Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp pháp lý đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Long An hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Giải pháp đảm bảo quyền và nghĩa vụ của Đoàn ĐBQH dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1 Giải pháp đối với Đoàn ĐBQH tỉnh Long An
Để quyền và nghĩa vụ của Đoàn ĐBQH được nâng cao, Đoàn ĐBQH tỉnh Long An cần tập trung đẩy mạnh các lĩnh vực sau:
3.1.1 Đối với công tác xây dựng pháp luật.
Một là, cần tiếp tục duy trì số lượng đại biểu chuyên trách và tăng tỷ lệ tái cử để có thể tiếp tục tận dụng những kinh nghiệm quý báu cũng như những kỹ năng trong hoạt động xây dựng pháp luật mà đại biểu đã tích lũy được trong các nhiệm kỳ trước.
Hai là, phải coi trọng chất lượng đại biểu, giảm tỷ lệ đại biểu hiện đang công tác trong các cơ quan công quyền, cần tăng tỷ lệ đại biểu là các nhà khoa học, các chuyên gia trong các lĩnh vực phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa – giáo dục, y tế, quốc phòng – an ninh, pháp luật và có khả năng hoạch định chính sách phát luật, các đại biểu không chỉ có trình độ mà còn có khả năng phân tích, đánh giá, có điều kiện tham gia vào công tác xây dựng pháp luật.
Ba là, tiếp tục đẩy mạnh công tác bồi dưỡng những kiến thức, những kỹ năng có liên quan đến hoạt động xây dựng pháp luật đối với những đại biểu mới.
Bốn là, cần chú trọng nâng cao nhận thức về vai trò, ý thức, tầm quan trọng của công tác xây dựng pháp luật, hoàn thiện thể chế, không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả trong công tác lập pháp [51]. Hiện nay còn không ít các cơ quan, tổ chức xem nhẹ công tác xây dựng pháp luật. Khi có yêu cầu đóng góp chỉ xem xét qua loa, chưa có sự đầu tư vào nghiên cứu, chưa mời các nhà khoa học, chuyên gia xây dựng, đóng góp. Đây cũng là một trong những điều cần khắc phục bởi đối tượng chịu điều chỉnh của pháp luật chủ yếu là những công dân và người thi hành là những cơ quan có thẩm quyền ở địa phương, trung ương. Nên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ sẽ gặp không ít những khó khăn, trở ngại, vướng mắc nhưng lại rất hiếm khi tham gia vào công tác xây dựng pháp luật.
Năm là, về thời gian tổ chức lấy ý kiến đóng góp xây dựng các dự án luật cần được diễn ra đúng quy trình và đủ thời gian để các nhà khoa học, các chuyên gia, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và mọi tầng lớp xã hội nghiên cứu đầy đủ có trọng tâm.
Sáu là, tập trung đẩy mạnh việc học tập, trao đổi kinh nghiệm với các Đoàn ĐBQH ở địa phương khác trong công tác xây dựng pháp luật.
3.1.2 Đối với hoạt động khảo sát, giám sát Luận văn: Giải pháp pháp lý đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Long An.
Hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH là một trong những hoạt động đòi hỏi nhiều kỹ năng, kinh nghiệm nên hoạt động này thường gặp nhiều khó khăn, trở ngại. Vì thế khi làm tốt hoạt động giám sát sẽ góp phần nâng cao vai trò quản lý nhà nước trên nhiều phương diện khác nhau. Bên cạnh những kết quả đạt được trong hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH còn có những điểm bất cập cần được điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tiễn như:
Một là, đối với nội dung giám sát trong hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội. Về vấn đề này chưa được đảm bảo các hoạt động chất vấn của ĐBQH đều được trả lời trực tiếp tại hội trường. Mặc dù, tại khoản 3 Điều 32 của Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 sửa đổi, bổ sung năm 2020 có quy định nội dung chất vấn và trả lời chất vấn. Trong trường hợp, sau khi ĐBQH nghe kết quả trả lời chất vấn nhưng vẫn chưa đồng ý với kết quả trả lời đó thì ĐBQH có quyền chất vấn lại, quyền chất vấn lại này có thể thực hiện trong phiên họp của Quốc hội, trường hợp Quốc hội không tổ chức kỳ họp thì ĐBQH có thể gửi chất vấn bằng văn bản và sau đó gửi đến người bị chất vấn. Tuy nhiên, trên thực tế chưa có một người đại biểu nào thực hiện quyền chất vấn này đến cùng, những chất vấn của ĐBQH chỉ mang tính chất tìm hiểu thông tin, chưa “truy vấn” đến cùng, chưa làm rõ trách nhiệm của người bị chất vấn. Tính tới thời điểm hiện nay, chưa một đại biểu Quốc hội nào thực hiện quyền chất vấn theo quy định pháp luật tại điểm c, khoản 4, Điều 15 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 đó là “Sau khi nhận được văn bản trả lời chất vấn, nếu đại biểu Quốc hội không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội đưa ra thảo luận tại phiên họp Ủy ban thường vụ Quốc hội, kỳ họp Quốc hội gần nhất hoặc kiến nghị Quốc hội xem xét trách nhiệm đối với người bị chất vấn”. Theo nhận xét của tác giả, thời gian qua các hoạt động chất vấn tuy đã triển khai thực hiện nhưng hiệu quả của hoạt động chất vấn vẫn chưa cao. Một số câu hỏi chất vấn chưa đi vào trọng tâm, chiều sâu, câu hỏi chất vấn còn dài dòng hoặc một số câu hỏi chất vấn chỉ yêu cầu cung cấp một số thông tin. Ngoài ra, về trình độ của của một số ĐBQH còn hạn chế, chưa có kỹ năng trong việc đặt ra câu hỏi chất vấn. Nhìn chung, hiện nay người trả lời chất vấn thường trả lời theo kiểu báo cáo thành tích nhiều hơn, những phần chất vấn thường trả lời chung chung, chưa bám sát nội dung bị chất vấn. Ngoài ra, người trả lời chất vấn hiện nay thường có hành vi bao biện, đổ lỗi cho cấp dưới mà chưa nhận trách nhiệm lỗi về mình. Trong phần chất vấn, Quốc hội cần đề ra những giải pháp cần thiết đối với người tiến hành chất vấn và người trả lời chất vấn. Hiện nay chưa có một khái niệm cụ thể về chất vấn, trả lời chất vấn như thế nào được xem là đạt yêu cầu. Ngoài ra, Quốc hội cần nghiên cứu bổ sung thêm nội dung về trách nhiệm của người chất vấn và người trả lời chất vấn của ĐBQH. Một khi xác định được trách nhiệm của người chất vấn và người trả lời chất vấn thì hoạt động chất vấn của Đoàn ĐBQH mới thật sự được nâng cao và cải thiện những hạn chế như hiện nay. Nâng cao hiệu quả hoạt động chất vấn của ĐBQH trước tiên cần phải theo dõi, giám sát thực hiện lời hứa của người trả lời chất vấn cũng cần phải có những quy định chặt chẽ hơn và đại biểu Quốc hội khi chất vấn nội dung nào cần phải truy vấn đến cùng, xác định trách nhiệm của người bị chất vấn một cách rõ ràng, cụ thể. Song song đó, Quốc hội cần sớm xây dựng các trình tự, thủ tục của hoạt động chất vấn một cách chi tiết, rõ ràng về thời gian và các bước thực hiện chất vấn từ khâu chuẩn bị chất vấn, trả lời, kết luận đến đánh giá kết quả trả lời chất vấn. Ngoài ra, trong hoạt động chất vấn của Đoàn ĐBQH cần phải học tập kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về quy định chất vấn diễn ra theo định kỳ, chẳng hạn như ở Thụy Điển Nghị viện dành một tuần chất vấn một lần.
