Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bảo vệ các quyền con người nói chung và các quyền của trẻ em nói riêng luôn được coi là một trong những chính sách quan trọng hàng đầu của bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới trong đó có Việt Nam. Năm 1990, Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á và là quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (gọi tắt là Công ước về quyền trẻ em năm 1990) [1]. Việc phê chuẩn Công ước này đồng nghĩa với việc chúng ta đã chính thức công nhận nghĩa vụ “thực hiện mọi biện pháp luật pháp, hành chính và các biện pháp khác phù hợp” nhằm thực hiện và tuân thủ các quy định của Công ước.
Trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân đồng thời triển khai có hiệu quả những luận điểm của văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội ở Việt Nam, cũng như trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của nước ta, việc nghiên cứu để làm sáng tỏ những vấn đề bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử có ý nghĩa quan trọng đối với sự nhận thức khoa học trên bình diện lập pháp, lý luận và thực tiễn.
Về mặt lập pháp, trong Nhà nước pháp quyền, các quy định của pháp luật đều nhằm mục đích hàng đầu là bảo vệ các quyền và tự do của con người với tư cách là những giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận của nền văn minh nhân loại tránh khỏi sự xâm hại tuỳ tiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân và một số quan chức trong bộ máy công quyền lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm pháp chế và dân chủ. Chính vì vậy, mục đích của việc nghiên cứu quyền con người, quyền công dân trong đó việc bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Toà án là những tiêu chí cơ bản và quan trọng để đánh giá mức độ dân chủ, pháp chế, nhân đạo và nhân văn trong quốc gia đó.
Về mặt lý luận, qua những vấn đề về trẻ em; quyền trẻ em; bảo đảm quyền trẻ em; pháp luật quốc tế về trẻ em; pháp luật Việt Nam về trẻ em vẫn tồn tại nhiều ý kiến, quan điểm và cách hiểu, tiếp cận khác nhau mà chưa có một quan điểm nào chính thống.
Mặt thực tiễn, việc áp dụng pháp luật của Toà án các cấp trong giai đoạn hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề bức xúc đòi hỏi các nhà và các cán bộ thực tiễn trong lĩnh vực tư pháp cần tiếp tục nghiên cứu để lý giải, phân tích và luận chứng để sớm khắc phục những nhược điểm nhất định. Do đó, hoạt động xét xử được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật sẽ bảo đảm cho công tác xét xử được khách quan, chính xác, thể hiện được vai trò, vị thế nhân danh Nhà nước của Tòa án trong việc thực hiện chức năng xét xử “nhằm bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” [4].
Thực tiễn áp dụng cho thấy trong quá trình giải quyết, xét xử các vụ án trên toàn lãnh thổ Việt Nam nói chung và trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk nói riêng tình trạng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền tiến hành tố tụng xâm phạm đến các quyền con người vẫn còn xảy ra trong đó có hoạt động bảo đảm quyền trẻ em trong hoạt động xét xử. Do đó, việc nhận thức đầy đủ và hoàn thiện các quy định về bảo đảm quyền của trẻ em trong hoạt động tố tụng là yêu cầu cấp thiết, góp phần chung vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước, là minh chứng quan trọng nhằm bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch cho rằng Việt Nam vi phạm nhân quyền, củng cố lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước, góp phần chung vào tiến trình hội nhập và phát triển, xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Luận văn: Bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những tồn tại nói trên, trong đó có nguyên nhân rất quan trọng là những hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật, cụ thể: pháp luật quy định chưa đồng bộ, chưa đẩy đủ, chưa rõ ràng dẫn đến khó khăn trong việc áp dụng. Bên cạnh đó, Đắk Lắk là tỉnh miền núi, trình độ dân trí thấp, công tác cán bộ ngành tư pháp vẫn còn nhiều hạn chế, cơ sở vật chất của Tòa án các cấp còn thiếu thốn, chưa đáp ứng được yêu cầu nâng cao hiệu quả xét xử sơ thẩm. Vì vậy, việc nghiên cứu dưới góc độ lập pháp cũng như việc nghiên cứu Tòa án áp dụng pháp luật có vai trò quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói chung, trong công cuộc cải cách tư pháp nói riêng ở nước ta.
Xuất phát từ những lý do trên đây, tôi đã lựa chọn đề tài “Bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk” làm luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong khoa học pháp lý nước ta cũng như quốc tế, vấn đề đảm bảo quyền con người nói chung, quyền trẻ em trong hoạt động tư pháp cũng như bảo đảm quyền trẻ em trong hoạt động xét xử đã được nhiều tác giả nghiên cứu ở nhiều cấp độ và phạm vi khác nhau. Có thể khảo cứu một số công trình như: “Chế định quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013” của PGS.TS. Vũ Công Giao; Giáo trình “Lý luận và pháp luật về quyền con người” của Nguyễn Đăng Dung – Vũ Công Giao – Lã Khánh Tùng; “Công lý và quyền tiếp cận công lý” của Đào Trí Úc – Vũ Công Giao; Luận án “Đảm bảo quyền con người trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Huy Hoàn; công trình “Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” của GS.TS. Trần Ngọc Đường; “Quyền trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam hiện nay” của Tăng Thị Thu Trang (2016) Luận án tiến sĩ luật học Viện Hàn Lâm khoa học xã hội Việt Nam; “Thực hiện pháp luật về bảo vệ quyền trẻ em ở Việt Nam hiện nay” Đỗ Thị Oanh (2014) Luận văn thạc sĩ luật học trường Đại học Quốc gia Hà Nội.
Trong các công trình này, các tác giả đã nghiên cứu khái niệm và đặc điểm Nhà nước pháp quyền nói chung, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói riêng; nghiên cứu về mối quan hệ giữa quyền con người và quyền công dân; nghiên cứu vấn đề bảo đảm quyền con người trong Nhà nước pháp quyền; nghiên cứu việc bảo vệ quyền trẻ em trong lĩnh vực tư pháp; bảo đảm quyền trẻ em trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Tuy nhiên, do phạm vi quá rộng, cho nên các tác giả chỉ nghiên cứu sơ lược các nội dung mà chưa đi sâu nghiên cứu thật đầy đủ, toàn diện, hệ thống những quyền trẻ em mà chỉ giới hạn trong phạm vi xét xử của Tòa án.
Đánh giá chung về các công trình đã công bố có nội dung đề cập đến vấn đề bảo vệ quyền con người nói chung và trong hoạt động tố tụng nói riêng, chưa có công trình nào tiếp cận một cách toàn diện, hệ thống, đồng bộ vấn đề bảo đảm quyền trẻ em trong hoạt động xét xử. Tuy vậy, các công trình nêu trên vẫn là những tài liệu tham khảo quan trọng đối với tác giả trong quá trình thực hiện luận văn, với đề tài“Bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử.
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử, đồng thời nghiên cứu thực trạng quy định pháp luật cũng như thực tiễn hoạt động giải quyết, xét xử sơ thẩm vụ án để làm sáng tỏ những hạn chế, bất cập để đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử các vụ án trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Làm rõ cơ sở lý luận về bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử sơ thẩm từ thực tiễn tại Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Phân tích, đánh giá thực trạng thực thi các quy định Hiến pháp và các quy định pháp luật có liên quan đến quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm quyền trẻ thông qua hoạt động xét xử vụ án Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật và việc bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Toà án nhân dân.
4.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài
- Về không gian: Nghiên cứu tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Về thời gian: Từ năm 2018 đến năm
- Về nội dung: Các quy định pháp luật liên quan đến bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử các vụ án sơ thẩm tại Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Các số liệu minh chứng chỉ liên quan đến hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án tại Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Luận văn: Bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận Triết học Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về Nhà nước và pháp luật, về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Để đạt được các mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu nói trên, luận văn sử dụng: phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác – Lênin để nghiên cứu các vấn đề liên quan đến nội dung đề tài; Về phương pháp cụ thể, luận văn sử dụng các phương pháp sau đây:
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thiện luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, phương pháp khảo sát thực tiễn.
Phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp này được áp dụng để phân tích các tài liệu sơ cấp và tài liệu thứ cấp. Tài liệu sơ cấp bao gồm: các văn bản pháp luật và văn kiện của Đảng có liên quan, các công trình khoa học, số liệu thống kê của các cơ quan Nhà nước. Tài liệu thứ cấp bao gồm: các bài báo, tạp chí, kết luận, phân tích đã được các tác giả thực hiện.
Phương pháp thống kê để thống kê số liệu, phân tích, đánh giá thực trạng cơ chế pháp lý bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Toà án nhân dân.
Phương pháp tổng hợp được sử dụng để tổng hợp các số liệu, tri thức có được từ hoạt động phân tích tài liệu. Việc tổng hợp nhằm mục đích đưa ra những luận giải, nhận xét và đề xuất của tác giả ở các chương về thực trạng, quan điểm và giải pháp.
Phương pháp quy nạp và diễn dịch để khái quát hóa hoặc cụ thể hóa đối tượng, nội dung, vấn đề nghiêm cứu, đảm bảo chính xác, khách quan và có lý trong những vấn đề có tính lý luận. Luận văn: Bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần xây dựng cơ sở lý luận về bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Toà án nhân dân.
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Thứ nhất, tổng hợp các quan điểm khoa học về bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Toà án, để xây dựng nên khái niệm bảo đảm quyền trẻ em trong hoạt động xét xử tại Toà án nhân dân; khái niệm và ý nghĩa bảo đảm quyền trẻ em trong hoạt động xét xử; nội dung và cơ chế đảm bảo quyền trẻ em trong hoạt động xét xử.
Thứ hai, nghiên cứu, đánh giá làm sáng tỏ về bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Toà án nhân dân; những tồn tại, hạn chế của thực tiễn việc đảm bảo quyền trẻ em của hoạt động giải quyết, xét xử cũng như những nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế đó.
Thứ ba, xác định rõ vai trò trách nhiệm của Toà án trong việc đảm bảo quyền trẻ em; nhận diện việc vi phạm quyền trẻ em trong hoạt động giải quyết, xét xử các vụ án; đánh giá thực trạng đảm bảo quyền trẻ em trong hoạt động xét xử của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Thứ tư, trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về nội dung, tố tụng và nâng cao hiệu quả của việc bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Toà án trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp hiện nay ở Việt Nam;
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích dành cho không chỉ các nhà lập pháp mà còn cho các nhà nghiên cứu, các cán bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên tại các cơ sở đào tạo luật. Kết quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức chuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các Cơ quan Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân và cơ quan Thi hành án dân sự trong quá trình giải quyết, xét xử các vụ án được khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Toà án nhân dân.
- Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Luận văn: Bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử.
- Chương 3: Quan điểm và giải pháp nhằm bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN TRẺ EM THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ TẠI TOÀ ÁN NHÂN DÂN
1.1. Khái niệm về bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Toà án nhân dân
1.1.1 Khái quát Luật quốc tế về trẻ em và quyền trẻ em
Có thể khẳng định Công ước là văn bản pháp lý quan trọng quy định các quyền cơ bản của trẻ em. Điều 1 Công ước về quyền trẻ em năm 1990 quy định: “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Tại phần II khoản 11 mục a – Quy tắc tối thiểu của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do quy định cụ thể: Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được pháp luật xác định và không được tước quyền tự do của người chưa thành niên. Sự đồng nhất khái niệm trẻ em và người chưa thành niên trong các văn bản pháp lý quốc tế đã chứng tỏ việc bảo vệ người chưa thành niên nói chung và người chưa thành niên phạm tội nói riêng đã bao hàm cả trẻ em và ngược lại.
Khi đưa ra khái niệm về người chưa thành niên hay trẻ em, các văn bản pháp luật quốc tế không chỉ dựa vào đặc điểm tâm – sinh lý hay sự phát triển thể chất của các đối tượng này mà còn dựa vào độ tuổi. Khái niệm người chưa thành niên và khái niệm trẻ em đều được giới hạn là người dưới 18 tuổi, đồng thời các văn bản này đưa ra quy định tùy nghi để các quốc gia có thể quy định những độ tuổi khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế – xã hội, văn hoá truyền thống của quốc gia mình.
Quyền của trẻ em được quy định trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế đã tạo nên một khuôn khổ chi tiết bao gồm những chuẩn mực và quy tắc về tư pháp người chưa thành niên. Nội dung của những văn kiện pháp lý này quy định những nguyên tắc đối với việc quản lý trẻ em, đồng thời bảo đảm trong quá trình thực thi và áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng thì vẫn bảo đảm quyền trẻ em trong các hoạt động tư pháp. Những văn kiện pháp lý quốc tế chi phối công tác tư pháp đối với trẻ em bao gồm Công ước về quyền trẻ em năm 1990 và Các Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về hoạt động tư pháp đối với ngưòi chưa thành niên, cùng với những hướng dẫn bổ sung trong Hướng dẫn của Liên hợp quốc về phòng chống tội phạm người chưa thành niên, Các Quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước tự do.
Để thực hiện được tinh thần của các văn kiện pháp lý quốc tế nêu trên, Công ước về quyền trẻ em năm 1990 và một số Quy tắc, Hướng dẫn khác của Liên hợp quốc đã quy định một cách đầy đủ các quyền cụ thể của trẻ em phạm tội cũng như những khuyến nghị đối với các quốc gia trong việc xây dựng hệ thông pháp luật và áp dụng pháp luật nhằm bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử. Luận văn: Bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử.
Khoản 1 Điều 40 Công ước về quyền trẻ em năm 1990 quy định: “Các Quốc gia thành viên Công nhận quyền của mọi trẻ em bị tình nghi, bị cáo buộc hay bị xác nhận là đã vi phạm luật hình sự được đối xử theo cách thức phù hợp vối việc thúc đẩy nhận thức của trẻ em về nhân cách và phẩm giá vốn có, một cách thức tăng cường sự tôn trọng của trẻ em đối với những quyền và tự do cơ bản của người khác và có tính đến độ tuổi của trẻ em cũng như mong muốn thúc đẩy sự tái hòa nhập của trẻ và giúp trẻ em đảm đương một vai trò có tính chất xây dựng trong xã hội”.
Như vậy, ngoài yêu cầu các Quốc gia thành viên phải công nhận quyền của mọi trẻ em bị tình nghi, bị cáo buộc hay bị xác nhận là đã vi phạm pháp luật được đối xử theo cách thức phù hợp trên cơ sở tôn trọng và bảo đảm những quyền tự do cơ bản của các em, thì khoản 3 Điều 40 Công ước còn yêu cầu các Quốc gia thành viên phải tìm cách thúc đẩy việc thiết lập những đạo luật, thủ tục, các cơ quan và thể chế áp dụng riêng cho những trẻ em bị tình nghi, bị cáo buộc hay bị xác nhận là đã vi phạm luật.
1.1.2 Quan điểm của Việt Nam về trẻ em và quyền trẻ em
Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay thì khái niệm người chưa thành niên và trẻ em không có sự đồng nhất. Tại khoản 1 Điều 21 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi”, nhưng Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016, sửa đổi, bổ sung năm 2018 quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”. Như vậy, theo những quy định này thì trẻ em là đối tượng có phạm vi về độ tuổi hẹp hơn so với người chưa thành niên, theo đó trẻ em cũng được hiểu là người chưa thành niên, nhưng người chưa thành niên thì không phải trong mọi trường hợp đều là trẻ em. Do đó, khi chúng ta xây dựng chính sách, nguyên tắc cũng như đường lối cho việc áp dụng các hình thức trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội và quy định trong Bộ luật hình sự là đã bao hàm cả đường lối áp dụng các hình thức trách nhiệm hình sự đối với trẻ em phạm tội. Cụ thể, những quy định áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được ghi nhận tại Chương XII Bộ luật hình sự năm 2015 cũng là những quy định sẽ được áp dụng đối với trẻ em khi những người này thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm và có thể phải chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, chương này, sử dụng thuật ngữ “người chưa thành niên” để chỉ những người dưới 18 tuổi có nghĩa là tương ứng với thuật ngữ “trẻ em” trong Công ước về quyền trẻ em năm 1990 và thuật ngữ “trẻ em” để chỉ người dưới 16 tuổi theo quy định của Luật Trẻ em năm 2016, sửa đổi, bổ sung năm 2018.
