Luận văn: Bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Công cuộc đổi mới đất nước hiện nay đặt chúng ta trước nhiều nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, trong đó có mục tiêu hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo cơ chế hữu hiệu đảm bảo quyền con người, quyền công dân, đáp ứng mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hội nhập và phát triển bền vững. Vậy nên trong những năm gần đây, cùng với sự biến chuyển của các quan hệ xã hội nói chung, Nhà nước ta đã dần sửa đổi và hoàn thiện hệ thống pháp luật cho phù hợp với cuộc sống, trong đó phải kể đến pháp luật tố tụng hành chính, một ngành luật mới nhưng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân.

Ngày 25/11/2015, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Tố tụng hành chính (Luật TTHC năm 2015). Luật được Chủ tịch nước ký Lệnh công bố ngày 08/12/2015 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, thay thế Luật TTHC năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2013 với nhiều quy định mới tiến bộ, phù hợp với thực tiễn đời sống và đáp ứng yêu cầu theo Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đã chỉ rõ: “Hoàn thiện chế độ bảo hộ của Nhà nước đối với các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, chế độ trách nhiệm của cơ quan nhà nước, nhất là Tòa án trong việc bảo vệ các quyền đó; xử lý nghiêm minh mọi hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân”. Trên cơ sở kế thừa các quy định còn phù hợp, khắc phục vướng mắc, bất cập nảy sinh từ thực tiễn triển khai thi hành Luật TTHC năm 2010, nhất là tháo gỡ những khó khăn, bất cập trong công tác giải quyết, xét xử các khiếu kiện hành chính, tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý để Tòa án nhân dân (TAND) thực hiện có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ được giao, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật. Trong đó, một trong những nội dung có ý nghĩa quan trọng đối với nền tài phán hành chính là việc bảo đảm quyền của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án hành chính (VAHC). Các quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp ghi nhận có thể bị xâm phạm bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính, cùng với quyền khiếu nại hành chính, quyền khởi kiện vụ án hành chính giúp cho công dân bảo vệ và khôi phục các quyền cơ bản của mình. Trong quá trình tham gia tố tụng, các quyền của đương sự được đảm bảo thực thi trên thực tế.

Tuy nhiên, dưới góc độ lý luận và thực tiễn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về bảo đảm quyền của đương sự trong tố tụng hành chính để làm cơ sở cho việc đánh giá luật định. Mặt khác, một số quy định về bảo đảm quyền của đương sự được quy định trong Luật TTHC năm 2015 chưa đầy đủ hoặc thiếu cụ thể, nên việc áp dụng các quy định này trong thực tiễn đã dẫn tới những vướng mắc, bất cập trước áp lực số lượng vụ án hành chính ngày càng gia tăng, tiến độ giải quyết còn chậm ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Nghiên cứu thực tiễn tố tụng tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk cho thấy còn tồn tại tình trạng Tòa án chưa thực sự tôn trọng, áp đặt ý chí chủ quan, thậm chí vi phạm các quyền của đương sự và chưa tạo điều kiện cho đương sự thực hiện quyền của mình dẫn tới các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không được bảo vệ. Tỷ lệ các bản án bị hủy, sửa còn cao; vẫn còn các vụ án để quá thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật do lỗi chủ quan của Thẩm phán; việc xử lý đơn khởi kiện còn chậm, vi phạm về thời hạn xử lý đơn; một số trường hợp trả lại đơn khởi kiện nhưng không ghi rõ lý do của việc trả lại đơn và chưa đúng quy định của Luật TTHC; Tòa án chưa chú trọng xác minh, thu thập chứng cứ,.  là những bất cập, hạn chế vẫn còn

tồn tại trong hệ thống Tòa án các cấp. Bản thân là người đang công tác trong ngành Tòa án, khi nhìn nhận được những vấn đề trên tôi lựa chọn đề tài “Bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk” làm đề tài luận văn luật học, với mong muốn tìm hiểu sâu sắc hơn về khoa học luật hành chính, đặc biệt là những quy định của pháp luật về việc bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính. Quá trình nghiên cứu tài liệu và viết luận văn sẽ giúp tôi có thể tích lũy được những kiến thức cần thiết phục vụ công tác chuyên môn, góp phần bảo đảm tốt hơn quyền của đương sự, qua đó nâng cao chất lượng hoạt động xét xử vụ án hành chính ở địa phương.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài Luận văn: Bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.

Trong khoa học pháp lý vấn đề bảo vệ quyền con người nói chung và bảo vệ quyền của đương sự trong tố tụng nói riêng đã trở thành tâm điểm nghiên cứu, bình luận của giới nghiên cứu luật. Đã có nhiều bài viết, công trình nổi bật được nghiên cứu từ các góc độ và mức độ khác nhau. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như sau: Giáo trình Pháp luật quốc tế về quyền con người (2014), Giáo trình Cơ chế quốc tế và khu vực về quyền con người (2014) của Học viện Khoa học xã hội do GS.TS Võ Khánh Vinh và TS. Lê Mai Thanh chủ biên; Cơ chế bảo đảm quyền và bảo vệ quyền của con người (2011) do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên; Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người (2009) của Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội do GS.TS. Nguyễn Đăng Dung, TS. Vũ Công Giao, ThS. Lã Khánh Tùng đồng chủ biên và nhiều bài viết, tạp chí, chuyên đề nghiên cứu về quyền con người, quyền công dân như bài viết của tác giả Cao Đức Thái “Quyền con người trong thời kỳ đổi mới – Mấy vấn đề nhận thức lý luận và thực tiễn” đăng trong cuốn “Quyền con người tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội” (2009) do GS.TS Võ Khánh Vinh làm chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học xã hội.

Dưới góc độ là quyền tố tụng, các bảo đảm về quyền con người thông qua bảo đảm quyền của các đương sự tham gia tố tụng được nhiều tác giả đề cập, có thể kể đến sách chuyên khảo “Cơ chế pháp lý bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân” (2017) của TS. Nguyễn Thị Thu Hà; Luận văn Thạc sĩ luật học “Quyền tố tụng của đương sự và thực tiễn thực hiện” của tác giả Đỗ Thị Hà, Trường Đại học Luật Hà Nội; “Bảo đảm quyền tố tụng của đương sự trong tố tụng dân sự” (2019) Luận án Tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thị Thúy Hằng, Trường Đại học Luật Hà Nội; “Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam” (2006), Luận án Tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Công Bình, Đại học Luật Hà Nội; “Bảo đảm quyền của người tham gia tố tụng theo nghĩa vụ pháp lý trong tố tụng hình sự Việt Nam” (2015), Luận án Tiến sĩ luật học của tác giả Trần Thảo, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh. Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về bảo đảm quyền của đương sự trong tố tụng hành chính ở Việt Nam và đặc biệt thông qua thực tế một địa phương, mà chỉ nghiên cứu dưới góc độ các quyền riêng rẽ nhưng số lượng cũng rất hạn chế như “Quyền quyết định và tự định đoạt của người khởi kiện trong vụ án hành chính” (2014), Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trương Thị Minh Thùy, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh; “Quyền khiếu nại hành chính của công dân ở Việt Nam hiện nay” (2013), Luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Thị Thủy, Trường Đại học Luật Hà Nội; “Quyền được xét xử công bằng, công khai bởi một Tòa án độc lập, khách quan theo một thời gian hợp lý và ứng dụng trong pháp luật tố tụng hành chính Việt Nam” (2019), Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Lê Cường, Trường Đại học Luật Hà Nội; “Bảo đảm nguyên tắc công bằng trong giải quyết vụ án hành chính” (2018), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội do Nguyễn Thị Thủy làm chủ nhiệm. Việc nghiên cứu chuyên sâu về bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính là rất cần thiết bởi từ khi Luật TTHC năm 2015 ra đời đã đặt ra rất nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn, nhất là đối với các địa phương miền núi đang trong quá trình phát triển mạnh như tỉnh Đắk Lắk.