Hai là, đối với nội dung giám sát việc thi hành pháp luật ở địa phương hiện nay chủ yếu nghe qua báo cáo, các đại biểu Quốc hội còn chưa nắm bắt hết những thông tin để tham gia vào kết luận giám sát, thời gian tham gia giám sát của một số đại biểu Quốc hội còn hạn chế đối với ĐBQH hoạt động kiêm nhiệm. Bởi không chỉ thực hiện nhiệm vụ của người ĐBQH mà còn thực hiện công tác chuyên môn của mình trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Hiện nay, hoạt động giám sát thi hành pháp luật tuy đã được đề ra nhưng theo nhận xét của tác giả thì hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật chưa thật sự được chú trọng trong thời gian qua. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa rất lớn vì đối với một khi văn bản quy phạm pháp luật đó có nội dung sai trái với các điều luật quy định thì nó dẫn đến một hậu quả khôn lường. Ngoài ra, các ĐBQH thuộc các Đoàn ĐBQH chưa thật sự chủ động tổ chức các hoạt động giám sát tại địa phương mình do còn e ngại, kiến thức chuyên môn còn giới hạn ở một, một số lĩnh vực, ngành. Để hoạt động giám sát có hiệu quả thì người ĐBQH không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đặc biệt là các kiến thức về luật, về kinh tế. Ngoài ra, cần có những cơ chế hỗ trợ ĐBQH để có thể tự tiến hành giám sát. Luận văn: Giải pháp pháp lý đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Long An.
Ba là, các ĐBQH cần tập trung thời gian theo luật định để tìm hiểu, nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu tình hình thực tế, tích cực tham gia vào các hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH đã xây dựng. Và khi tiến hành tiếp xúc cử tri thì ĐBQH cần chủ động nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của cử tri có thể theo dõi, đôn đốc cũng như giám sát các cơ quan hữu quan trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri. Ngoài ra, ĐBQH cần tăng cường tiến hành giám sát riêng của từng ĐBQH. Để có điều kiện giám sát riêng, trước tiên phải có cơ chế hỗ trợ để các ĐBQH nguồn kinh phí để thực hiện.
Bốn là, đẩy mạnh công tác giám sát chuyên đề trong việc thực thi pháp luật, giám sát việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân. Cụ thể cần tăng cường giám sát đối với các vấn đề nhạy cảm, gây bức xúc trong nhân dân như các vấn đề có liên quan đến cấp chứng nhận quyền sử dụng đất, các vấn đề có liên quan đến hợp thửa, tách thửa hay các chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước tiến hành thu hồi đất. Đổi mới hoạt động giám sát theo hướng tăng cường độc lập, hạn chế phụ thuộc vào các chương trình giám sát của Đoàn ĐBQH. Ngoài ra, Đoàn ĐBQH tỉnh cần tiếp tục duy trì cử ĐBQH trong Đoàn tham gia giám sát cùng Quốc hội, UBTVQH khi có yêu cầu.
Năm là, Đoàn ĐBQH tỉnh cần tổ chức cho các ĐBQH trong đoàn tham gia học tập, trao đổi kinh nghiệm đối với các Đoàn ĐBQH ở địa phương khác làm tốt công tác này.
Sáu là, khi tiến hành giám sát cần tiến hành thu thộng thông tin từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, đồng thời cần xác định đâu là nội dung trọng tâm cần chất vấn, đâu là những vấn đề nỏi cợm, gây hoang mang, bức xúc cho nhân dân. Từ đó, yêu cầu các cơ quan giám sát, giải trình cần làm sáng tỏ.
Bảy là, đối với các nội dung đã tiến hành giám sát, Đoàn ĐBQH cần thường xuyên xem xét, giải trình các giải pháp sau giám sát. Những vấn đề đặt ra cần được giải quyết triệt để, không để tình trạng kéo dài gây mất lòng tin của nhân dân vào các cơ quan dân cử. Đồng thời, cần phải có những biện pháp chế tài phù hợp để đảm bảo các kết luận, kiến nghị được thực thi.
3.1.3 Tiếp xúc cử tri
Để phát huy vai trò của người đại biểu trong hoạt động tiếp xúc cử tri, cần khắc phục tình trạng tiếp xúc “đại cử tri” hoặc “cử tri chuyên trách”. Quá trình tổ chức tiếp xúc cử tri tại xã, phường, thị trấn còn diễn ra tình trạng như sắp xếp cử tri tham dự, không có sự thông báo rộng rãi trong quần chúng nhân dân. Bởi HĐND- UBND, UBMTTQ tại xã, phường, thị trấn có những biểu hiện né tránh những cử tri có nhiều ý kiến, hay những cử tri có bức xúc không được mời tham dự. Có đi chăng, những cử tri này tự nắm bắt thông tin đến tham dự. Như vậy, chẳng khác nào hạn chế quyền công dân. Đây cũng là những điểm thật sự cần lưu tâm khi Đoàn ĐBQH tiến hành tiếp xúc cử tri trong thời gian tới.
Để hoạt động tiếp xúc cử tri, đạt được nhiều kết quả cũng như nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của cử tri thì Đoàn ĐBQH cần tập trung: Luận văn: Giải pháp pháp lý đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Long An.
