịch xuyên Việt.

Tuy nhiên, theo số liệu thống kê trong những năm gần đây, lượng khách du lịch đến với Quảng Ngãi chưa nhiều, chủ yếu là khách công vụ.  Nằm giữa hai tuyến du lịch đang rất thu hút du khách là “Con đường di sản miền Trung” và “Con đường xanh Tây Nguyên”, nhưng khách dừng chân ở Quảng Ngãi rất ít.

Từ đó, việc nghiên cứu đặc điểm nguồn KDL, đưa ra các giải pháp thu hút khách du lịch tới tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới sẽ giúp địa phương phát triển kinh tế, và đưa ngành Du lịch là ngành thế mạnh của Tỉnh. Chính vì vậy, tác giả chọn  đề tài:” Nghiên cứu đặc điểm nguồn khách và các giải pháp thu hút khách du lịch đến Quảng Ngãi”  để nghiên cứu là cần thiết, có ý nghĩa cả về mặt thực tiễn và lý luận.

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Các đề tài nghiên cứu về du lịch Tỉnh Quảng Ngãi đã có rất nhiều như: “Quy hoạch phát triển ngành Du lịch tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2029, tầm nhìn đến năm 2035 (Viện Nghiên cứu và Phát triển Du lịch nghiên cứu theo đơn đặt hàng của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi); và “Chiến lược phát triển du lịch Tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2029” – Tác giả: Th.s Lê Hoàng Tân.

Ngoài ra còn có các nghiên cứu cụ thể về mối quan hệ giữa doanh nghiệp lữ hành và khách du lịch…. Mỗi một nghiên cứu lại mang một ý nghĩa và mục đích khác nhau, nội dung phân tích không trùng lặp.

Riêng đề tài nghiên cứu về đặc điểm nguồn khách dưới góc độ phân tích cụ thể trên phạm vi Tỉnh Quảng Ngãi chưa có nghiên cứu nào chi tiết. Do đó “ Nghiên cứu đặc điểm nguồn khách và các giải pháp thu hút khách du lịch đến Quảng Ngãi”  là đề tài mới, chưa có nghiên cứu tiền nhiệm.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích: Đưa ra các giải pháp thu hút khách du lịch tới Tỉnh Quảng Ngãi.

3.2 Nhiệm vụ:

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận về đặc điểm nguồn khách và các giải pháp thu hút khách du lịch của điểm đến.
  • Nêu rõ đặc điểm nguồn khách; thực trạng thu hút khách du lịch đến Tỉnh Quảng Ngãi
  • Đưa ra một số giải pháp để tăng cường thu hút khách du lịch đến Tỉnh Quảng Ngãi.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm của nguồn khách và các giải pháp thu hút khách du lịch đến Quảng Ngãi.

4.2 Phạm vi nghiên cứu

  • Về nội dung

Nghiên cứu đặc điểm của nguồn khách và các giải pháp thu hút khách du lịch đến Quảng Ngãi dưới góc độ vĩ mô.

  • Về không gian

Theo địa giới hành chính Quảng Ngãi  phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía Nam giáp các tỉnh Gia Lai, Bình Định, phía Tây giáp tỉnh Kon Tum, phía Đông giáp biển Đông. Diện tích 5.152,95 km².

  • Về thời gian

Số liệu hiện trạng từ năm 2018 hết năm 2024

5. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thực địa: Bao gồm các khảo sát, thu thập thông tin tư liệu để đánh giá tiềm năng, hiện trạng phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn đến năm 2024. Với phương pháp thực địa giúp phân tích các tư liệu một cách sát thực hơn tiềm năng và hiện trạng phát triển du lịch Quảng Ngãi. Từ đó phân tích đặc điểm nguồn khách đến Quảng Ngãi, tìm ra những hạn chế trong công tác thu hút khách du lịch của Tỉnh và đề ra các phương pháp thu hút nhiều khách du lịch đến với Quảng Ngãi.

Phương pháp tổng hợp, phân tích: Tổng hợp và phân tích những kết quả đạt được, những tồn tại yếu kém và nguyên nhân, các xu hướng phát triển du lịch của khu vực và thế giới trong hoàn cảnh mới từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp phát triển du lịch tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn tiếp theo phù hợp tình hình, nhiệm vụ của giai đoạn phát triển mới.

Phương pháp kế thừa: Kế thừa các kết quả nghiên cứu của các đề án có liên quan trên địa bàn và mô hình phát triển du lịch của một số địa phương có điều kiện tự nhiên tương tự.

6. Những đóng góp mới của đề tài

Nghiên cứu đặc điểm nguồn khách du lịch đối với sự phát triển của điểm đến du lịch trên cả nước nói chung và tỉnh Quảng Ngãi nói riêng. Với nguồn khách du lịch quốc tế, nội địa tập trung phân tích rõ đặc điểm: Về động cơ, mục đích, đối tượng, khả năng chi trả của khách khi tới  du lịch Quảng Ngãi.

Đề tài đã phân tích rõ thực trạng và các giải pháp thu hút khách du lịch mà ngành Du lịch tỉnh Quảng Ngãi đã thực hiện. Đồng thời cũng đề xuất một số giải pháp quan trọng nhằm giúp ngành Du lịch tỉnh Quảng Ngãi tăng cường thu hút khách du lịch đến trong thời gian tới.

7. Nội dung nghiên cứu

  • Chương 1. Cơ sở lý luận về nghiên cứu đặc điểm nguồn khách và các giải pháp thu hút khách du lịch của điểm đến.
  • Chương 2. Thực trạng nguồn khách và các giải pháp thu hút khách du lịch đến Quảng Ngãi.
  • Chương 3. Một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút khách du lịch đến Quảng Ngãi.

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NGUỒN KHÁCH VÀ CÁC GIẢI PHÁP THU HÚT KHÁCH DU LỊCH CỦA ĐIỂM ĐẾN

1.1. Một số lý luận cơ bản về KDL và điểm đến du lịch

1.1.1. Khách du lịch

Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2014, KDL là “người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc ngành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”. Khách du lịch gồm có khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế.

  • Khách du lịch nội địa: Là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam
  • Khách du lịch quốc tế: Là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam ra ngước ngoài du lịch.

1.1.2. Điểm đến du lịch

Lý do đi du lịch của con người rất đa dạng và khác nhau. Họ đi du lịch để thỏa mãn trí tò mò, khám phá, thư giãn, tìm hiểu… Họ rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình để đến địa phương, vùng, lãnh thổ, quốc gia khác… mà không vì mục đích khác ngoài đi du lịch. Nơi mà họ đến gọi chung là điểm đến du lịch.

1.1.2.1. Khái niệm

Dưới mỗi góc độ nghiên cứu có mỗi quan điểm khác nhau về điểm đến du lịch

Đứng dưới góc độ địa lý: Điểm đến du lịch là một vị trí địa lý mà du khách đang thực hiện hành trình đến đó nhằm thỏa mãn nhu cầu tùy theo mục đích chuyến đi của mình.

Đứng ở góc độ kinh tế: Điểm đến du lịch du lịch là một vùng, một nơi hoặc một đất nước có sức hấp dẫn đặc biệt đối với dân cư ngoài địa phương và có những thay đổi nhất định trong kinh tế do hoạt động du lịch gây nên. Nói cách khác, điểm đến du lịch là bất cứ địa điểm lớn hay nhỏ có tài nguyên du lịch và có hoạt động du lịch phát triển.

Vì vậy, có thể hiểu điểm đến du lịch là những khu vực địa lý rộng hơn điểm thu thu hút / hấp dẫn và bao gồm một số điểm hấp dẫn cùng các tiện nghi và dịch vụ bổ trợ cần thiết cho khách du lịch. Sự tồn tại của điểm hấp dẫn là điều kiện để kích thích phát triển thành nơi đến du lịch. Và nơi đến phát triển lại làm nảy sinh các điểm hấp dẫn bổ sung để khai thác thị trường khách có hiệu quả hơn.