Ở Việt Nam, việc bảo đảm quyền trẻ em được thực hiện, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế. Ví dụ như: Công ước về quyền trẻ em năm 1990 và các văn kiện pháp lý quốc tế khác. Cùng với đó, những quy định về tư pháp người chưa thành niên còn bảo vệ quyền của trẻ em phạm tội khi có sự xâm hại, sự vi phạm các quyền con người của các em từ các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng khi xử lý hành vi phạm tội của người này. Pháp luật tuy là yếu tố quan trọng không thể thiếu, nhưng không phải là yếu tố duy nhất bảo đảm cho các em được hưởng thụ các quyền, cũng như bảo đảm cho các em không bị tước mất quyền của mình trong hoàn cảnh đối mặt với pháp luật và là đối tượng bị xử lý bằng các quy định của pháp luật. Trên cơ sở các văn kiện pháp lý quốc tế nêu trên, hệ thống tư pháp người chưa thành niên ở Việt Nam đã được các cơ quan có trách nhiệm quan tâm nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung và ngày càng hoàn thiện để tiệm cận với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Việc bảo đảm quyền của người chưa thành niên phạm tội phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế cũng phải đồng thời phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội, văn hóa, truyền thống và đạo đức của Việt Nam.
Hệ thống tư pháp người chưa thành niên ở Việt Nam đã được các cơ quan có trách nhiệm quan tâm nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung và ngày càng hoàn thiện để tiệm cận với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế và phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội, văn hóa, truyền thống và đạo đức của Việt Nam. Sự phù hợp này thể hiện trên cả hai phương diện đó là xây dựng pháp luật và thực thi pháp luật. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đặt ra mục tiêu “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao”. Nghị quyết còn nêu rõ “Hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người”. Đây là những quan điểm, định hướng và nhiệm vụ quan trọng mà Đảng ta đã chỉ ra nhằm “Cải cách hệ thống cơ quan tư pháp từ tổ chức đến cơ chế hoạt động, năng lực của cán bộ để tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp, góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Như vậy, với định hướng và nhiệm vụ mà Đảng đã chỉ ra trong Nghị quyết số 49-NQ/TW, thì Nhà nước, cùng với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật cần phải xây dựng một chính sách đúng đắn, phù hợp, lấy hiệu quả “phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội” là nội dung chủ đạo trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách này trong việc bảo đảm quyền của trẻ em trong hoạt động xét xử.
1.1.3 Khái niệm về quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Toà án nhân dân
Quyền trẻ em và việc bảo đảm các quyền trẻ em trong các lĩnh vực pháp lý cụ thể được quy định phụ thuộc vào tính chất của từng ngành luật và chức năng của Nhà nước trong lĩnh vực đó. Bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử sơ thẩm tại Toà án là những quyền cơ bản thuộc về quyền trẻ em, được luật pháp quốc tế ghi nhận và được thể hiện cụ thể trong các quy định của các Bộ luật tố tụng với các tư cách khác nhau: đối tượng bị xâm phạm, đối tượng vi phạm và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tương ứng là nghĩa vụ của các cơ quan và người tiến hành tố tụng, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng khác phải đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh và đầy đủ, tránh mọi sự xâm hại. Luận văn: Bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử.
Bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử sơ thẩm được quy định trên cơ sở cân nhắc rằng hoạt động tố tụng gắn liền với vi phạm pháp luật nghiêm trọng nhất là tội phạm và chức năng của Nhà nước là xử lý công minh người phạm tội; đồng thời hoạt động tố tụng cũng liên quan rất nhiều tới các quyền cơ bản của trẻ em.
Trong hệ thống tư pháp, Tòa án giữ vai trò đặc biệt, ở hầu hết các nước, hệ thống Tòa án thường được trao nhiệm vụ bảo vệ các quyền con người, quyền công dân. Thông qua hoạt động xét xử của mình, Tòa án không những khôi phục những thiệt hại do hành vi phạm tội xâm hại đến quyền trẻ em mà còn bảo đảm cho trẻ em trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án được tôn trọng và bảo đảm. .
- Quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử sơ thẩm được thể hiện ở các phương diện sau:
Thứ nhất, trừng trị người phạm tội gây ra những thiệt hại cho các quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em, của các cơ quan tiến hành tố tụng, góp phần bảo vệ quyền trẻ em;
Thứ hai, khi xét xử các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải bảo đảm được quyền của không chỉ người phạm tội mà còn của những người tham gia tố tụng khác, đồng thời ngăn ngừa nguy cơ lạm dụng từ phía những người tiến hành tố tụng. Có nghĩa là: “Xử lý nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật đối với những tội phạm xâm phạm đến trẻ em và đảm bảo không làm ảnh hưởng tới quyền trẻ em khi tiến hành tố tụng”.
Thứ ba, bảo đảm quyền trẻ em bằng thủ tục đặc biệt, chặt chẽ khi tiến hành tố tụng với vai trò là người bị buộc tội, người bị hại, người làm chứng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Từ đó, có thể hiểu: “Bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử sơ thẩm là cách thức để các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tiến hành bằng thủ tục đặc biệt đối với trẻ em khi tham gia tố tụng với vai trò là người bị buộc tội, người bị hại, người làm chứng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án do pháp luật tố tụng Việt Nam quy định trên cơ sở phù hợp với các quy định về quyền trẻ em ở quốc gia, khu vực và phạm vi quốc tế”.
Như vậy, bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử sơ thẩm có các quyền cụ thể, như nhau:
- Một là, quyền không bị phân biệt đối xử, được thừa nhận và bình đẳng trước pháp luật
Quyền này đồng thời được coi như một trong các nguyên tắc cơ bản của luật nhân quyền quốc tế, do đó được đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp trong tất cả các văn kiện quốc tế về quyền con người. Nó bao gồm ba khía cạnh liên kết với nhau mà đôi khi được đề cập như các quyền hàm chứa, đó là: không bị phân biệt đối xử; được thừa nhận tư cách con người trước pháp luật và có vị thế bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng.
Không phân biệt đối xử, bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng đóng vai trò là cơ sở và nguyên tắc chung trong việc bảo vệ tất cả các quyền con người. Các quốc gia thành viên có trách nhiệm bảo đảm quyền này cho mọi người có mặt trên lãnh thổ nước mình, bất kể người đó là công dân nước mình, người không quốc tịch hay người nước ngoài, bất kể các yếu tố dân tộc, chủng tộc, quốc tịch, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị, thành phần xã hội, tài sản hay bất kỳ yếu tố nào khác. Luận văn: Bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử.
Quyền bình đẳng không có nghĩa là áp dụng một kiểu đối xử cho mọi đối tượng trong cùng một tình huống (tức cào bằng) và không phải mọi sự khác biệt về đối xử đều tạo ra sự phân biệt đối xử. Nếu sự đối xử khác biệt được xác định dựa trên các điều kiện hợp lý, khách quan và nhằm mục đích để đạt được sự bình đẳng thì không bị coi là trái với ICCPR (các đoạn 10 và 13)”.
- Thứ hai, quyền được xét xử công bằng
Quyền về xét xử công bằng (the right to a fair trial) thực chất là một tập hợp các bảo đảm tố tụng nhằm bảo đảm quá trình xét xử được công bằng, trong đó bao gồm các khía cạnh như được bình đẳng trước Toà án (equality before a court), được suy đoán vô tội (assumption of innocence), không bị áp dụng hồi tố (prohibition of ex port facto laws) và không bị bỏ tù vì không hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng (prohibition of imprisonment for debt).
