Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo hộ quyền tác giả hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn việc bảo hộ và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1 Thực trạng bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính tại Việt Nam hiện nay và thực tiễn thực hiện pháp luật Việt Nam
Hành vi cài đặt chương trình máy tính không có bản quyền. Hiện nay để tiết kiệm chi phí các cá nhân, tổ chức thường cài đặt trái phép các phần mềm, chương trình máy tính để sử dụng phục vụ cho mục đich kinh doanh sinh lời của chính mình. Điều này là không thể chấp nhận vì sẽ gây thiệt hại cho chính những người sáng tác và chủ sở hữu khi không nhận được giá trị vật chất phải được hưởng.
Có thể thấy tại Việt Nam là từ 2011 -2017 đã có sự thuyên giảm tỉ lệ cài đặt trái phép chương trình máy tính tuy chỉ giảm có 7% nhưng ở chiều ngược lại thì làm tăng giá trị thương mại của phần mềm bản quyền tức được cài đặt “hàng chính chủ” nhiều hơn đây là một dấu hiệu tiến bộ. Bên cạnh đó, báo cáo của BSA cũng đề cập tới việc áp dụng bộ công cụ SAM (quản lý tài sản phần mềm) đây là một phầm mềm quản lý tập trung việc mua sắm củng như theo dõi các phần mềm nào đã được mua và thời gian khi nào cần gia hạn. Đây cũng là một gợi ý hữu ích giúp doanh nghiệp, tổ chức theo dõi sát sao việc gia hạn và mua phần mềm có bản quyền giúp kéo giảm tỉ lệ.
Hình 3.1 : Tỉ lệ và giá trị thương mại của phần mềm máy tính cá nhân khi cài trái phép
Hành vi tạo bản sao chương trình máy tính. Phí bản quyền cũng là một trong những chi phí mà doanh nghiệp phải trả để có thể dùng chương trình máy tính để vận hành cho hoạt động kinh doanh tuy nhiên có một số doanh nghiệp vì muốn tăng thêm lợi nhuận đã cố tình sao chép một phần phiên bản nào đo của một phần mềm bản quyền để sử dụng hoặc thậm chí họ chỉ mua một giấy phép bản quyền tạo ra nhiều sao bất hợp pháp khác để cài vào các máy tính khác nhau để phục vụ cho mục đích sinh lợi nhuận của chính mình là trái với quy định của Luật SHTT. Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.
Hành vi bẻ khóa, xâm phạm sự toàn vẹn của chương trình máy tính. Hành vi cài đặt trái phép này thường sẽ do một nhóm các đối tưởng tìm cách phá vỡ hàng rào an ninh hay còn gọi là bẻ khóa để có thể đánh cắp chương trình, có thể hiểu bẻ khóa phần mềm là một hành vi dùng các biện pháp công nghệ để xóa bỏ hàng rào chống sao chép do nhà sản xuất, tác giả dựng nên. Hành vi này vi phạm trực tiếp khoản 6 Điều 28 VBHN về Luật SHTT năm 2022: “Cố ý xóa, gỡ bỏ hoặc thay đổi thông tin quản lý quyền mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả khi biết hoặc có cơ sở để biết việc thực hiện hành vi đó sẽ xúi giục, tạo khả năng, tạo điều kiện thuận lợi hoặc che giấu hành vi xâm phạm quyền tác giả theo quy định của pháp luật”
Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật cũng là bước tiến nhằm hạn chế việc cài đặt chương trình máy tính trái phép hoặc đơn giản là mua thiết bị thì cài sẵn chương trình tức thay đổi chiến lược kinh doanh, chương trình máy tính dạng hệ điều hành như window là dễ bị bẻ khóa nhất, trước đây mua máy tính chỉ có máy còn phần mềm thì phải bỏ tiền ra mua thêm điều này sẽ làm phát sinh nhu cầu mua phần mềm giá rẻ thì chỉ bằng cách cài phần mềm bẻ khóa. Điển hình như một hacker Chunxong đã dùng kỹ thuật tấn công mạng là SQL injection để xâm nhập vào hệ thống máy chủ của Bkav để để đánh cấp mã nguồn của phần mềm diệt virus Bkav Pro, mã nguồn diệt virus mobile, endpoint security, và mã nguồn trí tuệ nhân tạo và ra bán quyền truy cập vào hệ thống với giá USD 30,000
3.1.1 Tình hình các vụ án liên quan tới bảo hộ quyền tác giả đối với CTMT
Một là bằng con đường dân sự. Thông thường các vụ án tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ thường được tiến hành thông qua còn đường dân sự là chủ yếu vì lúc này tác giả, chủ sỡ hữu bằng nhiều cách khác nhau đã thương lượng,hòa giải, khi phát hiện hành vi vi phạm quyền tác giả, thậm chí đã tiến hành biện pháp hành chính tức có yêu cầu khiếu nại lên cơ quan có thẩm quyền để xử phạt vi phạm hành chính như là một bước cảnh cáo nhưng bên vi phạm vẫn tiếp tục hành vi vi phạm, hoặc khi hai bên không đạt được sự đồng thuận. Điển hình như một vài vụ án sau đây:
- Vụ án 1 : Bản án số 09/2022/KDTM-PT
Tóm tắt tình tiết Vụ án xét xử tại Tòa Án Nhân Dân Cấp Cao tại TP.Hồ Chí Minh
Nguyên đơn là công ty P là chủ sở hữu phần mềm máy tính CREO ELEMENT PRO 5.0 là ứng dụng cho nền tảng CAD/CAM 3D phục vụ cho mục đích sản xuất với độ chính xác cao. Để đảm bảo lợi ích lâu dài công ty đã đăng ký quyền tác giả với chương trình máy tính này, phiên bản đầu tiên là Pro/ Engineer wildfire 5.0 vào năm 2009. Sau đó được đổi tên thành CREO ELEMENT PRO 5.0 và có công khai ra công chúng, cả hai phiên bản này là một vì theo thời gian sẽ cần nâng cấp. Tuy nhiên Công ty TNHH Thiết Bị Giáo Dục H gọi là công ty H đã tự ý cài đặt phần mềm trái phép lên máy tính xách tay, máy tính để bàn nhằm phục vụ mục đích kinh doanh. Điều này đã gây thiệt hại về mặt vật chất cụ thể là USD 543,685 tương đương VND 12,631,977,290 đây là giá trị thị trường mà khi bán chương trình này thì chủ sở hữu sẽ thu về một khoản lợi nhuận tương ứng.
- Tuyên xử của Tòa Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 11, Điều 20 Nghị định 105/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ;
Mục B khoản IV Điểm 2.2 của Thông tư liên tịch số 02/TTLT-TANDTCVKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP ngày 03/4/2008 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ tại Tòa án nhân dân; Khoản 1 Điều 6; Khoản 1 Điều 22; Khoản 1, Khoản 1,2 Điều 202 Luật sở hữu trí tuệ 2005 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2019). Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
Khoản 1 Điều 6; Khoản 1 Điều 22; Khoản 1, Khoản 1,2 Điều 202 Luật sở hữu trí tuệ 2005 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2019)
Điều 26 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổi sung năm 2014)
Buộc bị đơn Công ty TNHH Thiết bị Giáo dục H phải thực hiện những hành động sau: gỡ bỏ phần mềm CREO Element Pro 5.0 trên máy tính vi phạm, chấm dứt hành vi sao chép và sử dụng trái phép chương trình máy tính; thông báo xin lỗi công khai trên phương tiện báo Báo T trong ba kỳ báo liên tiếp.