1.1.2.2. Các yếu tố cấu thành điểm đến

Các điểm đến được hình thành bởi 3 nhóm yếu tố sau:

Nhóm 1: Các yếu tố liên quan đến sức hấp dẫn của điểm du lịch như vị trí địa lý, giá trị tài nguyên du lịch, các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội (chính sách của Nhà nước, bầu không khí chính trị, tiến bộ khoa học kỹ thuật, sự quảng bá du lịch…). Tài nguyên và vị trí của điểm du lịch là điều kiện đầu tiên quyết định sự hình thành và phát triển điểm đến du lịch. Dù tài nguyên nhân tạo hay tự nhiên hoặc các sự kiện đều có tác dụng gây ra động lực ban đầu cho sự thăm viếng của khách du lịch. Bên cạnh đó, sự ủng hộ, tạo điều kiện của các cơ quan có liên quan, các nhân tố kinh tế chính trị xã hội thuận tiện cho du lịch phát triển để tạo nên hình ảnh đặc biệt, riêng biệt của điểm đến du lịch.

Nhóm 2: Các yếu tố đảm bảo sự đi lại của khách đến điểm du lịch như hệ thống phương tiện giao thông vận tải hiện có và khả năng phát triển trong tương lai. Để một nơi đến tồn tại và phát triển cần phải dự vào các yếu tố giao thông. Các phương tiện giao thông và hệ thống đường sá nối liền với các thị trường gửi khách góp phần hình thành nên điểm đến. Và trong bản thân của nơi đến cũng cần các dịch vụ vận chuyển phong phú để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch.

Nhóm 3: Các yếu tố đảm bảo cho nhu cầu lưu trú và ăn uống trong thời gian khách lưu lại tại điểm du lịch như hệ thống cơ sở lưu trú, ăn uống, cơ sở phục vụ vui chơi giải trí… Các dịch vụ lưu trú và ăn uống của nơi đến không chỉ cung cấp nơi ăn nghỉ mang tính vật chất mà còn tạo ấn tượng khó quên về một nét văn hóa phi vật chất của đời sống người dân bản xứ. Sự thay đổi da dạng của các cơ sở cung cấp dịch vụ này nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường. Các dịch vụ bổ sung của điểm đến như các dịch vụ tiện nghi, các hoạt động bổ sung (dù không phải chỉ riêng có ở điểm du lịch mà có thể có tại nơi khách sinh sống nhưng lại mong muốn tham gia các hoạt động trong chuyến du lịch). Khả năng cung cấp các tiện nghi, các dịch vụ bổ sung cho thấy sự phụ thuộc lẫn nhau của các lĩnh vực kinh doanh trong ngành Du lịch, tính chất của một ngành kinh tế tổng hợp của hoạt động du lịch. Quy mô của điểm đến tăng lên sẽ kích thích các tiện nghi, dịch vụ bổ sung tăng theo.

1.1.2.3. Đặc điểm của điểm đến du lịch

Tính phụ thuộc vào các giá trị của tài nguyên du lịch: Thông qua số lượng, mật độ nguồn tài nguyên để xác định khả năng khai thác thu hút khách cho điểm du lịch. Trong du lịch, việc khai thác nguồn tài nguyên này chủ yếu dựa vào giá trị của chúng. Với các giá trị về mặt lịch sử, kiến trúc, điêu khắc, cảnh quan, hệ sinh vật… của nguồn tài nguyên chúng góp phần tạo nên nét đặc trưng trong sản phẩm du lịch của mỗi vùng. Từ đó hình thành nên đặc điểm của điểm du lịch.

Tính không tách biệt: Trong du lịch, sản xuất và tiêu dùng diễn ra cùng một thời điểm, khách du lịch phải đến tận nơi có tài nguyên du lịch để cảm nhận giá trị vẻ đẹp của điểm đến. Đây là một trong những đặc điểm không thể tách biệt được nguồn tài nguyên và hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho du lịch, cũng như không thể di dời, hoán đổi vị trí cho nhau. Chỉ khi nào khách du lịch đến tại điểm du lịch thì hoạt động sản xuất ra sản phẩm du lịch của vùng đó mới diễn ra. Đây chính là đặc điểm của điểm du lịch. Do tính không tách biệt này nên sẽ tạo ra đặc tính không thể dự trữ (nếu sản phẩm không được khách du lịch tiêu dùng hôm nay thì sẽ không thể cất trữ để hôm sau đem ra bán lại); tính thời vụ (mức giá xác định cho sản phẩm của điểm du lịch vào mùa cao điểm phải đủ để bù đắp chi phí cho mùa thấp điểm)… Việc dự báo khả năng, đặc tính của thị trường phải đảm bảo tính chính xác để đầu tư xây dựng điểm đến du lịch.

Tính đa dụng: Một điểm đến du lịch phải có cả nguồn tài nguyên du lịch phong phú đa dạng và hệ thống cơ sở hạ tầng vật chất tốt thì mới đủ điều kiện để phát triển du lịch. Hai thành phần này không chỉ phục vụ nhu cầu của khách du lịch mà còn phục vụ đời sống của dân cư sở tại một cách trực tiếp và gián tiếp.

Từ đó tạo ra sự thay đổi bộ mặt địa phương. Thực tế các công trình hạ tầng chung xây dựng phục vụ đời sống dân cư sẽ được dùng cho du lịch khi kinh doanh du lịch bắt đầu hoạt động. Chỉ có các công trình dùng riêng cho hoạt động du lịch như khách sạn, công viên chủ đề… là các công trình chỉ tồn tại khi có hoạt động du lịch. Mặt khác các công trình này không chỉ phục vụ riêng cho du lịch mà các ngành nghề khác cũng tham gia sử dụng. Điều này tạo nên tính đa dạng của điểm đến.

Tính bổ sung: Thực chất đây là một mối quan hệ ràng buộc nhau trong khi tiến hành kinh doanh du lịch. Một sản phẩm du lịch có sự kết hợp của nhiều thành phần (có cả hàng hóa, dịch vụ, giá trị tài nguyên…), có sự tham gia của nhiều nhà kinh doanh (khách sạn, nhà hàng, vận chuyển, công ty lữ hành…) nên rất khó đánh giá chất lượng sản phẩm. Các yếu tố này bổ sung cho nhau để tạo nên một sản phẩm tốt, tạo nên dấu ấn của một điểm du lịch tốt. Kiểm soát chất lượng của chúng là một vấn đề khó khăn cần có sự tham gia của nhiều thành phần, đặc biệt là vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch tại điểm đến du lịch này.

1.2. Nghiên cứu đặc điểm nguồn khách 

1.2.1 Đặc điểm về nhân khẩu của khách du lịch

Các nội dung nghiên cứu về đặc điểm nhân khẩu của khách du lịch bao gồm:  Độ tuổi, giới tính, thu nhập bình quân đầu người, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, tôn giáo, nguồn gốc, chủng tộc… Căn cứ vào kết quả nghiên cứu về đặc điểm nhân khẩu của khách du lịch, các nhà quản lý điểm đến có thể đưa ra những chiến lược quảng bá, phát triển du lịch và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch của điểm đến phù hợp với nhu cầu khách.

1.2.2 Các đặc điểm về tiêu dùng du lịch

1.2.2.1. Động cơ và mục đích đi du lịch của khách du lịch

  • Động cơ đi du lịch của khách:

Con người khi có khả năng về kinh tế và có thời gian nhàn rỗi, nhưng chưa chắc họ đã đi du lịch nếu như họ chưa có  động cơ đi du lịch. Theo các nhà tâm lý “Động cơ là nhân tố chủ quan khuyến khích mọi người hành động. Động cơ du lịch chỉ ra nguyên nhân tâm lý khuyến khích người ta đi du lịch, đi đâu, theo loại hình du lịch nào, điều này thường được biểu hiện ra bằng các hình thức như nguyện vọng, hứng thú, yêu thích, tìm kiếm điều mới lạ”.

Để nắm bắt được động cơ du lịch của mọi người nhằm kích thích họ đi du lịch theo các loại hình du lịch, các nhà tâm lý đã chia làm năm loại động cơ chủ yếu sau:

Động cơ tái hồi sức khoẻ: Thông qua du lịch như nghỉ ngơi, điều dưỡng, vui chơi, giải trí, thể thao, tham quan..v.v để giải toả tâm lý căng thẳng và phục hồi sức khoẻ.

Động cơ về giao tiếp xã hội: Thông qua du lịch để thăm người thân, bạn bè, thăm lại nơi đã từng ở và công tác, tiếp xúc với các dân tộc khác nhau, khảo sát xã hội..v.v.

Động cơ về mở rộng kiến thức về văn hoá: Thông qua du lịch để tìm hiểu phong tục tập quán, nghệ thuật, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, tôn giáo tín ngưỡng.