Một là, khi tiến hành tiếp xúc cử tri, Đoàn ĐBQH cần đổi mới phương thức hoạt động. Chẳng hạn như, Đoàn ĐBQH cần xuống địa bàn dân phố, cần bám sát quần chúng, lắng nghe, thấu hiểu những bức xúc của cử tri và cũng có thể tuyên truyền, vận động cử tri nâng cao trách nhiệm của cử tri trong tiếp xúc cử tri [tr85, 50]. Người ĐBQH phải biết đặt mình vào hoàn cảnh của cử tri để có thể nắm bắt những thông tin quý giá từ cử tri. Cần lắm những buổi tiếp xúc cử tri thông qua các ngày như đại đoàn kết dân tộc được tổ chức tại địa bàn dân cư. Tuy nhiên, hiện nay các khu dân cư thường tổ chức đồng loạt các ngày đại đoàn kết toàn dân tộc trong một khoảng thời gian ngắn nên Đoàn ĐBQH cũng khó sắp xếp được thời gian để tiến hành tiếp xúc cử tri trong thời gian nhất định này. Do đó, cần có cơ chế phối hợp cùng với các cấp Đảng, chính quyền địa phương là điều cần thiết.
Hai là, cần triển khai tiếp xúc cử tri thông qua nhiều kênh khác nhau, nhiều địa điểm khác nhau, không nên tiếp xúc cử tri tại hội trường UBND xã, phường, thị trấn.
Ba là, ĐBQH cần nắm bắt tình hình địa phương nào, địa bàn nào có nhiều bức xúc cần ưu tiên tiếp xúc nhiều hơn để có thể nắm bắt những tâm tư nguyện vọng của công dân, của cử tri để từ đó có thể tìm ra những giải pháp phù hợp, những đề xuất, kiến nghị được gửi đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết. Điều này góp phần nâng cao sự tin tưởng của công dân vào cơ quan nhà nước và các đại biểu không làm phụ lòng cử tri đã tiến hành bỏ phiếu bầu ra những người đại biểu ưu tú thay cử tri thực hiện quyền làm chủ của mình trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Bốn là, mỗi đoàn tiếp xúc cử tri cần cử từ một đến hai đại biểu để có thể các ĐBQH có thể tham gia nhiều đoàn, nhiều cụm cử tri.
Năm là, nâng cao khả năng ghi chép, tổng hợp có chọn lọc những bức xúc của cử tri để tiến hành chất vấn trong các kỳ họp của Quốc hội nhằm phát huy vai trò là cầu nối giữa cử tri với Quốc hội.
Sáu là, ĐBQH cần phải giữ chữ tín với cử tri [tr86, 50] và thực hiện lời hứa với cử tri.
3.1.4 Giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân Luận văn: Giải pháp pháp lý đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Long An.
Để làm tốt hoạt động giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân, trước hết Đoàn ĐBQH tỉnh cần phải giải quyết các vấn đề sau:
Một là, sau khi tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân thì người ĐBQH cần phải tiến hành phân loại và chuyển đơn đến các cơ quan có thẩm quyền giải quyết đồng thời cập nhật, theo dõi quá trình xử lý đơn của các cơ quan hữu quan.
Hai là, đối với đơn thư khiếu nại, tố cáo kéo dài thì ĐBQH cần phải xem xét nội dung khiếu nại, tố cáo đó đã được các cơ quan hữu quan giải quyết theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền hay chưa. Nếu đơn thư khiếu nại, tố cáo đã được chuyển đến các cơ quan có thẩm quyền giải quyết nhưng không giải quyết, cố tình kéo dài thì cần có những biện pháp chế tài đối với những cơ quan, tổ chức, cá nhân cố tình không thực hiện đúng theo tinh thần của Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo và Nghị quyết 759/2014/UBTVQH13 ngày 15/5/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định chi tiết về hoạt động tiếp công dân của các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.
Ba là, tiếp tục bồi dưỡng nghiệp vụ, kiến thức cho ĐBQH có thể chủ động xây dựng các chương trình giám sát, cách thức giám sát, phân tích đánh giá các chuyên đề giám sát mang lại hiệu quả cao.
Bốn là, đổi mới hoạt động giám sát, giám sát không chỉ giám sát trước và sau kỳ họp mà còn có thể khảo sát, giám sát giữa hai kỳ họp, giám sát tại hiện trường những vụ việc gây bức xúc kéo dài trong nhân dân.
Năm là, cần phải nắm bắt đầy đủ các thông tin cũng như tâm tư nguyện vọng chính đáng của công dân để từ đó có thể truyền tải những nội dung gây bức xúc trong dư luận của công dân đến Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Sáu là, trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị hiện nay chưa có quy định nào bảo vệ người khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị của công dân đối với các hành vi vi phạm pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích quốc gia, lợi ích tập thể và lợi ích chính đáng của công dân. Do đó, Quốc hội cần rà soát và tiếp tục hoàn thiện pháp luật nhằm bảo vệ người tố cáo, cũng như người cung cấp thông tin về những hành vi tham nhũng, tiêu cực của cán bộ, công chức mà Luật Tố cáo năm 2018 chưa quy định. Luận văn: Giải pháp pháp lý đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Long An.
3.1.5 Công tác phối hợp
Đề công tác phối hợp đạt hiệu quả cao thì Đoàn ĐBQH tỉnh cần tập trung:
Một là, Đoàn ĐBQH tranh thủ sự chỉ đạo của Đảng về công tác phối hợp để nâng cao hiệu lực, hiệu quả cho Đoàn ĐBQH.
Hai là, tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa Đoàn ĐBQH với Thường trực HĐND-UBND, Ủy ban MTTQ các cấp ở địa phương nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp.
Ba là, thường xuyên cập nhật theo dõi các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành từ trung ương đến địa phương và rà soát, điều chỉnh nội dung quy chế phối hợp cho phù hợp.
Bốn là, trước các kỳ họp của Quốc hội sẽ có những nội dung dự kiến trong kỳ họp Quốc hội. Do đó, Đoàn ĐBQH cần làm việc và trao đổi với Thường trực HĐND – UBND, Ủy ban MTTQ để nắm bắt tình hình về kinh tế xã hội, quốc phòng – an ninh, văn hóa – giáo dục trên địa bàn tỉnh. Từ đó, nhân thấy những khó khăn, hạn chế, những bất cập đang vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật và Đoàn ĐBQH có trách nhiệm ghi chép, tổng hợp các ý kiến đề xuất, kiến nghị gửi đến Quốc hội, UBTVQH.
Năm là, Đoàn ĐBQH cần phối hợp tổ chức lấy ý kiến đóng góp xây dựng pháp luật đối với các dự án luật, luật nhằm đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của công dân.
Sáu là, khi xây dựng chương trình kế hoạch khảo sát, giám sát thì Đoàn ĐBQH cân phối hợp với Thường trực HĐND-UBND, Ủy ban MTTQ để tránh tình trạng khảo sát, giám sát trùng lắp về nội dụng, thời gian và địa điểm. Khi Đoàn ĐBQH tiến hành khảo sát, giám sát cần mời Thường trục HĐND – UBND, Ủy ban MTTQ cùng tham dự và ngược lại để các bên cùng nhau nắm bắt đầy đủ thông tin.