Không chấp nhận yêu cầu của P khi buộc Công ty H tiêu hủy toàn bộ máy tính đã cài đặt phần mềm CREO Element Pro 5.0 vì Công ty H có hành vi vi phạm tại một máy tính và đây là hành vi sao chép để sử dụng, không vì mục đích sản xuất, kinh doanh. Bị đơn đã thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả gỡ bỏ phần mềm vi phạm theo quyết định hành chính của cơ quan có thẩm quyền. Nguyên đơn yêu cầu tịch thu, tiêu huỷ máy tính của bị đơn là không phù hợp với các quy định pháp luật đã viện dẫn trên nên không có cơ sở chấp nhận.
Không chấp nhận yêu cầu của P yêu cầu Công ty TNHH Thiết bị Giáo dục H bồi thường thiệt hại số tiền 543.685 USD (tương đương 12.631.977.290 đồng) vì nhân viên sử dụng phần mềm CREO Element Pro 5.0 trên máy tính của Công ty H chỉ dùng vào việc học tập thêm, không vì mục đích thương mại hay kinh doanh, lợi nhuận.
- Vụ án 2 : Bản án số 03/2023/KDTM-ST
Nguyên đơn : Công ty S Ông Anthony L– Chủ tịch và Tổng Giám đốc điều hành của Công ty S đã ủy quyền cho Ông Phạm Tuấn A tại Việt Nam để xử lý vụ kiện Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.
Bị đơn : Công ty T, Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đình T
- Tóm tắt tình tiết
Công ty S chủ sở hữu các phần mềm Siemens NX bao gồm nhưng không giới hạn các phiên bản sau NX5, NX6, NX8, NX9, NX10, NX11…Trong đó, phiên bản NX9 đã được đăng ký Quyền tác giả tại Hoa Kỳ như sau: Giấy chứng nhận quyền tác giả phần mềm NX( số Txu 1-883-621 do Văn phòng bản quyền tác giả Hoa Kỳ cấp ngày 25/9/2013). Đồng thời, phần mềm NX bao gồm NX9 được bảo hộ tại Việt Nam theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ, “Công ước Rome về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật năm 1971” và “Hiệp định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ năm 2001”. Đồng thời đã tiến hành. Trước đó, biên bản Thanh tra lập ngày 15/12/2016 của Đoàn thanh tra liên ngành của Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ Công an, có nên kết luận thanh tra số 114/KL-TTr là công ty T có hành vi sao chép, sử dụng trái phép các phần mềm không bản quyền, bao gồm: 01 bản phần mềm Siemens NX9.0.0.19 (phần mềm NX9) và đã công ty T đã thừa nhận và đóng phạt vi phạm hành chính. Sau đó, hai công ty đã tiến hành hòa giải thương lương nhưng không thành vì thế công ty S tiến tới bước khởi kiện ra tòa.
Công ty T đã biện hộ rằng những máy tính có cài phần mềm NX9 là mua từ doanh nghiệp cũ từ năm 2012 để chối bỏ hành vi vi phạm của mình. Tuy thế, công ty T đã mua máy tính từ năm 2012 tới khi bị kiểm tra thì là năm 2016 tức 4 năm trôi qua mà lại phủ nhận là không nắm thì không đúng. Bên cạnh đó, công ty T còn đăng tuyển dụng nhân viên biết sử dụng thành thạo phần mềm cơ khí như NX9. Điều nay thể hiện là công ty T đã có chủ ý sử dụng phần mềm nhưng không muốn trả phí quyền tác giả là hoàn toàn có căn cứ.
Công ty S đã buộc Công ty T bồi thường thiệt hại là 2.001.020.910 đồng(hai tỷ một triệu không trăm hai mươi nghìn chin trăm mười đồng) đấy chính là giá chuyển giao một bản phần mềm NX9 giới hạn theo 03 mô-đun ( tính năng sản phầm) có tính năng thiết kế sản phẩm, thiết kế khuôn mẫu và thiết kế gia công. Bên cạnh đó, tòa đã yêu cầu công ty S cung cấp các hợp đồng chuyển giao , hóa đơn bán hàng để thể hiện giá trị chuyển giao tương ứng với ba tính năng mà bên công ty S đã biện luận trước đó để thể hiện giá trị bồi thường thiệt hại mà bên T phải trả.
- Tòa tuyên xử Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.
Căn cứ khoản 2 Điều 30, khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39, Điều 227, điều 228, Điều 147, Điều 235, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 3, Điều 4, Điều 13, Điều 14, Điều 20, Điều 22, Điều 25, Điều 28, Điều 202, Điều 205 Luật sở hữu trí tuệ;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội 14 về án phí, lệ phí Tòa án.
Việc công ty T sử dụng phần mềm NX không giấy phép là hành vi vi phạm quyền tác giả buộc công ty T công khai xin lỗi trên báo Tuổi trẻ, Báo Nhân Dân trong ba số liên tiếp
Buộc công ty T bồi thường thiệt hại 2.001.020.910 đồng (hai tỷ một triệu không trăm hai mươi nghìn chin trăm mười đồng) như công ty S đã chứng minh.
Bị đơn là Công ty T phải chịu án phí là 44.001.020 đồng (bốn mươi bốn triệu một nghìn không trăm hai mươi đồng)
Vụ án 3 : Bản án số 54/2023/KDTM-PT37 Tóm tắt tình tiết
Vụ án xét xử tại Tòa Án Nhân Dân Cấp Cao tại TP.Hồ Chí Minh
Nguyên đơn: Công ty PTC Inc viết tắt là Công ty P1) tại Hoa Kỳ là chủ sở hữu quyền tác giả toàn quyền với tất cả các phần mềm và phiên bản phần mềm PTC Creo (tên lúc trước là: PRO/ENGINEER, Pro/E W) được khởi tạo và phân phối bởi Công ty P1, gồm cả phiên bản PTC Creo Parametric 3.0 được đăng ký bản quyền tại Hoa Kỳ theo Giấy chứng nhận TX 8-041-376.
Đoàn Thanh tra liên ngành đã kiểm tra 34 máy tính đang hoạt động tại Công ty TNHH C (sau đây viết tắt là Công ty C1- bị đơn) và phát hiện hành vi sao chép, sử dụng 01 bản phần mềm PTC Creo Parametric 3.0 mà không được phép và đã ban hành Quyết định số 20/QĐ- XPVPHC để xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty C về hành vi “Sao chép tác phẩm (chương trình phần mềm máy tính) mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả” với số tiền phạt 30.000.000 đồng. Đại diện bên công ty C đã ký vào biên bản phạt vi phạm hành chính và đã đóng phạt cũng như không có bất kỳ khiếu nại về biên bản này cho tới khi bị kiện ra toà.
Tại phiên cấp sơ thẩm, Công ty P1 yêu cầu Công ty C1 bồi thường giá chuyển giao công nghệ phần mềm PTC Creo Parametric 3.0 là 10.000.000.000 đồng. Ngược lại tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện của công ty P1 thay đổi yêu cầu buộc công ty C bồi thường là 2.184.019.500 đồng, dựa trên các hợp đồng thương mại đã từng thực hiện trước đây.
- Tuyên xử của Tòa Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.
Căn cứ quyết định vi phạm hành chính số 20/QĐ- XPVPHC đã có hiệu lực và bên công ty C đã thừa nhận cũng như đóng phạt đầy đủ. Khi ở tòa công ty C1 đã đề nghị hủy bỏ biên bản vi phạm hành chính đã có hiệu lực do hành vi cài đặt trái phép vào máy tính cá nhân của ông Đ chứ công ty C1 không có chủ trương sử dụng vì khác lĩnh vực Tuy thế do khi kiểm tra vi phạm hành chính thì ông Đ đang trong giờ làm việc của công ty và sẽ do công ty quản lý nên yêu cầu hủy bỏ biên bản vi phạm hành chính bị tòa bác bỏ.