Động cơ về thể hiện mình: Thông qua du lịch để đi khảo sát khoa học, giao lưu học thuật, tham dự hội nghị, hội thảo..v.v  tạo ra sự chú ý của mọi người đối với mình.

Động cơ về kinh tế: Thông qua du lịch để tìm hiểu thị trường, tìm các cơ hộ đầu tư, xây dựng các mối quan hệ kinh doanh..v.v nhằm đạt mục đích kinh tế.

Nghiên cứu về động cơ du lịch của con người có một ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác thị trường khách du lịch cũng như giải quyết mối quan hệ cung-cầu của ngành Du lịch.

  • Mục đích đi du lịch của khách:

Căn cứ vào mục đích của chuyến đi du lịch: Con người đi du lịch với nhiều mục đích khác nhau, nhưng trong đó có mục đích chính của chuyến đi như:

Tham quan văn hoá- lịch sử: Đây là một trong những mục đích mang tính phổ biến nhất và là cốt lõi của các chương trình du lịch. Con người khi đi du lịch với những mục đích khác nhau, nhưng cái cốt lõi vẫn là tìm hiểu truyền thống văn hoá, phong tục tập quán, nếp sống của cộng đồng dân cư nơi họ đến du lịch. Vì thế, việc khai thác tài nguyên du lịch nhân văn và xã hội ở đây để phục vụ khách du lịch (trong đó cả khách du lịch nội địa lẫn khách du lịch quốc tế) đóng một vai trò quyết định. Ví dụ: Khi khách du lịch đến Hà Nội ai cũng mong muốn được biết Hà Nội có từ bao giờ và ngay cả những người ở Hà Nội cũng không thể biết hết được các di tích lịch sử nổi tiếng ở đây và mong muốn được đi tham quan tìm hiểu.

Nghỉ dưỡng: Du lịch được coi như một phương tiện nhằm tái hồi sức lao động của con người sau những tháng, năm lao động vất vả. Các chuyến du lịch với mục đích nghỉ dưỡng đã có từ rất lâu, đặc biệt khi du lịch chưa trở thành hiện tượng xã hội phổ biến mà chỉ dành cho tầng lớp giàu có và giai cấp thống trị. Ngày nay, đi du lịch với mục đích nghỉ dưỡng đã trở nên phổ biến với đông đảo các tầng lớp dân cư tham gia. Đông đảo nhất là những người lao động có thu nhập tương đối cao, những người sống ở thành phố chịu nhiều áp lực của tiếng ồn, ô nhiễm môi trường do khói và bụi, những người già có tiền tích luỹ sau nhiều năm làm việc hoặc có con thành đạt trợ cấp cho đi du lịch nghỉ dưỡng.

Mục đích công vụ:  Hiện nay, nhiều người đi công tác, dự các cuộc hội nghị, hội thảo, tham dò đầu tư, thương mại và kết hợp với mục đích du lịch. Số lượng khách đi với mục đích này rất lớn và nhiều nước đặt ra mục tiêu trở thành trung tâm hội nghị, hội thảo và triển lãm của thế giới và khu vực. Khi đi du lịch với mục đích này, khách thường có khả năng thanh toán cao, họ là cán bộ cao cấp của Nhà nước, của các tổ chức và các tập đoàn lớn. Ngoài việc chi phí cho chuyến đi do các tổ chức này bảo trợ với mức cao, họ còn có khả năng thanh toán cao do vậy doanh thu từ loại hình du lịch này rất lớn. Mặt khác, do mối quan hệ họ còn là người xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch cho đất nước đến tham quan và du lịch.

Mục đích thăm thân: Những chuyến du lịch với mục đích thăm thân ngày càng phát triển mạnh mẽ trong điều kiện thế giới rộng mở, con người có thể đi làm việc và định cư ở bất cứ nơi nào trên trái đất, họ mong muốn trở về quê hương để thăm người thân kết hợp với du lịch.

Mục đích chữa bệnh:  Những chuyến du lịch với mục đích chữa bệnh đã phát triển từ xa xưa, chủ yếu tại những nơi có nguồn nước khoáng, vùng núi và vùng ven biển với mục tiêu khai thác các tài nguyên thiên nhiên (đất, nước, không khí, cỏ cây thiên nhiên,..v.v) phục vụ việc điều dưỡng và chữa bệnh cho con người.

Mục đích thể thao: Những người đi du lịch với mục đích này gồm hai loại: Các vận động viên thi đấu và khách du lịch đi xem các sự kiện thi đấu thể thao. Đối với loại thứ nhất, du lịch phục vụ các đoàn vận động viên đi thi đấu trong các giải thế giới, khu vực (Olympic, Wodl Cup, SeaGame ..v.v) hoặc đi tập huấn kết hợp với tham quan du lịch. Loại thứ hai là các cổ động viên, khán giả đi xem các cuộc thi đấu thể thao kết hợp với tham quan du lịch. Không phải ngẫu nhiên, các nước thường cạnh tranh với nhau trong việc đăng cai các cuộc thi đấu thể thao của quốc tế và khu vực nhằm phát triển các hoạt động du lịch.

Mục đích tôn giáo, tín ngưỡng: Tín ngưỡng, tôn giáo đã hình thành và tồn tại hàng ngàn năm, cuộc sống của một bộ phận dân cư dựa vào các thần linh, chúa trời. Con người ngoài đời sống vật chất còn có đời sống tinh thần trong đó có vấn đề tâm linh. Một bộ phận dân cư đã hình thành các tôn giáo: Thiên chúa giáo, đạo tin lành, phật giáo, cao đài hoà hảo, cơ đốc giáo, đạo hồi…Các tín đồ đạo giáo hình thành nhu cầu tín ngưỡng được bộc lộ rõ nét trong các cuộc hành hương đến nơi có ý nghĩa tâm linh. Ví dụ: Vào đầu xuân có hàng vạn người Việt Nam đi hành hương với mục đích tâm linh tới các chùa, đền để cầu nguyện cho cuộc sống tốt đẹp hoặc hàng năm có hàng triệu người từ khắp nơi trên thế giới đên Vatican (Italia) để thăm nơi thánh địa của thiên chúa giáo…v.v. Xuất phát từ nhu cầu trên, loại hình du lịch tôn giáo đã hình thành, tồn tại lâu đời và phổ biến ở các quốc gia.

Vui chơi, giải trí: Vui chơi, giải trí là hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người sau những ngày lao động mệt mỏi nhằm nghỉ dưỡng phục hồi thể lực và tinh thần. Để thoả mãn nhu cầu của con người, đã hình thành một ngành công nghiệp giải trí phục vụ con người bao gồm: các nhà hát biểu diễn các loại hình nghệ thuật, các rạp chiếu phim, các vũ trường, các casino (trung tâm đánh bạc), các cuộc cá cược cho đua ngựa, các công viên chuyên đề ..v.v. Nhiều nước đã hình thành những trung tâm Casino lớn và nổi tiếng để thu hút khách du lịch đến giải trí như: Macao (Trung Quốc), Lavegas (Mỹ)..v.v.

1.2.2.2. Phương tiện vận chuyển khách du lịch tới điểm đến du lịch.  

Du lịch bằng hàng không: Đây là loại hình du lịch mà phần lớn khách du lịch sử dụng. Với khách du lịch sử dụng phương tiện bằng đường hàng không như máy bay thì khách thường có khả năng chi trả cao cho chuyến đi.

Du lịch bằng đường bộ: Số lượng khách du lịch đi bằng ô tô rất lớn, đây là một loại hình được lựa chọn nhiều nhất. Khi lựa chọn du lịch bằng đường bộ với phương tiện vận chuyển là ô tô sẽ giúp khách hàng tiết kiệm được chi phí, và đây là loại hình được đa phần khách trong nước lựa chọn vì phù hợp với khả năng chi trả của khách.

Du lịch bằng đường sắt:  Các phương tiện vận tải đường sắt được hiện đại hoá với tiện nghi sang trọng, tốc độ nhanh và an toàn đang cạnh tranh nguồn khách du lịch với các hãng hàng không. Khách hàng lựa chọn phương tiện du lịch này có khả năng chi trả rất cao và đề cao tính an toàn của dịch vụ.

Du lịch bằng tàu biển: Loại hình du lịch này phát triển mạnh mẽ ở châu Âu và châu Mỹ, ngày nay đang phát triển trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Khách du lịch đi theo loại hình du lịch này chủ yếu là những người giàu có không chỉ về tiền bạc mà cả về thời gian.

