Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại Hồ Chí Minh hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp – Tư thục tiễn Thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐÂU
1. Ly do chon đề tài
Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã không ngừng đẩy mạnh công cuộc xây dựng hướng đến hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Trong quá trình phát triển, đổi mới đất nước, hệ thống pháp chế của các cơ quan hành chính nhà nước đã được thay đổi để phù hợp với việc quản lý xã hội, đáp ứng cho công cuộc xây dựng đất nước hướng đến xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu quản lý hành chính đã được sửa đổi, tinh gọn bộ máy, giảm thiểu sự quan liêu, hướng đến xã hội văn minh, công bằng, dân chủ và phát triển. Công cuộc xây dựng cơ cấu cho các cơ quan hành chính mới không làm suy giảm quyền lực, không làm thay đổi nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước. Bên cạnh đó, địa vị pháp lý của các cơ quan ngày càng cao hơn và các cơ quan được tăng cường kiểm tra, giám sát đối với từng cá nhân, từng phòng, ban, sự phát triển các lĩnh vực trong thời sống xã hội rất cần thiết đường lối chỉ đạo đúng đắn của Đảng – Nhà nước và vai trò của các cơ quan hành chính tại cơ sở. Ngoài ra, địa vị đó được thể hiện trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật giúp ta hiểu và phân biệt được chức năng, quyền hạn, trách nhiệm của chủ thể đó so với chủ thể khác. Qua đó, có thể xem xét địa vị và có tầm quan trọng như thế nào của các chủ thể pháp luật với nhau.
Để tăng cường quản lý hành chính nhà nước bằng pháp luật và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân đòi hỏi phải cải cách nền hành chính và tư pháp sao cho phù hợp với những yêu cầu mới và nhiệm vụ mới của Ngành Tư pháp nói chung và Phòng Tư pháp quận, huyện nói riêng. Trong đó cần phải xác định rõ địa vị pháp lý để làm cơ sở cho việc củng cố tổ chức, xác định chức năng nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật trên từng địa phương. Do vậy, việc xác định địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp cấp quận, huyện là hết sức cần thiết và là nhiệm vụ trọng tâm của các cấp chính quyền và của Ngành Tư pháp. Luận văn: Địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại Hồ Chí Minh.
Thông tư 07/2020/TT-BTP ngày 21 tháng 12 năm 2020 của Bộ Tư pháp hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Sở Tư pháp thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Phòng Tư pháp thuộc ủy ban nhân dân cấp quận, huyện tiếp tục hướng dẫn xác định rõ mô hình tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của từng cá nhân tại các cơ quan tư pháp cơ sở. Trên cơ sở quy định này, Thành phố Hồ Chí Minh bước đầu triển khai có hiệu quả việc xác định tổ chức, địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp. Tuy nhiên, so với yêu cầu thì công tác này vẫn còn nhiều bất cập cần phải nghiên cứu để có giải pháp phù hợp. Vì vậy, việc nghiên cứu về địa vị pháp lý Phòng Tư pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh từ thực tiên nhằm thúc đẩy nhanh cải cách nền tư pháp hành chính trong địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hướng đến xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân là rất cần thiết cho sự phát triển của đất nước. Do đó, em lựa chọn đề tài: “Đia vi pháp ly cua Phong Tư pháp – Tư thưc tiên Thành phô Hô Chi Minh” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ Luật của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Sát với nội dung đề tài đã có một số đề tài, sách chuyên khảo, các luận văn theo các khía cạnh khác nhau:
Đề tài: “Mô hình tổ chức của Bộ Tư pháp và các cơ quan tư pháp địa phương giai đoạn 2011-2016, định hướng đến năm 2020”, TS Trần Văn Quảng, năm 2011. Đề tài đã tập trung đánh giá về thực trạng mô hình tổ chức của Bộ Tư pháp và các cơ quan tư pháp địa phương và đề xuất hoàn thiện mô hình tổ chức của Bộ Tư pháp và các cơ quan tư pháp địa phương đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của Ngành Tư pháp giai đoạn 2011-2016 và định hướng đến năm 2020 và kiến nghị các nội dung cụ thể nhằm hoàn thiện mô hình tổ chức của Bộ, Ngành Tư pháp như: Đẩy mạnh việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về xây dựng và thi hành pháp luật, tăng cường công tác thẩm định, kiểm tra, hệ thống hóa và pháp điển hóa văn bản quy phạm pháp luật, hướng mạnh vào việc tham mưu cho Chính phủ, Quốc hội, chính quyền địa phương xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch, khả thi, hiệu lực và hiệu quả; nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự, tiếp tục mở rộng và thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác thi hành án dân sự; tiếp tục thí điểm mô hình thừa phát lại tại một số tỉnh, thành phố lớn; … sửa đổi Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22/8/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tư pháp và Thông tư liên tịch số 01/2009/TTLT-BTP-BNV ngày 28/4/2009 của Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Phòng Tư pháp thuộc ủy ban nhân dân cấp quận và công tác tư pháp của ủy ban nhân dân cấp xã và các văn bản khác có liên quan đến tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp các cấp; … Luận văn: Địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại Hồ Chí Minh.
Đề tài “Hoàn thiện mô hình tổ chức của Bộ, Ngành Tư pháp giai đoạn 2021-2035 bảo đảm nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước”, TS Nguyên Quang Thái, năm 2020. Đề tài làm rõ những vấn đề lý luận về mô hình tổ chức của Bộ, Ngành Tư pháp; đánh giá đúng thực trạng thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mô hình tổ chức của Bộ, Ngành Tư pháp; xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mô hình tổ chức của Bộ, Ngành Tư pháp trong thời gian tới từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống tổ chức của Bộ, Ngành Tư pháp giai đoạn 2021-2035; xác định được mô hình của các đơn vị thuộc Bộ; các cơ quan tư pháp địa phương bảo đảm phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ, tình hình thực tế trong giai đoạn 2021-2035, bảo đảm phù hợp với yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao, phù hợp với chiến lược cải cách tư pháp, pháp luật, cải cách hành chính, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và hội nhập quốc tế nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Bộ, Ngành trong tình hình mới (trong đó có Phòng Tư pháp cấp quận).
“Biên niên lịch sử Bộ Tư pháp Việt Nam Tập 1 Tập 2 và Tập 3”, TS. Dương Thị Thanh Mai (Chủ biên), NXB Tư pháp, quyển sách nhằm giáo dục truyền thống cách mạng của Ngành Tư pháp, khơi dậy lòng tự hào, đề cao tinh thần trách nhiệm, tính chủ động, sáng tạo và trí tuệ của toàn thể cán bộ, công chức Ngành Tư pháp; đồng thời góp phần tuyên truyền trong nhân dân về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Ngành Tư pháp trong bộ máy nhà nước, hoạt động và những đóng góp của Ngành trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện nhiệm vụ được giao.
Ky yếu “Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh – 40 năm xây dựng và phát triển”, Ban Giám đốc Sở Tư pháp, in tại Công ty TNHH MTV Lê Quang Lộc (161 Lý Chính Thắng, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh). Ban Giám đốc Sở Tư pháp đã xây dựng tư liệu truyền thống về tổ chức và hoạt động của Sở Tư pháp Thành phố, giúp các công chức, viên chức, người lao động ôn lại quá trình hình thành và phát triển của Sở Tư pháp, xây dựng lòng yêu nghề, gắn bó với Sở, với Ngành, xác định mục tiêu và động lực phấn đấu, góp phần giữ vững truyền thống của Sở Tư pháp.
Sách “Ngành Tư pháp Việt Nam – 70 năm xây dựng và phát triển”, PGS.TS. Hà Hùng Cường – TS. Đinh Trung Tụng (Đồng chỉ đạo biên soạn), TS. Đặng Vũ Huân – ThS. Trần Hoàng Hưng (Đồng thực hiện biên soạn), Đinh Trung Tụng – Phan Chí Hiếu – Hoàng Sy Thành – Trần Tiến Dũng – Lê Thị Hoàng Yến – Dương Thị Thanh Mai – Trần Văn Quảng – Đặng Hoàng Oanh – Đàm Văn Tuấn – Đặng Vũ Huân – Nguyên Văn Hiển – Đỗ Xuân Lân (Hội đồng thẩm định theo Quyết định số 1333/QĐ-BTP ngày 16/7/2015 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp), NXB Tư pháp. Ân phẩm được biên soạn để nhắc nhớ về những chặng đường lịch sử hào hùng nhưng không ít thăng trầm mà Ngành Tư pháp đã trải qua, từ đó, khơi dậy lòng tự hào, đề cao tinh thần trách nhiệm, tính chủ động, sáng tạo và trí tuệ của toàn thể cán bộ, công chức, viên chức Ngành Tư pháp.