Về việc bồi thường thiệt hại số tiền là 2.184.019.500 đồng thì công ty P1 dựa trên các hợp đồng thương mại chỉ mua các gói mô đun là một phần của phiên bản phần mềm. Cụ thể, hợp đồng kinh tế ngày 26/11/2019 được ký kết giữa Công ty TNHH P2 với Công ty TNHH S1 do nguyên đơn cung cấp (là chứng cứ chứng minh cho thiệt hại vật chất) thể hiện giá bán phần mềm PTC Creo Parametric – với thời hạn bản quyền tới ba năm với đơn giá là 2.184.019.500 đồng và được cài đặt vào các máy tính của Công ty S1 nhưng không nói rõ là cài cho bao nhiêu máy vi tính , và cài đặt nguyên bộ sản phẩm PTC Creo Parametric hay chỉ một vài phần của PTC Creo Parametric và phiên bản 2016 hay phiên bản sau 2016. Còn trường hợp của bị đơn chỉ cài đặt phần mềm PTC Creo Parametric 3.0 (phiên bản 2016) vào duy nhất 01 máy tính (User name Bùi Anh Đ) thì đúng vào ngày 01/8/2018 đến ngày 05/3/2019 bị thanh tra phát hiện lập biên bản nên việc nguyên đơn cung cấp hợp đồng kinh tế nêu trên để yêu cầu tuyên buộc bị đơn bồi thường thiệt hại với số tiền 2.184.019.500 đồng là không phù hợp, không có căn cứ chấp nhận. Vì nguyên đơn không chứng minh được thiệt hại vật chất thực tế xảy ra nên Tòa án sơ thẩm nên tuyên bị bi đơn chịu phạt số tiền là 500,000,000 đồng theo điểm c khoản 1 Điều 205 Luật sở hữu trí tuệ và xin lỗi công khai ba kỳ liên tiếp trên ít nhất ba tờ báo của Việt Nam căn cứ khoản 2 Điều 20 Luật sở hữu trí tuệ.
- Hai là bằng con đường phạt vi phạm hành chính
Sau đây là một vài vụ phạt vi phạm hành chính điển hình cho hành vi sử dụng chương trình máy tính vi phạm bản quyền khi bên bi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp có đơn tố cáo theo Thanh tra của Bộ Khoa học và Công nghệ:
Quyết định 70/QĐ-XPHC : Autodesk Asia Pte Ltd đã có đơn tố cáo Cty TNHH Quả trứng thủy tinh sử dụng phần mềm vi phạm bản quyền. Cụ thể, Thanh tra Bộ Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch có kết luận sau khi kiểm tra 150 máy tính đang sử dụng tại công ty là một số phần mềm đã được sao chép, cài đặt, sử dụng các chương trình máy tính mà không xin phép của chủ sở hữu, gồm: 63 chương trình Autodesk 3dsMax 8, 101 chương trình Autodesk Max 9, 83 chương trình Autodesk 3ds Max 2008, 93 chương trình Autodesk Maya 2008, 43 chương trình từ điển Lacviet. Với chứng cứ thu thập được thì Công ty TNHH Quả Trứng Thủy Tinh sẽ bị xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa- thông tin theo quyết định 70/QĐ-XPHC của Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao, Du lịch ngày 22/10/2008 Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.
Quyết định 71/QĐ-XPHC với số tiền 10 triệu đồng: Autodesk Asia Pte Ltd đã có công văn tố cáo Công ty TNHH Kumho Asiana Plaza Saigon đã xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Theo Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch bằng việc sao chép, cài đặt, sử dụng các chương trình phần mềm máy tính mà không được phép của chủ sở hữu, gồm: 04 phần mềm Window XP; 04 phần mềm Microsoft Office 2003, 02 phần mềm mtd2002, 02 phần mềm bộ gõ Vietkey.
Quyết định 72/QĐ-XPHC với số tiền 15 triệu đồng : theo kết luận của Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đối với Văn phòng Nhà thầu Kumho Engineering Construction khi nhận được đơn tố cáo của Autodesk Asia Pte Ltd thì Văn phòng.
Nhà thầu Kumho Engineering & Construction đã sao chép, cài đặt, sử dụng các chương trình phần mềm máy tính mà không được phép của chủ sở hữu, gồm: 18 phần mềm Window XP; 18 phần mềm Microsoft Office 2003, 17 phần mềm Autocad 2007 Quyết định số 89/QĐ-XPVPHC vớ số tiền 15 triệu đồng: Microsoft Operations Pte.Ltd (thông qua Văn phòng Luật sư Phạm và Liên danh – là đại diện pháp lý tại Việt Nam) đã có công văn đến Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề nghị xử lý Công ty TNHH Điện tử ASTI Hà Nội. Sau khi thanh tra thì có kết luận như sau 42 máy tính tại công ty ASTI Hà Nội đã sao chép, cài đặt, sử dụng các chương trình phần mềm máy tính mà không được phép của chủ sở hữu, gồm: 40 chương trình Windows XP Profesional 2002; 42 chương trình Microsoft Office 2003; 34 chương trình mtd 2002 và 30 bộ gõ Vietkey.
Quyết định số 20/QĐ-XPVPHC thuộc Bản án số 54/2023/KDTM-PT ngày 15/6/2023: Thanh tra Bộ đã phạt công ty C 30 triệu đồng về hành vi sao chép tác phẩm (chương trình phần mềm máy tính) mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả và buộc tháo gỡ bỏ phần mềm vi phạm ra khỏi máy tính.
3.1.2 Đánh giá thực tiễn bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.
3.1.2.1 Những ưu điểm
Chiến lược Sở hữu trí tuệ đến năm 2030 ban hành kèm theo Quyết định số 1068/QĐ-TTg ngày 22 tháng 8 năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ đã khẳng định quan điểm “Chính sách sở hữu trí tuệ đối với quyền tác giả, quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng là một bộ phận không thể tách rời trong chiến lược, chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của quốc gia và các ngành, lĩnh vực.” Bên cạnh đó, chiến lược cũng chỉ ra nhiều giải pháp để bảo vệ quyền SHTT, trong đó nhấn mạnh biện pháp: “Nghiên cứu, đề xuất chế tài xử lý các hành vi xâm phạm sở hữu trí tuệ đủ sức răn đe và chú trọng chống hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ; Tăng cường kiểm tra, kiểm soát và xử lý nghiêm các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trong môi trường kỹ thuật số.Nâng cao hiệu quả thực hiện biện pháp kiểm soát hàng hóa xuất, nhập khẩu liên quan đến sở hữu trí tuệ; Tích cực và chủ động phát hiện, phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm về sở hữu trí tuệ; nâng cao hiệu quả công tác điều tra các vụ án hình sự về sở hữu trí tuệ.Khuyến khích giải quyết các tranh chấp về sở hữu trí tuệ bằng hình thức trọng tài, hòa giả”
Những quan điểm, giải pháp nêu trên cho thấy quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước trong phát huy tối đa nguồn lực SHTT để phát triển kinh tế, đồng thời cũng tăng cường bảo vệ quyền SHTT tạo động lực sáng tạo. Qua một số hành vi vi phạm điển hình nêu trên có thể thấy Luật SHTT của Việt Nam đã đảm bảo được tính công bằng cho tác giả, chủ sở hữu và công chúng. Nếu ai sai thì sẽ phải gỡ cài đặt và công khai xin lỗi, nếu những yêu cầu bồi thường không hợp lý thì sẽ bị bác để tránh việc bên nguyên đơn có thể dùng vũ khí hóa bản quyền để chèn ép hay bồi thường những điều không hợp lý khi không có bằng chứng cụ thể. Bên cạnh đó, những biện pháp về dân sự và hình sự cũng đã được áp dụng trong giải quyết vụ án khi có sự cố một cách triệt để.