Du lịch bằng tàu thuỷ:  Loại hình du lịch này chủ yếu phát triển ở những vùng có nhiều sông và với những con sông chảy qua nhiều quốc gia như sông Đanuyt (Châu Âu), sông MêKông (châu Á)..v.v. Khách du lịch đi trên du thuyền này đi tham quan các quốc gia có dòng sông đi qua. Loại hình du lịch bằng đường thuỷ này rất phát triển khi kết hợp với loại hình du lịch tham quan Văn hoá-Lịch sử. Khách lựa chọn phương tiện du lịch này thường là các nhà nghiên cứu, nghệ sỹ, giáo viên….

Căn cứ vào việc khách du lịch sử dụng phương tiện vận chuyển tại điểm đến du lịch. Các phương tiện vận chuyển khách du lịch tại các khu du lịch, các điểm du lịch rất phong phú và đa dạng, trước hết bằng xe ô tô, sau đó là các loại xe thô sơ như: Xích lô, ngựa kéo, trâu, bò kéo hoặc bằng thuyền, bằng xe kéo bằng acquy, cáp treo..v.v. Các nhà kinh doanh du lịch còn tạo ra nhiều phương tiện vận chuyển mang tính chất đặc sắc, độc đáo và hấp dẫn để tạo ra sức thu hút khách. Đồng thời dựa vào loại hình phương tiện vận chuyển khách chọn sẽ đánh giá được khả năng chi trả của khách hàng trong chuyến đi.

1.2.2.3. Nhu cầu của du khách

Cuộc sống càng hiện đại thì nhu cầu đi du lịch của con người càng cao. Du lịch giờ đây không còn là đặc quyền của tầng lớp quý tộc, giàu có trong xã hội mà nó ngày càng được đại chúng hoá. Con người đi du lịch do nhiều nguyên nhân khác nhau: Do nhịp sống hiện đại hoá căng thẳng nên người ta muốn nghỉ ngơi, do ô nhiễm môi trường, do cuộc sống lao động lặp đi lặp lại thường xuyên, do lây lan tâm lý… Tuy nhiên nhu cầu du lịch lại phụ thuộc vào nhiêu yếu tố: Tính thời vụ, cảnh quan thiên nhiên, tình hình kinh tế, chính trị…Chính bởi nhiều lý do mà nhu cầu du lịch được coi là: Nhu cầu thứ yếu đặc biệt, bởi nhu cầu này chỉ được thoả mãn khi có 2 điều kiện nơi nào có tài nguyên du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật.  Nhu cầu thứ yếu cao cấp: Đòi hỏi người đi du lịch phải có khả năng chi trả cao hơn bình thường, có thời gian rỗi và trình độ dân trí.  Bởi nhu cầu du lịch là nhu cầu có thiên hướng đến sự hưởng thụ. Nhu cầu có tính tổng hợp cao. Có nghĩa là nó đòi hỏi được đáp ứng ba nhóm nhu cầu sau:

Nhu cầu thiết yếu: Đây là nhu cầu cơ bản của con người như: nhu cầu ăn, uống, ở, đi lại… Tuy không có vai trò quyết định trong việc tạo ra động cơ, động lực thúc đẩy con người phát sinh nhu cầu đi du lịch nhưng nó luôn tồn tại trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Đặc biệt, lúc đi du lịch, nhu cầu này của khách cần được đáp ứng với chất lượng cao hơn so với ngày thường  ở nơi cư trú thường xuyên.

Nhu cầu đặc trưng: Như nghỉ ngơi, giải trí, tham quan, thưởng thức cái đẹp, tìm hiểu, giao tiếp… Nhu cầu này tạo ra nguyên nhân của chuyến đi du lịch, tạo động cơ du lịch và đó chính là mục đích du lịch. Dựa vào nhu cầu đặc trưng để xây dựng các dịch vụ đúng nhu cầu của khách du lịch.

Nhu cầu bổ sung: Là loại nhu cầu phát sinh trong quá trình du lịch, ngoài hai nhu cầu trên như thẩm mỹ, thông tin, làm đẹp… Xây dựng sản phẩm, dịch vụ đáp ứng được nhu cầu này theo đúng mong muốn của khách du lịch giúp tìm ra được giải pháp để tăng thời gian lưu trú, tăng mức chi tiêu của khách du lịch, góp phần tăng hiệu quả kinh doanh du lịch.

Ngoài việc thỏa mãn nhu cầu thiết yếu và đặc trưng, các nhà quản lý du lịch cần chú ý đến nhu cầu bổ sung để tạo ra tính đa dạng, dị biệt của sản phẩm du lịch nhằm tăng sức hấp dẫn, quyết định khả năng cạnh tranh, thu hút của sản phẩm du lịch.

1.2.2.4. Độ dài thời gian lưu trú của du khách

Độ dài thời gian lưu trú của khách du lịch hiện qua số ngày/ đêm lưu lại của khách du lịch nhằm phản ánh rõ hơn nhu cầu lưu trú của khách du lịch. Dựa vào chỉ tiêu này các nhà quản lí du lịch sử dụng để làm công tác quy hoạch, lập kế hoạch cho điểm du lịch, vùng du lịch.

Tại điểm du lịch, số lượt đến của khách du lịch bằng nhau nhưng thời gian lưu lại nhiều hơn thì lượng hàng hóa và dịch vụ du lịch sẽ được tiêu thụ nhiều hơn. Nói cách khác, sự tăng lên của số lượt khách chưa hẳn sẽ kéo theo sự tăng lên của số ngày khách vì nó còn phụ thuộc vào thời gian lưu trú bình quân của khách du lịch. Thời gian lưu trú bình quân của khách du lịch tăng lên sẽ làm cho số ngày khách tăng. Quá trình tăng trưởng này phụ thuộc vào sự hấp dẫn của tài nguyên du lịch tại điểm du lịch và sự đa dạng về số lượng, chất lượng hàng hóa, dịch vụ du lịch của doanh nghiệp du lịch.

Tổng ngày khách lưu lại = Tổng số lượt đến của khách x Thời gian lưu trú bình quân của khách 

1.2.2.5. Chi tiêu của du khách

Số lượng tiền KDL chi tiêu phản ánh cầu du lịch một cách có ý nghĩa nhất nhưng lại rất khó xác định do KDL bị quên hoặc cố tình giấu bớt các khoản đã chi tiêu. Vì thế mà có một số cách để tính như sau:

Ước tính chi tiêu của KDL qua số ngày / đêm lưu lại của KDL và số tiền chi tiêu bình quân mỗi ngày của KDL.

Số lượng tiền KDL đã chi tiêu = Tổng số ngày / đêm lưu lại của KDL x Bình quân chi tiêu mỗi ngày của KDL Hoặc :

Số lượng tiền KDL  đã chi tiêu = Số lượt đến của KDL x Bình quân số ngày lưu lại của một KDL x Bình quân chi tiêu mỗi  ngày của một KDL.

Như vậy, chi tiêu của KDL tăng lên khi số lượt khách đến tăng, thời gian lưu lại bình quân của KDL dài hơn hoặc khách bị kích thích chi tiêu trong một ngày nhiều hơn.

Ước tính chi tiêu của KDL thông qua thuế: Từ các khoản thuế nhà nước thu được trên các hoạt động kinh doanh du lịch và thuế suất chi từng hoạt động, từ đó xác định tổng doanh thu của các hoạt động kinh doanh du lịch và suy ra tổng số tiền khách du lịch chi tiêu.

1.2.2.6. Tính thời vụ trong tiêu dùng du lịch

Thời vụ trong du lịch là những biến động lặp đi lặp lại hằng năm của cung và cầu, các dịch vụ hàng hóa du lịch xảy ra dưới tác động của một số nhân tố nhất định. Đây là hiện tượng phổ biến, khách quan, phụ thuộc vào từng loại khách, mức độ khai thác tài nguyên du lịch và các điều kiện đón tiếp phục vụ khách, loại hình du lịch và cả điều kiện phát triển du lịch của quốc gia, địa phương.