3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.2. Mục đích: Luận văn: Bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.

Luận văn hướng tới việc đánh giá thực trạng pháp luật TTHC ở Việt Nam hiện nay trong việc bảo đảm quyền của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án hành chính trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Từ đó đề xuất một số yêu cầu, giải pháp nhằm bảo đảm quyền của đương sự trong TTHC được thực thi trên thực tế.

3.2. Nhiệm vụ:

Để đạt được mục đích trên, việc nghiên cứu đề tài cần phải thực hiện các nhiệm vụ sau:

  • Nghiên cứu làm rõ khái niệm, đặc điểm, nội dung về bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết VAHC.
  • Nghiên cứu và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết VAHC.
  • Phân tích, đối sánh với lý luận để đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết VAHC.

Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, chỉ ra những kết quả đạt được, vướng mắc, bất cập và nguyên nhân làm tiền đề cho việc đề xuất các giải pháp.

Xác định rõ các yêu cầu đặt ra đối với việc bảo đảm quyền của đương sự; đề xuất các giải pháp để bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết VAHC.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1. Đối tượng nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính.

4.2. Phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi nội dung: Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu về bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính.
  • Phạm vi không gian: Luận văn giới hạn nghiên cứu trong phạm vi các vụ án hành chính sơ thẩm và phúc thẩm tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
  • Phạm vi thời gian lấy số liệu: Từ năm 2017 đến nay.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp theo hướng bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu đề tài luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành khác như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, sử dụng kết quả thống kê của ngành Tòa án để minh họa, làm rõ vấn đề nghiên cứu trong luận văn. Cụ thể: Luận văn: Bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.

Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh được sử dụng trong quá trình xây dựng khái niệm, đặc điểm bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết VAHC.

Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, suy luận, sử dụng kết quả thống kê, dữ liệu của ngành Tòa án chủ yếu được sử dụng trong quá trình phân tích những hạn chế, bất cập của pháp luật và tồn tại, vướng mắc trong thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự, của người đại diện và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự; những hạn chế của pháp luật trong các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Tòa án, Viện kiểm sát cũng như những người tiến hành tố tụng thuộc hai cơ quan này, đặc biệt là trong việc đánh giá về các quy định về bảo đảm tính độc lập, khách quan của hoạt động tố tụng là nguyên nhân dẫn đến quyền của đương sự chưa được bảo đảm thực thi trên thực tế.

Để bảo đảm cơ sở thực tiễn, tính cấp thiết của vấn đề khoa học cần giải quyết, đặc biệt để nâng cao tính thuyết phục của các giải pháp khoa học, phương pháp phân tích, tổng hợp, kết hợp lý luận và thực tiễn bảo đảm tính thuyết phục được sử dụng trong các luận điểm để luận giải đưa ra các định hướng, yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết VAHC.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Thứ nhất, luận văn đã kế thừa và làm sâu sắc hơn một số vấn đề lý luận cơ bản về bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết VAHC như khái niệm, bản chất, xác định được nội dung bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính và các yếu tố ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết VAHC.

Thứ hai, luận văn đánh giá một cách toàn diện những kết quả đạt được, hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật cũng như thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về bảo đảm quyền của đương sự tại TAND tỉnh Đắk Lắk; xác định được nguyên nhân cơ bản dẫn đến quyền của đương sự không được bảo đảm thực hiện là tiền đề cho việc đề xuất các giải pháp bảo đảm thực hiện quyền của đương sự trong giải quyết VAHC.

Thứ ba, luận văn xây dựng được hệ thống các yêu cầu, kiến nghị khoa học về bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính, đáp ứng được xu hướng hội nhập quốc tế và đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước về cải cách tư pháp bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử, bao gồm các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và kiến nghị tổ chức thực hiện pháp luật.

7. Kết cấu của luận văn Luận văn: Bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo thì phần nội dung của luận văn được cơ cấu thành 3 chương:

  • Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính.
  • Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính tại Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk
  • Chương 3: Yêu cầu và giải pháp bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

1.1. Khái niệm và đặc điểm bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính

1.1.1. Khái niệm bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính

Quyền con người luôn được cộng đồng quốc tế và các quốc gia coi trọng và xem đó như là một thành tựu của nền văn minh trong thời đại ngày nay; là thước đo của sự tiến bộ xã hội, không phân biệt hệ tư tưởng, chế độ chính trị, bản sắc văn hóa, trình độ phát triển. Các quyền của con người là những giá trị tự nhiên được con người nhận thức, thừa nhận và dần thể chế hóa trong các văn kiện quốc tế về quyền con người và được các quốc gia thừa nhận, cam kết thực hiện. Nhà nước là chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, tạo ra các tiền đề, điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội, pháp lý để các cá nhân, công dân, các tổ chức của công dân thực hiện được các quyền, lợi ích chính đáng của họ. Nói cách khác, bảo đảm quyền con người là quá trình tạo lập các cơ chế và triển khai các hoạt động thực tiễn để hiện thực hóa quyền pháp định.

Thuật ngữ “bảo đảm” trong tiếng Việt được hiểu là “làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ những gì cần thiết; bảo đảm là cam đoan chịu trách nhiệm về việc gì đó” [64, tr.79], hay “Bảo đảm nghĩa là làm cho một vấn đề nào đó có thể thực thi trên thực tế” [12, tr.19]. Từ đó có thể hiểu khái niệm bảo đảm quyền của đương sự là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm pháp luật và các điều kiện bảo đảm từ phía Nhà nước nhằm hiện thực các quyền của đương sự trên thực tế.

Trong vụ án hành chính, đương sự là những người tham gia tố tụng với tư cách là người khởi kiện, người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Họ là những cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia tố tụng với mục đích là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tương tự như các quyền về dân sự, quyền được bảo vệ trong các hoạt động quản lý hành chính nhà nước được ghi nhận trong hệ thống pháp luật của quốc gia và bảo hộ chặt chẽ. Khi các quyền này bị xâm phạm thì pháp luật trao cho chủ thể các quyền tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án, bao gồm quyền quyết định về yêu cầu tố tụng trước Tòa án; được chứng minh, bảo vệ quyền lợi trước Tòa án; được tiếp cận chứng cứ, tài liệu; được tranh tụng; được xét xử bởi một Tòa án độc lập, khách quan trong một thời hạn hợp lý; được đề xuất với Tòa án áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp; được đối thoại với nhau về quyền, lợi ích tranh chấp; kháng cáo, khiếu nại… Từ các quyền cơ bản này, nhà lập pháp sẽ cụ thể hóa thành các quyền cụ thể như quyền khởi kiện, giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu; cung cấp chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình; được biết, ghi chép và sao chụp các tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập; đề nghị Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ của vụ án trong trường hợp tự mình không thể thực hiện được; đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá tài sản, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; tự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; tham gia đối thoại, tham gia phiên toà; nhận thông báo hợp lệ từ Tòa án… Các quyền này của đương sự sẽ được bảo đảm thực hiện thông qua nghĩa vụ đối ứng của đương sự khác cũng như nhiệm vụ của Tòa án, Viện kiểm sát. Luận văn: Bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.