Luận văn Thạc sĩ “Tổ chức và hoạt động của Phòng Tư pháp từ thực tiên tỉnh Phú Yên”, Nguyên Quốc Tuấn, Ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính trường Đại học Trà Vinh 2020. Luận văn đã làm rõ những vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của Phòng Tư pháp, như: khái niệm, tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của Phòng Tư pháp; phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của Phòng Tư pháp, làm rõ những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng tổ chức và hoạt động của Phòng Tư pháp từ thực tiên tỉnh Phú Yên; đề xuất phương hướng, quan điểm và các giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Phòng Tư pháp tại tỉnh Phú Yên hiện nay.
Ngoài những công trình trên, em cũng nghiên cứu thêm đề tài “Thực trạng tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, các tổ chức nghề nghiệp trong lĩnh vực tư pháp phục vụ việc xây dựng chiến lược phát triển và quy hoạch tổng thể phát triển ngành tư pháp đến năm 2020”, GS, TS Lê Hồng Hạnh, năm 2011. Luận văn: Địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại Hồ Chí Minh.
Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học nêu trên đã được sử dụng để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài địa vị pháp lý Phòng Tư pháp từ thực tiên Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, các đề tài trên mới chỉ tập trung nghiên cứu, đề xuất từng lĩnh vực cụ thể liên quan đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Bộ, Ngành Tư pháp (như vấn đề phân cấp quản lý; hệ thống tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp địa phương, bán đấu giá tài sản, …), chưa đi sâu, làm rõ địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp gắn với yêu cầu cải cách tư pháp, nhất là yêu cầu tinh giản tổ chức bộ máy, biên chế của Đảng và Chính phủ hiện nay.
Một số đề tài liên quan trực tiếp đến nội dung nghiên cứu của đề tài như đề tài: “Mô hình tổ chức của Bộ Tư pháp và các cơ quan tư pháp địa phương giai đoạn 2011-2016, định hướng đến năm 2020”, của TS Trần Văn Quảng, năm 2011, hay đề tài: “Hoàn thiện mô hình tổ chức của Bộ, ngành Tư pháp giai đoạn 2021-2035 bảo đảm nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước” của TS Nguyên Quang Thái, năm 2020 nhưng có đề tài được nghiên cứu trước năm 2013, trước thời điểm Hiến pháp năm 2013 được ban hành, có đề tài nghiên cứu ở cấp độ vĩ mô trong khi đó một cấp độ như Phòng Tư pháp lại chưa được xác định thật rõ địa vị pháp lý. Do đó, đề tài của em nghiên cứu sẽ góp phần giải quyết về những vấn đề còn vướng mắc, những khoảng trống qua sự đóng góp mới mẻ của đề tài này cho vấn đề nghiên cứu. Vì vậy, đề tài nghiên cứu “Đia vi pháp ly cua phong Tư pháp – Tư thưc tiên Thành phô Hô Chi Minh” mang tính cấp thiết và có nghĩa cả về lý luận và thực tiên.
3. Mục đich và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đich nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của luận văn là bảo đảm hiệu quả việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng Tư pháp và đề xuất một số giải pháp để góp phần duy trì, bảo đảm địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận về địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp – Từ thực tiên Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đánh giá thực trạng về đảm bảo địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp – Từ thực tiên Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó rút ra những nhận xét đánh giá về kết quả đạt được; hạn chế còn tồn đọng.
- Đề xuất các giải pháp đảm bảo địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp – Từ thực tiên Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới.
4. Đôi tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
- Đôi tượng: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiên về đảm bảo địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp – Từ thực tiên Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi nghiên cứu đề tài:
- Về nội dung: Luận văn tập trung đánh giá việc đảm bảo địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp – Từ thực tiên Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu vấn đề đảm bảo địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp – Từ thực tiên Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về thời gian: Luận văn đánh giá thực trạng đảm bảo địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp – Từ thực tiên Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2020 đến cuối năm 2023 và đề xuất giải pháp cho thời gian tới.
5. Phương pháp nghiên cứu cua luận văn Luận văn: Địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại Hồ Chí Minh.
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – LêNin; Tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng, Nhà nước về đảm bảo địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp – Từ thực tiên Thành phố Hồ Chí Minh và sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê.
6. Y nghĩa ly luận và thưc tiên
Y nghĩa ly luận: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần bổ sung, hoàn thiện và làm phong phú thêm lý luận đảm bảo địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp – Từ thực tiên Thành phố Hồ Chí Minh.
Y nghĩa thưc tiên: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ thực tiên đảm bảo địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp – Từ thực tiên Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay; đồng thời những quan điểm, giải pháp được đề xuất trong luận văn là những tham vấn cho những nơi khác của Việt Nam có thể nghiên cứu, áp dụng vào thực tiên nhằm nâng cao chất lượng đảm bảo địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp – Từ thực tiên Thành phố Hồ Chí Minh.
7. Kết cấu cua luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được thiết kế thành 03 chương:
- Chương 1: Cơ sở ly luận về đia vi pháp ly cua phong tư pháp
- Chương 2: Thưc trạng đia vi pháp ly cua phong tư pháp tư thưc tiên thành phố Hồ Chí Minh
- Chương 3: Quan điểm, Giải pháp bảo đảm đia vi pháp ly cua phong tư pháp tư thưc tiên thành phố Hồ Chí Minh
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LY LUẬN VỀ ĐIA VI PHÁP LY CUA PHONG TƯ PHÁP
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai tro đia vi pháp ly cua Phong Tư pháp
1.1.1. Khái niệm đia vi pháp ly cua Phong Tư pháp
Địa vị pháp lý là tổng thể về các quyền và nghĩa vụ của chủ thể pháp luật, chúng phản ánh về vị trí, vị thế tư cách pháp lý của chủ thể ấy trong các mối quan hệ pháp luật. Địa vị pháp lý (tư cách pháp lý) của một chủ thể được thể hiện ở vị trí, vai trò của một chủ thể trong quan hệ pháp luật và gắn liền theo nó là quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý phát sinh, ràng buộc, xác định quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, là căn cứ xem xét và xử lý những mâu thuẫn, xung đột và tranh chấp pháp lý, là căn cứ để thực hiện quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của một tổ chức/cá nhân trong một mối quan hệ pháp luật xác định. Để xác định và định nghĩa được địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp, chúng ta tìm hiểu định nghĩa về “địa vị pháp lý”. Theo từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Đà Nẵng 2008, “địa vị” có nghĩa là vị trí trong quan hệ xã hội, kinh tế, chính trị do vai trò, tác dụng mà có; “pháp lý” có nghĩa là “lý luận, nguyên lý về pháp luật”. Địa vị pháp lý là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với những chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định pháp luật. Địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật thể hiện thành một tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của mình. Thông qua địa vị pháp lý có thể phân biệt chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật khác, đồng thời, cũng có thể xem xét vị trí và tầm quan trọng của chủ thể pháp luật trong các mối quan hệ pháp luật.
- Vậy, đia vi pháp ly cua Phong Tư pháp là gì? Luận văn: Địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại Hồ Chí Minh.
Trong bộ máy nhà nước, ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc thành phố là cơ quan chấp hành chính của Hội đồng nhân dân cùng cấp, chịu trách nhiệm, thực hiện chức năng quản lý nhà nước tại cơ sở, lấy Hiến pháp, pháp luật và các văn bản hướng dẫn theo từng lĩnh vực do Chính phủ, Bộ ban hành làm cơ sở để dựa vào, để thực thi pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi cá nhân, tổ chức, đề ra các giải pháp phát triển, đẩy mạnh kinh tế – xã hội, nâng cao, củng cố quốc phòng – an ninh, giảm đến mức thấp nhất các tệ nạn xã hội có thể xảy ra tại địa phương.