Bảy là, đối với hoạt động tiếp xúc cử tri thì Đoàn ĐBQH cần có sự phối hợp với Thường trực HĐNQ – UBND, Ủy ban MTTQ trong việc tổ chức khảo sát, giám sát những vấn đề nổi cộm, bức xúc trong nhân dân và làm rõ trách nhiệm cũng như thẩm quyền giải quyết.
Tám là, trong hoạt động tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân thì các cơ quan tham mưu cần phối hợp và theo dõi đối với các đơn thư khiếu nại, tố cáo trùng lắp.
3.2 Các giải pháp nâng cao quyền và nghĩa vụ của ĐBQH trên phạm vi cả nước Luận văn: Giải pháp pháp lý đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Long An.
3.2.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật
Hệ thống pháp luật đầy đủ và hoàn chỉnh có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc tạo lập hành lang pháp lý để các chủ thể tham gia, chấp hành và sử dụng pháp luật một cách hiệu quả. Đảm bảo nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quyền lực của nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
- Một là, trách nhiệm của ĐBQH
ĐBQH tỉnh hiện nay có hai (02) loại là ĐBQH hoạt động chuyên trách và ĐBQH hoạt động kiêm nhiệm. Tuy nhiên, xét về trách nhiệm của ĐBQH thì ta nhận thấy trách nhiệm của ĐBQH hoạt động kiêm nhiệm cũng như trách nhiệm của ĐBQH hoạt động chuyên trách. Trong khi thời gian hoạt động của ĐBQH tại cơ quan của Quốc hội hoặc tại Đoàn ĐBQH ở địa phương là khác nhau, về thời gian hoạt động của ĐBQH kiêm nhiệm chỉ bằng một phần ba (1/3) thời gian của ĐBQH hoạt động chuyên trách. Trách nhiệm ở đây được hiểu là nghĩa vụ của người đại biểu Quốc hội được pháp luật quy định những gì phải làm, cần làm, nên làm, được làm và phải gánh chịu hậu quả khi có hành vi vi phạm pháp luật.
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì trách nhiệm của đại biểu Quốc hội với cử tri bao gồm trách nhiệm thực hiện chức năng đại diện tại Quốc hội, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội trong mối quan hệ với cử tri và trách nhiệm khi có sai phạm hoặc làm mất uy tín. Luận văn: Giải pháp pháp lý đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Long An.
Một trong những mặt trái về cơ cấu đại biểu Quốc hội ở nước ta đó là số lượng ĐBQH kiêm nhiệm là chiếm tỉ lệ đa số. Các đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm thường là những cán bộ, công chức có chức danh trong các cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công công lập, các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân. Thường các đại biểu Quốc hội này có mối quan hệ với nhau trong công tác, nên khi có xảy ra những sai phạm thì thường hay nể nang, “vuốt mặt nể mũi” lẫn nhau và đây là điểm bất cập cần được pháp luật quy định chặt chẽ hơn về mặt pháp lý.
Để tránh tình trạng lạm quyền của đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm làm ảnh hưởng đến niềm tin của cử tri đến cơ quan quyền lực của nhà nước. Sự lạm quyền này rất nguy hiểm, bởi đây là việc một người mang danh nghĩa của cơ quan hành pháp và cơ quan lập pháp vi phạm pháp luật một cách nghiêm trọng dẫn đến bị xử lý hình sự. Việc xử lý hình sự một cá nhân là điều đơn giản, điều quan trọng ở đây chính là sự niềm tin của cử tri vào cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp. Đây là một hiểm họa trong hoạt động chính trị, tổ chức chính quyền địa phương. Chính những hiểm họa này, những thế lực thù địch, phản động, những tổ chức “ngoại bang” lợi dụng để tác động vào một số bộ phận cử tri, người dân sẽ dễ dẫn đến tình trạng bạo loạn, gây mất an ninh trật tự ở địa phương.
Trong những năm gần đây, các thế lực thù địch núp bóng “ngọn cờ dân chủ” cố tình đưa ra những luận điệu để xuyên tạc, bóp méo sự thật để tìm cách lôi kéo những cá nhân, công dân, cử tri có bức xúc đối với một hay một số cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong các cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, lực lượng vũ trang nhân dân, quân đội.
Giả thuyết đặt ra, vì sao tỉnh nào cũng có Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội nhưng tại sao không phát hiện ra những sai phạm của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Như vậy vai trò, trách nhiệm này thuộc về cơ quan, đơn vị nào? Tôi cho rằng, pháp luật cần phải rà soát, bổ sung cơ sở pháp lý về chế độ trách nhiệm của đại biểu Quốc hội đối với cử tri một cách toàn diện, khả thi và phù hợp. Trong lĩnh vực lập pháp, hiện nay vẫn không có quy định nào quy định về những trách nhiệm của đại biểu Quốc hội trong việc tham mưu, xây dựng các quy trình lập pháp nói riêng và hoạt động của đại biểu Quốc hội nói chung.
Kiến nghị của cá nhân tôi trong lĩnh vực này là cần được ghi nhận bổ sung trách nhiệm của ĐBQH trong các văn bản pháp luật có liên quan trong tương lai gần. Ngoài ra, pháp luật cần phải có những quy định cụ thể về trình tự, thủ tục để cử tri trực tiếp bãi nhiệm đối với đại biểu Quốc hội khi không còn đủ tư cách.
- Hai là, quyền bất khả xâm phạm của ĐBQH
Đặc quyền bất khả xâm phạm cho các nghị sĩ nhằm bảo vệ các nghị sĩ tránh khỏi sự truy tố hình sự từ cơ quan nhà nước ẩn nấp dưới những lý do giả tạo được áp dụng nhiều quốc gia trên thế giới. Trong đó, ở Việt Nam quyền bất khả xâm phạm của ĐBQH được quy định trong Hiến pháp năm 2013 tại Điều “Không được bắt, giam giữ, khởi tố đại biểu Quốc hội nếu không có sự đồng ý của Quốc hội hoặc trong thời gian Quốc hội không họp không có sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội; trong trường hợp đại biểu Quốc hội phạm tội quả tang mà bị tạm giữ thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định”. Đây là điều kiện đảm bảo an toàn cho đại biểu Quốc hội an tâm làm nhiệm vụ. Bởi vì, khi đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện nhiệm vụ của mình trong đó có phần tiếp thu kiến nghị của cử tri, của nhân dân và trong trường hợp cần thiết thì Đoàn ĐBQH có quyền gửi đến Quốc hội xem xét, quyết định. Điều này, đôi khi có ảnh hưởng đến lợi ích nhóm của một, một số bộ phận cán bộ làm việc trong hệ thống cơ quan nhà nước. Và để tránh sự thanh trừng lẫn nhau nên đây được xem là một trong những điều mà đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội được pháp luật bảo vệ.