Thông qua việc ghi nhận quyền của đương sự trong giải quyết VAHC, Nhà nước tạo cơ sở pháp lý cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước có thể bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án. Điều này sẽ đặt ra trách nhiệm cho cơ quan có thẩm quyền trong việc thụ lý, giải quyết tranh chấp khi các chủ thể muốn khôi phục quyền và lợi ích bị xâm phạm. Với việc sử dụng các quyền tố tụng được pháp luật quy định, đương sự có thể chủ động trong việc yêu cầu Tòa án thụ lý giải quyết tranh chấp nhằm bảo vệ các quyền của mình. Trong giải quyết vụ án hành chính, bảo đảm quyền của đương sự tập trung chủ yếu vào các nội dung sau đây:

  • Một là, phải ghi nhận đầy đủ các quyền cơ bản của đương sự đồng thời xác lập nghĩa vụ đối ứng của các đương sự khác.
  • Hai là, bảo đảm quyền của các đương sự thông qua các chủ thể người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp của đương sự; thông qua việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Tòa án, Viện kiểm sát trong việc bảo đảm thực hiện quyền của đương sự; thông qua nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể tiến hành tố tụng mà chủ yếu là Thẩm phán, HTND và Thư ký Tòa án.
  • Ba là, thiết lập cơ chế kiểm sát việc bảo đảm quyền của đương sự.
  • Bốn là, có các chế tài cần thiết xử lý hành vi vi phạm quyền của đương sự.

Bên cạnh việc ghi nhận, ban hành đầy đủ, minh bạch các biện pháp bảo đảm nói trên thì việc thực hiện nghiêm chỉnh các quy định đó trên thực tế cũng là yếu tố quan trọng, mang tính quyết định. Các biện pháp bảo đảm trên phải được thực hiện đồng thời thì việc bảo đảm quyền của đương sự mới đạt hiệu quả cao.

Với những phân tích trên, bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết VAHC dưới góc độ pháp lý được hiểu là việc Nhà nước thiết lập các biện pháp, cơ chế hỗ trợ, tạo điều kiện cần thiết nhằm ghi nhận, tôn trọng và thực hiện các quyền của đương sự trong quá trình giải quyết các khiếu kiện hành chính bằng con đường tố tụng, thông qua hoạt động xét xử của TAND được điều chỉnh bởi luật TTHC. Bảo đảm quyền của đương sự là bảo đảm dân chủ, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà nước, cũng là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong TTHC thể hiện ở việc ghi nhận đầy đủ các quyền tố tụng cơ bản của đương sự trong Hiến pháp, Luật TTHC. Qua đó khôi phục lại những giá trị vật chất, giá trị tinh thần đã bị các chủ thể quản lý nhà nước xâm phạm, tạo sự bình đẳng và công bằng giữa công dân và cơ quan công quyền trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, là cơ sở cho việc giải quyết vụ án chính xác, khách quan.

Các biện pháp nhằm bảo đảm thực thi có hiệu quả các quyền của đương sự trên thực tế bao gồm: ghi nhận đầy đủ các quyền cơ bản của đương sự đồng thời xác lập nghĩa vụ đối ứng của các đương sự khác; thiết lập cơ chế đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp của đương sự; quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Tòa án, Viện kiểm sát và những người tiến hành tố tụng; thiết lập cơ chế kiểm sát việc bảo đảm quyền của đương sự cũng như chế tài cần thiết xử lý các hành vi vi phạm quyền của đương sự.

1.1.2. Đặc điểm bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính Luận văn: Bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.

  • Tòa án là chủ thể có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền của đương sự

Trong quá trình giải quyết VAHC, hầu hết các hoạt động tố tụng mang tính quyền lực nhà nước đều được thực hiện bởi Tòa án. Tòa án là chủ thể được nhà nước trao quyền giải quyết các tranh chấp, xung đột về lợi ích giữa các cá nhân, tổ chức với nhau, đặc biệt khi phát sinh tranh chấp hành chính giữa công dân với các cơ quan nhà nước hoặc với người có thẩm quyền, từ đó khôi phục lại những quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị xâm phạm. Các quyết định của Tòa án có giá trị bắt buộc đối với các chủ thể tham gia tố tụng.

Mô hình tố tụng hành chính Việt Nam cơ bản áp dụng theo mô hình thẩm xét, trong đó Tòa án là trung tâm của quá trình tố tụng nhưng có kết hợp với nguyên tắc tranh tụng trong xét xử nhằm nâng cao vai trò và quyền tự quyết của đương sự. Như vậy Tòa án vẫn đóng vai trò chủ yếu trong mọi hoạt động TTHC, là cơ quan đại diện cho công quyền, điều khiển sự vận hành bảo đảm thực hiện quyền của đương sự khi họ tham gia tố tụng tại Tòa án. Do đó, quyền của đương sự được bảo đảm thực hiện hay không phụ thuộc rất nhiều vào hành vi tố tụng của Tòa án. Chẳng hạn như việc cung cấp tài liệu, chứng cứ trong VAHC, Tòa án là chủ thể quyết định về thủ tục, giá trị cũng như mức độ đầy đủ của chứng cứ “Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án hành chính, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án; nếu đương sự không nộp hoặc nộp không đầy đủ tài liệu, chứng cứ do Tòa án yêu cầu mà không có lý do chính đáng thì Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo quy định tại khoản 2 Điều 84 của Luật này để giải quyết vụ án” [31, khoản 1 Điều 83].

Theo quy định của Luật TTHC năm 2015 thì phần lớn các quyền của đương sự sẽ được bảo đảm thực hiện thông qua việc thực hiện các trách nhiệm tương ứng của Tòa án. Đối với các quyền của đương sự như quyền đề nghị Tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ; đề nghị Tòa án yêu cầu đương sự khác xuất trình tài liệu, chứng cứ mà họ đang giữ; đề nghị Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, quyết định việc định giá tài sản; đề nghị Tòa án quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời chỉ được bảo đảm thực hiện khi Tòa án thực hiện đúng nhiệm vụ, trách nhiệm của mình trong quá trình giải quyết VAHC. Luận văn: Bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.

Bên cạnh đó, có một số quyền của đương sự phải thông qua Tòa án hoặc do Tòa án tác động mới thực hiện được như quyền đề xuất với Tòa án những vấn đề cần hỏi với người khác; được đối chất với nhau hoặc với người làm chứng. Hoặc có quyền tố tụng đương sự muốn thực hiện được thì phải được sự đồng ý, chấp thuận của Tòa án thể hiện thông qua các văn bản hoặc hành vi tố tụng của Tòa án như quyền được nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải được Tòa án làm thủ tục đăng ký thì mới được tham gia tố tụng. Như vậy Tòa án là chủ thể có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền của đương sự.

  • Bảo đảm quyền của đương sự được áp dụng cho tất cả các bên đương sự

Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật là một quyền hiến định được ghi nhận trong các bản Hiến pháp Việt Nam, là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Quy định này tiếp tục được cụ thể hóa trong văn bản pháp luật nói chung và trong pháp luật TTHC nói riêng, trở thành một nguyên tắc cơ bản để giải quyết những tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể thông qua thẩm quyền của Tòa án, đặc biệt là quyền giải quyết tranh chấp hành chính giữa một bên là cơ quan công quyền, một bên là cá nhân, tổ chức thì nguyên tắc bình đẳng là cơ sở, là công cụ để các bên tham gia quan hệ pháp luật TTHC được bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của mình. Vì vậy, đương sự dù là người khởi kiện, người bị kiện hay người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều được pháp luật bảo vệ như nhau.

  1. Trong tố tụng hành chính, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội.
  2. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong tố tụng hành chính trước Tòa án.
  3. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình [31, Điều 17].

Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật TTHC phải nghiêm chỉnh thực hiện, bảo đảm sự công bằng, bình đẳng, không phân biệt về dân tộc, giới tính hay chủ thể đó giữ cương vị, trọng trách nào trong xã hội…tất cả mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân không xác định về hình thức tổ chức, vị trí trong hệ thống chính trị, cán bộ, công chức hay công dân đều phải được đối xử công bằng, được thực hiện bình đẳng như nhau, có quyền, nghĩa vụ như nhau và phải thực hiện theo quy định của pháp luật TTHC. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không được thiên lệch bất cứ đương sự nào dù với bất cứ lý do gì. Vì khi Tòa án thiên vị cho một bên đương sự thì phán quyết của Tòa án sẽ không chính xác, không phù hợp với luật pháp và thực tế khách quan, không bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự. Một khi quyền của đương sự không được bảo đảm thực hiện như nhau thì những giá trị của hoạt động xét xử sẽ mất đi, niềm tin của công chúng vào cơ quan thực thi công lý sẽ bị sụp đổ. Vì vậy, quyền của đương sự đã được luật pháp ghi nhận chỉ thực sự có ý nghĩa và được bảo đảm thực hiện nếu như Tòa án thực sự công tâm, khách quan, không thiên vị hay phân biệt đối xử giữa các bên đương sự. Ngoài ra, ngay cả trường hợp Tòa án thật sự vô tư, khách quan thì vẫn phải quan tâm và cẩn trọng trong việc tạo điều kiện cho tất cả các đương sự đều có cơ hội tốt nhất để có thể thực hiện được các quyền mà pháp luật trao cho. Nếu tất cả các đương sự đều có cơ hội để thực hiện một cách tốt nhất các quyền của mình sẽ giúp Tòa án có cái nhìn thấu đáo, toàn diện và sâu sắc hơn về vụ tranh chấp, từ đó có thể đưa ra được phán quyết phù hợp với sự thật khách quan và đúng pháp luật.

  • Bảo đảm quyền của đương sự là cơ sở cho việc bảo vệ quyền của chủ thể được pháp luật bảo hộ

Trong quá trình tham gia và chịu sự ảnh hưởng của các hoạt động quản lý hành chính nhà nước, các chủ thể cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính có thể lựa chọn Tòa án để yêu cầu giải quyết với mục đích thông qua cơ quan tài phán nhà nước để khôi phục lại các quyền của mình. Việc khôi phục các quyền đó có chính xác như bản chất của nó hay không phụ thuộc vào quyền của đương sự có được bảo đảm thực hiện hay không. Vì vậy, trong quá trình giải quyết VAHC, Tòa án có trách nhiệm tạo mọi điều kiện cần thiết để đương sự thực hiện quyền của mình.

Để làm sáng tỏ các tình tiết, quá trình giải quyết VAHC phải được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục luật định. Bởi phán quyết của Tòa án buộc các chủ thể xâm phạm quyền phải chấm dứt hành vi vi phạm phải dựa trên sự minh bạch, khách quan, Tòa án phải khẳng định tính hợp pháp của hành vi pháp lý trong các phán quyết. Điều này cũng phụ thuộc vào quyền của đương sự có được vận hành hiệu quả hay không. Do đó, khi tham gia tố tụng, đương sự được tự do thực hiện các quyền trên cơ sở pháp luật TTHC đã quy định và ngăn cấm bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào cản trở hay xâm phạm các quyền đó. Các thủ tục tố tụng bảo vệ này là cơ sở cho việc bảo vệ các quyền của chủ thể được pháp luật bảo hộ.

  • Bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính được thực hiện bằng nhiều biện pháp phối hợp

Tố tụng hành chính là sự tổng hợp các hoạt động của các chủ thể tố tụng trong quá trình giải quyết VAHC, các hoạt động tố tụng này được thực hiện bởi nhiều giai đoạn với các trình tự, thủ tục khác nhau. Vì vậy, để quyền của đương sự được bảo đảm thực hiện trên thực tế thì cần phối hợp thực hiện bằng nhiều biện pháp. Theo đó, pháp luật TTHC cần phải cụ thể hóa các quyền và nghĩa vụ của đương sự trong từng trình tự tố tụng tương ứng làm căn cứ pháp lý để đương sự sử dụng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Pháp luật không chỉ ghi nhận đầy đủ, rõ ràng các quyền cụ thể mà còn phải ghi nhận và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ tương ứng của mỗi đương sự trong mối liên hệ với các quyền tương ứng của đương sự khác. Bởi quyền của đương sự này được bảo đảm thông qua việc thực hiện nghĩa vụ của đương sự đối lập. Có những quyền mà chỉ khi đương sự đối lập thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của họ thì quyền của đương sự này mới được bảo đảm thực hiện.

Ngoài ra, quyền của đương sự còn được bảo đảm thông qua hành vi tố tụng của Tòa án. Để hành vi tố tụng của Tòa án hướng tới việc bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự thì có những trường hợp pháp luật TTHC cần quy định theo hướng quyền của đương sự được thực thi thông qua nhiệm vụ, trách nhiệm đối ứng của Tòa án. Do đó, pháp luật TTHC cần cụ thể hóa trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng làm cơ sở pháp lý phát sinh trách nhiệm của chủ thể này trong việc bảo đảm quyền của đương sự, đồng thời là căn cứ pháp lý để xác định hành vi vi phạm quyền của đương sự từ cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Việc bảo đảm quyền của đương sự còn được thực hiện bởi cơ chế phối hợp của các chủ thể như người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người đại diện của đương sự; các chủ thể lưu giữ chứng cứ, tài liệu, tổ chức định giá, giám định, các tổ chức tín dụng… Chỉ khi các chủ thể này hỗ trợ, phối hợp và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho đương sự trong quá trình giải quyết vụ án thì các quyền của họ mới thực hiện một cách hiệu quả và lợi ích hợp pháp của họ mới được bảo vệ. Bên cạnh đó, việc thiết lập cơ chế kiểm sát là một trong những biện pháp pháp lý không thể thiếu để bảo đảm quyền của đương sự.

Ngoài các giải pháp trên, pháp luật TTHC cần xây dựng các chế tài để xử lý các hành vi vi phạm quyền của đương sự nhằm bảo đảm các quyền của đương sự được chắc chắn thực hiện trên thực tế. Bởi thực tế chứng minh rằng, pháp luật không chỉ đơn thuần là điều luật mà còn phải là áp dụng. Điều này có nghĩa rằng quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quy định sẽ không có giá trị gì nếu chúng không được thực thi trọn vẹn, đặc biệt là trong trường hợp các quyền này bị vi phạm trên thực tế.

1.2. Nội dung bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính Luận văn: Bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.

Nội dung bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết VAHC được hiểu là hệ thống các biện pháp để chắc chắn đương sự có đầy đủ cơ hội thực hiện được trên thực tế quyền mà pháp luật TTHC ghi nhận trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bao gồm các bảo đảm về chính trị, kinh tế, xã hội nhưng trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu biện pháp bảo đảm pháp lý (bảo đảm bằng các quy định của pháp luật) và thực tiễn thực hiện các biện pháp này. Trong biện pháp bảo đảm pháp lý, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các biện pháp bảo đảm sau: Ghi nhận quyền của đương sự, xác lập nghĩa vụ đối ứng của đương sự khác; thông qua quy định về người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Tòa án; trách nhiệm kiểm sát của Viện kiểm sát và bảo đảm thông qua quy định chế tài khi các chủ thể vi phạm quyền của đương sự.