Là một bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu của cơ quan nhà nước tại địa phương, Phòng Tư pháp được tổ chức, thành lập một cách thống nhất trên phạm vi toàn đất nước. Bên cạnh việc chịu sự quản lý về tư pháp của ủy ban nhân dân quận, huyện thì Phòng Tư pháp cũng chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ về các lĩnh vực, các mảng tư pháp của Sở Tư pháp tỉnh, thành phố theo quy định của pháp luật đã ban hành. Phòng Tư pháp có chức năng soạn, tham mưu văn bản, tư vấn pháp luật, giúp cơ quan mà mình chịu sự quản lý trực tiếp là ủy ban nhân dân quận, huyện thực hiện những chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực tư pháp: công tác xây dựng văn bản pháp luật, trợ giúp về pháp lý cho người dân, … và chịu trách nhiệm thực hiện một số nhiệm vụ, chức năng, quyền hạn có liên quan trong lĩnh vực.
Theo quy định của pháp luật, địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp được xem là vị trí, vai trò, nhiệm vụ, chức năng, quyền hạn của đơn vị trong mối quan hệ so với các chủ thể pháp luật khác trong bộ máy hành chính nhà nước. Địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp được xác định trong mối quan hệ chiều ngang và chiều dọc. Phòng Tư pháp không chỉ chịu sự quản lý toàn diện từ ủy ban nhân dân quận, huyện mà còn chịu sự hướng dẫn, chỉ đạo của Sở Tư pháp theo ngành dọc.
1.1.2. Đặc điểm đia vi pháp ly cua Phong Tư pháp
Phòng Tư pháp làm việc theo chế độ Thủ trưởng. Trưởng phòng điều hành, quản lý tất cả các hoạt động của phòng. Các phó trưởng phòng được trưởng phòng phân công, phụ trách các lĩnh vực liên quan. Các chuyên viên thực hiện công việc theo sự phân công của trưởng phòng hoặc phó trưởng phòng, đồng thời chịu trách nhiệm báo cáo với phó trưởng phòng phụ trách theo sự phân công của trưởng phòng.
Qua nghiên cứu, tổng hợp mô hình tổ chức của Phòng Tư pháp từ khi thành lập đến nay cho thấy mô hình tổ chức của Phòng Tư pháp có những đặc điểm đặc thù, gồm:
- Phong Tư pháp quản lý đơn ngành, đa lĩnh vực
Phạm vi quản lý của Phòng Tư pháp được thể hiện trong Thông tư 07/2020/TT-BTP của Bộ Tư pháp, trong đó phải kể đến một số lĩnh vực, nhiệm vụ chính của phòng như sau: Luận văn: Địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại Hồ Chí Minh.
- Xây dựng, đệ trình ủy ban nhân dân cấp quận, huyện ban hành chương trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật và tổ chức kế hoạch thực hiện sau khi chương trình, kế hoạch được ban hành;
- Theo dõi, hướng dẫn và kiểm tra công tác phổ biến giáo dục pháp luật tại địa phương; đôn đốc, kiểm tra các cơ quan chuyên môn trực thuộc ủy ban nhân dân cấp quận, huyện, cơ quan, tổ chức có liên quan và ủy ban nhân dân cấp phường trong việc tổ chức Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên địa bàn;
- Tổ chức thực hiện nhiệm vụ của cơ quan thường trực Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật cấp quận, huyện;
- Xây dựng, quản lý đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật theo quy định;
- Chỉ đạo, hướng dẫn việc xây dựng, quản lý, khai thác tủ sách pháp luật ở cấp phường và ở các cơ quan, đơn vị khác trên địa bàn quận, huyện theo quy định pháp luật;
- Tổ chức triển khai thực hiện các quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở;
- Giúp ủy ban nhân dân cấp quận, huyện thực hiện nhiệm vụ về xây dựng cấp phường đạt tiêu chuẩn để công nhận việc tiếp cận pháp luật; là cơ quan thường trực của Hội đồng đánh giá tiếp cận pháp luật.
- Thực hiện nhiệm vụ quản lý về nuôi con nuôi theo quy định pháp luật.
Ngoài ra, Phòng Tư pháp thực hiện một số lĩnh vực khác có liên quan đến phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của phòng như: Quản lý các công tác để thi hành pháp luật về các vấn đề xử lý vi phạm hành chính và những công tác tư pháp khác có liên quan theo quy định. Những yếu tố này đóng vai trò quyết định đến việc xây dựng mô hình tổ chức của Ngành Tư pháp.
- Nhiệm vụ, quyền hạn Phong Tư pháp thể hiện tinh quyền lực
Quản lý nhà nước mang tính tổ chức và là sự thể hiện quyền lực nhà nước, là công cụ giúp nhà nước tác động tới các quá trình xã hội bảo đảm cho xã hội phát triển ổn định. Quản lý nhà nước là các hoạt động của nhà nước trên những lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp để nhà nước thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại. Quản lý nhà nước trong lĩnh vực tư pháp gọi là quản lý hành chính tư pháp.
- “Theo Điều 9 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 sửa đổi bổ sung 2019 quy định:
Cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân được tổ chức ở cấp tỉnh, cấp huyện, là cơ quan tham mưu, giúp ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên.
Cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của ủy ban nhân dân, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực cấp trên” [26]
- Phong Tư pháp được quản lý theo hệ thống ngang và dọc
Phòng Tư pháp là cơ quan chịu sự quản lý trực tiếp của ủy ban nhân dân quận, huyện tại địa phương. Song song đó, phòng cũng chịu sự quản lý của Sở Tư pháp và Bộ Tư pháp theo ngành dọc. Các cơ quan tư pháp địa phương được xác định là cơ quan chuyên môn, công chức chuyên trách có chức năng tham mưu, giúp ủy ban nhân dân quản lý nhà nước về công tác tư pháp trên địa bàn, đồng thời có trách nhiệm thực hiện và chịu sự chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ của cơ quan tư pháp cấp trên. Luận văn: Địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại Hồ Chí Minh.
- Theo quy định tại Điều 8 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2019:
“Uy ban nhân dân do hội đồng nhân dân cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương, hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên”. [26]
Ngày 21/12/2020 Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 07/2020/TT-BTP hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Sở Tư pháp thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Phòng Tư pháp thuộc ủy ban nhân dân cấp quận, huyện (sau đây gọi là Thông tư số 07/2020/TT-BTP) để bảo đảm sự vận hành đồng bộ, thống nhất trong hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực quản lý của Bộ, Ngành Tư pháp. Dựa trên cơ sở đó ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc ban hành văn bản (phân công) quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Tư pháp; Uy ban nhân dân các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc thành phố quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Phòng Tư pháp.
Từ đó, có thể khẳng định việc phân quyền quản lý nhà nước trên mọi lĩnh vực đã được quy định cụ thể giữa cơ quan nhà nước trung ương (Chính phủ, Bộ Tư pháp) và chính quyền địa phương. Ngoài phân quyền quản lý nhà nước giữa trung ương và địa phương được quy định Hiến pháp và các luật về tổ chức bộ máy nhà nước, như Luật tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, trong một số lĩnh vực quản lý theo chức năng, nhiệm vụ của Phòng Tư pháp, chúng ta thấy có các văn bản luật sau:
- Luật Cán bộ, công chức (số 22/2008/QH12) đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008…;
- Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (số 14/2012/QH13) đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20/6/2012…;
- Luật Hòa giải ở cơ sở (số 35/2013/QH13) đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 20/6/2013…;
- Luật Nuôi con nuôi (số 52/2010/QH12) đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17/6/2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011…;
- Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước (số 10/2017/QH14) đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2017…;
- Luật Hộ tịch (60/2014/QH13) đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2014…;
- Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (80/2015/QH13) đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 22 tháng 6 năm 2015 …;
- Luật Xử lý vi phạm hành chính (15/2012/QH13) đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2012 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2013, trừ các quy định liên quan đến việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính do Tòa án nhân dân xem xét, quyết định …;
- Luật Trợ giúp pháp lý (11/2017/QH14) đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2017 …;
- Luật Hôn nhân và Gia đình (số 52/2014/QH13) đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2014 …; Luận văn: Địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại Hồ Chí Minh.
- Luật Cư trú (số 68/2020/QH14) đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2020 …;
- Luật Luật sư (số 65/2006/QH11) đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2006 … .