Người chưa thành niên làm trái pháp luật phải được hưởng những bảo đảm tố tụng ít nhất cũng ngang bằng với những bảo đảm áp dụng với những người đã thành niên. Việc thi hành tố tụng với những người chưa thành niên làm trái pháp luật cần tính đến độ tuổi của các em và mục đích khuyến khích các em hoàn lương, thể hiện qua các khía cạnh như: xác định độ tuổi tối thiểu phải chịu trách nhiệm hình sự và độ tuổi tối đa một người có thể được coi là chưa thành niên; xây dựng các Toà án, luật và thủ tục tố tụng đặc biệt áp dụng với người chưa thành niên và bảo đảm những luật và thủ tục đặc biệt đó đã tính đến mục đích khuyến khích các em hoàn lương (đoạn 16).
Ở Việt Nam, tư tưởng bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử trước hết thể hiện qua những ý niệm và hành động khoan dung, nhân đạo. Với ý nghĩa là nền tảng của sự tôn trọng và bảo vệ các quyền trẻ em, lòng khoang dung, nhân đạo là những giá trị văn hoá tốt đẹp chung của toàn nhân loại, tồn tại và phổ biến ở tất cả các dân tộc trên thế giới trong đó có Việt Nam. Bảo đảm quyền trẻ em trong hoạt động xét xử, là đặt trẻ em ở trung tâm của mọi chính sách phát triển, thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên nó được thể hiện bằng các phương thức, cụ thể:
- Thứ nhất, bảo đảm thủ tục tố tụng đặc biệt, chặt chẽ; quá trình tố tụng dân chủ, công khai
Hoạt động tư pháp đòi hỏi cao về hình thức, phải theo một thủ tục chặt chẽ, cụ thể so với việc áp dụng pháp luật ở các lĩnh vực khác. Trong quá trình giải quyết cần có sự kết hợp giữa những yêu cầu về nội dung và hình thức, tức là việc tìm kiếm, xác nhận sự thật khách quan đã xảy ra thông qua những đánh giá về mặt pháp lý rõ ràng và minh bạch theo một thủ tục nhất định.
Trong Nhà nước kiến tạo phát triển thủ tục tố tụng chặt chẽ có tác dụng như một chiếc barie giữa kẻ mạnh và người yếu, giữa người thống trị và kẻ bị thống trị để ngăn cản sự xâm phạm của kẻ có quyền và sức mạnh đối với những cá nhân thụ động và yếu ớt, bảo đảm sự phát triển một cách bền vững cho mọi quốc gia. Vì vậy, Nhà nước kiến tạo phát triển cần có nền tư pháp với thủ tục chặt chẽ bảo đảm mọi phán cử của Tòa án phù hợp với thực tiễn sự việc, đúng pháp luật. Nhà nước kiến tạo phát triển hướng tới khai thác nguồn nhân lực cho phát triển một cách công bằng, dân chủ thông qua việc thiết lập hệ thống chính sách khuyến khích nguồn lực xã hội tập chung cho đầu tư phát triển. Định hướng này chỉ có thể thực hiện được với bảo đảm về thủ tục tố tụng tư pháp dân chủ, công khai, có sự tham gia của người dân trong quá trình giải quyết vụ án.
Ngoài chính sách hình sự nói chung, Đảng và Nhà nước ta còn xây dựng chính sách hình sự áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội. Luận văn: Bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử.
Đây có thể được coi là chính sách hình sự “đặc thù” áp dụng đối với đối tượng “đặc thù” – người chưa thành niên phạm tội. Chính sách này được hiểu là một bộ phận của chính sách hình sự nói chung, thể hiện quan điểm, tư tưởng, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm do người chưa thành niên thực hiện. Nội dung của chính sách hình sự áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội bao gồm những quy định mang tính “đặc thù” đó là những quy định liên quan đến trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội bên cạnh những quy định áp dụng đối với người phạm tội nói chung mà khi xử lý người chưa thành niên phạm tội, các cơ quan tiến hành tố tụng phải tuân thủ.
Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (thuật ngữ này được sử dụng như người chưa thành niên phạm tội) thể hiện ở nhiều nội dung như: nguyên tắc xử lý; hình phạt; quyết định hình phạt; tổng hợp hình phạt; miễn giảm hình phạt; tha tù trước thời hạn có điều kiện; xóa án tích; biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, đều được xử lý nhân đạo hơn, nhẹ hơn so với người đã thành niên phạm tội khi có các tình tiết tương đương. Lý do để người chưa thành niên phạm tội được hưởng chính sách hình sự khoan hồng của Nhà nước vì ở họ có những đặc điểm về nhân thân cũng rất “đặc thù” so với những đối tượng khác, đó là: người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm sinh lý; nhận thức của họ còn thiếu chín chắn nên dễ bị kích động, dễ bị lôi kéo, bị mua chuộc, bị dụ dỗ để thực hiện hành vi phạm tội. Đồng thời chính bản thân họ cũng chưa thể nhận thức một cách đầy đủ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình đã thực hiện, nếu những người này sống trong môi trường thiếu lành mạnh hoặc không có được sự chăm sóc, giáo dục chu đáo từ gia đình, nhà trường và xã hội
- Thứ hai, bảo đảm xét xử công bằng
Xét xử công bằng là một trong những thuộc tính của Nhà nước pháp quyền, đòi hỏi xét xử phải được tiến hành theo cách thức (thủ tục) nhất định dựa trên nguyên tắc tố tụng hết sức nghiêm ngặt bảo đảm “đúng lẽ phải, không thiên vị”.
Hoạt động xét xử, trước hết là xác định sự kiện thực tiễn khách quan đã xảy ra trong mối quan hệ giữa các chủ thể của các quan hệ pháp luật, Tòa án phải đưa ra được những đánh giá về mặt pháp lý cho các sự kiện đó. Việc đưa ra đánh giá về mặt pháp lý cho các sự kiện là một hoạt động sáng tạo của con người đối với quan hệ giữa các bên trong sự kiện. Lợi ích của các bên có thể trái với nhau hoặc khác nhau hoặc mâu thuẫn với nhau thông qua các sự kiện pháp lý đưa tranh chấp ra giải quyết.
Quyền xét xử công bằng thể hiện mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước với các chủ thể trong mối quan hệ pháp luật tố tụng mà bản chất của nó là cả hai bên đều có quyền, nghĩa vụ đối với nhau và phải chịu trách nhiệm pháp lý như nhau khi vi phạm quyền và lợi ích của nhau. Luận văn: Bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử.
Nhà nước kiến tạo phát triển có nhu cầu giải quyết tất cả các tranh chấp trên nền tảng của sự công bằng, không thiên lệch, do đó quy định của pháp luật về quyền được xét xử công bằng cần được liên tục hoàn thiện về hình thức và nội dung. Nội dung các quyền được xét xử công bằng trong Nhà nước kiến tạo ngày càng có tính hiện thực hơn, phù hợp với khả năng, điều kiện thực tế của đất nước, gắn liền với quá trình dân chủ hóa xã hội, với việc giữ gìn và phát huy nền văn hóa đạo đức dân tộc, với sự tiếp thu có chọn lọc những giá trị văn hóa của nhân loại.
Trong quá trình xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển, Nhà nước cần có những bảo đảm cần thiết để Tòa án có thể xét xử công bằng. Đồng thời, với việc xây dựng, bảo vệ là các biện pháp, phương tiện chống lại sự xâm phạm quyền được xét xử công bằng trong hoạt động tư pháp đã được pháp luật quy định. Bảo vệ quyền được xét xử công bằng trong tố tụng tư pháp không những bảo đảm cho những định hướng xã hội, góp phần bảo vệ quyền con người mà còn góp phần chủ động phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm, tội phạm trong xã hội [7].