Về bồi thường thiệt hại thì luật luôn quy định cụ thể là các bên bị hại phải chứng minh rõ ràng theo điều 205 căn cứ xác định mức bồi thường thiệt hại, và một căn cứ để dễ xác định nhất chính là hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng, hoặc các hóa đơn bán hàng sẽ thể hiện giá trị cho mặt hàng của bên bị hại đã từng bán cho những đối tác khác thi nay mặt hàng này lại bị người khác xâm hại và đây sẽ là căn cứ chuẩn để yêu cầu bồi thường thiệt hại. Có thể hiểu là bên bị hại gọi tắt là bên A bán phần mềm tri giá 5 triệu đồng cho bên B và sau đó bên C tìm cách sao chép phần mềm này để sử dụng không giấy phép. Bên A khởi tố với tòa đòi bên C bồi thường thiệt hại với chứng từ thanh toán là hóa đơn trị giá 5 triệu đồng và đây là căn cứ để tòa tuyên bên C phải trả.
Đa phần những vụ án tranh chấp về sở hữu trí tuệ liên quan tới chương trình máy tính là hành vi sao chép sử dụng bất hợp pháp các phiên bản không có bản quyền. Đây là thực trạng đáng báo động khi ý thức về bản quyền chưa được công đồng hiểu một cách rõ ràng vì chỉ nghĩ để việc sử dụng không phép để tạo ra lợi nhuận cho chính mình nhưng lại quên đi công sức thành quả mà người khác. Bên cạnh đó, hành vi cài mã độc tấn công vào hệ thống máy tính của tác giả, chủ sỡ hữu nhằm chiếm đoạt mã nguồn hay quyền truy cập vào mã nguồn để trục lợi cũng là hành vi đáng lên án. Bằng sự hỗ trợ về mặt luật pháp khi khuyến khích tác giả, chủ sở hữu chủ động có những biện pháp tự bảo vệ bằng công nghệ, hay nhờ vào bên cung cấp dịch vụ trung gian hỗ trợ ngăn chặng việc rò rỉ cái CTMT bị tấn công đánh cấp để truyền tai dữ liệu ra ngoài là một điều hết sức hoan nghênh.
Biện pháp hành chính được xem là một một bước đệm khi trước đó chính tác giả, chủ sở hữu đã sử dụng biện pháp công nghệ để bảo vệ tác phẩm của mình và đã phát hiện được hành vi cài đặt CTMT trái phép trên các thiết bị máy tinh xách tay, máy tính để bàn và từ đó thực hiện từng bước như khiếu nại lên Cục Bản quyền tác giả thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch hoặc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để các cơ quan tiến hành thanh tra chuyên ngành và ra các quyết định xử phạt vi phạm hành chính cho đối tượng vi phạm để cảnh cáo, răn đen trước khi bên bị vi phạm tiến hành các bước tố tụng nếu tình hình vi phạm không cải thiện. Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.
VBHN về Luật SHTT năm 2022 đã có những tiến bộ khi ghi nhận việc sao chép tạm thời nếu theo một quy trình công nghệ và bản sao này tự động bị xóa bỏ không thể khôi phục lại vẫn không bị cho vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Nếu như trước đây không có quy định này thì hành vi sao chép sẽ bị đánh đồng là vi phạm quyền sở hữu trí tuệ thì là điều chưa đúng.
3.1.2.2 Nhược điểm
Thời đại kỹ thuật số mở ra kỷ nguyên phát triển của loài người tạo ra những phát kiến thay đổi về đời sống xã hội, nhận thức. Trong triết học luôn có một khái niệm là hai mặt đối lập tồn tại khách quan trong tự nhiên và xã hội luôn tại song song nhau, đối lập nhau tức xã hội phát triển như đã nói ở trên thi còn người cũng được hưởng lợi nhưng mặt trái là tội phạm cũng vì thế mà tự nâng cấp bản thân bằng việc sử dụng công nghệ cao để tiếp cận các CTMT để sao chép mã nguồn và bán để trục lợi. Chính vì thế hai mặt đối lập này tuy khác biệt nhưng vẫn ở trong một thế thống nhất là quá trình phát triển xã hội nên tội phạm càng phát triển thì luật ban hành càng phải nâng cấp theo để bắt kịp sự thay đổi.
Đạo đức kinh doanh, nhất là tính trung thực, liêm chính và có trách nhiệm đối với công việc sản xuất, kinh doanh và đối với xã hội; sự tôn trọng quyền con người, tôn trọng hiến pháp và thượng tôn pháp luật chưa được đề cao. Một số doanh nhân đã lợi dụng kẽ hở của pháp luật để làm giàu bất chính, xem nhẹ trách nhiệm của mình đối với xã hội nên đã vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Hầu hết các vụ án phạm các tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng thì người phạm tội đều là những người vi phạm nghiêm trọng đạo đức kinh doanh, coi thường pháp luật, đề cao lợi nhuận, kiếm tiền bằng mọi giá.
Mã nguồn mở là một kho tài nguyên quí giá vì ở đó tác giả có ý định làm vì cộng đồng và không phải trả phí bản quyền. Tuy nhiên lại bị người khác lạm dụng không nêu tên tác giả mà sao chép và làm một CTMT phái sinh khác. Vì thế tình huống sản phẩm iCMS tại cuộc thi Trí Tuệ Việt Nam như đã nêu ở trên đã khiến ban giám khảo lúng túng trong cách giải quyết vì không có luật điều chỉnh và tới bây giờ khi VBHN về Luật SHTT năm 2022 ra đời nhưng mã nguồn mở vẫn chưa được định nghĩa và ghi trực tiếp vào luật.
Về tranh chấp về quyền tác giả khi một tác phẩm được tạo ra do trí tuệ nhân tạo không có sự can thiệp của con người thì hiện tại vẫn chưa có sự ghi nhận nào tại Việt Nam, ngoài các vụ án ở nước ngoài. Tuy thế, ta vẫn sẽ không thể tránh khỏi dòng chảy của sự phát triển khi chủ thể AI này đang ngày càng phát triển thi việc chuẩn bị một tâm thế cũng như nghiên cứu học tập các nước tiên tiến để có sự thay đổi kịp cho luật là điều cần thiết.
3.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.
3.2.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật
Một là cân bằng lợi ích giữ các chủ thể. CTMT là sản phẩm của trí tuệ trong thời đại số thuộc về một tài sản vô hình nhưng đem lại giá trị lợi nhuận cao vì tính ứng dụng cho sự phát triển của khoa học công nghệ mà một đất nước muốn hiện đại hóa thì sẽ cần tới. Vì thế việc ra đời VBHN về Luật SHTT năm 2022 như là một bước dần hoàn thiện để tăng cường bảo hộ QTG đối với CTMT trong thời đại mà sự thay đổi về công nghệ rất nhanh, các nhân tố mới luôn xuất hiện Tuy nhiên, nếu chỉ hướng tới mục đích bảo vệ QTG thì sẽ dễ bị tác giả, chủ sở hữu tập trung thiết lập, khai thác và bảo vệ quyền của mình một cách tuyệt đối mà không quan tâm đến lợi ích chung của xã hội đó gọi là lạm dụng độc quyền, điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến phát triển chung của xã hội. Ngược lại, nếu mọi người trong xã hội chỉ biết khai thác để hưởng lợi mà không chia sẻ, bù đắp chi phí một cách chính đáng cho tác giả, chủ sở hữu QTG thì sẽ không khuyến khích được sự sáng tạo và như vậy sẽ không thúc đẩy được sự phát triển của xã hội. Để cân bằng được lợi ích đôi bên thì đòi hỏi nhà nước với vai trò là cơ quan quản lý chính cần đề ra các quy định nhằm tạo ra điều kiện tốt nhất đảm bảo hài hòa lợi ích của chủ sở hữu, tác giả đối với CTMT. Sự hài hòa này phải vừa đảm bảo lợi ích của người sáng tạo, người sở hữu tức tạo ra môi trường pháp lý để bảo vệ quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả vừa đảm bảo việc khai thác tác phẩm mang tính đại chúng, đây là tiền đề cho sự phát triển kinh tế tri thức. Sự bảo vệ này cần phải được xem xét khi có bất kỳ tranh chấp nào để xem liệu có hợp lý hay là lợi dụng sự độc quyền này để làm vũ khí chèn ép ngăn chặng việc tiếp cận tri thức một cách hợp pháp. Đây là lúc vai trò của Nhà nước sẽ cần thiết để cân bằng.