Bên cạnh đó, theo chức năng, nhiệm vụ của Phòng Tư pháp, cũng có các văn bản dưới luật như sau:
- Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch;
- Thông tư 04/2020/TT-BTP ngày 28 tháng 5 năm 2020 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch;
- Nghị định 104/2022/NĐ-CP của ngày 21 tháng 12 năm 2022 Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến việc nộp, xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú giấy khi thực hiện thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công;
- Nghị quyết 03/2018/NQ-HĐND ngày 16 tháng 03 năm 2018 của Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về ban hành quy định chi thu nhập tăng thêm cho cán bộ, công chức, viên chức thuộc khu vực quản lý nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội và đơn vị sự nghiệp công lập do thành phố quản lý;
- Nghị định 37/2014/NĐ-CP ngày 05 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
- Thông tư 07/2020/TT-BTP ngày 21/12/2020 của Bộ Tư pháp Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Sở Tư pháp thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Phòng Tư pháp thuộc ủy ban nhân dân cấp quận, huyện;
- Nghị định 108/2020/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 16 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch.
1.1.3. Vai tro cua việc xác đinh đia vi pháp ly Phong Tư pháp Luận văn: Địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại Hồ Chí Minh.
Địa vị pháp lý là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với những chủ thể pháp luật khác mà các quy định pháp luật là cơ sở để xác định. Đồng thời, vai trò của địa vị pháp lý cũng rất quan trọng, thông qua địa vị pháp lý để phân biệt và xác định chủ thể pháp luật khác nhau, qua đó thấy rõ hơn sự khác biệt giữa chủ thể này với chủ thể khác.
Phòng Tư pháp quận là cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân quận, huyện thực hiện việc tham mưu, hỗ trợ ủy ban nhân dân quận, huyện thực hiện công tác quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật; theo dõi, thi hành pháp luật; hộ tịch; chứng thực; công tác trợ giúp pháp lý; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; quản lý công tác xử lý vi phạm hành chính và các công tác tư pháp khác theo quy định của pháp luật đã được ban hành.
Tại Hội nghị Tư pháp toàn quốc lần đầu tiên năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư đến hội nghị, trong thư có đoạn viết: “Tư pháp là một cơ quan trọng yếu của Chính quyền, cho nên càng phải đoàn kết, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan khác, để tránh những mối xích mích lẫn nhau, nó có thể vì lợi quyền nhỏ và riêng mà hại đến quyền lợi to và chung cho cả tư pháp và hành chính”.
Tại Hội nghị Tư pháp toàn quốc năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Tư pháp toàn quốc nhấn mạnh đến vai trò, ý nghĩa của pháp luật. Pháp luật của ta là pháp luật thật sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động.
Theo Người, pháp luật là công cụ, phương tiện để nhà nước thực hiện quản lý mọi mặt của đời sống xã hội, song song đó là yêu cầu phải xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước có một hệ thống pháp luật tương ứng, đồng bộ, ổn định để tạo cơ sở pháp lý giúp bộ máy nhà nước hoạt động hiệu quả; cần phải xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan trong bộ máy nhà nước để đảm bảo tính khoa học và phù hợp với thực tiên đặt ra, để mỗi cơ quan được tổ chức thông qua hoạt động sẽ góp phần thúc đẩy bộ máy nhà nước vận hành thông suốt, thống nhất đạt hiệu lực, hiệu quả. Lời khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho thấy Ngành Tư pháp nói chung và các Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp trong ngành hành pháp nói riêng có vị trí và vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thực thi Hiến pháp và pháp luật, nâng cao nhận thức, hiểu biết, ý thức chấp hành pháp luật, giữ vững, duy trì an sinh xã hội và củng cố việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Phòng Tư pháp đóng vai trò là cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp quận, huyện, có chức năng, nhiệm vụ tham mưu, tư vấn để giúp đỡ ủy ban nhân dân cấp quận, huyện trong lĩnh vực hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp, thực hiện Hiến pháp và các văn bản luật, duy trì đảm bảo trật tự trên địa bàn quận, huyện và góp phần nâng cao kiến thức, ý thức, hiểu biết và chấp hành pháp luật của nhân dân, làm cơ sở để những việc có vi phạm pháp luật trên địa bàn ngày càng giảm. Những nhiệm vụ xây dựng và theo dõi việc thi hành pháp luật, quản lý các công tác hành chính tư pháp và bổ trợ tư pháp, trợ giúp pháp lý giúp để các hoạt động xét xử được tiến hành thuận lợi, hiệu quả. Hoạt động tư pháp hiện nay đang phản ánh tính thống nhất của quyền lực nhà nước và mối liên hệ bổ trợ chặt chẽ của ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, qua đó thấy rõ tính chất hành chính và tư pháp trong quản lý nhà nước đối với các hoạt động tư pháp cũng như những hoạt động khác nhằm bảo đảm việc tôn trọng, thi hành Hiến pháp và tính thượng tôn của pháp luật trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Do đó việc khẳng định và nâng cao ý thức về vị trí của Ngành Tư pháp nói chung, vị trí của Phòng Tư pháp nói riêng có vai trò đặt biệt quan trọng trong mọi mặt đời sống xã hội để thúc đẩy các hoạt động hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp ngày càng đạt hiệu quả.
1.2. Nội dung đia vi pháp ly Phong Tư pháp Luận văn: Địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại Hồ Chí Minh.
1.2.1. Là một tổ chức
“Theo Thông tư 07/2020/TT-BTP ngày 21 tháng 12 năm 2020 về việc hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Sở Tư pháp thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Phòng Tư pháp thuộc ủy ban nhân dân cấp quận, huyện:
Thực hiện nhiệm vụ quản lý tổ chức, hoạt động của Phòng, vị trí việc làm của mỗi thành viên, quản lý số lượng biên chế công chức, cơ cấu các ngạch của công chức, thực hiện về chế độ tiền lương, chính sách về chế độ đãi ngộ, khen thưởng và ky luật công chức, đào tạo và bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ đối với công chức thuộc phạm vi quản lý của Phòng Tư pháp theo quy định pháp luật, theo phân công của lãnh đạo ủy ban nhân dân cấp quận, huyện.
Thực hiện nhiệm vụ quản lý và chịu trách nhiệm về tài chính, tài sản thuộc sở hữu của Phòng theo quy định pháp luật và phân công của lãnh đạo ủy ban nhân dân cấp quận, huyện” [9]
1.2.2. Đia vi pháp ly giữa Phong Tư pháp với các Phong ban, cơ quan, đơn vi và với người dân (quan hệ trưc thuộc trên – dưới, trưc thuộc ngang, quan hệ chéo) tạo thành một hệ thông thông nhất
1.2.2.1. Đôi với Sở Tư pháp
Phòng Tư pháp có những nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể trong mối quan hệ với Sở Tư pháp, đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện công tác tư pháp tại địa phương:
- Phòng triển khai thực hiện các chỉ đạo, hướng dẫn và chính sách của Sở Tư pháp về công tác tư pháp tại địa phương.
- Đề xuất các biện pháp cụ thể để thực hiện nhiệm vụ được giao, phù hợp với tình hình thực tiên.
- Cung cấp báo cáo định kỳ về tình hình thực hiện nhiệm vụ tư pháp, kết quả công tác và những vấn đề phát sinh cho Sở Tư pháp.
- Tham gia vào các cuộc họp, hội nghị do Sở Tư pháp tổ chức để trao đổi thông tin và kinh nghiệm.
- Phối hợp với Sở Tư pháp trong việc thẩm định, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, nghị quyết của ủy ban nhân dân cấp quận, huyện.
- Góp ý kiến và phản hồi về các dự thảo văn bản do Sở Tư pháp đề xuất.
- Triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật theo kế hoạch và chỉ đạo của Sở Tư pháp.
- Thực hiện các chương trình tập huấn, đào tạo cho đội ngũ cán bộ, công chức tại địa phương về các quy định pháp luật mới. Luận văn: Địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại Hồ Chí Minh.
- Thực hiện kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật tại các tổ chức, đơn vị trên địa bàn theo chỉ đạo của Sở Tư pháp.
- Phản ánh kịp thời các vi phạm pháp luật hoặc khó khăn trong thực tiên thi hành pháp luật về Sở Tư pháp.
- Được quyền yêu cầu Sở Tư pháp cung cấp thông tin, hướng dẫn hoặc hỗ trợ trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ tư pháp.
- Được quyền đề xuất các chính sách, biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tư pháp tại cấp huyện, gửi đến Sở Tư pháp để xem xét.
- Được tham gia vào các chương trình, dự án do Sở Tư pháp tổ chức, đặc biệt là các hoạt động liên quan đến cải cách tư pháp và nâng cao nhận thức pháp luật.
Mối quan hệ chặt chẽ giữa Phòng và Sở Tư pháp đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm thực thi pháp luật hiệu quả và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân qua việc Phòng có nhiệm vụ triển khai thực hiện chỉ đạo, báo cáo kết quả, tham gia xây dựng văn bản pháp luật và phổ biến pháp luật, trong khi đó Phòng có quyền yêu cầu hỗ trợ và đề xuất chính sách nhằm nâng cao hiệu quả công tác tư pháp.