- Ngày nay, quyền bất khả xâm phạm của nghị sĩ được ghi nhận ở nhiều quốc gia với các xu hướng chủ yếu:
Thứ nhất, ở một số quốc gia trên thế giới quyền của các nghị sĩ được xem như những công dân bình thường khác và vẫn áp dụng các quy định pháp luật thông thường để giải quyết. So với các công dân khác thì nghị sĩ chỉ có quyền miễn trừ về tự do phát biểu. Những quy định này được áp dụng tại nước Hà Lan, Na Uy, Maiaysia. Minh chứng như nghị sĩ ở Hà Lan được xem như những công dân bình thường khác, khi nghị sĩ có hành vi vi phạm pháp luật vẫn bị cơ quan điều tra tiến hành truy tố, khởi tố và kết án như một công dân bình thường khác theo đạo luật năm 1884, nghị sĩ có bị kết tội hay không thuộc quyết định Tòa án tối cao. Luận văn: Giải pháp pháp lý đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Long An.
Thứ hai, đối với nước Anh và nước Australia thì quyền bất khả xâm phạm chỉ được áp dụng trong các vụ việc dân sự, đối với các vụ án kinh tế, vụ án hình sự thì quyền bất khả xâm phạm của nghị sĩ không được áp dụng. Tuy nhiên, hai (02) quốc gia này có một điểm chung là không được tiến hành bắt giam nghị sĩ trong khi nghị sĩ đang trong kỳ họp. So với nước Australia thì nước Anh còn ngăn chặn việc bắt tạm giam nghị sĩ không được tiến hành bắt tạm giam trước 40 ngày trước khi diễn ra kỳ họp.
Thứ ba, hiện nay nhiều nước trên thế giới đã tiến hành bảo vệ quyền tự do cho nghị sĩ, tuy nhiên mỗi quốc gia có cách thức bảo vệ quyền tự do cho nghị sĩ của mình là khác nhau. Như nghị sĩ ở Na Uy và Ireland áp dụng biện pháp bảo đảm cho các nghị sĩ không bị bắt trên đường đi, đường đến hoặc đang trong Tòa nhà của Quốc hội. Nghị sĩ ở Colombia, Andorra thì áp dụng thủ tục tố tụng riêng biệt đối với nghị sĩ nhằm giảm thiểu các hành vi vi phạm các quyền tự do khi tham gia các hoạt động của Nghị viện bởi các lý do không có thật.
Như vậy, so sánh pháp luật Quốc hội với các nước thì ta nhận thấy quy định này vẫn có điểm bất cập ở chỗ, khi một đại biểu Quốc hội nào đó có hành vi vi phạm pháp luật nhưng cơ quan có thẩm quyền không được bắt tạm giam, tạm giữ để điều tra sẽ là cơ hội để đại biểu Quốc hội đó tẩu tán, phi tang chứng cứ phạm tội hoặc lẫn trốn sự truy bắt của cơ quan điều tra. Quyền bất khả xâm phạm của người ĐBQH cần được giới hạn về không gian, thời gian, một số lĩnh vực. Điều này, theo quan điểm của tác giả xin kiến nghị, Quốc hội sớm có những quy định rõ ràng hơn trong việc bảo vệ đại biểu Quốc hội, đồng thời cũng có những chế định nghiêm khắc đối với những đại biểu có hành vi vi phạm pháp luật. Và theo ý kiến của cá nhân tôi, quyền miễn trừ chỉ nên áp dụng đối với các vụ việc dân sự, loại trừ các vụ việc kinh tế, các vụ án hình sự. Ngoài các vụ việc dân sự, ĐBQH có hành vi vi phạm vẫn phải tiến hành, xử lý như các công dân thông thường khác. Có như vậy, nhà nước ta mới thật sự xây dựng được nhà nước trong sạch, vững mạnh.
- Ba là, sửa đổi, bổ sung Điều luật
Hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh trong hệ thống chính trị thời gian qua vẫn còn nhiều điểm bất cập:
Thứ nhất, cần phải tiếp tục sửa đổi luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) về nội dung địa vị pháp lý của Đoàn ĐBQH tư cách pháp nhân của Đoàn ĐBQH và Đoàn đại biểu Quốc hội là cơ quan tổ chức Trung ương hay địa phương; Tổ chức nào lãnh đạo, chỉ đạo quản lý Đoàn đại biểu Quốc hội? Bởi theo luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) tại Điều 43 thì Đoàn đại biểu Quốc hội có Trưởng đoàn hoặc Phó Trưởng đoàn. Trưởng đoàn, Phó Trưởng đoàn do Đoàn đại biểu Quốc hội bầu trong số đại biểu của Đoàn và được Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn;
Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho thôi giữ chức vụ Trưởng đoàn và Phó Trưởng đoàn. Trong Nghị quyết số 353/2017/UBTVQH ngày 17/4/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) có ghi nhận “cơ quan có thẩm quyền quản lý cán bộ ở tỉnh, thành phố theo phân cấp chịu trách nhiệm quản lý đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách của địa phương mình” Như vậy, Nghị quyết và Luật đều quy định cho địa phương quản lý, còn cơ quan chuyên môn của Ủy ban Thường vụ Quốc hội là Ban công tác đại biểu thì lại không có quy định về quản lý mà chỉ thực hiện công tác tham mưu cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết bổ nhiệm, cho thôi giữ chức vụ của Trưởng đoàn, Phó Trưởng đoàn. Với quy định này, vị trí vai trò của Đoàn đại biểu Quốc hội còn lấp lửng, Trung ương và địa phương đều quản lý. Địa vị pháp lý của Đoàn ĐBQH hiện nay chưa được quy định một cách rõ ràng, chặt chẽ.
Thứ hai, bên cạnh những ưu điểm trong Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, còn có những khuyết điểm cần khắc phục. Bởi theo luật và các văn bản có liên quan thì chưa có quy định nào quy định về trách nhiệm của các tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân phải báo cáo kết quả thực hiện các kiến nghị sau giám sát của Đoàn ĐBQH. Trong quy định của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 chưa quy định rõ cơ chế thông tin phản hồi kết quả thực hiện sau giám sát; đặc biệt cần phải có những quy định về chế tài cụ thể đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết nhưng cố tình không thực hiện hoặc thực hiện chậm trễ so với quy định của pháp luật về thời hạn giải quyết. Luận văn: Giải pháp pháp lý đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Long An.