1.2.1. Ghi nhận đầy đủ các quyền cơ bản của mỗi đương sự đồng thời xác lập và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ tương ứng của các đương sự khác

Để bảo đảm quyền của đương sự thì trước tiên pháp luật TTHC phải quy định đầy đủ, hợp lý, minh bạch các quyền của đương sự khi họ tham gia VAHC. Việc quy định quyền của các đương sự trong từng giai đoạn tố tụng sẽ là công cụ, phương tiện quan trọng để đương sự đòi hỏi công lý, đồng thời sẽ tạo ra hành lang pháp lý vững chắc bảo đảm cho đương sự có khả năng bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Các quyền cơ bản được pháp luật trao cho đương sự để bảo vệ quyền, lợi ích của mình trong quá trình giải quyết VAHC bao gồm: quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; quyền thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện, thực hiện các quyền tố tụng khác của mình theo quy định; quyền chủ động thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp, được Tòa án hỗ trợ trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ và tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ; được tranh tụng; được xét xử bởi một Tòa án độc lập, khách quan trong một thời hạn hợp lý; được đề xuất với Tòa án áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp; được tự bảo vệ, nhờ người khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, đại diện cho mình trước Tòa án; được biết, ghi chép và sao chụp các tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập; quyền đưa ra lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng; yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng; đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá tài sản, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; tham gia đối thoại về việc giải quyết vụ án; nhận thông báo hợp lệ từ Tòa án; quyền đề nghị cá nhân, cơ quan có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm; đưa ra câu hỏi hoặc đề xuất với Tòa án những vấn đề cần hỏi người khác; quyền đề nghị tạm ngừng phiên tòa; quyền đề nghị hoãn phiên tòa; được cấp trích lục bản án, quyết định của Tòa án; kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án; khiếu nại các văn bản tố tụng và hành vi tố tụng của Tòa án. Các quyền này của đương sự sẽ được bảo đảm thực hiện thông qua nghĩa vụ đối ứng của đương sự khác cũng như nhiệm vụ của Tòa án, Viện kiểm sát. Các quy định của pháp luật tố tụng về bảo đảm quyền của đương sự khi tham gia tố tụng càng hợp lý, càng cụ thể, rõ ràng và càng khoa học thì tính khả thi càng cao. Luận văn: Bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.

Bên cạnh việc quy định đầy đủ các quyền cơ bản của đương sự thì pháp luật TTHC cũng phải xác lập nghĩa vụ đối ứng của đương sự khác. Khác với các quan hệ khác như quan hệ dân sự, kinh tế, lao động,… quyền của người này đồng thời là nghĩa vụ của người khác, khi tham gia vào quan hệ pháp luật TTHC các đương sự có quyền và nghĩa vụ tương đối giống nhau và việc thực hiện quyền của đương sự này phần lớn cũng không dựa vào việc thực hiện nghĩa vụ của đương sự khác, các quy định về nghĩa vụ đối ứng không rõ nét như các quan hệ pháp luật nêu trên, tuy nhiên vẫn được pháp luật TTHC ghi nhận tùy theo từng giai đoạn tố tụng.

Ở giai đoạn thụ lý vụ án, khi người khởi kiện khởi kiện thì nghĩa vụ đối ứng của đương sự khác là phải nộp văn bản trình bày ý kiến của mình đối yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo. Việc thực hiện nghĩa vụ đối ứng ở giai đoạn này giúp cho các đương sự hiểu rõ lập trường của nhau về yêu cầu của người khởi kiện, đây là cơ sở để các bên đương sự chuẩn bị cho việc thực hiện các quyền tố tụng như quyền tự thỏa thuận; quyền đối thoại thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án; quyền rút, thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện; quyền sửa đổi hoặc hủy bỏ quyết định hành chính, dừng, khắc phục hành vi hành chính bị khởi kiện; quyền yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Trong giai đoạn đối thoại và chuẩn bị xét xử, đương sự có quyền tham gia đối thoại về việc giải quyết vụ án nhưng để thực hiện được quyền này thì các đương sự khác phải có nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và tham gia đối thoại; đương sự có quyền được biết, ghi chép và sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình thì đương sự khác đó có nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ và thông báo cho nhau các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp, bảo đảm cho các đương sự thực hiện quyền tranh tụng trong TTHC.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đương sự được quyền đưa ra câu hỏi với người khác về vấn đề liên quan đến vụ án hoặc đề xuất với Tòa án những vấn đề cần hỏi với người khác, được đối chất với nhau hoặc với người làm chứng, được tranh luận tại phiên tòa. Nhưng quyền này chỉ được đảm bảo khi các đương sự khác thực hiện đúng nghĩa vụ có mặt tại phiên tòa.

Như vậy, khi tham gia tố tụng đương sự không chỉ thực hiện đầy đủ quyền của mình mà phải có nghĩa vụ tôn trọng quyền của đương sự khác, quyền đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm.

1.2.2. Thiết lập cơ chế hỗ trợ thực hiện quyền của đương sự thông qua sự tham gia của người đại diện và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự tại Tòa án Luận văn: Bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.

  • Thiết lập cơ chế hỗ trợ thực hiện quyền của đương sự thông qua sự tham gia tố tụng của người đại diện

Bên cạnh việc ghi nhận các quyền cơ bản của đương sự, pháp luật TTHC phải có cơ chế để các đương sự không có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng hoặc không có điều kiện trực tiếp tham gia tố tụng có thể thực hiện được các quyền được pháp luật trao cho. Thực tiễn cho thấy trong các quan hệ pháp luật, những người mất năng lực hành vi, hạn chế năng lực hành vi, người chưa thành niên hoặc người có khó khăn trong nhận thức điều khiển hành vi đều phải có người đại diện. Ngoài ra, có những trường hợp đương sự đau ốm, đi công tác hoặc vì một lý do chính đáng nào đó mà không thể tham gia tố tụng được cần có người đại diện thay họ để thực hiện các quyền và nghĩa vụ trước Tòa. Người tham gia tố tụng này được gọi là người đại diện của đương sự.

Theo Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh thì “Người đại diện của đương sự là người tham gia tố tụng trong vụ án hành chính thay mặt đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án hành chính” [56, tr. 152]. Khái niệm này thể hiện được cái nhìn tổng quan nhất về người đại diện của đương sự, đồng thời hiểu được bản chất của chủ thể này khi tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện của đương sự trong VAHC.

Như vậy, đương sự có thể thông qua người đại diện của mình để thực hiện các quyền tố tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ trước Tòa án, bao gồm người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền. Người đại diện tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người được đại diện như vai trò của một đương sự trong VAHC. Các quyết định của người đại diện ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người họ đại diện. Tuy nhiên, xét dưới góc độ bảo đảm quyền của đương sự thì cần thấy rằng người đại diện của đương sự là chủ thể tham gia với mục đích chính là thay mặt đương sự thực hiện các quyền của đương sự và thông qua đó có thể bảo vệ quyền, lợi ích của đương sự chứ không phải là chủ thể tham gia tố tụng cùng với đương sự để bảo vệ quyền, lợi ích hay hỗ trợ đương sự trước Tòa án. Do đó, pháp luật TTHC phải hỗ trợ, tạo mọi điều kiện để người đại diện thực hiện các quyền của đương sự mà họ đại diện. Nếu pháp luật quy định người đại diện được phép tham gia tố tụng nhưng thiếu vắng các cơ chế bảo đảm để thực thi thì những quy định đó chỉ là hình thức. Cụ thể, để tránh việc người đại diện của đương sự có thể thực hiện không tốt việc đại diện của mình, xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự mà họ đại diện thì pháp luật phải quy định đầy đủ phạm vi những người không được làm đại diện.

  • Thiết lập cơ chế hỗ trợ thực hiện quyền của đương sự thông qua sự tham gia tố tụng của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Luận văn: Bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.

Trong quá trình giải quyết VAHC, ngoài người đại diện của đương sự có thể tham gia nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự còn có một chủ thể khác cũng có thể tham gia tố tụng với tư cách này đó là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Có thể thấy quy định này hoàn toàn phù hợp với các quy định của pháp luật và các nguyên tắc cơ bản của Luật TTHC như Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận: “Quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm” [29, khoản 7 Điều 103].