1.2.2.2. Đôi với uy ban nhân dân quận, huyện
Phòng Tư pháp được ủy ban nhân dân quận, huyện quản lý, phân công lĩnh vực công tác về chức năng theo quy định của pháp luật; người đứng đầu tiếp nhận sự chỉ đạo từ Chủ tịch hoặc các phó Chủ tịch ủy ban nhân dân quận, huyện là Trưởng phòng, từ đó, giao việc, phân công cho cấp dưới mình thực hiện nhiệm vụ. Theo định kỳ, Trưởng phòng có trách nhiệm báo cáo về nội dung công tác tư pháp, các thuận lợi, khó khăn, vướng mắc về đề xuất được các giải pháp để giải quyết những vấn đề đó trong quá trình thực thi nhiệm vụ được giao, cụ thể như sau:
Tham mưu và báo cáo: Phòng có trách nhiệm tham mưu cho ủy ban nhân dân quận, huyện trong việc xây dựng, triển khai và đánh giá các chính sách, chương trình, kế hoạch liên quan đến tư pháp và Phòng phải báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình hoạt động, kết quả thực hiện nhiệm vụ tư pháp cho ủy ban nhân dân quận, huyện để ủy ban nhân dân quận, huyện có những chỉ đạo kịp thời.
Phối hợp thực hiện nhiệm vụ: Phòng và ủy ban nhân dân quận, huyện có sự phối hợp chặt chẽ trong việc tổ chức các hoạt động tư pháp như phổ biến, giáo dục pháp luật, các chương trình trợ giúp pháp lý, và các cuộc họp liên quan đến công tác tư pháp. Bên cạnh đó, ủy ban nhân dân quận, huyện có thể hỗ trợ Phòng trong việc huy động nguồn lực, tài chính và nhân sự để thực hiện các nhiệm vụ tư pháp. Luận văn: Địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại Hồ Chí Minh.
Khi có những vấn đề pháp lý phát sinh tại địa phương, Phòng sẽ hỗ trợ ủy ban nhân dân quận, huyện trong việc phân tích và đưa ra giải pháp phù hợp.
Mối quan hệ giữa Phòng Tư pháp và ủy ban nhân dân quận, huyện mang tính chất hỗ trợ, phối hợp chặt chẽ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tư pháp, bảo vệ quyền lợi của công dân và duy trì trật tự pháp luật tại địa phương. Sự tương tác tích cực giữa hai bên sẽ góp phần tạo ra môi trường pháp lý vững chắc và nâng cao nhận thức pháp luật trong cộng đồng.
1.2.2.3. Đôi với các cơ quan, đơn vi, phong, ban chuyên môn khác do uy ban nhân dân quận, huyện quản ly
Trong quá trình phối hợp, nếu Phòng Tư pháp và một hay các đơn vị khác chưa thống nhất được ý kiến cuối cùng thì Trưởng Phòng Tư pháp sẽ tổng hợp, ghi chép lại tất cả các ý kiến sau đó trình lên phó Chủ tịch phụ trách hoặc Chủ tịch để xem xét, đưa ra quyết định. Vì cùng thuộc ủy ban nhân dân quận, huyện nên giữa Phòng Tư pháp và các cơ quan, đơn vị, phòng, ban khác có mối quan hệ hợp tác, phối hợp trên cơ sở bình đẳng, cùng thực hiện chức năng, vai trò trong lĩnh vực của mình và đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ mà cấp trên giao cho có thể được khái quát như sau:
Phòng có chức năng tham mưu cho ủy ban nhân dân quận, huyện về các vấn đề pháp lý, do đó có vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn và tư vấn cho các phòng, ban khác trong việc thực hiện các quy định pháp luật.
Phòng có trách nhiệm tổ chức và thực hiện các hoạt động liên quan đến việc quản lý hộ tịch, chứng thực và các lĩnh vực pháp lý khác. Các phòng, ban khác phải phối hợp với phòng tư pháp trong những hoạt động này.
Phòng có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra việc thực hiện các quy định pháp luật tại các phòng, ban, đảm bảo việc thi hành pháp luật được thực hiện đúng và đầy đủ.
Phòng có chức năng cung cấp, tư vấn pháp lý cho các phòng, ban trong quá trình xây dựng và thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật cũng như trong việc giải quyết các vấn đề pháp lý phát sinh.
Để đạt được hiệu quả trong công việc, Phòng có sự phối hợp chặt chẽ với các phòng, ban khác, đặc biệt trong các chương trình, dự án liên quan đến pháp luật và chính sách của địa phương.
1.2.2.4. Đôi với Uy ban Mặt trận Tổ quôc Việt Nam, các đơn vi sư nghiệp công lập, các ngành, đoàn thể cua quận, huyện
Trong quá trình quản lý nhà nước, khi Uy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đơn vị sự nghiệp công lập, các ngành, đoàn thể của quận, huyện có những vấn đề, yêu cầu cần giải quyết mà có liên quan đến lĩnh vực tư pháp thì Phòng Tư pháp có trách nhiệm giải quyết các khó khăn, vướng mắc đó. Nhưng trong trường hợp có những lý do dẫn đến việc chưa giải quyết được thì Phòng kiến nghị lên Lãnh đạo ủy ban nhân dân để giải quyết. Phòng giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển mối quan hệ hợp tác giữa các cơ quan, tổ chức trong quận, huyện, đảm bảo thực thi pháp luật một cách hiệu quả và thống nhất, cụ thể như sau: Luận văn: Địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại Hồ Chí Minh.
Phòng có trách nhiệm tư vấn và cung cấp thông tin pháp lý cho Uy ban Mặt trận Tổ quốc, hỗ trợ trong việc thực hiện các chương trình, kế hoạch liên quan đến công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành pháp luật.
Phòng và Uy ban Mặt trận Tổ quốc phối hợp trong việc tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đến các tổ chức thành viên của Mặt trận, như các đoàn thể, hội, nhóm trong cộng đồng.
Trong mối quan hệ với các đơn vị sự nghiệp công lập và các ngành, đoàn thể, Phòng có vai trò giám sát việc thực hiện các quy định pháp luật, đồng thời hướng dẫn về chuyên môn để đảm bảo các hoạt động của các đơn vị này phù hợp với quy định của pháp luật.
Phòng cung cấp, tư vấn pháp lý cho các đơn vị sự nghiệp công lập và các ngành, đoàn thể trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức này.
Phòng tổ chức các khóa tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho cán bộ của các ngành, đoàn thể, đơn vị sự nghiệp công lập nhằm nâng cao nhận thức và ky năng thực thi pháp luật.
Phòng có trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân và các tổ chức, bao gồm việc xử lý các phản ánh, kiến nghị liên quan đến pháp luật từ các tổ chức này.
1.2.2.5. Đôi với uy ban nhân dân phường
Hướng dẫn, chỉ đạo cán bộ, công chức làm việc tại ủy ban nhân dân phường về chuyên môn, lĩnh vực công tác tư pháp, nghiệp vụ mà Phòng quản lý theo quy định của pháp luật.
Hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để ủy ban nhân dân phường thực hiện đúng và đủ các nội dung quản lý nhà nước mà cấp trên trao cho liên quan đến chức năng, trách nhiệm của Phòng.
Định kỳ mỗi tháng, mỗi quý, mỗi năm, ủy ban nhân dân phường có trách nhiệm báo cáo, thống kê số liệu về công tác tư pháp cho Phòng tổng hợp báo cáo lên Sở Tư pháp.
Trường hợp phát sinh công việc thuộc chuyên môn tư pháp tại địa phương thì Phòng Tư pháp trực tiếp hướng dẫn, làm việc với ủy ban nhân dân phường. Luận văn: Địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại Hồ Chí Minh.
Phòng có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra việc thi hành pháp luật tại ủy ban nhân dân phường, đảm bảo các hoạt động của phường tuân thủ đúng các quy định pháp luật.
Phòng cung cấp, tư vấn pháp lý cho Uy ban nhân dân phường trong các lĩnh vực liên quan đến hộ tịch, chứng thực và các vấn đề pháp lý khác.
Phòng tổ chức các khóa tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho cán bộ ủy ban nhân dân phường, giúp nâng cao năng lực thực thi công vụ.