Tính thời vụ trong tiêu dùng du lịch được hình thành và chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như các nhân tố mang tính tự nhiên (khí hậu, thời tiết, thể loại tài nguyên du lịch…), các nhân tố mang tính kinh tế xã hội tổ chức kỹ thuật (thời gian rỗi, thói quen du lịch, sự quần chúng hóa trong du lịch, tập tục, sự sẵn sàng đón tiếp khách…), cả những nhân tố mang tính tâm lý và một số nhân tố khác như sự phân bổ hợp lý các hoạt động vui chơi giải trí, chính sách giá, chính sách tuyên truyền quảng cáo…

Trong kinh doanh du lịch, để hạn chế tính thời vụ, người ta có thể sử dụng một số biện pháp như nghiên cứu thị trường, đa dạng hóa khả năng đón tiếp, sử dụng tích cực các động lực kinh tế, các biện pháp tuyên truyền quảng cáo… Nhằm kéo dài mùa vụ du lịch của loại hình du lịch nào đó hoặc đa dạng hóa loại hình và xác định các điều kiện cho mùa du lịch thứ hai…

Tóm lại: Việc nghiên cứu đặc điểm nguồn khách là nhằm đưa ra sản phẩm dịch vụ, hàng hoá phù hợp đạt hiệu quả cao, đáp ứng được mức độ thoả mãn của khách. Điều đó đồng nghĩa với việc kinh doanh đạt hiệu quả.

1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút KDL của điểm đến du  lịch 

1.3.1. Các nhân tố vĩ mô

1.3.1.1. Giá trị của nguồn tài nguyên du lịch

Nguồn tài nguyên và giá trị của chúng đối với hoạt động du lịch là nhân tố đầu tiên quyết định khả năng thu hút khách của điểm đến du lịch. Số lượng, chất lượng, mật độ, danh tiếng, sự công nhận, khoảng cách từ điểm du lịch đến thị trường gửi khách, sức chứa của điểm du lịch… là các chỉ số để đo lường khả năng sử dụng nguồn tài nguyên cho hoạt động du lịch, là cơ sở cho việc quy hoạch phát triển du lịch của vùng, quốc gia. Thể loại tài nguyên đồng thời cũng là nhân tố góp phần quyết định loại hình du lịch, tính thời vụ của dòng khách và của điểm du lịch. Nói cách khác, tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để hình thành nên sản phẩm du lịch, là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du lịch và là một bộ phận cấu thành nên tổ chức lãnh thổ du lịch. Sự phong phú, đa dạng và độc đáo của tài nguyên du lịch tạo nên sự đa dạng, phong phú của sản phẩm du lịch, làm tăng thêm độ hấp dẫn, khả năng thu hút khách du lịch.

Tài nguyên du lịch chia làm 2 loại cơ bản :

  • Tài nguyên du lịch tự nhiên: Địa hình và vị trí địa lý, khí hậu, thủy văn và hệ động thực vật.
  • Tài nguyên du lịch nhân văn: Di sản và di tích, lễ hội và các làng nghề, các đối tượng gắn liền với dân tộc học, các sự kiện.

1.3.1.2. Chính sách phát triển du lịch của quốc gia 

Quan điểm phát triển du lịch của mỗi quốc gia có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng phát triển du lịch của quốc gia đó. Chính sách quản lí của nhà nước có thể ủng hộ hoặc không ủng hộ hoạt động du lịch. Thông qua các công cụ quản lý của mình, nhà nước có thể đề ra các đường lối khuyến khích phát triển du lịch, ban hành các chính sách và biện pháp đồng bộ, tiến hành thực hiện cơ chế quản lý gọn nhẹ, hoàn thiện hệ thống pháp luật từ khâu ban hành các văn bản quy phạm pháp luật đến khâu thực thi, kiểm tra giám sát thực hiện chúng. Điều này, một mặt tạo nhận thức xã hội để kết hợp đồng bộ các hoạt động định hướng cho du lịch phát triển; một mặt tạo sự an toàn, tiện lợi nhắm làm tăng thêm sức hấp dẫn, sức thu hút và sức cạnh tranh của sản phẩm du lịch.

Các chính sách phát triển du lịch của quốc gia, của vùng có ý nghĩa quan trọng, tạo động lực thúc đẩy du lịch rất lớn như chiến lược phát triển du lịch quốc gia trong mỗi giai đoạn đã xây dựng các chiến lược về sản phẩm du lịch, nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch, giữ gìn và tôn tạo phát triển tài nguyên du lịch, chính sách về đầu tư du lịch, giáo dục và đào tạo, định hướng thị trường du lịch…

1.3.1.3. Điều kiện về an ninh, chính trị của đất nước

Quá trình phát triển của ngành Du lịch cho thấy chỉ những nơi nào có bầu không khí hòa bình, tình hình chính trị ổn định, xã hội an toàn thì nơi đó mới có điều kiện tốt để du lịch phát triển. Mối quan hệ tốt của các quốc gia thể hiện ở đường lối chính sách và các ưu đãi ngoại giao đối với hoạt động du lịch mà các quốc gia dành cho nhau là một điều kiện quan trọng để du lịch phát triển. Tình hình chính trị, trật tự xã hội đảm bảo sự an tâm, yên ổn về mặt tâm lý của khách du lịch. Họ có thể tự do đi lại, giao tiếp, gặp gỡ, làm quen, tìm hiểu… mà không có sự lo sợ hoặc gặp trở ngại nào. Các biến cố chính trị như nội chiến, khủng bố, chiến tranh tôn giáo, sắc tộc… có ảnh hưởng rất xấu đến khả năng thu hút khách du lịch, làm cản trợ hoặc ngưng trệ các hoạt động du lịch.

Ngoài ra, thiên tai, hạn hán, bão lụt, các loại dịch bệnh… cũng ảnh hưởng mạnh đến hoạt động du lịch do KDL bị đe dọa về tính mạng và doanh nghiệp du lịch không dám mạo hiểm trong kinh doanh.

1.3.1.4. Hệ thống cơ sở vật  chất của ngành Du lịch 

Hệ thống cơ sở hạ tầng, các khu lưu trú được xây dựng nhiều và phát triển, đáp ứng nhu cầu nghỉ dưỡng của KDL, làm tăng tính phục vụ và tăng giá trị gia tăng của điểm đến hơn.

Hệ thống cơ sở hạ tầng vật chất chung của xã hội bao gồm: Mạng lưới giao thông, hệ thống cung cấp điện nước, các công trình công cộng… Mục đích của việc xây dựng các công trình này là để phục vụ nhu cầu dân cư địa phương.

Cơ sở vật chất kỹ thuật quyết định nhịp độ phát triển du lịch, góp phần quyết định chất lượng dịch vụ hàng hóa. Số lượng, chất lượng, mức độ hiện đại, khả năng khai thác cơ sở vật chất kỹ thuật góp phần quyết định sự phát triển du lịch của quốc gia, địa phương. Cụ thể hơn, chúng góp phần quan trọng trong quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch; qua đó, quyết định mức độ khai thác tài nguyên du lịch và thỏa mãn nhu cầu du lịch. Vì vậy, việc phát triển du lịch thường gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật.

Một trong những biểu hiện quan trọng của hệ thống này đối với hoạt động du lịch là những tác động từ kết quả của quá trình phát triển của hệ thống giao thông vận tải. Ngày càng có nhiều loại hình giao thông và số lượng phương tiện vận chuyển tăng nhanh chóng cùng với sự gia tăng về tốc độ vận chuyển,tính an toàn, sự tiện nghi làm gia tăng thêm sự thoải mái, tiện lợi giá cả giảm xuống tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chuyến du lịch của các tầng lớp dân cư.

1.3.1.5. Cộng đồng dân cư địa phương

Xét trong mối quan hệ tổng thể của ngành Du lịch, cộng đồng dân cư địa phương có vị trí khá quan trọng. Chúng như là một nhân tố có sự tác động hai mặt đến việc thu hút khách du lịch, đến sự triển hoạt động du lịch địa phương, vùng, quốc gia.

Một mặt, lối sống độc đáo của cộng đồng của dân cư là một nguồn tài nguyên hấp dẫn có thể sử dụng khai thác cho hoạt động du lịch. Chúng thể hiện qua các phong tục tập quán, cách ứng xử với cộng đồng, xã hội, môi trường tự nhiên… Đây là nét văn hóa thú vị và có sức hút rất lớn đối với khách du lịch. Ngoài ra, khi du lịch phát triển sẽ làm tăng thêm nhận thức của cộng đồng dân cư. Ngược lại, qua các hoạt động tích cực của mình như thái độ, cách cư xử…, cộng đồng dân cư địa phương giúp cho khách du lịch hiểu rõ hơn giá trị văn hóa của dân tộc, đất nước mình.