1.1.4 Những đặc điểm của việc bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Toà án nhân dân
Thứ nhất, bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Toà án nhân dân là nhiệm vụ của hệ thống cơ quan tư pháp và mang tính quyền lực Nhà nước
Quyền tư pháp là quyền xét xử, là việc nhân danh Nhà nước giải quyết tranh chấp, giải quyết xung đột xã hội bằng việc xét xử, thông qua thủ tục xét xử do luật định. Quyền tư pháp được thừa nhận là một loại quyền lực Nhà nước với đặc trưng của quyền là độc lập, được minh định khi quyền lực Nhà nước phân chia thành ba quyền độc lập với nhau, bổ trợ cho nhau và kiểm soát lẫn nhau. Không phụ thuộc vào bất cứ tác động nào từ bên trong và bên ngoài trong quá trình thực thi quyền lực, chủ thể quyền tư pháp hay là chủ thể quyền xét xử phải được đặt ở vị trí độc lập. Chủ thể quyền tư pháp đang được nói đến không ai khác chính là Tòa án. “Quyền tư pháp bao gồm xét xử hành vi vi phạm pháp luật để bảo đảm quyền tự do và quyền con người, và do đó phải được trao cho một thiết chế riêng rẽ – đó là Tòa án” (Montesquieu).
Thứ hai, bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Toà án nhân dân dựa trên nguyên tắc tuân thủ pháp luật và tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng
Tuân thủ pháp luật là yếu tố hết sức quan trọng nhằm duy trì và bảo đảm sự ổn định và trật tự trong một xã hội có Nhà nước; Trong giải quyết, xét xử các vụ án cũng vậy, mọi hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng. Bất kỳ cá nhân, tổ chức nào khi tham gia tố tụng vi phạm pháp luật đều bị xử lý. Luận văn: Bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử.
Thứ ba, bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Toà án nhân dân trên cơ sở quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị xâm hại trong Bộ luật tố tụng.
Đối với trường hợp đương sự có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự thì đương sự có quyền tự khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện thực hiện việc khởi kiện nếu xét thấy cần thiết. Trường hợp không đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự thì người đại diện theo pháp luật của đương sự sẽ thay họ khởi kiện. Đối với các chủ thể là pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác thì việc khởi kiện sẽ do người đại diện theo pháp luật của họ thực hiện. Như vậy, đương sự là nguyên đơn có toàn quyền trong việc có quyết định khởi kiện hay không, phạm vi khởi kiện đến mức độ nào. Nguyên đơn có quyền khởi kiện một hoặc nhiều bị đơn ra Tòa án, về một mối quan hệ pháp luật hay nhiều mối quan hệ pháp luật có liên quan để giải quyết trong cùng một vụ án.
Đối với đương sự là người chưa thành niên, quyền khởi kiện của họ có những đặc thù khác với quyền khởi kiện của đương sự đã thành niên. Đặc thù này xuất phát từ đặc điểm người chưa thành niên chưa có năng lực hành vi tố tụng dân sự đầy đủ. Vì vậy, khi thực hiện quyền khởi kiện, đương sự là người chưa thành niên có thể khởi kiện thông qua người đại diện theo pháp luật của họ. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc trong một số trường hợp đặc biệt, họ có thể tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn, hoặc ủy quyền cho người đại diện theo pháp luật của mình tham gia tố tụng.
Thứ tư, bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Toà án nhân dân phải được thực hiện công khai, nhanh chóng, công bằng để đảm bảo quyền của mọi cá nhân được tôn trọng và thực thi trong đời sống xã hội
Việc xác định thời hạn tố tụng có những ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và những người liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của các chủ thể này, từ đó làm cho việc giải quyết vụ việc dân sự được nhanh chóng, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Không những thế, việc xác định thời hạn tố tụng còn có ý nghĩa xác định trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và những người liên quan trong trường hợp các chủ thể này không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ và quyền hạn của họ trong thời hạn tố tụng cụ thể.
Công khai là một trong những thuộc tính quan trọng của xã hội dân chủ và coi đó là một yêu cầu quan trọng trong xét xử của Tòa án. Việc xét xử công khai, một mặt đảm bảo cho nhân dân có thể kiểm tra, giám sát được hoạt động của Tòa án và mặt khác phát huy được tính giáo dục chính trị, pháp lý và tác dụng phòng ngừa của hoạt động xét xử. Việc xét xử công khai là một trong những bảo đảm cho hoạt động xét xử được tiến hành đúng đắn và nâng cao trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình cũng như việc thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật.
1.1.5 Ý nghĩa của việc bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Toà án nhân dân Luận văn: Bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử.
- Thứ nhất, góp phần bảo đảm quyền trẻ em
Ở nước ta, Toà án là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp (quyền xét xử, tức quyền áp dụng pháp luật để ra phán quyết về các vi phạm pháp luật và các tranh chấp xảy ra trong xã hội) đây là cơ quan xét xử duy nhất của Nhà nước, xử lý các vi phạm pháp luật bằng chế tài Nhà nước, giải quyết các tranh chấp bằng quyền lực Nhà nước. Điều đó cho thấy: trong tất cả các thiết chế quyền lực Nhà nước, không một thiết chế quyền lực nào có được thẩm quyền phán xét đó của Toà án. Các cơ quan Nhà nước khác tham gia vào việc xử lý, giải quyết đó không phải là cơ quan tư pháp, không có chức năng thực hiện quyền tư pháp mà các cơ quan này chỉ thực hiện các hoạt động tư pháp.
Trên cơ sở các văn kiện pháp lý, hệ thống tư pháp ở Việt Nam đã được các cơ quan có trách nhiệm quan tâm, nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung và ngày càng hoàn thiện để phù hợp với các chuẩn mực, thông lệ quốc tế và phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, văn hoá truyền thống của Việt Nam. Nghị quyết 49 – NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ ra cùng với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật cẩn phải xây dựng một chính sách pháp luật đúng đắn, phù hợp, lấy hiệu quả phòng ngừa và tính tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội là nội dung chủ đạo trong thực thi trong việc bảo đảm quyền trẻ em trong hoạt động tố tụng.
- Thứ hai, góp phần bảo vệ công lý và văn minh nhân loại
Hiến pháp 2013 quy định Toà án là cơ quan Nhà nước có nhiệm vụ bảo vệ công lý. Điều đó không có nghĩa là các nhánh quyền lực khác như Quốc hội hay Chính phủ không liên quan đến việc thiết lập và bảo vệ công lý. Theo truyền thống pháp luật Việt Nam, công lý được hiểu là “sự công bằng, sự đúng đắn, lẽ phải” và ban hành công lý là việc “Toà án xác định điều đúng, điều sai trong một vụ việc nhằm thiết lập lại sự công bằng”[8].
Các học thuyết về công lý cũng cho rằng công lý là một phẩm hạnh giúp mỗi người được hưởng những gì mà họ xứng đáng. Với cách tiếp cận này thì quyền là cái có trước, công lý là điều xuất hiện sau. Khi các quyền được công nhận, thừa nhận thì công lý sẽ xuất hiện nếu các quyền bị vi phạm. Ở một khía cạnh, công lý chính là nghĩa vụ với người khác. Từ ý nghĩa đó, có thể khẳng định bảo vệ công lý chính là bảo vệ các quyền cơ bản của người dân.
Trong thực tiễn, các thủ tục tố tụng chính là những cơ chế, những công cụ xã hội giúp các cá nhân tiếp cận được công lý, bảo vệ các quyền của mình trong cuộc sống. Do đó, các cơ chế tố tụng phải đáp ứng kịp thời, thúc đẩy công lý chứ không phải là ông chủ của công lý. Nếu các cơ chế tố tụng không đủ mạnh và hiệu quả thì có thể làm vô hiệu hoá quá trình thực thi các quyền cơ bản của cá nhân. Luận văn: Bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử.