Phối hợp trong công tác phổ biến giáo dục pháp luật: Phòng tư pháp và Uy ban nhân dân phường cần phối hợp tổ chức các hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đến người dân, nhằm nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật trong cộng đồng.
Phòng cũng có trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân và tổ chức, đồng thời xử lý các phản ánh, kiến nghị liên quan đến pháp luật từ nhân dân thông qua ủy ban nhân dân phường.
1.2.2.6. Đôi với người dân
Phòng Tư pháp có nhiều nhiệm vụ và quyền hạn liên quan đến người dân, góp phần đảm bảo quyền lợi hợp pháp và nâng cao nhận thức pháp luật cho người dân. Các nhiệm vụ và quyền hạn này giúp tạo ra một môi trường pháp lý công bằng và minh bạch, góp phần xây dựng xã hội pháp quyền.
Phòng thực hiện công tác tư vấn pháp lý và cung cấp thông tin về các quy định pháp luật cho người dân, giúp người dân hiểu rõ về quyền và nghĩa vụ của họ trong các vấn đề pháp lý, từ đó hỗ trợ giải quyết tranh chấp hiệu quả.
Phòng thực hiện công tác tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật qua các chương trình tuyên truyền, phổ biến pháp luật để nâng cao nhận thức pháp luật cho cộng đồng và tổ chức hội thảo, tọa đàm nhằm cung cấp thông tin và kiến thức pháp lý thông qua các sự kiện giáo dục cộng đồng.
Phòng cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý, hỗ trợ các đối tượng yếu thế (người nghèo, người tàn tật, trẻ em…) trong việc tiếp cận các dịch vụ pháp lý, đại diện cho người dân trong các vụ việc pháp lý, Phòng Tư pháp có thể giúp người dân tìm kiếm sự bảo vệ quyền lợi hợp pháp trong một số trường hợp.
Phòng hỗ trợ trong các thủ tục hành chính như giải quyết khiếu nại, tố cáo, Phòng tiếp nhận và xử lý các đơn khiếu nại, tố cáo của công dân liên quan đến các vấn đề pháp lý, tham gia giải quyết các vấn đề pháp lý phát sinh, hỗ trợ người dân trong việc giải quyết các vấn đề pháp lý liên quan đến đất đai, xây dựng, hôn nhân gia đình, và các lĩnh vực khác.
Phòng có trách nhiệm tiếp nhận ý kiến phản hồi từ người dân về các dịch vụ pháp lý và công tác tư pháp, đánh giá, nghiên cứu nhu cầu pháp lý của cộng đồng để cải thiện các dịch vụ và hoạt động tư pháp.
Cuối cùng, Phòng Tư pháp thực hiện, cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký, bản sao từ bản chính, giúp người dân thực hiện các giao dịch pháp lý.
1.2.3. Có tinh độc lập tương đôi về tổ chức – cơ cấu Luận văn: Địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại Hồ Chí Minh.
Nhằm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, phục vụ tốt hơn cho sự nghiệp giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước, nhà nước ta đã thành lập ủy ban pháp chế thuộc Hội đồng Chính phủ. Theo Nghị định số 190/CP ngày 09/10/1972, Uy ban pháp chế có nhiệm vụ về xây dựng pháp luật, đào tạo cán bộ pháp lý, tuyên truyền và phổ biến giáo dục pháp luật, theo dõi việc thi hành pháp luật; theo dõi, hướng dẫn hoạt động của pháp chế ngành, phụ trách công tác hành chính tư pháp, nghiên cứu khoa học, tổng kết công tác pháp lý.
Điều 5 Nghị định số 190/CP quy định, hệ thống các cơ quan pháp chế được thành lập ở các cấp. Cấp tỉnh có Sở pháp chế; cấp quận, huyện có Phòng hoặc Tổ pháp chế; cấp phường có Tổ pháp chế hoặc cán bộ pháp chế.
Giai đoạn này, ủy ban nhân dân cấp quận, huyện đã hình thành một cơ quan chuyên môn để hỗ trợ ủy ban nhân cân cấp quận, huyện các vấn đề liên quan đến công tác pháp chế và đó chính là tiền thân của Phòng Tư pháp cho đến nay.
Tuy nhiên, do điều kiện, hoàn cảnh về kinh tế, xã hội nên việc thành lập hệ thống các cơ quan pháp chế từ trung ương đến cơ sở gặp nhiều khó khăn. Do đó việc thực hiện hệ thống tổ chức pháp chế sẽ được tiến hành từng bước, tuỳ theo tình hình của mỗi ngành, mỗi cấp, mỗi cơ sở, theo phương châm gọn nhẹ và chắc chắn có hiệu lực. Trong điều kiện như vậy, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan pháp chế ở địa phương trong đó có Phòng Tư pháp cấp quận, huyện cũng chưa được quy định cụ thể, rõ ràng.
Sau khi miền Nam giải phóng, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V đã xác định phải quản lý nhà nước bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Những quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Bộ Tư pháp được Hội đồng Bộ trưởng ban hành theo Nghị định 143/HĐBT ngày 22/11/1981. Theo Nghị định này, cùng với việc thành lập Bộ Tư pháp là việc kiện toàn, củng cố các cơ quan tư pháp địa phương.
Cơ quan tư pháp địa phương với vị trí, vai trò là cơ quan chuyên môn giúp ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện các công tác tư pháp đã được thành lập ở cả 3 cấp: cấp tỉnh có Sở Tư pháp, cấp quận, huyện có Phòng Tư pháp và cấp phường là Ban Tư pháp. Về tổ chức, Phòng Tư pháp cấp quận, huyện được phân thành các tổ công tác phụ trách theo mảng công việc. Qua đó có thể thấy, từ năm 1981 chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu và tổ chức của Phòng Tư pháp cấp quận, huyện đã được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật. Phòng Tư pháp cấp quận, huyện vừa là cơ quan chuyên môn giúp ủy ban nhân dân cấp quận, huyện thực hiện các công tác và hoạt động tư pháp ở địa bàn quận, huyện, đồng thời là mắt xích trong hệ thống các cơ quan tư pháp, hỗ trợ cơ quan tư pháp cấp trên trong việc triển khai các công tác tư pháp. Tuy nhiên, đến năm 1989 thực hiện chủ trương tinh giản biên chế và giảm đầu mối tổ chức, một số tỉnh đã giải thể Sở Tư pháp chuyển thành Phòng Tư pháp hoặc tổ chuyên viên trực thuộc ủy ban nhân dân. Phòng Tư pháp cấp quận, huyện được sáp nhập vào cơ quan chuyên môn khác của ủy ban nhân dân hoặc bố trí 1 hoặc 2 công chức tư pháp làm việc trực tiếp với chủ tịch hoặc phó chủ tịch ủy ban nhân dân cấp quận, huyện, thậm chí có nơi bố trí nửa biên chế làm công tác tư pháp. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho công tác tư pháp gặp nhiều khó khăn, không hiệu quả và không đáp ứng được với yêu cầu nhiệm vụ công tác ở địa phương.
Hiến pháp 1992 ra đời trên cơ sở những thành tựu bước đầu của công cuộc đổi mới theo chủ trương của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, khẳng định phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng củng cố và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uy ban nhân dân ngày 21/6/1994 quy định: “Các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân giúp ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương và bảo đảm sự thống nhất quản lý nhà nước trong phạm vi ngành, lĩnh vực từ Trung ương đến cơ sở.” Trước yêu cầu mới, nhiệm vụ mới, hệ thống các cơ quan tư pháp nói chung và Phòng Tư pháp cấp quận, huyện nói riêng đã được kiện toàn và củng cố một bước bảo đảm thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ mà Đảng và nhà nước giao. Kể từ đó đến nay, Phòng Tư pháp từng bước được củng cố kiện toàn, địa vị pháp lý ngày càng rõ rệt trong tổ chức bộ máy của chính quyền cấp quận, huyện và trong Ngành Tư pháp Việt Nam.
- Sơ đồ tổ chức – cơ cấu Ngành Tư pháp Việt Nam
1.2.4. Có thẩm quyền do pháp luật quy đinh Luận văn: Địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại Hồ Chí Minh.