Hai là nâng cao ý thức tự bảo vệ quyền. Phòng bệnh hơn chữa bệnh là câu châm ngôn nên thuộc lòng đối với tác giả, chủ sở hữu vì họ là người đầu tiên sáng tác, tiếp cận được tác phẩm gốc khi CTMT là một dạng dễ bị xâm hại thông qua máy tính có kết nối internet, các tin tặc có thể cài mã độc để đánh cấp mã nguồn của chương trình nếu không có các biện pháp phòng ngừa chống thâm nhập vào các file trong máy tính nếu máy tính lỡ bị nhiễm virus hoặc ngăn ngừa trước các đường link giả mạo, những trang web có khả năng cài mã độc và tự tải về thì một chương trình chống virus chống thâm nhập từ bên ngoài, mã hóa tập tin nếu máy tính đã bị nhiễm virus cũng có thể cô lập tập tin vào vùng an toàn,… và còn nhiều kỹ thuật phong ngừa mang tính công nghệ khác nữa và đều được xem như biện pháp công nghệ hữu hiệu phòng bị là tấm khiên chặn thâm nhập. Kết hợp các biện pháp dân sự, hình sự, hành chính…để gia tăng thêm sức mạnh bảo vệ cho “đứa con tinh thần” của mình.
Ba là, chính sách khuyến khích dùng CTMT có bản quyền. Khi một doanh nghiệp mới thành lập thì cần có chính sách khuyến khích doanh nghiệp sử dụng phần mềm có bản quyền như ưu đãi về thuế trong một thời hạn nhất định kể từ khi thành lập nhưng vẫn phải có công tác hậu kiểm để đảm bảo doanh nghiệp đã thực hiện như đúng cam kết. Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.
Bốn là, chính sách pháp luật trong trong thời đại mới cần phải có cơ chế thử nghiệm để hoàn thiện và mang tính dự báo. Công nghệ ngày càng thay đổi làm xuất hiện các nhân tố mới (trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn,…) đã thay đổi cách nhìn nhận về quyền sở hữu trí tuệ đối với những nhà lập pháp trên thế giới khi vẫn từng bước thăm dò và thận trọng khi ra quyết định. Và Việt Nam cũng sẽ không thể nằm ngoài dòng chảy này, bất kỳ sự thay đổi nào quy định của luật đều sẽ thay đổi về mọi mặt trong đời sống và nhận thức của công đồng khi chưa thể xác đinh cũng như chưa tiên liệu được những rủi rỏ và đánh giá tác động thì cơ chế thử nghiệm trong một phạm vi mang tính cục bộ sẽ như là bước kiểm nghiệm trước khi ban hành một cách chính thức quy định có tính giá trị toàn quốc. Cơ chế thử nghiệm có thể là chọn một khu vực mà có hàm lượng về công nghệ cao của cả nước nơi có các trụ sở của công ty công nghệ chẳng hạn như tại Thành phố Hồ Chí Minh…để triển khai. Song song đó, ta có thể tham khảo các cơ chế thử nghiệm của các nước khác để học hỏi và đối chiếu với thực tại nơi dự tính thí điểm để tìm ra được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức khi triển khai thí điểm vì các nước đi trước là tấm gương để ta học hỏi được kinh nghiệm, giúp tiết kiệm được quốc lực.
3.2.2 Kiến nghị để hoàn thiện các quy định pháp luật
Luật sở hữu trí tuệ cần thống nhất thuật ngữ. Cụ thể tại khoản 2 Điều 198b và điểm c khoản 1 Điều 25 vẫn đang sử dụng từ “biện pháp kỹ thuật” nhưng nội hàm là mục đích là bảo vệ quyền tác giả, trong khi ở khoản 10b Điều 4 biện pháp công nghệ bảo vệ quyền là biện pháp sử dụng bất kỳ kỹ thuật, công nghệ… tức mang hàm ý nghĩa bao quát hơn biện pháp kỹ thuật. Vi thế cần dùng chung một thuật ngữ là biện pháp công nghệ cho khoản 2 Điều 198b và điểm c khoản 1 Điều 25.
Tại điều 61 Luật SHTT năm 2022 thì sáng chế được xem là có trình độ sáng tạo nếu căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đã được bộc lộ công khai, đồng thời nếu có tính mới khi sáng chế này chưa bi bộc lộ công khai và chưa ai đăng ký trước đó cho cả hai nơi là trong nước và ngoài nước. Nếu CTMT thỏa cả hai điều kiện trên đều có tính mới, đều có tính sáng tạo thì cũng nên áp dụng dụng bằng sáng chế vì nếu áp dụng theo QTG thì vẫn chưa đủ vì về cơ bản bảo vệ QTG thì áp dụng chủ yếu cho tác phẩm viết, văn học nghệ thuật nhưng CTMT là một kiểu thể hiện ngôn ngữ dưới dạng hình thức khác là các dòng lệnh. Trong khi để có thể cải tiến trình độ kỹ thuật thì CTMT cần cài vào một thiết bị vật lý để thực thi công việc giúp tạo đột phá. Trong khi đó thì khoản 2 Điều 59 phủ định CTMT được bảo hộ theo dạng sáng chế. Những quy định bảo hộ CTMT theo QTG được xây dựng khi mà những tiến bộ kỹ thuật chưa vượt trội như hiện tại nên việc điều chỉnh thành một cơ chế riêng cho bảo hộ đối với CTMT vừa dưới dạng quyền tác giả vừa dưới dạng sáng chế để phù hợp với xu thế là điều cần thiết.
Hiện tại Luật Sở hữu trí của Việt Nam đã nội luật hóa theo các Hiệp định mà Việt Nam đã ký kết như TRIPS, Berne giúp cho việc hợp tác sâu rộng giữ các nước thành viên sẽ dễ dàng hơn, cũng như mở ra cơ hội bảo hộ quyền tác giả sẽ thuận lợi.
Tuy nhiên, TRIPS vẫn tạo ra một điều khoản mở khi cho phép các nước thành viên có thể tự mình tạo ra những quy định riêng để phù hợp việc quản lý điều hành vì thế việc học hỏi luật pháp của các nước tiên tiến cũng là một bước giúp kiện toàn Luật Sở hữu trí của Việt Nam như có nêu trong luận văn là sự xuất hiện của chủ thể mới là trí tuệ nhân tạo có khả năng tự tạo ra các tác phẩm khi đã tự học tập thông qua chương trình máy học từ nguồn cơ sở dữ liệu khổng lồ, hiện tại quy định này còn đang bỏ ngõ và mỗi nước lại có cách tiếp cận khác nhau tùy vào sự phát triển của xã hội từng nước, việc nghiên cứu sẽ giúp ich rất nhiều cho Việt Nam khi 5 năm, 10 năm và xa hơn nữa thì ta cũng đã có một sự chuẩn bị mà không bị bở ngỡ. Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.
Điều 63 Hiệp định TRIPS cũng yêu cầu luật quy định xét xử cần phải minh bạch nhưng hiện tại thì cơ sở dữ liệu này vẫn còn thiếu vắng cụ thể là ngay tại trang web most.gov.vn mục “Cơ sở dữ liệu thực thi quyền sở hữu trí tuệ” thì chỉ cập nhật tới năm 2010 và tới bây giờ thì không thể tra cứu thêm. Bên cạnh đó, thì căn cứ vào Quyết định số 970/QĐ-TTg có hiệu lực ngày 10 tháng năm 2020 ban hành danh mục bí mật nhà nước thuộc Tòa án nhân dân thì công bố bản án về vi phạm về quyền sở hữu trí tuệ, hay các xử phạt hành chính về vi phạm quyền sở hữu trí tuệ thì không nằm trong các cấp độ Tối mật, mật nên việc công bố là hoàn toàn phù hợp và cũng là cơ sở để răn đe cho những hành vi phạm quyền tác giả.