- Thứ ba, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền
Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền từ yêu cầu hạn chế quyền lực Nhà nước nhằm bảo vệ quyền con người, quyền trẻ em. Một trong những phương thức tốt nhất để hạn chế sự làm quyền từ phía Nhà nước là việc phân chia quyền lực nhà nước thành ba quyền trong đó có quyền tư pháp do các Toà án thực hiện. Mục đích của việc thực hiện quyền tư pháp trong Nhà nước pháp quyền chính là thông qua pháp luật thực thi công lý, bảo vệ quyền con người. Chính vì vậy, trong tiếng Anh và tiếng pháp một từ “justice” vừa được dùng để chỉ tư pháp (hoạt động xét xử của Toà án) vừa có nghĩa là công lý. Mặt khác, thực thi công lý không chỉ là mục đích mà còn là tiêu chuẩn để đánh giá hoạt động của Toà án có phải là Toà án trong Nhà nước pháp quyền hay không? Nói cách khác, không thể có Nhà nước pháp quyền đích thực khi việc thực hiện quyền lực tư pháp không đảm bảo công lý.
Quá trình yêu cầu Toà án thực thi công lý chính là quá trình tiếp cận công lý của người dân. Quá trình đó bắt đầu từ nhu cầu được tiếp cận công lý và kết thúc là phán quyết và thực hiện phán quyết của Toà án. Để tiếp cận được công lý người dân phải được biết và có khả năng biết công lý nằm ở đâu? Đến với công lý bằng con đường nào và với phương tiện gì?…khác với Nhà nước cực quyền, khi công lý nằm trong tay kẻ cai trị chuyên quyền và độc đoán, công lý đến với người dân bằng sự ban phát hoặc xin – cho của Nhà nước, trong Nhà nước pháp quyền, tiếp cận công lý là quyền của người dân và nghĩa vụ của Nhà nước. Công lý chỉ tồn tại và thực thi trong Nhà nước pháp quyền khi người ta được tự do bởi cơ sở của công lý phải được đặt trên nền tảng quyền cơ bản của con người.
- Thứ tư, góp phần kiểm soát việc thực thi quyền hành pháp
Thông qua hoạt động giải quyết, xét xử góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý hành chính Nhà nước, nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức và người lao động. Cụ thể, việc Toà án nhân dân các cấp làm tốt việc giải quyết, xét xử khoa học, khách quan sẽ tạo ra một cơ chế tư pháp độc lập giám sát hoạt động hành pháp từ đó góp phần đề cao trách nhiệm của nền hành chính quốc gia và hệ thống tư pháp trong Nhà nước pháp quyền. Cơ quan hành chính Nhà nước, các cơ quan Nhà nước khác, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền sẽ thận trọng hơn khi ban hành các quyết định hành chính và thực hiện các hành vi hành chính ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật từ phía cơ quan Nhà nước, cán bộ, công chức; khắc phục tình trạng quản lý theo mệnh lệnh đơn thuần và áp đặt tùy tiện của quyền hành pháp đối với xã hội; nêu cao tinh thần trách nhiệm của cơ quan công quyền, đẩy mạnh hiệu quả hoạt động quản lý hành chính Nhà nước.
- Thứ năm, góp phần đảm bảo công bằng xã hội
Trong quá trình tham gia tố tụng vị trí, quyền và nghĩa vụ của các đương sự là hoàn toàn bình đẳng với nhau. Hội đồng xét xử sẽ làm rõ bản chất vụ án khi lắng nghe các bên đương sự phát biểu, tranh luận, xem xét, đánh giá các tài liệu, chứng cứ một cách khách quan và toàn diện từ đó ra phán quyết cuối cùng khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, bảo đảm dân chủ và công bằng xã hội.
1.2. Nội dung và các yếu tố ảnh hưởng đến bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Toà án nhân dân Luận văn: Bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử.
1.2.1 Nội dung bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Toà án nhân dân
1.2.1.1 Bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Toà án nhân dân bằng một số nguyên tắc cơ bản của Bộ luật tố tụng dân sự và Bộ luật tố tụng hình sự.
- Thứ nhất, quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền vệ quyền và lợi ích hợp pháp
Nhà nước công nhận và bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể. Khi quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể bị xâm hại thì pháp luật ghi nhận cho các chủ thể có thể khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết, xét xử buộc người có hành vi vi phạm phải chấm dứt hành vi vi phạm; buộc người vi phạm phải bồi thường thiệt hại hoặc công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lý. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể, nguyên tắc thể hiện qua các nội dung như sau: khi quyền và lợi ích hợp pháp của chính cơ quan, tổ chức, cá nhân bị xâm phạm thì có quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định; Trường hợp quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng bị xâm phạm cần được bảo vệ thì các chủ thể theo quy định của pháp luật cũng có quyền yêu cầu bảo vệ; Trong các hoạt động tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải tạo những điều kiện thuận lợi nhất để các đương sự tham gia, phải tôn trọng và không được hạn chế quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, Tòa án có trách nhiệm xem xét, giải quyết các yêu cầu của đương sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
- Thứ hai, quyền được cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng
Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự có vai trò và ý nghĩa quan trọng để đánh giá sự thật khách quan của vụ án và mang tính quyết định trong việc đưa ra phán quyết của Hội đồng xét xử. Các đương sự vừa có quyền, vừa có nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Việc bổ sung quy định về chứng cứ và chứng minh nhằm làm rõ quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc thu thập chứng cứ, hậu quả của việc đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết, xét xử dựa trên những chứng cứ đã thu thập được. Tòa án chỉ thu thập chứng cứ khi đương sự không thể thu thập hoặc khi xét thấy cần thiết, quy định này phù hợp với việc xét hỏi kết hợp với tranh tụng tại phiên tòa.
Để đảm bảo việc thu thập chứng cứ được nhanh chóng, thuận lợi hơn, khắc phục những vướng mắc trong thực tiễn, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung trình tự, thủ tục, quyền và nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng trong việc thực hiện biện pháp thu thập chứng cứ. Những quy định trên, góp phần tích cực vào việc bảo vệ quyền của đương sự và những người tham gia tố tụng khác khi tham gia vụ án.
- Thứ ba, Tòa án xét xử kịp thời, công bằng, công khai Luận văn: Bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử.
Trong Nhà nước pháp quyền, tính độc lập của tư pháp là một trong những đặc trưng cơ bản. Tầm quan trọng của tư pháp độc lập từ lâu đã được ghi nhận tại Điều 10 Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế năm 1948 (UDHR) ghi nhận, mọi người đều có “quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án độc lập và khách quan”. Điều 14 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) thì mọi người có “quyền được xét xử công bằng, công khai bởi một Tòa án có thẩm quyền, độc lập, công minh được thiết lập theo pháp luật”.
Trong hạn luật định, khi có đủ căn cứ, Tòa án phải đưa vụ án ra xét xử kịp thời đảm bảo công bằng cho các chủ thể tham gia tố tụng. Công khai là một trong những thuộc tính quan trọng của nên xã hội dân chủ. Việc xét xử công khai, một mặt bảo đảm cho nhân dân có thể kiểm tra, giám sát hoạt động của Tòa án mặt khác phát huy được tính giáo dục chính trị – pháp lý, tác dùng phòng ngừa của hoạt động xét xử và góp phần cho hoạt động xét xử được tiến hành đúng đắn, nâng cao trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Nội dung phiên tòa, thời gian, địa điểm mở phiên tòa được niêm yết công khai trước khi xét xử, kết quả xét xử tại phiên tòa có thể được công bố công khai trên cổng thông tin, báo chí hoặc các phương tiện thông tin đại chúng khác cho mọi người cùng biết. Trong một số trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật Nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người người chưa thành niên hoặc giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân theo yêu cầu chính đáng của đương sự, Tòa án có thể xử kín. Tuy nhiên, dù phiên tòa được xét xử kín, nhưng bản án, quyết định của phiên tòa đó cũng phải được tuyên công khai.
- Thứ tư, bảo đảm tranh tụng trong xét xử
Để cụ thể hóa quy định tại khoản 5 Điều 103 Hiến pháp 2013 về “nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” tại Điều 24 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 đã bổ sung nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử.