Mặt khác, cộng đồng dân cư địa phương có thể gây những ảnh hưởng xấu đến khách du lịch nếu nhận thức của họ đối với sự phát triển của du lịch không đúng đắn. Một trong những góp phần lớn của cộng đồng dân cư địa phương vào lợi ích kinh tế du lịch là việc sản xuất ra các mặt hàng thủ công cung cấp cho khách du lịch như một loại hàng hóa lưu niệm. Nhu cầu hàng hóa này tăng lên đem lại cho người dân khoản lợi lớn có khả năng khiến họ chạy theo lợi nhuận trước mắt nên sản xuất cẩu thả, làm mất đi nét đặc trưng- vốn là đặc điểm thu hút  KDL. Hậu quả là làm giảm sức thu hút hấp dẫn khách. Hơn nữa, việc làm mất đi hình ảnh đẹp, sa sút khả năng thu hút còn thể hiện ở thái độ đối xử với khách du lịch của người dân địa phương.

Vì vậy, dân cư địa phương và các thành phần của chúng góp phần không nhỏ cho  việc thu hút, khai thác khách du lịch của địa phương, vùng và quốc gia.

1.3.2. Các nhân tố vi mô

1.3.2.1. Hệ thống sản phẩm, chất lượng và giá cả sản phẩm của doanh nghiệp kinh doanh du lịch 

Hệ thống sản phẩm của doanh nghiệp du lịch đáp ứng nhu cầu của đoạn thị trường khách của mình chính là nhân tố đầu tiên thu hút khách du lịch. Sản phẩm và dịch vụ phong phú, đa dạng sẽ phù hợp với mọi thành phần, lứa tuổi, thị trường gửi khách, khả năng kinh tế, trình độ… của khách. Vấn đề doanh nghiệp cần qua tâm để thu hút khách là làm sao để tạo ra được một hệ thống sản phẩm, dịch vụ phù hợp với từng đối tượng khách nhằm khẳng định được đẳng cấp sản phẩm, vị thế của mình trên thị trường.

Chất lượng sản phẩm nói chung được thể hiện ở chất lượng phục vụ du lịch. Đây là một trong những nhân tố quyết định hiệu quả kinh tế của hoạt động du lịch. Cuộc cạnh tranh gay gắt trên thị trường du lịch buộc các doanh nghiệp phải đưa ra các giải pháp hoặc là cạnh tranh về giá hoặc là cạnh tranh về chất lượng phục vụ. Và bản thân chất lượng cũng là một nhân tố góp phần quyết định giá của dịch vụ du lịch. Cơ sở kinh doanh du lịch nào có khả năng đảm bảo phục vụ khách du lịch với chất lượng cao sẽ thu hút được khách du lịch có khả năng thanh toán cao, tăng uy tín trên thị trường. Muốn đảm bảo cung cấp sản phẩm với chất lượng tốt trước hết cần một đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn cao, hiểu biết rộng; các dịch vụ hàng hóa không chỉ của ngành Du lịch mà của những ngành khác có liên quan cũng cần đảm bảo đáp ứng tốt nhất yêu cầu của khách du lịch. Chất lượng sản phẩm du lịch ở doanh nghiệp được nghiên cứu như sau :

Đối với khách sạn, chất lượng hàng hóa và dịch vụ thể hiện ở chất lượng của hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật trong khách sạn và chất lượng đội ngũ nhân viên phục vụ. Về cơ sở vật chất kỹ thuật chúng ta đánh giá chất lượng theo các tiêu chí tiện nghi (số lượng của trang thiết bị đáp ứng theo các tiêu chuẩn phân hạng; chất lượng đảm bảo về giá trị sử dụng, tính hiện đại và tiện lợi…), tính thẩm mỹ (đẹp về hình thức, thiết kế bên trong và bên ngoài, hài hòa về màu sắc, không gian, thể hiện tính độc đáo…), vệ sinh và an toàn. Đối với đội ngũ lao động, chúng ta đánh giá theo các tiêu chí nhất định và đây là yếu tố cần quan tâm và dễ áp dụng các biện pháp để nâng cao chất lượng hơn cơ sở vật chất kỹ thuật.

Đối với sản phẩm lữ hành, chất lượng sản phẩm được hiểu là mức độ phù hợp giữa đặc điểm nội dung, thiết kế chương trình du lịch với việc thực hiện chúng. Nói cách khác, đó còn là mức độ cảm nhận của khách du lịch trên thị trường mục tiêu so với mong đợi của họ về sản phẩm. Chất lượng của sản phẩm lữ hành được đánh giá ở chất lượng thiết kế (sự kết hợp hài hòa, hợp lý của lộ trình, lịch trình với đặc điểm tâm sinh lý của khách, tính hấp dẫn, độc đáo của tài nguyên du lịch, uy tín, chất lượng của nhà cung cấp dịch vụ trong chương trình và mức giá) và chất lượng thực hiện chương trình (các dịch vụ bán, đăng ký giữ chỗ, chất lượng đội ngũ nhân viên, đặc biệt là nhân viên điều hành và hướng dẫn viên, điều kiện và môi trường tự nhiên xã hội…).

Để nâng cao chất lượng phục vụ, các nhà quản lý doanh nghiệp cần tìm các giải pháp hợp lý để quản lý các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.

Các nhân tố bên ngoài: Bao gồm khách du lịch cùng các nhu cầu, sở thích, mong đợi của họ, các nhà cung ứng (các dịch vụ mang tính chất kinh tế và phi kinh tế), hệ thống các đại lý, hệ thống cơ sở hạ tầng (đường sá, bưu điện, điện nước, bệnh viện, trường học…) môi trường tự nhiên xã hội (dân cư, văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng…). Các nhân tố này ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm nhưng bản thân các doanh nghiệp du lịch rất khó kiểm soát.

Các nhân tố bên trong: Đội ngũ cán bộ quản lý của doanh nghiệp, đội ngũ nhân viên thực hiện, cơ sở vật chất kỹ thuật trang thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanh, qui trình công nghệ… Bản thân các doanh nghiệp có khả năng kiểm soát sự ảnh hưởng của các yếu tố này đến chất lượng sản phẩm du lịch.

Cùng với chất lượng, giá cả sản phẩm là yếu tố khiến khách du lịch ra quyết định mua nhanh hay chậm. Cùng với mức chất lượng, khách sẽ chọn nhà cung cấp nào có giá sản phẩm thấp hơn. Cùng một mức giá, khách sẽ chọn sản phẩm có chất lượng cao hơn. Giá cả và chất lượng sản phẩm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Doanh nghiệp định giá trên cơ sở nghiên cứu các nhân tố sau:

Các nhân tố bên trong: Mục tiêu của doanh nghiệp (lợi nhuận, thị phần…), chính sách marketing-mix, uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp, giá thành sản phẩm, sản phẩm đang ở giai đoạn nào trong vòng đời của mình…

Các nhân tố bên ngoài: Cấu trúc thị trường, cung cầu thị trường, tính thời vụ, các quy định của nhà nước về giá, tình hình cạnh tranh trên thị trường, các biến động của môi trường vĩ mô, đối tượng khách hàng… Các nhân tố này doanh nghiệp có thể và không thể kiểm soát một các tương đối.

Do giá cả là yếu tố quyết định để xác định lợi ích kinh tế của hai bên mua và bán nên mức giá doanh nghiệp đưa ra phải đảm bảo phù hợp với mức chi tiêu của người tiêu dùng và đảm bảo trang trải được chi phí của doanh nghiệp.

Chính sách giá là nhân tố thu hút khách du lịch, từ đó vươn ra chiếm lĩnh thị trường. Việc lựa chọn chính sách giá phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp và thị trường phụ thuộc vào nhiều yếu tố như pháp luật, các chủ trương chính sách, chế độ quản lý của nhà nước, chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành đơn vị sản phẩm, nghiên cứu tổng nhu cầu sản phẩm, đặc điểm thị trường cạnh tranh và các giai đoạn trong vòng đời của sản phẩm.

1.3.2.2. Chính sách xúc tiến, quảng cáo và phân phối sản phẩm của doanh nghiệp du lịch

Nền kinh tế thị trường vận hành theo các quy luật kinh tế như giá cả, cạnh tranh, cung cầu… buộc người sản xuất phải sản xuất ra cái thị trường cần chứ không phải cái mình có. Và để sản phẩm đến tay người tiêu dùng, các doanh nghiệp nhất thiết phải tiến hành hoạt động xúc tiến bán hàng để một mặt tác động mạnh vào tâm lý người mua. Chính sách xúc tiến được thực hiện qua các phương pháp như hội nghị khách hàng, hội thảo, quà tặng, các ấn phẩm quảng cáo… Cao hơn là các doanh nghiệp tiến hành xây dựng chính sách quảng cáo vì nó là phương tiện bán hàng và hỗ trợ đắc lực cho cạnh tranh.