Phòng Tư pháp có thẩm quyền được pháp luật quy định, đó là tổng thể những quyền, nhiệm vụ chung và những quyền hạn cụ thể mang tính quyền lực pháp lý do nhà nước phân công cho Phòng Tư pháp để thực hiện nhiệm vụ chức năng quản lý nhà nước tại địa phương. Yếu tố quan trọng nhất thể hiện địa vị pháp lý của một đơn vị là yếu tố thẩm quyền. Các quyền hạn đó có cả ý nghĩa bắt buộc đối với các đối tượng ngoài phạm vi cơ quan. Nhà nước thay mặt, nhân danh nhân dân thực hiện quyền quản lý nhà nước, đem đến những lợi ích chung, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi cá nhân là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, của dân do dân và vì dân. Đây chính là đặc điểm quan trọng và cơ bản để phân biệt cơ quan nhà nước đối với các tổ chức, doanh nghiệp tư nhân vì họ không có thẩm quyền. Thẩm quyền của Phòng Tư pháp được quy định trong phạm vi về lãnh thổ, địa bàn, về đối tượng chịu tác động của Phòng. Đó là những giới hạn pháp lý của Phòng Tư pháp được quy định trong luật.
“Những cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân được tổ chức cấp tỉnh và cấp quận, huyện, đồng thời cũng là cơ quan tham mưu, tư vấn, giúp ủy ban nhân dân thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở cơ sở và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của bộ máy nhà nước cấp trên được quy định trong Điều 9 Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 06 năm 2015”.[26]
“Tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Phòng Tư pháp có nghĩa vụ thực hiện chức năng tư vấn, tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cấp quận, huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các vấn đề như: xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật; theo dõi thi hành pháp luật; hộ tịch; chứng thực; công tác trợ giúp pháp lý; tuyên truyển, phổ biến, giáo dục pháp luật; kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật; trợ giúp pháp lý; quản lý công tác xử lý vi phạm hành chính và các công tác tư pháp khác theo quy định đã được ban hành được quy định theo cơ sở pháp lý tại Khoản 5 Điều 1 Nghị định 108/2020/NĐ-CP ngày 14 tháng 9 năm 2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ”. [10]
Quyền ban hành quyết định pháp luật là quyền quan trọng nhất trong các yếu tố thẩm quyền của cơ quan nhà nước. Phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân quận, huyện bên cạnh đó phòng còn có chức năng tham mưu, nghiên cứu các quy định pháp luật giúp ủy ban nhân dân quản lý nhà nước về lĩnh vực tư pháp. Ngoài ra, phòng còn phối hợp với các phòng ban khác trong việc vận hành các hoạt động của ủy ban một cách hiệu quả.
1.2.5. Đặt trong tổng thể, bộ máy hành chinh Nhà nước
Nhìn tổng quan toàn bộ máy hành chính nhà nước, Chính phủ, 18 Bộ và 04 cơ quan ngang Bộ, ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố, cấp quận, huyện, thị xã, các phòng thuộc ủy ban nhân dân quận, huyện và ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn hợp thành một bộ máy thống nhất theo thứ tự từ trên xuống dưới một cách chỉnh chu, có quy định pháp luật rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và được quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn điều hành… để thực thi pháp luật, thực hiện trách nhiệm được giao về quyền hành pháp trong thực tiên xã hội của quốc gia. Luận văn: Địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại Hồ Chí Minh.
Bởi vì ủy ban nhân dân thuộc nhánh hành pháp trong hệ thống pháp luật Việt Nam và Phòng Tư pháp là cơ quan thuộc ủy ban nhân dân quận, huyện, chịu sự quản lý trực tiếp và đồng thời cũng chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp theo ngành dọc. Do đó, Phòng Tư pháp quận, huyện không phải cơ quan tư pháp.
1.2.6. Thưc hiện hoạt động chấp hành và điều hành
Theo quy định pháp luật, trưởng phòng sẽ trực tiếp điều hành, phụ trách chính về các hoạt động của Phòng; là người đứng đầu chịu trách nhiệm trước UBND quận, huyện, Chủ tịch và các phó Chủ tịch quận, huyện về lĩnh vực tư pháp và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, vai trò, quyền và nghĩa vụ mà tập thể lãnh đạo của UBND phân công, giao việc hay ủy quyền làm thay. Ngoài ra, Phòng Tư pháp có trách nhiệm thực hành tiết kiệm tài sản, tránh tình trạng lãng phí tài nguyên và không để xảy ra tình trạng tham nhũng, quan liêu có thể xảy ra trong đơn vị.
Trưởng phòng phân công Các phó trưởng phòng dưới quyền những lĩnh vực công việc cụ thể và giải quyết các công việc phát sinh thêm có liên quan đến công tác của Phòng. Sau khi được phân công, giao nhiệm vụ đúng lĩnh vực mình phụ trách, nếu việc này có liên quan đến lĩnh vực công tác của một hoạc các phó trưởng phòng còn lại, thì các bên chủ động, trực tiếp bàn bạc, thống nhất với nhau để tìm ra hướng giải quyết phù hợp trước khi trình vấn đề đó thông qua trưởng phòng hoặc các vấn đề khác phát sinh thêm nhưng chưa có kế hoạch, chủ trương và biện pháp mới để khắc phục vấn đề.
Trường hợp trưởng phòng có yêu cầu trực tiếp giao việc thẳng cho công chức giải quyết công việc, thì công việc, vấn đề đó thuộc quyền hạn của phó trưởng phòng nào thì công chức có trách nhiệm báo cáo cho phó trưởng phòng phụ trách lĩnh vực công tác đó biết khi hoàn thành nhiệm vụ và cuối cùng là thông báo cho trưởng phòng.
1.2.7. Thẩm quyền cua Phong Tư pháp giới hạn trong phạm vi hoạt động chấp hành và điều hành, chu yếu được quy đinh trong các văn bản pháp luật về tổ chức bộ máy Nhà nước hoặc các điều lệ, quy chế…
Trong bộ máy nhà nước Việt Nam, Chính phủ thực hiện chức năng của mình thông qua hệ thống thể chế hành chính của nền hành chính nhà nước được quy định theo Hiến pháp năm 2013. Chính phủ là cơ quan quản lý hành chính nhà nước cao nhất của nhà nước.
- Theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 06 năm 2015;
- Việc ban hành quy chế (mẫu) về tổ chức và hoạt động của Phòng Tư pháp thuộc Uy ban nhân dân quận, huyện được căn cứ theo Quyết định 10/2016/QĐ-UBND ngày 05 tháng 04 năm 2016 của Uy ban nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh;
- Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015;
Xét về đặc điểm đặc thù của Phòng Tư pháp có những điểm đặc thù được thể hiện như:
- Phòng Tư pháp mang trong mình chức năng quản lý nhà nước tại địa phương, thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành. Đây là hoạt động mang tính dưới luật, dựa vào Hiến pháp, luật và các văn bản hướng dẫn để thực thi nhiệm vụ.
Hoạt động của Phòng Tư pháp mang tính thường xuyên, liên tục, và tương đối ổn định là cầu nối trực tiếp nhất đưa đường lối chính sách, pháp luật vào cuộc sống. Thẩm quyền của phòng chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động chấp hành, điều hành và chủ yếu được quy định trong các văn bản pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước và trong các quy chế. Phòng đảm bảo pháp luật phải được thực thi, chấp hành nghiêm chỉnh, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và không để cho bất kỳ cá nhân, tổ chức nào dựa vào quyền của bản thân để làm trái pháp luật, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
1.3. Các yếu tô cấu thành đia vi pháp ly cua Phong Tư pháp Luận văn: Địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại Hồ Chí Minh.
1.3.1. Yếu tô chinh tri
Một trong các yếu tố quan trọng, có giá trị ảnh hưởng sâu sắc đến việc đảm bảo địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp là yếu tố về chính trị, hơn nữa Phòng là một đơn vị có chức năng tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cấp quận, huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước tại địa phương. Bởi một đất nước muốn có niềm tin của người dân, để người dân tin và đi theo Đảng thì môi trường chính trị ổn định là điều kiện quan trọng bắt buộc.
Đối với việc chấp hành các chủ trường, đường lối và các chính sách pháp luật, quy định pháp luật của Đảng và Nhà nước thì Đảng viên là người đi đầu – tấm gương để người dân noi theo. Vì vậy, Đảng ta luôn quan tâm và đưa ra các chính sách, hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho mọi quần chúng nhân dân, nâng cao sự hiểu biết về chính trị và pháp luật, góp phần xây dựng tổ chức Đảng “trong sạch, vững mạnh”. Từ đó tạo được niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng. Ngoài ra, để củng cố địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp quận, huyện đòi hỏi quyết tâm cao của Đảng và nhà nước.