Thứ ba, không chỉ sửa đổi, bổ sung Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 mà cần phải nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Nghị quyết liên tịch số 525/2012NQLT/UBTVQH13-ĐCTUBMTTQVN ngày 27/9/2012 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Đoàn Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam về việc tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội (gọi tắt là Nghị quyết liên tịch số 525). Theo quy định tại Nghị quyết liên tịch số 525 chưa quy định rõ trách nhiệm của ĐBQH trong hoạt động tiếp xúc cử tri, cụ thể là các hoạt động tiếp xúc cử tri nơi cư trú, nơi công tác, nơi làm việc, tiếp xúc cử tri theo chuyên đề. Cần sớm có những quy định cụ thể về trách nhiệm của ĐBQH cũng như chế độ báo cáo kết quả hoạt động và thực hiện chương trình hành động mà ĐBQH đã hứa với cử tri nơi bầu ra mình. Bên cạnh những quy định về trách nhiệm của ĐBQH cũng cần có những quy định về trách nhiệm cũng như những biện pháp chế tài đối với các cơ quan, tổ chức, đơn vị, các nhân người có thẩm quyền giải quyết nhưng không giải quyết hoặc giải quyết chậm trễ các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của công dân.
3.2.2 Về cơ cấu tổ chức
Về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh trên phạm vi cả nước ngày càng được quan tâm, chú trọng. Trong những năm qua, số lượng đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách càng được nâng cao, cụ thể hóa trong biểu đồ cơ cấu đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ khóa 11 đến khóa 15 (biểu đồ 2)
Tuy nhiên, trong quá trình tìm hiểu, tham khảo tác giả nhận thấy về mặt cơ cấu đại biểu Quốc hội còn có một số điểm chưa phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay. Cá nhân tác giả có một số kiến nghị về cơ cấu đại biểu Quốc hội như sau:
3.2.1.1 Đổi mới cơ cấu ĐBQH
Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, Đại hội đã đề ra chủ trương “Bảo đảm tiêu chuẩn, cơ cấu, nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, tăng hợp lý số lượng đại biểu hoạt động chuyên trách; giảm số lượng đại biểu công tác ở các cơ quan hành pháp, tư pháp”. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhà nước và xã hội đã được quy định trong Hiến pháp năm 2013 và trong Luật Bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015. Với vai trò Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Quốc hội ngày càng được đổi mới, dân chủ đã phát huy được vai trò, chức năng của Quốc hội Việt Nam.
Đoàn ĐBQH tỉnh bao gồm ĐBQH chuyên trách và ĐBQH kiêm nhiệm, trong đó số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách chiếm ít nhất 40% trên tổng số đại biểu Quốc hội. Điều này đồng nghĩa với trong 100 đại biểu Quốc hội chỉ có ít nhất 40 đại biểu Quốc hội làm nhiệm vụ chuyên trách, không quá 60 đại biểu Quốc hội làm việc không kiêm nhiệm. Tuy nhiên, trên thực tế tỉ lệ ĐBQH chưa bao giờ đạt tỉ lệ tối đa theo quy định. Tỉ lệ đại biểu Quốc hoạt động chuyên trách đạt cao nhất là 38,68% (193/499) trong tổng số đại biểu Quốc hội. Như vậy, với số lượng ĐBQH hoạt động chuyên trách này vẫn chưa đạt chưa đạt theo quy định của pháp luật về tỉ lệ. Với quy định này, tỉ lệ đại biểu Quốc hội đã có điểm bất cập lớn khi áp dụng trên thực tiễn.
Đại biểu Quốc hội chuyên trách trước hết phải là người có sự am hiểu, có tầm nhìn rộng về chủ trương, chính sách phát triển của đất nước; nắm rõ nguyên tắc hoạt động của các cơ quan nhà nước. Việc tăng tỉ lệ ĐBQH hoạt động chuyên trách có ý nghĩa rất quan trọng trong việc dần chuyển đổi hoạt động của Quốc hội mang tính chuyên nghiệp hơn. Bởi ngoài những tiêu chuẩn chung đối với ĐBQH thì ĐBQH hoạt động chuyên trách còn đáp ứng các yêu cầu khác được quy định tại Hướng dẫn số 36-HD/BTCTW ngày 20/01/2021 của Ban Tổ chức Trung ương về công tác nhân sự đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Luận văn: Giải pháp pháp lý đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Long An.
Xuất phát từ chủ trương của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam thì việc xây dựng mô hình Quốc hội hoạt động mang tính chuyên nghiệp là điều cần thiết. Tôi xin kiến nghị tăng tỉ lệ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách để kịp thời đáp ứng nhu cầu nâng cao năng lực, xây dựng thể chế hoạt động Quốc hội ngày càng chuyên nghiệp hóa, tránh tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi” như hiện nay. Ngoài ra, cần bổ sung thêm tiêu chuẩn của người đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách trong Luật Tổ chức Quốc hội như phải là người có trình độ đại học trở lên, là người có chuyên môn, có kinh nghiệm, có khả năng phân tích, hoạch định chính sách phát triển kinh tế – xã hội, có quan điểm, lập trường vững vàng, có ý thức trách nhiệm cao trong công việc, tích cực tham gia trong các hoạt động của Quốc hội.
3.2.1.2 Về cơ cấu nữ ĐBQH
Phụ nữ ngày nay có vị trí, vai trò rất quan trọng không chỉ trong gia đình, ngoài xã hội mà phụ nữ còn góp phần không nhỏ trong hệ thống chính trị. Do đó, Đảng và nhà nước luôn tạo điều kiện tốt nhất, thuận lợi nhất cho phụ nữ tham gia vào các hoạt động chính trị trong thời gian qua. Cụ thể, trong Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước có đề ra mục tiêu “Phấn đấu đến năm 2020, cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên; nữ đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp từ 35% đến 40%”; Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị lần thứ bảy của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ cũng đề ra mục tiêu đến năm 2030 “Tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp đạt trên 35%”.
Mặc dù, tỉ lệ nữ đại biểu Quốc hội khóa XV chỉ đạt 30,26% trong tổng số đại biểu Quốc hội tuy chưa đạt so với văn bản của Đảng đề ra nhưng đây cũng là một trong những tín hiệu đáng mừng vì từ Quốc hội khóa VI đến Quốc hội khóa XV thì đây là tỉ lệ này cao nhất và đạt gần tương đối so với quy định của pháp luật trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân.
Trong vấn đề này, tác giả có kiến nghị nên có những quy định về tỉ lệ tối thiểu của mỗi giới trong danh sách cuối cùng của ứng cử viên ĐBQH trong Luật Bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân và cần có những quy định chế tài đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không đáp ứng các yêu cầu của Luật Bầu cử và bồi dưỡng các kỹ năng trong công tác vận động bầu cử lần đầu cho nữ ứng cử viên, tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, truyển thông về bình đẳng giới.