Tranh tụng tại phiên tòa là hình thức tố tụng mà trong đó Tòa án thay mặt Nhà nước xác định sự thật vụ án trên cơ sở công khai tại phiên tòa, nghe các ý kiến của các bên tham gia tố tụng để ra quyết định phán xét giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ và đúng pháp luật.
Thời điểm tranh tụng được bắt đầu từ khi Tòa thụ lý vụ án, các đương sự tham gia tố tụng có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ và có nghĩa vụ thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc phản biện, bác bỏ yêu cầu của người khác theo luật này. Trong quá trình giải quyết, xét xử mọi tài liệu, chứng cứ được xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện. Luận văn: Bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử.
Tòa án điều hành việc tranh tụng, hỏi những vấn đề chưa rõ và căn cứ vào kết quả tranh tụng để đưa ra bản án, quyết định. Như vậy, nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người góp phần mang lại sự công bằng, bình đẳng, minh bạch hoạt động tranh tụng trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án.
- Thứ năm, thực hiện chế độ xét xử sơ thẩm có Hội thẩm tham gia
Nguyên tắc này khẳng định Hội thẩm nhân dân tham gia vào phiên tòa sơ thẩm, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn và Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán khi biểu quyết. Việc thực hiện chế độ xét xử có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân nhằm tạo điều kiện cho nhân dân tham gia vào công việc của Nhà nước, đảm bảo quyền lợi của nhân dân và của đương sự, đảm bảo dân chủ trong xét xử, giúp Thẩm phán giải quyết hợp tình, hợp lý vụ án nhằm bảo vệ công lý, bảo đảm quyền trẻ em.
- Thứ sáu, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật
Khi xét xử, Thẩm phán độc lập với Hội thẩm trong việc xem xét và đánh giá chứng cứ để đưa ra các kết luận của mình mà không lệ thuộc vào quan điểm, chính kiến của các thành viên khác trong Hội đồng xét xử. Đối với Hội thẩm, không một yêu cầu hay đề nghị nào của những người khác có thể làm ảnh hưởng tới việc Hội thẩm áp dụng đúng pháp luật, theo đúng nội dung và tinh thần của điều luật đối với các tình tiết của vụ án cụ thể. Về nguyên tắc, Thẩm phán không được áp đặt ý kiến đối với Hội thẩm khi xét xử. Chỉ có thành viên Hội đồng xét xử mới được tham gia nghị án, khi nghị án, Hội thẩm biểu quyết trước, Thẩm phán là người biểu quyết sau cùng. Các vấn đề của vụ án đều phải được giải quyết bằng biểu quyết và quyết định theo đa số. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được lưu trong hồ sơ vụ án. Xét xử độc lập không có nghĩa là xét xử tùy tiện mà việc xét xử phải tuân thủ các quy định của pháp luật, trong khuôn khổ của pháp luật.
1.2.1.2 Bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Toà án nhân dân bằng quy định quyền của đương sự và người tham gia tố tụng khác một cách đầy đủ và chặt chẽ
- Thứ nhất, quyền quyết định và tự định đoạt của người khởi kiện
Đây là một trong những quyền quan trọng nhất của người khởi kiện, quyền quyết định và tự định đoạt của người khởi kiện trở thành một nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự, có ý nghĩa xuyên suốt trong tất cả các giai đoạn của tố tụng. Các bên chủ động đưa ra các biện pháp, phương thức để khôi phục một cách đầy đủ và nhanh chóng, kịp thời quyền và lợi ích của mình.
Nội dung về quyền quyết định và tự định đoạt của người khởi kiện được quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự. Như vậy, để phát sinh một vụ án dân sự thì đương sự phải thực thiện quyền khởi kiện, pháp luật tố tụng đã trao quyền quyết định này cho người khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời toàn quyền tự định đoạt trong các giai đoạn tố tụng tiếp theo như: có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu, bổ sung, thỏa thuận, rút đơn khởi kiện, thực hiện các quyền tố tụng khác theo quy định của pháp luật. Luận văn: Bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử.
- Thứ hai, quyền tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền bảo vệ của họ, Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm trợ giúp pháp lý cho các đối tượng theo quy định của pháp luật để họ thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp trước Tòa án; không ai được hạn chế quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Đối với đương sự là người hạn chế năng lực hành vi, phải có người giám hộ để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho họ trong quá trình tham gia tố tụng.
- Thứ ba, quyền bình đẳng trước pháp luật
Pháp luật tố tụng dân sự ghi nhận và đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp luật được coi là nguyên tắc cơ bản được ghi nhận tại Điều 8 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên tắc này xác định vị trí như nhau của mọi công dân trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và xã hội, cũng như việc tham gia quan hệ tố tụng dân sự, không có sự ưu tiên, ưu đãi, đối xử. Tòa án đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giúp các đương sự bình đẳng khi chứng minh và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
- Thứ tư, quyền kháng cáo bản án, quyết định và khiếu nại tố cáo
Mục đích của việc kháng cáo là nhằm hạn chế những sai lầm của các cơ quan tiến hành tố tụng cấp dưới có thể gây thiệt hại đến quyền lợi chính đáng của đương sự. Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Thực chất quyền kháng cáo chính là quyền yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại vụ án vì cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại hoặc chưa đồng ý, thỏa mãn với phán quyết của Tòa án cấp sơ thẩm.
Ngoài ra, đương sự có quyền khiếu nại, tố cáo hành vi, quyết định trái pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét, giải quyết kịp thời, đúng pháp luật và thông báo kết quả giải quyết cho người khiếu nại, tố cáo.
1.2.1.3 Bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Toà án nhân dân bằng những chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội Luận văn: Bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử.
Thứ nhất, khoản 1 Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 bổ sung nguyên tắc “Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi”. Đây là nguyên tắc cơ bản và hết sức quan trọng, có ý nghĩa trong việc định hướng để sửa đổi, bổ sung một số điều luật trong cả Phần những quy định chung và Phần các tội phạm quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015, đồng thời nguyên tắc này còn định hướng cho cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng khi quyết định lựa chọn biện pháp xử lý trong đó có lựa chọn hình thức trách nhiệm hình sự phải phù hợp với đặc điểm nhân thân của người chưa thành niên phạm tội.
Thứ hai, tại khoản 2 Điều 91 Bộ luật hình sự quy định về nguyên tắc miễn trách nhiệm hình sự theo hướng mở rộng phạm vi miễn trách nhiệm hình sự và quy định cụ thể các điều kiện miễn trách nhiệm hình sự đốỉ với người dưới 18 tuổi phạm tội, Bộ luật hình sự đã quy định 03 biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự, trong đó 02 biện pháp lần đầu tiên được quy định là khiển trách (Điều 93) và hoà giải tại cộng đồng (Điều 94), chuyển biện pháp tư pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn trước đây được quy định tại Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 1999 thành một trong những biện pháp giám sát, giáo dục (Điều 95).
Thứ ba, Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 91 Bộ luật Hình sự năm 2015 có thể được miễn trách nhiệm hình sự nếu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng trừ các tội quy định tại Điều 134 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác), Điều 141 (Tội hiếp dâm), Điều 171 (Tội cướp giật tài sản), Điều 248 (Tội sản xuất trái phép chất ma túy), Điều 249 (Tội tàng trữ trái phép chất ma túy), Điều 250 (Tội vận chuyển trái phép chất ma túy), Điều 251 (Tội mua bán trái phép chất ma túy), Điều 252 (Tội chiếm đoạt chất ma túy).
Thứ tư, miễn trách nhiệm hình sự đối với Người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án. Tham gia vào một vụ phạm tội dưới hình thức đồng phạm, nhưng tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội này là không đáng kể như bản thân người này không trực tiếp gây ra hậu quả của tội phạm hoặc chỉ có hành vi xúi giục hay giúp sức không đáng kể… Luận văn: Bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử.