Trong quá trình áp dụng, thực thi các văn bản pháp luật rất cần sự chỉ đạo, hướng dẫn sáng suốt của cấp trên để việc thực hiện đúng thẩm quyền và trách nhiệm của Phòng Tư pháp được hiệu quả, thuận lợi hơn. Hoạt động tư pháp hiện đang phản ánh tính thống nhất của quyền lực nhà nước và mối liên hệ chặt chẽ của ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, thể hiện rõ tính chất hành chính – tư pháp trong quản lý nhà nước đối với các hoạt động tư pháp cũng như những hoạt động khác nhằm bảo đảm việc tôn trọng, thi hành Hiến pháp, tính thượng tôn của pháp luật trong mọi mặt của đời sống xã hội. Vì vậy, việc nâng cao quan điểm, ý thức về địa vị pháp lý của toàn Ngành Tư pháp nói chung cũng như chức năng, địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp nói riêng luôn là việc phải duy trì, góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy các hoạt động hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp đạt hiệu quả hơn.
1.3.2. Yếu tô pháp ly
Các yếu tố pháp luật là một trong những điều kiện có tác động tích cực đến địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp quận, huyện. Vì đó là cơ sở, là hành lang pháp lý để tổ chức triển khai các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị. Đây là tổng thể các yếu tố tạo nên đời sống pháp luật tốt đẹp ở từng giai đoạn phát triển. Song song đó, giúp cho pháp luật trở nên mới mẻ, phù hợp hơn với đời sống hiện tại.
Việc hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Sở Tư pháp thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Phòng Tư pháp thuộc ủy ban nhân dân cấp quận, huyện, chúng ta hiểu rõ hơn quy định về địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn của Phòng Tư pháp được căn cứ theo quy định tại Thông tư 07/2020/TT-BTP ngày 21 tháng 12 năm 2020. Có vai trò là cơ quan chuyên môn của uy ban nhân dân quận, huyện, thực hiện chức năng quản lý, cụ thể hoá và tuyên truyền các quy định của pháp luật đến với nhân dân. Từ đó, buộc nhân dân phải thực hiện, tuân theo Hiến pháp và pháp luật. Chính vì vậy, việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện pháp luật cũng là điều kiện đầu tiên để nâng cao hiệu quả của địa vị pháp lý Ngành Tư pháp nói chung và Phòng Tư pháp nói riêng.
1.3.3. Yếu tô về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn Luận văn: Địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại Hồ Chí Minh.
Thông tư 07/2020/TT-BTP ngày 21 tháng 12 năm 2020 đã thể hiện Phòng Tư pháp có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về tư pháp, bao gồm tư vấn pháp luật, tổ chức thực hiện các công tác hộ tịch, chứng thực, tham mưu cho ủy ban nhân dân cấp quận, huyện trong các lĩnh vực liên quan đến pháp luật và có quyền tham gia vào các hoạt động tư pháp, như thẩm định hồ sơ, cấp giấy chứng nhận, tổ chức các lớp tập huấn và thực hiện các hoạt động phổ biến pháp luật:
- Phòng Tư pháp là cơ quan trực thuộc ủy ban nhân dân cấp quận, huyện, có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về các lĩnh vực tư pháp trong phạm vi địa bàn.
- Phòng có trách nhiệm cung cấp thông tin, tư vấn và hỗ trợ pháp lý cho cá nhân, tổ chức và chính quyền địa phương trong việc thực hiện các quy định pháp luật.
- Phòng thực hiện công tác hộ tịch trong việc tiếp nhận, xử lý và cấp các giấy tờ hộ tịch như giấy khai sinh, giấy kết hôn, giấy khai tử, …
- Trong công tác chứng thực, Phòng thực hiện việc chứng thực chữ ký, bản sao và các tài liệu khác theo yêu cầu của người dân và tổ chức.
- Phòng tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, phối hợp với các tổ chức, cá nhân để cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý cho những đối tượng cần thiết, đặc biệt là người nghèo, người có công.
- Về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, Phòng có nhiệm vụ tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho nhân dân nhằm nâng cao hiểu biết về pháp luật.
- Phòng thực hiện chức năng tham mưu và đề xuất cho ủy ban nhân dân quận, huyện các chính sách, biện pháp liên quan đến công tác tư pháp.
- Phòng có thẩm quyền cấp giấy tờ, văn bản pháp lý theo quy định của pháp luật.
- Phòng thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực tư pháp tại địa phương.
- Khi cần hợp tác thì Phòng có quyền yêu cầu sự phối hợp của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội khác để thực hiện nhiệm vụ được giao.
- Phòng có thẩm quyền tham gia xử lý các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp theo quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012. Luận văn: Địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại Hồ Chí Minh.
1.3.4. Yếu tô nguôn lưc
Con người luôn là nhân tố cơ bản nhất, năng động nhất của tổ chức. Mỗi thành viên là một bộ phận cấu thành tổ chức. “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém. Đó là một chân lý nhất định” trích từ lời khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Do đó, nhiều cá nhân, nhiều thành viên được bồi dưỡng, nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ, phát huy tối đa năng lực thực sự sẽ góp phần tạo ra một đội ngũ công chức mạnh và thực hiện tốt nhiệm vụ, trách nhiệm được giao. Còn nếu các cá nhân, các thành viên không hợp sức, chưa phát huy khả năng của mình sẽ gây ảnh hưởng không hề nhỏ đối với đơn vị. Trong bất cứ môi trường làm việc nào, yếu tố nguồn lực con người cũng giữ vai trò quan trọng. Đội ngũ công chức có trình độ chuyên môn cao, có trách nhiệm với công việc, biết đóng góp ý kiến, xây dựng môi trường làm việc tốt hơn luôn được đề cao. Bên cạnh đó, để việc vận hành của Phòng luôn được hiệu quả, cần phải có người lãnh đạo biết điều hành, chỉ đạo, giúp cho hoạt động của Phòng thực hiện trơn tru, kết hợp cùng với đội ngũ công chức có ý thức, tinh thần trách nhiệm cao, hoàn thành nhiệm vụ được giao. Qua đó, địa vị pháp lý của phòng được nâng cao hơn.
Cùng với nguồn lực con người thì nguồn lực về tài chính cũng là yếu tố quan trọng để giúp Phòng Tư pháp hoạt động hiệu quả. Yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất làm việc hiệu quả của phòng phải kể đến vấn đề kinh phí. Phòng muốn hoạt động tốt thì phải đảm bảo đủ kinh phí cho các hoạt động mang tính thường xuyên như chi phí để chuẩn bị cho các buổi tuyên truyền, giáo dục pháp luật, hội nghị, in ấn tài liệu, văn phòng phẩm phục vụ công việc. Bên cạnh đó, có chế độ đãi ngộ tốt đối với đội ngũ công chức góp phần không nhỏ vào hiệu quả hoạt động, vận hành đơn vị. Một chế độ đãi ngộ tốt tương xứng với trình độ của công chức sẽ giúp họ yên tâm, đầu tư hết mình cho công việc, nâng cao tinh thần trách nhiệm với công việc cũng như phòng, chống các bệnh tham nhũng, quan liêu. Từ đó, thúc đẩy địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp nâng cao hơn.
Tiểu kết Chương 1
Theo Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Thông tư 07/2020/TT-BTP ngày 21/12/2020 của Bộ Tư pháp về hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Sở Tư pháp thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Phòng Tư pháp thuộc ủy ban nhân dân cấp quận, huyện và các văn bản liên quan khác, em đã diên giải, hệ thống lại về khái niệm, đặc điểm, vai trò, yêu cầu và các yếu tố để đảm bảo địa vị pháp lý, cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng Tư pháp. Ngoài ra, em cũng trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp.
Phòng Tư pháp được tổ chức và hoạt động trong phạm vi cả nước, là cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân, chịu sự quản lý của ủy ban nhân dân. Đồng thời, Phòng Tư pháp cũng chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra các hoạt động tư pháp, về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Tư pháp. Việc tìm hiểu, phân tích về địa vị pháp lý của Phòng Tư pháp giúp chúng ta tìm ra những khuyết điểm, hạn chế trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong thực tiên. Từ đó, chúng ta rút ra được kinh nghiệm, đề ra những giải pháp phù hợp với thực tiên, góp phần nâng cao hiệu quả, bảo đảm địa vị pháp lý, hoạt động của Phòng Tư pháp trong bộ máy hành chính nhà nước. Luận văn: Địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại Hồ Chí Minh.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại HCM

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp địa vị pháp lý của phòng tư pháp tại HCM