Đối với hình thức xử phạt vi phạm hành chính: Cần nâng cao mức phạt hành chính . Hiện nay mức xử phạt theo tại Điều 2 khoản 1 VBHN 380/VBHT-BVHTTDL năm 2022 tối đa là 500 triệu đồng đối với tổ chức và 250 triệu đồng đối với cá nhân với mức này thì vẫn chưa đủ sức ran đe do hành vi sử dụng chương trình máy tính có thể đem lại cho họ lợi nhuận cao để để bù đắp cho phần thiệt hại này. Vì thế, với mức phạt như trên thì chỉ nên áp dụng cho lần 1, lần 2 còn nếu từ lần thứ 3 trở đi thi nên phạt dựa trên lợi nhuận sau thuế và lợi nhuận này sẽ phạt dựa vào lợi nhuận nguyên một năm tức có thể lấy một năm lợi nhuận trước đó làm căn cứ xử phạt, mức phat sẽ dao động từ 1%-5%. Lợi nhuận sau thuế thường sẽ dùng để phân chia cổ tức, trích quỹ, tái đầu tư cho kỳ kinh doanh tiếp theo. Điều này sẽ làm tổ chức, cá nhân có ý định vi phạm cảm thấy bị ảnh hưởng đến lợi ích của họ nên phải cân nhắc thiệt hơn trước họ hành động.
3.2.3 Cần tạo một cơ chế bảo hộ riêng chương trình máy tính
Th.s Nguyễn Viết Giao39 đã từng có ý kiến trong luận văn như sau: “cần xây dựng quy định riêng về bảo hộ quyền tác giả đối với phần mềm máy tính, vì các quy định về bảo hộ QTG đối với PMMT hiện nay được quy định trong Luật SHTT là không phù hợp. Bởi việc bảo hộ QTG đối với PMMT là sự bảo hộ có tính đặc thù riêng, cần được xây dựng và điều chỉnh bởi những quy định có sự tương thích, phù hợp về lĩnh vực công nghệ khoa học, kỹ thuật chuyên biệt, để có cơ chế cũng như cách thức bảo hộ riêng cho phù hợp với đặc tính kỹ thuật, cả về thời gian bảo hộ cho phù hợp với tuổi thọ khai thác lợi ích kinh tế mà PMMT mang lại, cũng là để cho công chúng có thể tiếp cận được thành tựu khoa học của nhân loại, nhưng vẫn đảm bảo được quyền của tác giả, chủ sở hữu QTG.”
Trương Thị Tường Vi40 có ý kiến như sau: “Công nghệ phần mềm thay đổi rất nhanh, một CTMT tuy có nhiều giá trị hiện tại nhưng gần như chẳng làm được gì sau 5 năm, hệ điều hành cập nhật và thay đổi liên tục nhưng dù đã có tính tới yếu tố thay đổi trong tương lai thì sau vài năm vẫn nhà phát triển phần mềm sẽ phải bỏ dần các phiên bản cũ (không hỗ trợ nữa). Như vậy CTMT buộc phải thay đổi theo thời gian nên với quy định hiện tại thì nghiên cứu sinh cho rằng thời hạn bảo hộ gần như là vĩnh viễn đối với CTMT. Nhưng nếu xét về đặc thù vòng đời của CTMT như phân tích trên thì công ước Berne hay pháp luật của Mỹ, Việt Nam vẫn không dành quy định riêng về thời hạn bảo hộ rút ngắn lại cho CTMT hiện nay trong dự thảo về luật Sở hữu trí sửa đổi cũng không đề cập đến nội dung này dù các nghiên cứu tại Việt Nam như của Trần Văn Hải và Nguyễn Đình Huy đều thống nhất về việc phải rút ngắn lại thời gian bảo hộ xuống còn 25 năm. Vấn đề này theo nghiên cứu sinh câu trả lời ở chính ngay đặc điểm quá trình tạo ra CTMT hầu như vô hình với người sử dụng nên nếu hết thời hạn bảo hộ mà người chủ sở hữu QTG đối với CTMT không công khai cung cấp mã nguồn cho công chúng thì việc có quy định về thời hạn bảo hộ không có ý nghĩa gì. Các lập trình viên và các doanh nghiệp phần mềm đã tìm cách tiếp cận với mã nguồn với hình thức khác, đó là dịch ngược phần mềm mà không phụ thuộc vào thời hạn bảo hộ nên theo nghiên cứu sinh không cần thiết phải xác định phạm vi bảo hộ QTG về thời gian đối với CTMT vì không cần thiết” Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.
Như có trình bày ở những phần trên thì đang có xu hướng tạo cơ chế riêng hay cơ chế đặc thù cho loại hình CTMT vì đặc tính khác biệt liên quan tới công nghệ khác với tác phẩm văn học nghệ thuật. Tuy hai tác giả trên có ý kiến trái chiều về việc lập cơ chế riêng cho bảo hộ chương trình máy tính nhưng theo ý kiến của tác giả thì vẫn cần phải có vì hiện tại đã xuất hiện một nhân tố mới đó chính là trí tuệ nhân tạo có khả năng sáng tạo ra những tác phẩm, lập trình chương trình nhưng chưa chịu sự điều tiết của luật. Vì thế tác giả kiến nghị cơ chế riêng sau đây:
Một là, thay đổi định nghĩa về từ vựng. Quyền tác giả đối với CTMT thành quyền sở hữu trí tuệ đối với CTMT để ám chỉ một cái tên chung dịch sang tiếng Anh sẽ là Intellectual Property in Computer Program. Việc thay đổi tên sẽ là bước đệm để tích hợp các quyền đặc thù cho bảo hộ CTMT.
Hai là thời hạn bảo hộ cho CTMT cần phải rút ngăn lại vì hiện tại đang áp dụng là suốt cuộc đời tác giả và thêm 50 năm kế tiếp khi tác giả đã qua đời là quá dài trong khi CTMT đòi hỏi sự nâng cấp, phát triển liên tục qua thời gian giúp sản phẩm có thể hoạt động tốt hơn theo sự phát triển của khoa học công nghệ, và yêu cầu thực tiễn từ công việc ngày càng cao nếu thời hạn ban hộ dài khi tác giả đã mất thì người thừa kế của tác giả những người không có đóng góp gì cho sáng tạo lại được hưởng tiếp nối và có thể lợi dùng quyền này để chèn ép hay gọi là vũ khí hóa bản quyền thì công chúng sẽ khó mà được lợi.