Thứ năm, xuất phát từ những đặc điểm tâm, sinh lý của người dưới 18 tuổi phạm tội và chính sách hình sự của Nhà nước đối với đối tượng này, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 vẫn tiếp tục kề thừa quy định về hình phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội như quy định tại Điều 74 Bộ luật Hình sự năm 1999. Đồng thời khẳng định nguyên tắc khi xét xử Tòa án chỉ áp dụng hình phạt (trong đó có hình phạt tù có thời hạn) đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nếu xét thấy việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp giám sát, giáo dục hoặc việc áp dụng biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa. Tuy nhiên, khi xử phạt tù có thời hạn, Toà án cho người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn, với thời hạn ngắn nhất so với mức án áp dụng đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên phạm tội khi có các tình tiết tương ứng, đặc biệt là không áp dụng hình phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Đây cũng là một trong những biểu hiện của chính sách hình sự nhân đạo trong việc bảo đảm quyền con người nói chung và bảo đảm quyền trẻ em nói riêng trong hoạt động xét xử.
Thứ sáu, đối với việc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm tội chưa đạt.Theo quy định tại khoản 3 Điều 102 Bộ luật Hình sự năm 2015, mức hình phạt cao nhất áp dụng với người từ đủ 14 tuổi đến dưói 16 tuổi phạm tội chưa đạt không quá một phần ba mức hình phạt quy định tại Điều 100 và Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015. Mức hình phạt cao nhất áp dụng với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội chưa đạt không quá một phần hai mức hình phạt quy định tại các điều 99, 100 và 101 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Thứ bảy, Bộ luật Hình sự năm 2015 bổ sung một điều luật mới quy định về tha tù trước thời hạn có điều kiện (Điều 106). Đây thực chất là biện pháp trả tự do sớm hơn so với thời hạn mà người dưới 18 tuổi đang chấp hành án phạt tù để được cải tạo, giáo dục tại địa phương nơi người đó sinh sống hoặc học tập. Người dưới 18 tuổi đang chấp hành án phạt tù được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau đây: phạm tội lần đầu; có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt; đã chấp hành được một phần ba thòi hạn phạt tù; có nơi cư trú rõ ràng. Việc tha tù trước thời hạn có điều kiện được thực hiện theo quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều 66 Bộ luật hình sự.
Thứ tám, Bộ luật hình sự năm đã sửa đổi, bổ sung quy định về xoá án tích đối với người dưới 18 tuổi bị kết án theo hướng “đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong xử lý người phạm tội”, trong đó đặc biệt chú ý đến việc rút ngắn thời hạn xóa án tích nhằm tăng cường hơn nữa chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước đốì với người bị kết án là người dưới 18 tuổi, qua đó bảo vệ quyền của đối tượng “đặc thù” này cũng như tạo ra những điều kiện thuận lợi để các em có thể tự cải tạo, tự giáo dục trong môi trường xã hội nhằm giúp các em hướng tới việc tái hòa nhập cộng đồng một cách tốt nhất.
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Toà án nhân dân Luận văn: Bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử.
- Thứ nhất, chất lượng của hệ thống pháp luật
Chất lượng của hệ thống pháp luật là một trong những cơ sở để bảo đảm cho việc thực hiện và áp dụng pháp luật đạt được kết quả cao trong thực tiễn, chất lượng pháp luật càng tốt thì việc bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử được tốt hơn.
- Thứ hai, năng lực, trình độ của người tiến hành tố tụng
Đây có thể xem là một trong các yếu tố có vai trò quyết định trong hoạt động giải quyết, xét xử các vụ án. Năng lực, trình độ của người tiến hành tố tụng, ý thức pháp luật, trách nhiệm của các chủ thể quản lý hành chính Nhà nước và ý thức pháp luật của những người tham gia tố tụng. Trong đó, Thẩm phán và Hội thẩm là hai chủ thể trực tiếp tiến hành việc xét xử. Năng lực, trình độ chuyên môn và bản lĩnh, trách nhiệm của các người tiến hành tố tụng ảnh hưởng nhiều đến chất lượng giải quyết, xét xử. Bởi lẽ, chỉ khi vụ án được giải quyết, xét xử đúng đắn, khách quan đúng pháp luật thì quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân mới thực sự được bảo đảm. Việc áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử phụ thuộc nhiều vào trình độ, năng lực của người tiến hành tố tụng. Ngoài ra, chất lượng của Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Luật sư và những người tham gia tố tụng khác cũng ảnh hưởng đến hiệu quả xét xử.
- Thứ ba, yếu tố chính trị
Với vai trò hiến định, Đảng cộng sản Việt Nam thực hiện sự lãnh đạo toàn diện đối với Nhà nước và xã hội. Với tư cách là một thiết chế công quyền thực hiện quyền tư pháp, hoạt động của hệ thống Tòa án chịu sự lãnh đạo của Đảng.
Trong quá trình tiến hành giải quyết, xét xử cấp ủy Đảng sẽ lãnh đạo thông qua công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá ưu, khuyết điểm của hoạt động tố tụng, chứ không can thiệp trực tiếp vào công tác xét xử mà khi cần thiết, sẽ phối hợp với cơ quan xét xử để đưa ra đường lối giải quyết những vụ án lớn có ảnh hưởng đến an ninh chính trị và quốc phòng của đất nước hoặc địa phương giúp các cơ quan tiến hành tố tụng thận trọng, nghiêm minh hơn trong quá trình thực hiện hoạt động xét xử. Như vậy, có thể khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng sẽ là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết, xét xử các vụ án góp phần bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử.
- Thứ tư, sự phối hợp giữa các cơ quan tư pháp Luận văn: Bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử.
Công tác phối hợp giữa các cơ quan tư pháp được tiến hành thường xuyên, chặt chẽ, kịp thời và nghiêm túc trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan theo quy định của pháp luật. Các thiết chế bổ trợ tư pháp có ý nghĩa quan trọng như: Ủy ban nhân dân các cấp, Tài nguyên môi trường, Luật sư, Thừa phát lại, Văn phòng công chứng, trợ giúp pháp lý cũng được phát huy rộng rãi hỗ trợ đắc lực cho Tòa án giải quyết nhanh chóng và chính xác hơn.
- Thứ năm, cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ hoạt động xét xử
Có thể khẳng định yếu tố cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại có vai trò lớn trong việc đảm bảo tính chính xác, nhanh chóng và hiệu quả hoạt động giải quyết, xét xử các vụ án. Một khi cơ sở vật chất, phương tiện nghiệp vụ phục vụ công tác xét xử sơ thẩm hiện đại, công nghệ thông tin được ứng dụng phù hợp thì sẽ tăng cường hiệu quả, thuận lợi, chính xác cho các hoạt động cụ thể như thu thập chứng cứ, quản lý hồ sơ. Mặc khác, tạo các điều kiện thuận lợi để tổ chức tốt các phiên toà trực tuyến, góp phần tiết kiệm chi phí xã hội, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của Toà án, bảo đảm từng bước chuyên nghiệp, hiện đại, hướng đến xây dựng Toà án điện tử theo tinh thần Nghị quyết số 33/2021/QH15 ngày 12/11/2021 của Quốc hội.
Kết luận chương 1
Việc nghiên cứu các chế định bảo đảm quyền trẻ em thông qua hoạt động xét xử tại Toà án đã thể chế hoá một cách tốt nhất, đường lối, chính sách của Đảng trong xây dựng pháp luật ở Việt Nam và phù hợp với đặ điểm phát triển về thể chất và tâm sinh lý của trẻ em đồng thời tiếp cận gần hơn các chuẩn mực quốc tế quy định trong các văn kiện pháp lý mà trước hết là các Quy tắc tiêu chuẩn của Liên hợp quốc về hợp động tư pháp đối với trẻ em. Luận văn: Bảo đảm quyền của trẻ em thông qua hoạt động xét xử.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp bảo đảm quyền của trẻ em thông qua xét xử