Sản phẩm du lịch có tính vô hình, khó kiểm định chất lượng nên rất khó bán. Thông qua các công cụ quảng cáo để kéo khách du lịch đến với sản phẩm của doanh nghiệp. Các công cụ này không chỉ cung cấp thông tin về sản phẩm mà còn gây ảnh hưởng đến khách du lịch thông qua cách trang trí, trình bày, thiết kế ấn tượng kích thích sự tò mò, thúc đẩy nhanh quá trình ra quyết định mua.

Để có một chính sách xúc tiến đúng đắn, hiệu quả, thu hút khách hàng, đạt mục tiêu quảng cáo, doanh nghiệp cần xây dựng cho được chương trình quảng cáo có tính khoa học, tiến hành các bước nghiên cứu thị trường, khách hàng, sản phẩm ở  tất cả các góc độ, từ tổng quát đến chi tiết, cụ thể. Ngoài việc đạt mục tiêu quảng cáo của mình, chính sách xúc tiến phải gắn với chính sách giá và sản phẩm để doanh nghiệp đạt hiệu quả kinh doanh tối ưu.

1.4. Các giải pháp thu hút KDL

1.4.1. Đầu tư cho công tác nghiên cứu đặc điểm nguồn khách

Công tác nghiên cứu đặc điểm nguồn khách sẽ giúp các địa phương tập trung hướng tới được nguồn khách chủ yếu để hướng tới tùy thuộc vào độ tuổi giới tính mức chi trả của đối tượng khách. Từ đó sẽ giúp đưa ra các sản phẩm mang tính đặc thù phụ vụ nhu cầu của khách hàng.

1.4.2. Xây dựng sản phẩm du lịch mang tính đặc thù

Đối với công tác thu hút khách du lịch, việc xây dựng một sản phẩm mang tính đặc thù của địa phương thường rất khó khăn và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, trong đó phụ thuộc rất nhiều vào đặc tính của nguồn tài nguyên và định hướng quan điểm phát triển của các nhà quản lý. Đối với khách du lịch, việc lựa chọn một điểm đến thường dựa vào mức độ đặc sắc, danh tiếng của điểm đến nào đó, thể hiện ở các khía cạnh như tài nguyên, hệ thống các dịch vụ, cơ sở phục vụ… Vậy nên, một địa phương muốn thực hiện các hoạt động thu hút khách du lịch, trước hết phải có một quy hoạch, định hướng và quan điểm khai thác phát triển du lịch làm sao vừa khai thác được các điều kiện của địa phương vừa thỏa mãn được yêu cầu của khách du lịch đồng thời giảm tối đa sự trùng lắp giữa các địa phương khác nhau. Nói cách khác, xây dựng một sản phẩm du lịch mang tính đặc thù của địa phương sẽ mở ra khả năng thu hút khách du lịch rất lớn.

1.4.3. Tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch

Ngành Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành liên vùng cao. Để phục vụ một khách du lịch, chúng ta thấy có sự góp mặt của nhiều ngành nghề, đơn vị khác nhau như: Các đơn vị kinh tế (doanh nghiệp khách sạn, vận chuyển, ăn uống…) và các đơn vị phi kinh tế (hải quan, an ninh…); các đơn vị phục vụ trực tiếp (khách sạn, nhà hàng, vận chuyển…) và các đơn vị phục vụ gián tiếp (ngành kinh doanh thương mại, nông sản, thực phẩm…). Để du lịch phát triển mạnh và đúng hướng, chúng ta cần một cơ quan nhà nước đứng ra điều hành, liên kết các đơn vị có liên quan để đề ra giải pháp phát triển du lịch thích hợp, đúng với điều kiện và định hướng phát triển kinh tế địa phương, quốc gia. Các cơ quan này chịu trách nhiệm quy hoạch định hướng phát triển du lịch, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất phục vụ du lịch, thực hiện các chiến dịch quảng bá du lịch ở tầm vĩ mô, phối hợp liên ngành, liên vùng để cùng làm du lịch, cùng nhau tháo gỡ các vướng mắc, triển khai các chương trình hành động quốc gia/địa phương về du lịch… Các cơ quan quản lý nhà nước ban hành các văn bản quản lý và khuyến khích phát triển du lịch về các thủ tục hành chính tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch và doanh nghiệp kinh doanh du lịch, các loại thuế, các ưu đãi trong đầu tư…

Đồng thời cũng phải xây dựng môi trường du lịch lành mạnh cho cả các đơn vị kinh doanh du lịch và khách du lịch. Điểm du lịch không phát triển nếu nơi đó không đảm bảo được an ninh, an toàn cho khách. Tình trạng ăn xin, chèo kéo khách du lịch mua hàng, hàng rong đeo bám khách… tại các điểm tham quan là một trong những vấn đề cần giải quyết để đảm bảo an toàn cho khách. Trang bị các thiết bị đảm bảo an toàn cho khách tại các điểm tham quan như phao cứu sinh trên thuyền, gia cố lan can bậc cấp tại các điểm du lịch bắt buộc khách phải leo trèo… Để phát triển các loại dịch vụ bổ sung về đêm cho khách du lịch, nên thực hiện các biện pháp đảm bảo an ninh như tăng cường kiểm tra trật tự trị an của khu phố, tạo sự an tâm tin tưởng trong lòng khách. Tại các doanh nghiệp, nên chú trọng các vấn đề đảm bảo an ninh an toàn cho khách du lịch qua việc trang bị, bảo trì các thiết bị an ninh, các biện pháp để tuyên dương nhân viên có công lao trong việc bảo vệ khách…

Một công việc không kém phần quan trọng trong hoạt động thu hút KDL là sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương. Nói cách khác, cộng động dân cư địa phương là một trong những nhân tố quyết định nên hoạt động thu hút khách du lịch. Nhận thức của dân cư giúp tạo ấn tượng tốt trong lòng khách du lịch, đời sống và các phong tục tập quán tạo ra giá trị sản phẩm du lịch… Các nhà quản lý du lịch nên có các chương trình giáo dục nhận thức cho dân chúng về các đóng góp tích cực của du lịch vào đời sống của người dân, vai trò của người dân trong việc tạo ra sản phẩm, cách thức cư xử với khách du lịch, và các biện pháp để người dân tham gia bảo vệ nguồn tài nguyên du lịch của mình khi khai thác kinh doanh.

Dân cư địa phương còn là một nguồn nhân lực lao động tốt bổ sung trong tương lai. Việc giáo dục nhận thức từng bước như thế sẽ bồi dưỡng kiến thức tư duy kinh doanh du lịch cho mai sau. Đây là giải pháp cần chú ý vì không chỉ giúp dân cư nhận thức về du lịch mà còn là bước chuẩn bị nhân lực cho việc phát triển du lịch ở các thế hệ tiếp theo

1.4.4. Khai thác, bảo tồn và tôn tạo nguồn tài nguyên du lịch

Do tài nguyên du lịch là nguồn tài nguyên hữu hạn, trong quá trình tổ chức kinh doanh, nguồn tài nguyên du lịch của chúng ta sẽ bị biến dạng, thay đổi theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực, chủ quan và khách quan. Nếu chúng ta khai thác không có mục đích định hướng rõ ràng sẽ làm giảm thời gian khai thác tài nguyên có hiệu quả cho kinh doanh du lịch. Xu hướng khai thác tài nguyên theo hướng bền vững hiện nay là một xu thế tất yếu. Vì vậy, trong kinh doanh đầu tư để khai thác điểm đến du lịch song vẫn phải đầu tư tôn tạo, bảo vệ tài nguyên nhằm phục vụ lâu dài trong tương lai. Nguồn vốn đầu tư tôn tạo có thể huy động từ nhiều nguồn khác nhau như ngân sách, vay vốn, vốn viện trợ…

1.4.5. Đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật xã hội phục vụ phát triển du lịch và cơ sở kỹ thuật của ngành Du lịch  

Cơ sở vật chất quan trọng không chỉ với đời sống của người dân mà còn phục vụ cho khách du lịch. Trong quá trình thực hiện chuyến đi của mình, khách du lịch sử dụng cả hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội và cơ sở hạ tầng của ngành Du lịch. Vì vậy, đây là một trong những nhân tố thu hút và lưu giữ khách du lịch. Để thực hiện được điều này, điểm du lịch nên đầu tư cải tạo, xây dựng mới không chỉ theo quy hoạch phát triển tổng thể của địa phương mà còn theo quy hoạch phát triển của ngành Du lịch.