Ba là, quy định trách nhiệm quản lý trí tuệ nhân tạo lập trình nên chương trình máy tính. Quy định vể trách nhiệm của lập trình viên và, chủ sở hữu đối với AI mà họ tạo nên vì AI mang tính ứng dụng cao vào đa dạng lĩnh vực và AI có thể là một trợ thủ hay là nguồn nguy hiểm tác động ngược lại xã hội. AI là một chủ thể hiện tại vẫn chưa được trao quyền tác giả nhưng những tác phẩm do chính AI tạo ra thì rất độc đáo và sáng tạo. Hiện tại thì đa số các học giả, nhà nghiên cứu thiên về trao quyền tác giả cho lập trình viên người đã viết nên chương trình như thế thì vẫn đúng, nhưng khi AI đã đủ “lông đủ cánh” tức đủ lượng kiến thức và sức mạnh của máy học đủ lớn giúp cho AI có cái gọi là suy nghĩ độc lập thì tự thân AI có thể viết nên một CTMT hoàn toàn mới chỉ cần một người ra yêu cầu. Điều này tương tự như một sinh viên khi đã được giáo viên cung cấp kiến thức chuyên ngành và sinh viên cũng tự học mày mò để tiếp thư kiến thức đó thì tới cuối khóa khi làm luận văn, đồ an tốt nghiệp lúc này là lúc những kiến thức và tư duy của sinh viên bộc phát để kiến tạo nên đề tài theo ý tưởng của mình một cách độc lập. Do đó, đề xuất của của tác giả là khi một CTMT được tạo ra từ AI thì sẽ ghi vào phần properties (thuộc tính) với những dòng thông tin sâu : một là “được tạo từ” tên của AI, tiếng anh sẽ dịch cho cụm từ này là “generated by” và thêm một dòng chữ bên dưới là AI này “được sáng tạo ra” tiếp nối chính là tên tác giả hay tên nhà lập trình viên, chủ sở hữu người mà đã có đăng ký quyền sở hữu trí tuệ. Hai dòng này vừa thừa nhận trao quyền tác giả cho tác giả và chủ sỡ hữu để họ được hưởng trọn vẹn quyền nhân thân và quyền tài sản. Bên cạnh đó, thì cũng thừa nhận là tác phầm do AI tạo ra chứ không phải do con người tạo ra. Sự rách ròi này sẽ giúp cho những sáng tạo độc lập của con người và AI có sự tách biệt và được thừa nhận. Đồng thời cũng sẽ là cách để các nhà lập pháp kiểm soát và buộc lập trình viên, chủ sở hữu phải có trách nhiệm khi tạo ra AI mà có hại cho công chúng.
3.2.4 Nâng cao nhận thức của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, và người sử dụng Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.
Một là, chiến lược giá cũng là một yếu tố giúp nâng cao nhận thức của người tiêu dùng đối với chương trình máy tính có bản quyền. Người dùng cuối có xu hướng so sánh và tính tổng giá thành khi để giúp cho chiếc máy tính của họ có thể vận hành ở mức bình thường thì cần phải có chương trình máy tính bản quyền cụ thể là chương trình điều hành máy tính window, và các ứng dụng thuần túy là MS office ( word, excel, powerpoint) được xem là cơ bản cho học sinh sinh viên và người đi làm phải sử dụng. Vì thế, các hãng sản xuất thiết bị di động và máy vi tính nên hợp tác với các nhà sản xuất phần mềm như Microsoft, winrar,… để tích hợp sẵn hệ điều hành cũng các phần mềm ứng dụng phổ biến có bản quyền để người dùng có thể sử dụng ngay khi mua mà không cần phải mua riêng lẻ. Việc làm này sẽ hạn chế người dùng cuối mua phần mềm lậu, vì sản xuất thiết bị số lượng lớn nên khi cài chương trình hàng loạt cũng giúp kéo giảm chi phí bản quyền. Hiện tại khi mua máy vi tính mới thì đã được cài sẳn win 11 home, những ai có nhu cầu nâng cấp thì có thể mua thêm bản pro nhưng bộ office thì người dùng vẫn phải bỏ tiền mua riêng nhưng thật chất là vẫn cần sử dụng phục vụ cho công việc. Việc hợp tác cái đặt các ứng dụng phổ biến thường sử dụng cần sự hợp tác giữa các doanh nghiệp và có sự trợ giúp của Chính phủ, vi dụ như cài sẵn phần mềm bản quyền thì sẽ được hưởng ưu đãi thuế giúp kích thích vừa nhu cầu sản xuất tăng lên, vi phạm bản quyền sẽ giảm xuống, khi doanh nghiệp bán được hàng nhiều thì lợi nhuận tăng thì thuế thu nhập doanh nghiệp cũng sẽ đóng cao hơn.
Hai là, tích cực tuyên truyền về ý thức bảo hộ quyền tác giả cho công dân thông qua các buổi hội thảo chuyên đề hoặc ngay trên chính nhà trường ở bậc phổ thông cũng như bậc đại học khi thường xuyên tổ chức các cuộc thi khoa học kỹ thuật đây là lúc mà vai trò sở hữu trí tuệ sẽ rất cần.
Ba là, hỗ trợ các hiệp hội về phổ biến kiến thức cho hội viên. Đoàn kết là sức mạnh bất kỳ cá nhân tổ chức trong mọi lĩnh vực ngành nghề đều sẽ có những người làm chung một lĩnh vực đó là nơi quy tụ những người chung chi hướng, chung một một mong muốn là phát triển lịnh vực của mình và được học hỏi, được ghi nhận những thành quả và cuối cùng là để bảo vệ cho quyền lợi của chính mình. Do đó, sự ra đời của hiệp hội xuất phát từ đó. Về mảng công nghệ thông tin phần mềm thì có Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ công nghệ thông tin Việt Nam -VINASA đại diện cho các doanh nghiệp, tổ chức trong lĩnh vực phần mềm và dịch vụ công nghệ thông tin tại Việt nam; rộng hơn nữa là có Liên minh phần mềm (BSA) nơi tập hợp những tên tuổi lớn trong ngành mang tính quốc tế. Đây sẽ là tổ chức xã hội ngành nghề có cái nhìn sâu rộng là kênh phổ biến kiến thức nhanh tới từng thành viên và sẽ là người hỗ trợ cho các thành viên khi có bất kỳ ai xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Bên cạnh đó, về mặt thống kê thì đây là một kênh hữu ích và kịp thời khi họ được sự hỗ trợ từ những thanh viên trong hiệp hội từ đó sẽ có những báo cáo chính xác phản ánh rõ thực trạng hiện tại mà các thành viên đang gặp phải để tìm ra giải pháp cũng như có các kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền. Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.
3.2.5 Tăng cường năng lực cho lực lượng thực thi bảo hộ quyền tác giả
Dưới sức ảnh hưởng của cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4, các nền kinh tế trên thế giới đang chuyển đổi mạnh mẽ, phương thức sản xuất và cấu trúc kinh tế đã và đang thay đổi sâu sắc. Cộng hưởng với sự phát triển như mạnh mẽ của internet, cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4 có tốc độ phát triển và lan truyền nhanh hơn rất nhiều các cuộc cuộc cách mạng công nghệ trước, loại bỏ nhiều rào cản mà các công nghệ thế hệ trước phải đối mặt, tạo cơ hội hiếm có cho nước đi sau. Vì thế, những năm qua Việt Nam luôn tích cực trong việc ký kết các hiệp định tương trợ tư pháp với các nước nhằm đạt được những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Vì thế hoàn thiện pháp luật về bảo hộ quyền tác giả đối với CTMT trong môi trường kỹ thuật số là một nhu cầu cấp thiết góp phần thúc đẩy mạnh hoạt động sáng tạo nhằm phát huy nội lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa nước nhà.
Các lực lượng thực thi luật SHTT Việt Nam cần hợp tác chặt chẽ với cơ quan cảnh sát quốc tế và khu vực để có sự hỡ trợ kịp thời ngăn chặn các hành vi xâm pham quyền sở hữu trí tuệ. Đồng thời tích cực tham dự các diễn dàn quốc tế về phòng chống tội phạm SHTT như một cách nâng cao nghiệp vụ và kinh nghiệm.
Nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, thẩm phán chuyên trách về sở hữu trí tuệ bằng việc tham dự các khóa đào tạo có hệ thống và bài bản và thường xuyên được tu nghiệp để theo kịp những kiến thức mới.