Khi tham gia VAHC không phải đương sự nào cũng hiểu biết pháp luật để thực hiện các quyền của mình vì các thủ tục tố tụng, các quy trình pháp lý tại Tòa án khá phức tạp, do vậy cần sự hỗ trợ pháp lý của những người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp để giúp đương sự thực hiện quá trình này. Họ tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khi có yêu cầu của đương sự và được Tòa án làm thủ tục đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Sự tham gia của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự bảo đảm cho vụ án được diễn ra theo đúng trình tự, thủ tục luật định, bảo đảm cho quyền của đương sự được thực thi trên thực tế.

Pháp luật TTHC nước ta quy định rất nhiều chủ thể khác nhau có thể tham gia bảo vệ quyền lợi cho đương sự như: Luật sư, trợ giúp viên pháp lý hoặc người tham gia trợ giúp pháp lý (TGPL) theo quy định của pháp luật về TGPL, công dân Việt Nam đáp ứng các điều kiện nhất định. Sự tham gia của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc bảo đảm quyền của đương sự trong VAHC, họ vừa có vai trò tư vấn giúp đương sự hiểu và thực hiện tốt các quyền của mình đồng thời hỗ trợ cho đương sự thực hiện những quyền khác như quyền thu thập chứng cứ, chứng minh, quyền tranh trụng…

Khác với người đại diện do đương sự ủy quyền, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia tố tụng bằng chính các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình chứ không bằng quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự. Vì vậy, để người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể phát huy hết vai trò của họ trong việc bảo đảm quyền của đương sự thì pháp luật TTHC phải ghi nhận đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng để họ có thể sử dụng trong quá trình tham gia bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho đương sự như: quyền thay mặt đương sự yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác; khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng …Mặt khác, pháp luật TTHC phải có những quy định bảo đảm để người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho đương sự có thể thực hiện tốt vai trò của mình đặc biệt là những quy định thuận lợi trong việc thu thập tài liệu chứng cứ, đơn giản hóa và loại bỏ các thủ tục không hợp lý gây khó khăn cho người bảo vệ tham gia tố tụng. Luận văn: Bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.

1.2.3. Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm thực hiện quyền của đương sự

“Bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân là nhiệm vụ đặc trưng, cao nhất, tập trung nhất của cơ quan xét xử thực hiện quyền tư pháp. Tòa án phải là nơi mọi người, mọi công dân tìm đến lẽ phải, tìm đến sự thật; Tòa án nhân dân phải là người có nhiệm vụ bảo vệ công lý khi quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xâm phạm” [61, tr.500]. Ý kiến này cho thấy, vai trò quan trọng của Tòa án trong việc bảo đảm công lý, bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong quá trình xét xử, đây cũng là cội nguồn cho việc bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết VAHC.

Để Tòa án bảo đảm quyền của đương sự thì trước hết phải xây dựng cơ sở pháp lý cho việc thúc đẩy và bảo đảm quyền của đương sự, bằng cách quy định trách nhiệm của Tòa án cũng như quyền và nghĩa vụ các bên đương sự làm căn cứ cho việc thực thi. Trong quá trình giải quyết VAHC tùy từng giai đoạn tố tụng, Tòa án chủ động hoặc theo yêu cầu của đương sự áp dụng hoặc tạo điều kiện cần thiết để đương sự thực hiện quyền theo quy định của pháp luật. Chẳng hạn như khi đương sự khởi kiện thì Tòa án có trách nhiệm hướng dẫn cho đương sự làm đơn khởi kiện theo mẫu, thụ lý yêu cầu của đương sự, khi tham gia tố tụng Tòa án phải giải thích, phổ biến quyền và nghĩa vụ của họ trong mỗi giai đoạn tố tụng, triệu tập hợp lệ đương sự.v.v… Mức độ thực hiện trách nhiệm của Tòa án sẽ quyết định quyền của đương sự có được bảo đảm thực hiện hay không. Vì vậy, Tòa án phải tôn trọng quyền của các đương sự và có trách nhiệm tạo điều kiện cho các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ TTHC, phải thực hiện đúng quy trình, thủ tục pháp luật quy định, có trách nhiệm áp dụng đúng đắn, chính xác các quy phạm pháp luật. Thực tế chứng minh rằng, nếu pháp luật chỉ dừng lại ở việc ghi nhận quyền mà thiếu vắng các biện pháp hỗ trợ, bảo đảm thực hiện quyền thì công lý sẽ không được thực thi. Ở một mức độ cao hơn, nhiệm vụ của Tòa án phải làm cho nhân dân thấy rằng công lý được thi hành. Việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Tòa án phù hợp, cụ thể sẽ bảo đảm quyền của đương sự được thực hiện. Vì vậy, ngoài các quy định cụ thể, trách nhiệm của Tòa án cần được quy định ngay trong các nguyên tắc cơ bản mang tính định hướng của TTHC như để đương sự có thể thực hiện được quyền cung cấp chứng cứ và chứng minh, pháp luật TTHC cần quy định Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập chứng cứ, tuy nhiên, sự hỗ trợ của Tòa án cho đương sự trong việc thu thập tài liệu, chứng cứ phải giới hạn trong một thời hạn hợp lý. Tương tự như thế đối với các quyền bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng; quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự; quyền đối thoại… sẽ được bảo đảm thực hiện thông qua các quy định của pháp luật ràng buộc trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm cho đương sự thực hiện các quyền đó. Luận văn: Bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.

Một yêu cầu không thể thiếu khi đề cập đến trách nhiệm của Tòa án để bảo đảm quyền của đương sự đó là sự độc lập, khách quan trong xét xử. Tòa án thực hiện quyền lực, chức năng, nhiệm vụ của mình thông qua hoạt động xét xử. Hoạt động xét xử đó được tiến hành bởi các chủ thể tiến hành tố tụng là Chánh án, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội thẩm nhân dân và Thẩm tra viên. Vì vậy, pháp luật TTHC quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng phù hợp với chức năng của họ có ý nghĩa quyết định trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của việc thực thi quyền của đương sự, nhất là nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán, Hội thẩm và Thư ký Tòa án, đây là những chủ thể chi phối các hoạt động tố tụng và tác động trực tiếp tới việc thực thi quyền của đương sự. Trong đó, Thẩm phán đóng vai trò đặc biệt quan trọng, bởi “xét cho cùng thì các chức năng xét xử của Tòa án cũng được thực hiện bởi cá nhân các Thẩm phán, cho dù là họ ngồi một mình hay trong hội đồng” [19, tr.124]. Vì vậy, việc quy định hợp lý, cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của người tiến hành tố tụng để các chủ thể này phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình nhằm hạn chế được các hành vi lạm quyền, đồng thời bảo đảm cho đương sự thực hiện các quyền của họ. Chẳng hạn, ngoài những nhiệm vụ, quyền hạn đã được quy định, pháp luật TTHC cần phải quy định thêm về trách nhiệm của Thẩm phán, Hội thẩm và Thư ký Tòa án. Đối với Thẩm phán phải có trách nhiệm hướng dẫn thực hiện quyền tranh tụng, đôn đốc, giám sát đương sự thực hiện quyền cung cấp, chuyển giao tài liệu, chứng cứ. Đối với Hội thẩm cần có quy định cụ thể về thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án để bảo đảm Hội thẩm đưa ra một phán quyết bảo đảm quyền, lợi ích của các đương sự. Đối với Thư ký phải có trách nhiệm hướng dẫn cho đương sự thực hiện các quyền tố tụng, đặc biệt là quyền sao chụp, chuyển bản sao tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác.