Với cơ sở hạ tầng xã hội, dựa trên quy hoạch, và xây dựng nâng cấp các tuyến đường bộ dựa vào lợi thế của tài nguyên và mục đích chung của xã hội.

Với cảng biển, cơ quan quản lý nhà nước về du lịch của địa phương phối hợp với ban quản lý cảng ký kết các văn bản về điều kiện ưu tiên để phục vụ khách du lịch như khu vực đón khách, khu vực bán hàng lưu niệm, thủ tục lên đất liền… Phối hợp với cơ quan quản lý hàng không xúc tiến mở các đường bay mới đến thị trường quốc tế, tổ chức các tuyến famtrip, tham gia các chương trình giao lưu quản bá du lịch, tổ chức trung tâm thông tin du lịch tại sân bay…

Với hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch, xây dựng hệ thống khách sạn, nhà nghỉ phù hợp với các thị trường khách cụ thể mà chúng ta nhắm tới. Đầu tư nâng cấp, xây mới các cơ sở vui chơi giải trí vừa hiện đại vừa đặc biệt để đáp ứng nhu cầu khách du lịch và của cả người dân địa phương. Nguồn vốn đầu tư được huy động từ nhiều nguồn khác nhau, đặc biệt chú trọng đến các dự án kêu gọi vốn đầu tư nước ngoài dưới các hình thức liên doanh, liên kết, hoặc 100% vốn nước ngoài để xây dựng các khu nghỉ biển cao cấp, sang trọng.

1.4.6. Xây dựng chính sách phát triển nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực du lịch là yếu tố quan trọng, thể hiện trình độ phát triển du lịch ở một địa phương, một cấp độ quản lý vĩ mô, các cơ quan quản lý nhà nước nên xây dựng một chính sách phát triển nguồn nhân lực có tính định hướng lâu dài thông qua việc thực hiện các hoạt động như xây dựng các học viện du lịch, xây dựng các trung tâm đào tạo nghề theo mô hình kết hợp giữa trường học khách sạn/doanh nghiệp du lịch, tổ chức các hội thi tay nghề hàng năm, tổ chức giao lưu, hội thảo trao đổi khoa học giữa nhà trường và doanh nghiệp du lịch… ; vận động tìm các nguồn tài trợ để xin học bổng cho nhân viên trong Sở du lịch đi tu nghiệp ở nước ngoài hoặc mời các chuyên gia trong nước và nước ngoài đến thảo luận, hướng dẫn…

1.4.7. Đẩy mạnh công tác xúc tiến

Đứng ở tầm vĩ mô, cơ quan quản lý nhà nước về du lịch có những tác động tích cực để đẩy mạnh công tác xúc tiến du lịch nhằm đưa hình ảnh du lịch của địa phương đến các thị trường khách trọng điểm hoặc tiềm năng. Các Sở du lịch, Sở du lịch- Thương mại của các địa phương là đơn vị chủ chốt đứng ra làm cầu nối giữa các doanh nghiệp với nhau để xây dựng một chính sách quảng bá du lịch cho địa phương của mình đúng với sở thích, đặc điểm tâm lý của từng thị trường nhất định trong việc tổ chức các triển lãm, hội chợ, đặt văn phòng đại diện ở nước ngoài, đặt văn phòng thông tin du lịch tại các đầu mối giao thông, tổ chức các đoàn famtrip nhằm tạo cơ hội cho các doanh nghiệp tìm kiếm thị trường, tổ chức các hội thảo nghiên cứu giải pháp phát triển du lịch, xúc tiến các hoạt động liên kết các ban ngành có liên quan, thành lập hiệp hội du lịch, tham gia các hiệp hội du lịch khu vực và quốc tế, tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ, các cuộc thi nghiệp vụ, thiết kế web-site, tạp chí du lịch và các ấn phẩm du lịch đẹp mắt ấn tượng, có chất lượng cao…

1.5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đặc điểm của nguồn KDL đối với sự phát triển của điểm đến du lịch

Nghiên cứu đặc điểm KDL thông qua các nội dung trên chính là nghiên cứu về cầu du lịch. Dựa vào quan hệ cung cầu nên việc phân tích đặc điểm khách là cơ sở để khai thác nguồn cung một cách có định hướng để đầu tư và phát triển nguồn cung hợp lý. Trên cơ sở đó chúng ta đề ra các giải pháp để thu hút khách du lịch đến với địa phương. Thu hút lượng khách lớn sẽ :

Mang lại hiệu quả kinh tế cho đất nước, địa phương. Thông qua tiêu dùng của khách, nguồn ngoại tệ của chúng ta thu về sẽ tăng lên, biến đổi cán cân thu chi, có tác dụng luân chuyển tiền tệ, hàng hóa từ nơi này đến nơi khác. Thu hút được khách du lịch đến điểm du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế còn đẩy mạnh được hoạt động xuất khẩu tại chỗ, nhất là những mặt hàng dễ hư hỏng, ít bị rủi ro, các yêu cầu về đóng gói, bảo quản không phức tạp. Đối với doanh nghiệp, nguồn khách là mục tiêu, quyết định sự sống còn bởi các khoản chi tiêu của khách vào việc tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ của mình sẽ đem lại doanh thu, lợi nhuận cho đơn vị. Sự lớn mạnh về chất lượng và số lượng của nguồn khách quyết định mức độ thành công hay thất bại của doanh nghiệp.

Việc thu hút được khách đến với điểm du lịch sẽ kích thích các doanh nghiệp trong và ngoài ngành Du lịch tạo ra một khối lượng hàng hóa và dịch vụ với chất lượng cao để đáp ứng được nhu cầu của khách. Điều này bắt buộc các doanh nghiệp ứng dụng kỹ thuật tiên tiến, đầu tư trang thiết bị hiện đại, tuyển chọn lao động giỏi để sản xuất ra sản phẩm. Do đặc điểm riêng của mình, nếu không có nguồn khách để tiêu thụ thì sản phẩm sẽ không còn có giá trị. Và qua quá trình tiêu dùng, khách du lịch mới khẳng định chất lượng sản phẩm; cũng từ đó mà số lượng khách du lịch đến điểm du lịch quyết định tổng số lượng sản phẩm sản xuất ra.

Thu hút được lượng khách lớn còn góp phần khẳng định vị trí của điểm du lịch trên bản đồ du lịch địa phương, quốc gia. Một điểm du lịch nổi tiếng, ngoài lý do về giá trị của nguồn tài nguyên, sản phẩm, nó còn được khẳng định bởi sự lớn mạnh của nguồn khách đến tại điểm đó. Như vậy, nghiên cứu nguồn khách như trên để làm cơ sở cho hoạt động nghiên cứu và dự báo thị trường khách để có kế hoạch mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật, đào tạo đội ngũ lao động, đa dạng hóa các loại hình du lịch, các dịch vụ bổ sung, hoàn thiện và đổi mới các kế hoạch marketing nhằm mang lại hiệu quả kinh doanh cao nhất.

Mang lại hiệu quả xã hội: Thu hút khách du lịch làm tăng hoạt động kinh doanh du lịch, từ đó góp phần phục hồi và phát triển truyền thống văn hóa dân tộc, nâng cao nhận thức của người dân, giải quyết công ăn việc làm, giảm tỉ lệ thất nghiệp, nghèo đói, nâng cao mức sống cho dân cư địa phương…

Tiểu kết chương 1

Dựa trên cơ sở lý luận về nghiên cứu đặc điểm nguồn khách và các giải pháp thu hút KDL của điểm đến, giúp đề ra các giải pháp để thu hút khách du lịch đến với địa phương. Thu hút lượng khách lớn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cho địa phương, mang lại hiệu quả xã hội và tạo công ăn việc làm cho rất nhiều người. Từ cơ sở lý luận trên sẽ giúp việc phân tích đặc điểm và thực trạng thu hút KDL đến Quảng Ngãi cụ thể và chi tiết ở chương kế tiếp.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464