Xây dựng toà chuyên trách về sở hữu trí tuệ giúp đội ngũ xử án sẽ có chuyên môn sâu khi công nghệ ngày càng phát triển đặt ra những thách thức không nhỏ đối với bảo hộ quyền tác giả nói chung và bảo hộ quyền tác giả đối với CTMT nói riêng. Khi có tòa chuyên trách ta có thể đẩy mạnh việc hợp tác quốc tế với các nước khác để phối hợp trong điều tra xử lý, học hỏi kinh nghiệm. Nếu xét về mặt pháp lý thì hoàn toàn có thể lập tòa chuyên trách vì tại điểm b điều 30 Luật Tổ Chức Tòa Án Nhân Dân có nêu “Trường hợp cần thiết, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập Tòa chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao”. Vì những thuật ngữ pháp lý không dễ để hiểu nội hàm cũng như sự khác biệt về văn hóa và hệ thống luật như thông luật và dân luật sẽ ít nhiều gây ra sự lúng túng chưa tìm được sự dung hòa giữ những sự khác biệt. Do đó, trước khi toà chuyên trách được thành lập thì xây dựng đội ngũ cán bộ, thẩm phán có đủ năng lực ngoại ngữ, trình độ tin học để có thể tiếp thu các kiến thức, kinh nghiệm về sở hữu trí tuệ từ các nước tiên tiến là một bước tiên quyết.
Các cơ quan thanh tra và thực thi không chỉ kiểm tra tại chỗ mà còn cần áp dụng thêm biện pháp can thiệp từ doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian để nhanh chống loại bỏ hành vi tẩu tán chứng cứ xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ khi những người xâm phạm quyền có thể đánh cấp mã nguồn và truyền tai dự liệu thông qua mang internet hay nền tảng cloud và sau đó tải về một máy khác và xóa bỏ chứng cứ tại thiết bị có khả năng bị kiểm tra.
Số hóa cơ sở dữ liệu về SHTT thành một hệ thống có thể liên thông và đồng bộ giữa các cơ quan ban ngành điều này giúp các bộ thực thi liên ngành sẽ tra cứu thông tin nhanh chóng để rút ngắn thời gian thực hiện nghiệp vụ và có những biện pháp xử lý kịp thời. Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.
Những buổi chuyên đề giao lưu giữa cơ quan thực thi pháp luật Việt nam với các nước khác cần được khuyến khích là sân chơi giao lưu trao đổi những thực tiễn mà đôi bên gặp phải cũng như để có sự phối hợp với nhau khi có phát hiện hành vi phạm quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền tác giả nói riêng.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
VBHN của Luật SHTT năm 2022 và các văn bản dưới luật khác được ban hành là kim chỉ nam để áp dụng vào thực tiễn để xử lý các tranh chấp nói chung, và các vụ án liên quan tới sở hữu trí tuệ nói riêng. Tại chương 3 này sẽ giúp ta hiểu thực tiễn bảo hộ có những vấn để gì nổi bật mà thường xuyên diễn ra.
Thứ nhất, nêu lên một vài vụ án điển hình liên quan tới hành vi vi phạm quyền tác giả. Để có cái nhìn khách quan hiểu rõ về luật thực định thì bản án là một trong những nguồn hữu dụng để giúp tác gia hiểu rõ hơn cách mà cơ quan có thẩm quyền thực thi pháp luật ra sao cũng như cách mà doanh nghiệp phản ứng khi phát hiện hành vi vi phạm sở hữu trí tuệ.
Thứ hai, đánh giá thực tiễn chính là cách để giúp tác giả hiểu những cái ưu và khuyết chưa được là tiền đề để đưa ra các phương hướng hoàn thiện pháp luật. Cũng từ thực tiễn rút ra được hành vi sao chép, sử dụng chương trình máy tính không bản quyền là phổ biến nhất mà một số doanh nghiệp đang lợi dụng đây là hành vi thiếu đạo đức trong kinh doanh cần phải có những buổi tuyên truyền tập huấn đế nâng cao nhận thức hơn của doanh nghiệp.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.
Một tác phẩm ra đời là sự thể hiện một cách rõ nét trí tuệ của tác giả và sự đóng góp mà tác giả giành cho xã hội. Nhưng cũng chính những tác phẩm này là tầm ngắm của những kẻ muốn trục lợi bằng việc đánh cắp. Theo bình thường thì các tác phẩm sẽ được xuất bản ra bản giấy nếu là các phẩm phẩm viết, còn dưới dạng phần mềm hay chương trình máy tính thì sẽ được lưu trên đĩa CD và thông qua các trung tâm nhà phân phối được ủy quyền để bán tới người tiêu dùng tức tác phẩm lúc này tác phẩm đã được bán ra lần đầu tiên thì những lần tiếp theo chủ sở hữu sẽ không kiểm soát được việc khai thác của tác phẩm. Ở môi trường kỹ thuật số các tác phẩm dù là CTMT hay sách báo sẽ được sẽ được phân phối rất nhanh khi chỉ cần xác nhận đơn và thanh toán trực tuyến cho người bán, có thể kể đến Amazon nơi bán sách online dưới dạng PDF để có thể đọc trên máy tính bảng Kindle hay trên các thiết bị thông minh khác có hỗ trợ định dạng này. Bên cạnh các quy định bảo hộ mà cơ quan nhà nước ban hành như các quy định về quyền nhân thân, quyền tài sản nhưng điều này vẫn chưa đủ, những chế tài xử pháp cho hành vi xâm phạm bản quyền thì trước tiên nhất là tác giả cần chủ động bảo vệ cho chính mình trước khi cơ quan thực thi pháp luật tiếp nhận vụ án. biện pháp về công nghệ hay phối hợp cùng lúc nhiều biện pháp tự vệ khác nhau nhằm ngăn ngừa các cuộc xâm phạm bản quyền trong tương lai; biện pháp dân sự để xác định các thiệt hại kinh tế do hành vi xâm quyền gây ra, biện pháp hình sự để mang tính răn đe, biện pháp hành chính mang tính cảnh cáo. Dù áp dụng bất kỳ biện pháp nào thi cũng nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp cho tác giả và chủ sở hữu. Vì thế, qua luận văn này giúp làm rõ một số nội dung:
Thứ nhất, chỉ ra được đặc trưng, phân loại chương trình máy tính và hình thức bảo hộ hiện tại vì đây là một tác phẩm công nghệ đặc thù nên sẽ có một sự giao thoa về bảo hộ ở những khía cạnh khác nhau.
Thứ hai, chỉ ra được đối tượng bảo hộ, chủ thể của quyền tác giả, cũng nhưng những quyền thuộc về quyền tác giả.
Thứ ba, nêu lên được đặc điểm của bộ quyền tác giả, thòi hạn bảo hộ, giới hạn đối với quyền. Đồng thời, các biện pháp nào được áp dụng để áp dụng để xử lý vi phạm do cơ quan thực pháp luật áp dụng.
Thứ tư, nghiên cứu về luật bản quyền của đại diện hệ thống thông luật là Hoa kỳ và Vương Quốc Anh để thấy được mỗi nước sẽ có cách bảo vệ quyển tác giả chung và khác như thế nào. Và cách mà họ xem xét tác phẩm do trí tuệ nhân tạo tạo nên thì ứng xử ra sao.
Thứ năm, làm rõ các hành vi phổ biến trong việc xâm hại quyền tác giả đối với chương trình máy tính.
Thứ sáu, kiến nghị giúp kiện toàn luật SHTT của Việt Nam trong thời đại số như cần phải bảo giao diện CTMT (screen display) như mã máy và mã nguồn; mã nguồn mở cũng cần được nêu trong luật SHTT vì hiện tại đang nằm rải rải.
Cuối cùng, sở hữu trí tuệ là một lĩnh vực phức tạp đòi hỏi sự nghiên cứu sâu cũng như học hỏi kinh nghiệm các nước trên thế giới để tìm ra được đâu là quy định phù hợp đối với Việt Nam. Vì dù có tham gia các hiệp định quốc tế nhưng đó cũng chỉ là cái căn bản, quy định tối thiểu mà Việt Nam cần có tính tiếp biến để hòa nhập nhưng không hòa tan. Luận văn: Giải pháp pháp luật về bảo hộ quyền tác giả.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực tiễn pháp luật về bảo hộ quyền tác giả