3.2.1.3 Một số cơ cấu khác Luận văn: Giải pháp pháp lý đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Long An.
Số lượng ĐBQH là người dân tộc thiểu số cũng được Quốc hội quan tâm và được ghi nhận tại khoản 2, Điều 8 của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân “Số lượng người dân tộc thiểu số được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội do Ủy ban thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Hội đồng dân tộc của Quốc hội, bảo đảm có ít nhất mười tám phần trăm tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là người dân tộc thiểu số”. Những đại biểu là người dân tộc thiểu số này được chọn dựa theo danh sách của Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo đề nghị của Hội đồng dân tộc. Xuất phát từ nguyên nhân, nước ta gồm có năm mươi bốn (54) dân tộc khác nhau, trong đó có dân tộc người Kinh là chiếm đa số, các dân tộc khác chiếm tỉ lệ nhỏ nên tỉ lệ ĐBQH là người dân tộc thiểu số tiếp tục được duy trì và phát triển trong các khóa tiếp theo là điều cần thiết. Ngoài ra, Đảng và nhà nước cần tiếp tục ban hành nhiều chính sách ưu đãi đối với đồng bào dân tộc thiểu số, những chương trình đào tạo cán bộ, người dân là dân tộc thiểu số để tạo nguồn lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội trong tương lai.
Hiện nay, ĐBQH có thể gánh cùng lúc nhiều cơ cấu như cơ cấu trẻ, cơ cấu nữ, cơ cấu ĐBQH là người dân tộc thiểu số, cơ cấu ngoài Đảng nên khi dựa vào cơ cấu phân bổ sẽ gặp nhiều khó khăn, hạn chế. Qua thực tiễn nhiều năm liền, nhiều khóa liền mà ĐBQH vẫn chưa khắc phục được hạn chế, khuyết điểm này. Ngoài ra, hiện nay có nhiều địa phương nặng về đảm bảo cơ cấu nên khó có thể lựa chọn những người có đầy đủ năng lực, trình độ, đủ đức, đủ tài, đủ tầm để giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội. Vấn đề này, Ủy ban Thường vụ cần có những biện pháp khắc phục để nâng cao chất lượng của người đại biểu Quốc hội.
3.2.3 Chế độ đãi ngộ
Đại biểu Quốc hội là người đại diện ý chí, nguyện vọng của nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình và của nhân dân cả nước, là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước trong Quốc hội.
Theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 tại Điều 41 có quy định về phụ cấp và các chế độ khác của đại biểu Quốc hội do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định. Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 1004/2020/UBTVQH14 ngày 18/9/2020 về thành lập và quy định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu của Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; Văn phòng Quốc hội ban hành Hướng dẫn số 2106/HD-VPQH ngày 07/12/2020 về việc quản lý, sử dụng kinh phí hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội, thành phố và một số nội dung liên quan đến việc thực hiện Nghị quyết số 1004/2020/UBTVQH14. Trong đó, các khoản chi cá nhân cho đại biểu chuyên trách tại địa phương bao gồm các khoản như chi tiền lương, phụ cấp chức vụ; chi chế độ làm đêm, làm ngoài giờ (nếu có); chi phụ cấp ĐBQH chuyên trách; chi phúc lợi tập thể; chi công tác phí; chi đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn của ĐBQH chuyên trách. Riêng chế độ chi đối với ĐBQH bao gồm các khoản chi hoạt động phí; chế độ thuê khoán thư ký; thù lao tham gia hoạt động Quốc hội không hưởng lương; chế độ bảo hiểm y tế; chi hỗ trợ cho ĐBQH tự nghiên cứu để tham gia ý kiến vào các dự án luật; chi khoán chế độ báo chí, internet; chi tiếp xúc cử tri; chi mời chuyên gia; chi may lễ phục; chi chế khám sức khỏe, nghỉ dưỡng,… Tuy nhiên các khoản chi trên không quá nhiều cho ĐBQH và các khoản chi nhằm phục vụ cho quá trình công tác nhiều. Luận văn: Giải pháp pháp lý đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Long An.
Các khoản tiền lương của nghị sĩ với mục đích đảm bảo mọi công dân có thể trở thành nghị sĩ, bảo vệ các đại biểu thoát khỏi những áp lực, cám dỗ và bù đắp những khoản chi phí trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Theo nhận xét của người viết, chế độ đãi ngộ cho đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách thời gian qua chưa thật sự xứng tầm so với áp lực, trách nhiệm của người đại biểu Quốc hội. Ở Việt Nam, lương và các khoản phụ cấp của ĐBQH vẫn được thực hiện chế độ tiền lương của công chức theo hệ số để tính phụ cấp. Trong khi chế độ tiền lương, các khoản phụ cấp của một thượng nghị sĩ có chế độ ngang bằng, thậm chí cao hơn Bộ trưởng. Một ví dụ điển hình Sêngal, lương của các nghị sĩ tương ứng với mức cao nhất của các chức danh đứng đầu cơ quan tư pháp, quân đội, công chức; lương của nghị sĩ ở Ba Lan tương ứng với mức lương của các Thứ trưởng; ở Bungari và Slovakia thì lương của nghị sĩ sẽ bằng lương của các lao động thuộc khu vực tư nhân nhân 3 lần; lương của nghị sĩ ở Macedonia thuộc Cộng hòa Nam Tư cũ bằng 3,5 lần lương của các lao động thuộc khu vực tư nhân. Về phần lương hưu của nghị sĩ ở một số nước như Autralia, Bỉ, Canada, Đan Mạch, Nhật Bản, Pháp, Đức, Ấn Độ, Thụy Điển, Anh thường được xây dựng dựa trên những nguyên tắc pháp lý đặc thù. Các khoản lương, phụ cấp của nghị sĩ ở Ai Cập, Ấn Độ, Ma Rốc được miễn thuế. Ngoài những chính sách về lương, các khoản phụ cấp khác thì nghị sĩ ở Ba Lan, Liên bang Nga thì Nghị viện cấp cho các nghị sĩ của mình các chỗ ở.
Canada, Thụy Điển, Nghị viện không chỉ các khoản chi trả lương, các khoản hỗ trợ cho hoạt động của nghị sĩ mà nghị viện còn chi trả các khoản hỗ trợ cho con của đại biểu.
Để thu hút nhân tài, điều cần làm trong giai đoạn này là phải có cơ chế đãi ngộ tốt, đảm bảo được cuộc sống gia đình của đại biểu Quốc hội có một cuộc sống tươm tất và giúp họ tránh khỏi sự tham nhũng trong khi thực hiện nhiệm vụ. Có như vậy, đại biểu Quốc hội mới an tâm công tác, cống hiến và phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước.