1.2.4. Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc bảo đảm thực hiện quyền của đương sự

Tòa án là cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng xét xử, quá trình đó được thực hiện bởi những người tiến hành tố tụng. Nếu các chủ thể này không có được sự cẩn trọng cần thiết, chủ quan, thiếu trách nhiệm, thiên vị do tình cảm, chịu sự tác động về lợi ích hay các mối quan hệ lệ thuộc thì việc vi phạm các quyền tố tụng rất dễ xảy ra. Vì vậy, sự tham gia của VKS trong TTHC xem như là một trong những “kênh giám sát” để bảo đảm cho quyền của đương sự được thực thi hiệu quả. Khoản 1 Điều 36 Luật TTHC năm 2015 đã xác định VKS là cơ quan tiến hành tố tụng hành chính cùng với Tòa án, nhân danh quyền lực Nhà nước thực hiện nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Thông qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHC, VKS bảo đảm quá trình giải quyết VAHC diễn ra theo đúng trình tự, thủ tục luật định. Đồng thời có thể phát hiện sớm những sai phạm về tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án để có những kiến nghị hoặc kháng nghị giúp Tòa án kịp thời sửa chữa những thiếu sót, sai lầm trong hoạt động xét xử, góp phần bảo đảm cho các quyền của đương sự được thực thi trên thực tế. Tuy nhiên, để VKS có thể thực hiện chức năng kiểm sát hiệu quả thì pháp luật TTHC phải quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của VKS trong việc bảo đảm quyền của đương sự phù hợp với chức năng, vị trí, vai trò của VKS tương ứng với mỗi giai đoạn tố tụng. Mặt khác, nhà lập pháp phải căn cứ vào mô hình tố tụng và quan hệ pháp luật tranh chấp để quy định hợp lý nhiệm vụ, quyền hạn của VKS trong TTHC. Có thể nhận thấy rằng việc xây dựng một cơ chế kiểm sát hợp lý giúp cho đương sự bảo đảm thực hiện có hiệu quả các quyền cụ thể của mình, đồng thời hạn chế nguy cơ Tòa án, người tiến hành tố tụng thuộc Tòa án có thể vi phạm hay không bảo đảm thực hiện quyền của đương sự.

1.2.5. Thiết lập các chế tài cần thiết xử lý các hành vi vi phạm quyền của đương sự Luận văn: Bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.

Chế tài tiếp cận theo nghĩa hẹp thì đó là một bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên những biện pháp tác động mà Nhà nước dự kiến áp dụng đối với chủ thể không thực hiện đúng mệnh lệnh của Nhà nước đã nêu ra trong phần quy định của quy phạm pháp luật [43, tr.71]. Tiếp cận theo nghĩa rộng, chế tài là những hậu quả pháp lý bất lợi đối với bên vi phạm pháp luật [73]. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chế tài được xác định theo nghĩa rộng, dưới góc độ là một biện pháp pháp lý được thiết lập để xử lý các hành vi vi phạm quyền tố tụng nhằm bảo đảm cho quyền của đương sự được thực thi trên thực tế. Việc thiết lập chế tài để xử lý các hành vi vi phạm quyền của đương sự là một trong những bảo đảm quan trọng, tác động trực tiếp đến những chủ thể có hành vi vi phạm, buộc các chủ thể phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ pháp lý để bảo đảm cho việc thực thi quyền của đương sự. Việc phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm sẽ có tác dụng ngăn ngừa, khắc phục những hậu quả do hành vi vi phạm quyền của đương sự gây ra. Vì vậy, pháp luật TTHC cần phải quy định đầy đủ, rõ ràng, minh bạch các chế tài để xử lý đối với các chủ thể khi có hành vi vi phạm xảy ra. Các chế tài này không chỉ áp dụng cho các chủ thể tiến hành tố tụng, chủ thể tham gia tố tụng mà còn áp dụng cho các chủ thể lưu giữ các tài liệu, chứng cứ nhưng gây trở ngại cho đương sự trong việc thu thập, cung cấp chứng cứ.

Các chế tài được áp dụng đối với các cá nhân, cơ quan, tổ chức xâm phạm quyền của đương sự rất đa dạng, có thể là chế tài kỷ luật, chế tài hành chính, chế tài hình sự, chế tài dân sự. Tùy theo địa vị tố tụng của các chủ thể và tính chất, mức độ vi phạm để pháp luật TTHC quy định các chế tài tương ứng. Đối với chủ thể vi phạm quyền của đương sự mà không phải là cán bộ, công chức thì tùy theo mức độ vi phạm để có thể xử lý theo chế tài dân sự, chế tài hành chính, chế tài hình sự. Đối với chủ thể vi phạm là cán bộ, công chức thì ngoài các chế tài trên còn có thể bị xử lý theo chế tài kỷ luật. Chế tài dân sự được đặt ra khi hành vi vi phạm quyền của đương sự dẫn đến hậu quả là gây ra các thiệt hại thì phải đặt ra trách nhiệm bồi thường đối với các chủ thể có hành vi vi phạm. Nếu chủ thể vi phạm là Tòa án thì phải thực hiện trách nhiệm bồi thường theo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, nếu chủ thể vi phạm là đương sự thì đặt ra trách nhiệm bồi thường theo Bộ luật dân sự. Việc quy định đầy đủ, cụ thể các chế tài cho từng trường hợp vi phạm thì việc xử lý các hành vi xâm phạm quyền của đương sự mới chính xác, khách quan và có tính ngăn ngừa. Việc các chủ thể hữu quan không tuân thủ các quy định của pháp luật, không hỗ trợ đương sự thực hiện quyền của mình trong quá trình giải quyết vụ án sẽ gây khó khăn cho đương sự trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Vì vậy, quy định đầy đủ, hợp lý các chế tài xử lý các hành vi xâm phạm quyền tố tụng trong pháp luật TTHC sẽ răn đe, ngăn ngừa được các vi phạm quyền tố tụng, trang bị cho đương sự đầy đủ điều kiện để bảo đảm cho các quyền của mình.

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền của đương sự trong vụ án hành chính Luận văn: Bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.

1.3.1. Trình độ hiểu biết pháp luật và ý thức tuân thủ pháp luật tố tụng hành chính của đương sự

Trong TTHC, trách nhiệm giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự thuộc về Tòa án nhưng chất lượng, hiệu quả xét xử đôi khi phụ thuộc vào trình độ hiểu biết pháp luật và ý thức tuân thủ pháp luật TTHC của đương sự về các quyền của mình. Chỉ khi thực sự hiểu và thực hiện đúng pháp luật, đương sự mới bảo vệ tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như của người khác và giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng giải quyết vụ việc được nhanh chóng, kịp thời và đúng pháp luật. Ý thức chấp hành pháp luật kém sẽ gây khó khăn, trở ngại cho các đương sự khác thực hiện quyền của họ và ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án. Có thể nhận thấy vì sự thiếu hiểu biết pháp luật mà đương sự không thực hiện đầy đủ các quyền tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bị các chủ thể khác xâm phạm quyền. Đôi khi chủ thể xâm phạm quyền đó chính là các chủ thể tiến hành tố tụng.

Thực tiễn tố tụng tại Tòa án cho thấy nhiều trường hợp có tranh chấp nhưng đương sự không biết là mình có quyền khởi kiện ra Tòa án mà lại gửi đơn yêu cầu cơ quan, tổ chức khác giải quyết, đến khi gửi đơn đến Tòa án thì đã hết thời hiệu khởi kiện; đương sự không biết mình có quyền yêu cầu cơ quan quản lý cung cấp giấy tờ, tài liệu dẫn tới bị động chờ Tòa án giải quyết, đương sự không hiểu biết pháp luật nên không yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, không yêu cầu Tòa án áp dụng ngay các biện pháp khẩn cấp tạm thời cần thiết, không khiếu nại khi không được cấp trích lục bản án, bản sao bản án, quyết định sơ thẩm.v.v… Vẫn có tình trạng Thẩm phán không tôn trọng quyền của đương sự, nhưng đương sự thiếu hiểu biết để bảo vệ quyền của mình. Bên cạnh đó, ý thức tuân thủ pháp luật TTHC của đương sự sẽ quyết định việc họ có thực hiện nghĩa vụ đối ứng của đương sự khác hay không. Có thể nói sự hiểu biết, nhận thức của đương sự về việc mình có quyền gì và thái độ hay ý thức thực hiện nghĩa vụ đối ứng của đương sự khác sẽ quyết định việc bảo đảm thực hiện quyền của các đương sự trong TTHC.