Về vấn đề này, cá nhân tác giả có phần kiến nghị Quốc hội cần sớm có những chính sách, chế độ riêng dành cho người đại biểu Quốc hội trong thời gian tới. Không áp dụng hệ số tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động như hiện nay. Ngoài ra, Việt Nam cần học tập các nước có những chế độ về nhà ở, các các trợ cấp dành cho con của đại biểu Quốc hội trong các khóa học đào tạo, các khoản hỗ trợ việc nghiên cứu ở nước ngoài.
3.2.4 Các điều kiện nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Đoàn ĐBQH Luận văn: Giải pháp pháp lý đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Long An.
3.2.4.1 Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho ĐBQH
Đứng trước tình hình hiện nay, ĐBQH phải có kiến thức chuyên sâu về các lĩnh vực như pháp luật, quản lý kinh tế, quản trị quốc gia; các kiến thức, thông tin về kế hoạch, chương trình hoạt động hằng năm và cả nhiệm kỳ của Quốc hội nên ngày 03/4/2023 Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 761/NQ-UBTVQH15 quy định một số nội dung về bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng hoạt động cho đại biểu Quốc hội (gọi tắt là Nghị quyết số 761/NQ-UBTVQH15). Do đó, ĐBQH cần phải nghiêm túc thực hiện Nghị quyết số 761/NQ-UBTVQH15 và đồng thời ĐBQH phải liên tục cập nhật những thông tin, hoàn thiện và thực hiện kế hoạch, khung chương trình bồi dưỡng mà Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành. Thời gian tới, Ủy ban
Thường vụ Quốc hội cần phải thường xuyên rà soát, bổ sung các kiến thức cho ĐBQH với các nội dung trọng tâm, trọng điểm như những kiến thức về quan hệ quốc tế, kinh tế, thương mại, ngoại giao, cách mạng công nghệ 4.0 và giao tiếp quốc tế. Tăng cường công tác trao đổi, học tập kinh nghiệm, kiến thức giữa các Đoàn ĐBQH tại các địa phương.
3.2.4.2 Tăng cường năng lực của Văn phòng Đoàn ĐBQH
Văn phòng Đoàn ĐBQH tỉnh chính là cơ quan tham mưu, giúp việc cho Đoàn ĐBQH tỉnh. Do đó, hiệu quả hoạt động của Đoàn ĐBQH tỉnh có sự đóng góp không nhỏ của Văn phòng Đoàn ĐBQH. Trong thời gian tới, khi tuyển dụng công chức Văn phòng Đoàn ĐBQH cần phải đổi mới phương thức tuyển dụng, bồi dưỡng theo tiêu chí riêng phù hợp với yêu cầu về kiến thức cũng như kỹ năng làm việc.
Ngoài ra, cần tiếp tục kiện toàn và đảm bảo số lượng biên chế phù hợp cho Văn phòng Đoàn ĐBQH tỉnh và từng bước tăng khoán mức kinh phí thuê chuyên gia, đề xuất cơ chế người giúp việc có chuyên môn cho ĐBQH nhằm đáp ứng khối lượng công việc ngày càng nhiều như hiện nay.
3.2.4.3 Đổi mới phương thức hoạt động của Đoàn ĐBQH tỉnh Luận văn: Giải pháp pháp lý đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Long An.
Đổi mới phương thức hoạt động của Đoàn ĐBQH hiện nay cũng được xem là một trong những biện pháp khả thi để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Đoàn ĐBQH tỉnh. Khi đó, việc nghiên cứu, rà soát các quy định về hoạt động giám sát của Quốc hội trong các văn bản luật, văn bản quy phạm pháp luật, Quy chế, Nghị quyết của Quốc hội, Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội là một trong những biện pháp khắc phục những khó khăn, hạn chế như hiện nay. Có những quy định không còn phù hợp cần tiến hành bãi bỏ, thay vào đó là những quy định mới phù hợp hơn với tình hình thực tế hiện nay.
Tiểu kết Chương III
Từ thực tiễn hoạt động của Đoàn ĐBQH tỉnh Long An qua các thời kỳ đã và đang đổi mới phương pháp hoạt động đạt được kết quả cao như hiện nay. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn không ít những khó khăn cần được khắc phục như địa vị pháp lý của Đoàn ĐBQH tỉnh cần được quy định chi tiết, rõ ràng, không trùng lắp, lấp lửng; các quy định trong hệ thống pháp luật cần làm sáng tỏ trách nhiệm của ĐBQH khi không thực hiện hết chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình; chế độ đãi ngộ dành cho người ĐBQH cần được cải thiện để người ĐBQH có thể toàn tâm, toàn lực vào quá trình công tác, phục vụ cho cử tri đã bầu ra họ, người ĐBQH không bị ảnh hưởng bởi về kinh tế gia đình, chế độ học tập của con cái; trong hoạt động giám sát của ĐBQH tỉnh, hoạt động chất vấn cần được truy vấn đến cùng, làm rõ trách nhiệm của người bị chất vấn; ngoài ra, các điều kiện nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của Đoàn ĐBQH bao gồm bồi dưỡng kỹ năng cho ĐBQH, tăng cường năng lực hoạt động của cơ quan tham mưu của Văn phòng Đoàn ĐBQH tỉnh, đổi mới phương thức hoạt động của Đoàn ĐBQH phù hợp với thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
KẾT LUẬN
Đoàn đại biểu Quốc hội là một hình thức tổ chức đặc thù trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội ở nước ta. Đoàn đại biểu biểu Quốc hội được tạo thành từ các ĐBQH được các cử tri bầu trong một tỉnh hoặc thành phố trực thuộc Trung ương. ĐBQH chính là người thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước, bởi chính nhân dân là người đã tiến hành bầu cử nhằm lựa chọn những những đại biểu ưu tú. Khi ĐBQH thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thì chính ĐBQH đó phải chịu trách nhiệm trước nhân dân và trước Quốc hội. Hiện nay, các quy định của pháp luật về vị trí pháp lý của Đoàn ĐBQH còn lấp lửng đã làm ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của Đoàn ĐBQH. Để phát huy hiệu quả về vai trò, trách nhiệm của Đoàn ĐBQH tỉnh chúng ta cần tìm hiểu rõ địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Đoàn ĐBQH. Đồng thời, chúng ta cần rút ra bài học kinh nghiệm của Nghị viện các nước trên thế giới để có thể vận dụng vào nước ta. Những mặt hạn chế cần khắc phục và tiếp tục phát huy những thành quả đã đạt được trong thời gian qua. Luận văn: Giải pháp pháp lý đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Long An.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Địa vị pháp lý của đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Long An

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực trạng pháp lý đoàn đại biểu quốc hội tỉnh Long An