1.3.2. Hoạt động bổ trợ tư pháp Luận văn: Bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.

Trợ giúp pháp lý, thừa phát lại, công chứng, giám định tư pháp, luật sư, đấu giá… là những lĩnh vực thuộc hoạt động bổ trợ tư pháp, nhằm hỗ trợ Tòa án thực hiện chức năng xét xử các VAHC. Hoạt động bổ trợ tư pháp có quan hệ và tác động trực tiếp đến chất lượng xét xử của Tòa án, là công cụ không thể thiếu để hỗ trợ người dân và các cơ quan tiến hành tố tụng trong một nền tư pháp dân chủ, pháp quyền. Trong đó hoạt động TGPL, thừa phát lại, luật sư đóng vai trò quan trọng.

Khi tham gia tố tụng đương sự đều mong muốn quyền và lợi ích hợp pháp của mình được bảo vệ và quyền tố tụng của mình phát huy hiệu quả nhất. Để làm được điều đó đương sự cần sự giúp đỡ, hỗ trợ về mặt pháp lý trước thời điểm nộp đơn khởi kiện và cả trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Hoạt động TGPL góp phần quan trọng trong việc tư vấn pháp luật và hỗ trợ người dân tham gia các hoạt động tố tụng tại Tòa án. Đặc biệt trong điều kiện nhận thức, khả năng hiểu biết pháp luật của người dân còn chưa cao thì hoạt động TGPL chắc chắc sẽ giúp đương sự biết và thực hiện các quyền của mình, hạn chế được hành vi vi phạm trong quá trình thực hiện quyền lực tư pháp. Việc TGPL tạo điều kiện cho một số lượng lớn những người dân có quyền lợi bị vi phạm thuộc các trường hợp như: người có công với cách mạng; người thuộc hộ nghèo; trẻ em; người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn hoặc cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; người nhiễm HIV; người nhiễm chất độc da cam; người cao tuổi; người khuyết tật được quyền tiếp cận công lý. Các chủ thể này là những chủ thể yếu thế trong xã hội hoặc có điều kiện kinh tế khó khăn, vì vậy khả năng hiểu biết pháp luật rất hạn chế. Do đó, để bảo đảm các quyền của họ khi tham gia tố tụng tại Tòa án thì rất cần sự hỗ trợ tư vấn pháp luật của đội ngũ trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm TGPL nhà nước và tổ chức tham gia TGPL. Bên cạnh đó, với sự TGPL của đội ngũ luật sư có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đương sự khi họ tham gia tố tụng hoặc tham gia bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho đương sự cũng là một bảo đảm chắc chắn để quyền của đương sự thực thi trên thực tế. Việc tống đạt kịp thời các văn bản tố tụng của Tòa án qua văn phòng thừa phát lại sẽ giúp đương sự nhận được các thông tin cần thiết để thực hiện các quyền luật định. Nếu phát huy hết hiệu quả, chức năng của hoạt động thừa phát lại thì hoạt động này sẽ hỗ trợ tối đa cho việc bảo đảm các quyền của đương sự.

1.3.3. Năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, bản lĩnh và đạo đức nghề nghiệp của người tiến hành tố tụng

Năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của người tiến hành tố tụng quyết định chất lượng, hiệu quả của việc giải quyết vụ án. Việc giải quyết vụ án có chính xác, khách quan, đúng đắn hay không phụ thuộc vào năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, bản lĩnh và đạo đức nghề nghiệp của người Thẩm phán. Từ xưa, dưới thời vua Minh Mệnh yếu tố tài, đức đã được đặt lên hàng đầu, được ví như châu ngọc của núi sông. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, hai yếu tố này vẫn vẹn nguyên giá trị của nó, dù thời nào cũng vậy, đội ngũ thừa hành công vụ phải là những người có chuyên môn, nghiệp vụ (có tài) và liêm minh, chính trực (có đức) thì mới bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp cho người dân. Đây cũng là yêu cầu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra đối với cán bộ tư pháp, “trong công tác xử án phải công bằng, liêm khiết, trong sạch. Như thế cũng chưa đủ. Không chỉ hạn chế hoạt động của mình trong khung Tòa án….Thêm nữa phải luôn luôn cố gắng học tập lý luận, học tập đường lối chính sách của Chính phủ…”, cần “phụng công, thủ pháp, chí công vô tư” [24, tr.154]. Điều đó càng khẳng định rằng năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp của các chủ thể tiến hành tố tụng là một trong những yếu tố đóng vai trò chi phối cho việc bảo đảm quyền của đương sự. Tăng cường trách nhiệm và chuyên môn nghiệp vụ, bản lĩnh, đạo đức cho đội ngũ tư pháp cũng là một yêu cầu được đề cập đến trong Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020: “Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp, nhất là cán bộ có chức danh tư pháp, theo hướng đề cao quyền hạn, trách nhiệm pháp lý, nâng cao và cụ thể hóa tiêu chuẩn chính trị, phẩm chất, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm, kiến thức xã hội đối với từng loại cán bộ” [4]. Luận văn: Bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.

Thực tế chứng minh rằng, các chủ thể tiến hành tố tụng muốn hoàn thành nhiệm vụ của mình thì phải có trình độ, chuyên môn nghiệp vụ và bản lĩnh để quyết định những vấn đề thuộc phạm vi mình phụ trách mà không cần phải tham khảo hay chịu sự chi phối của người khác. Vì vậy, các chủ thể tiến hành tố tụng phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế. Đi kèm với chuyên môn, bản lĩnh là đạo đức, lương tâm nghề nghiệp – đây là yếu tố chi phối sự độc lập, khách quan, minh bạch trong xét xử. Trong thực tiễn xét xử tình trạng sai phạm vẫn tồn tại, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi ích của đương sự, gây hậu quả xấu cho xã hội, cho người dân mà nguyên nhân chính là do các chủ thể tiến hành tố tụng không giữ được phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp. Do đó, để các quyền của đương sự được thực thi trong thực tế đòi hỏi các chủ thể tiến hành tố tụng phải là người có trình độ chuyên môn, độc lập, vô tư, tôn trọng sự thật khách quan và đạo đức nghề nghiệp.

Tiểu kết chương 1

Chương 1 của luận văn đã luận giải, làm rõ hơn khái niệm, đặc điểm của bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính. Theo đó, bảo đảm quyền của đương sự được áp dụng cho tất cả các bên đương sự và Tòa án là chủ thể có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền của đương sự, góp phần bảo vệ các quyền của chủ thể được pháp luật bảo hộ, đồng thời là một trong những nội dung của bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp, nó chỉ được thực hiện hữu hiệu khi phối hợp bằng nhiều biện pháp. Ngoài ra, tại Chương này luận văn đã nghiên cứu, phân tích và chỉ ra được các nội dung cơ bản và các yếu tố ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết VAHC. Những kết quả nghiên cứu tại Chương 1 sẽ là cơ sở lý luận để tác giả soi chiếu vào thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo đảm quyền của đương sự khi giải quyết VAHC và thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk trong Chương 2, làm căn cứ đề xuất các giải pháp tại Chương 3 của luận văn. Luận văn: Bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong giải quyết vụ án

One thought on “Luận văn: Bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong giải quyết vụ án

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464