Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Yêu cầu và giải pháp bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Yêu cầu về bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính
3.1.1. Việc hoàn thiện và thực hiện các quy định về bảo đảm quyền của đương sự phải đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN
- Đề cao vai trò và trách nhiệm của Tòa án, thiết lập cơ chế phù hợp để có thể hạn chế tối đa việc vi phạm quyền của đương sự
Một trong những yêu cầu đặt ra trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền là sự tôn trọng và thượng tôn pháp luật của các chủ thể bao gồm cả những người nắm trong tay quyền lực nhà nước. Đây là tiền đề để “xây dựng và bảo đảm cơ chế hạn chế chính quyền nhằm chống lại mọi sự xâm phạm của Nhà nước đến các quyền công dân” [8, tr. 93]. Như vậy, mục tiêu cao nhất của Nhà nước pháp quyền là vì con người nên hệ thống cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật. Do vậy, việc hoàn thiện và thực hiện các quy định về bảo đảm quyền của đương sự phải hướng tới việc tạo dựng niềm tin của người dân vào công lý, giá trị công bằng, bình đẳng trước pháp luật, đề cao vai trò và trách nhiệm của Tòa án trong phụng sự công lý, bảo đảm thực hiện quyền của đương sự; thiết lập cơ chế phù hợp để có thể hạn chế tối đa việc lạm quyền hoặc không thực hiện hết chức trách, nhiệm vụ của người “cầm cân, nảy mực”.
- Yêu cầu cụ thể hóa các quyền và thiết lập nghĩa vụ đối ứng của đương sự
Trong Nhà nước pháp quyền, một đặc trưng cơ bản nhất đó là “pháp luật vì con người”. Vì vậy, pháp luật TTHC phải bảo đảm cho đương sự khả năng tốt nhất để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trước Tòa án, cần cụ thể hóa và ghi nhận đầy đủ, rõ ràng, minh bạch các quyền cụ thể của đương sự; bổ khuyết các quyền của đương sự chưa được Luật TTHC năm 2015 ghi nhận. Bên cạnh đó, cần ứng dụng lý luận về mối quan hệ phụ thuộc giữa quyền và nghĩa vụ của đương sự để thiết lập nghĩa vụ đối ứng của các đương sự khác cũng như trách nhiệm của Tòa án, các cơ quan, tổ chức hữu quan trong việc bảo đảm thực hiện quyền của đương sự.
- Phải thiết lập được các cơ chế bảo đảm sự độc lập, khách quan của Tòa án – một yêu cầu tiên quyết để bảo đảm hiệu quả thực hiện các quyền của đương sự Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
Để đáp ứng được yêu cầu đặt ra trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền là thượng tôn pháp luật thì một yếu tố không thể thiếu là sự độc lập của Tòa án trong xét xử. Pháp luật TTHC phải được hoàn thiện theo hướng có thể loại trừ mọi sự can thiệp của các nhân, cơ quan, tổ chức vào hoạt động xét xử của Tòa án. Theo đó, cần có giải pháp để hạn chế tối đa các trường hợp “chỉ đạo án”, “thỉnh thị án”. Thẩm phán khi giải quyết VAHC chỉ có thể đưa ra quyết định dựa trên đánh giá khách quan các tình tiết, sự kiện của vụ án và quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, cần phải có những quy định nhằm hạn chế quyền lực của Chánh án Tòa án trong việc phân công công việc, không có điều khoản nào về cấm duyệt án trước khi xét xử; nghiên cứu bổ sung chế độ bổ nhiệm Thẩm phán với nhiệm kỳ suốt đời hay chế độ đãi ngộ đặc biệt đối với Thẩm phán.
- Cần thiết lập được một hệ thống chế tài hợp lý để ngăn chặn, xử lý có hiệu quả hành vi vi phạm quyền của đương sự
Nhà nước có trách nhiệm trong việc hạn chế, chống lại mọi sự xâm phạm từ chính các thiết chế của Nhà nước và các chủ thể khác đến các quyền công dân. Do đó, hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của đương sự gắn liền với việc ngăn chặn, hạn chế và xử lý vi phạm của người tiến hành tố tụng, cơ quan, tổ chức hữu quan cũng như vi phạm của chính đương sự đối với quyền của đương sự khác. Để làm được điều này thì có nhiều biện pháp khác nhau, trong đó chế tài là một biện pháp không thể thiếu trong việc bảo đảm cho quyền của đương sự được thực thi trên thực tế. Do đó, cần căn cứ theo chủ thể vi phạm, tính chất, hậu quả của hành vi vi phạm để thiết lập biện pháp chế tài hợp lý và hiệu quả. Nếu chủ thể vi phạm không phải là cán bộ, công chức thì bị xử lý hình sự, hành chính và chịu trách nhiệm dân sự về bồi thường thiệt hại. Nếu chủ thể vi phạm là cán bộ, công chức thì ngoài việc phải gánh chịu các chế tài nói trên còn bị xử lý kỷ luật. Trong bối cảnh cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế hiện nay thì chế tài về bồi thường dân sự cho những tổn thất về vật chất và tinh thần do vi phạm quyền của đương sự cũng cần được quan tâm chú trọng.
3.1.2. Việc hoàn thiện và thực hiện các quy định về bảo đảm quyền của đương sự phải đáp ứng yêu cầu về cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh hiện nay
Cải cách tư pháp nhằm bảo vệ quyền con người là vấn đề ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta. Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, cải cách tư pháp vẫn tiếp tục được duy trì và là một yêu cầu không thể thiếu trong công cuộc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Vấn đề cải cách tư pháp được đặt ra trong Nghị quyết 08-NQ/HNTW Trung ương khoá VII; Nghị quyết 37-NQ/TW Trung ương khoá VIII; Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và đặc biệt là Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Mục tiêu của cải cách tư pháp được thể hiện trong Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ chính trị: “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao” [4]. Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
Với mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, cải cách tư pháp là việc tiến hành những cải cách trong tổ chức và hoạt động tư pháp. Bảo đảm quyền công dân trong TTHC là việc Nhà nước thiết lập các điều kiện cần thiết nhằm tôn trọng các quyền của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc giải quyết quyết khiếu kiện hành chính bằng con đường TTHC. Các VAHC phải được giải quyết bởi Tòa hành chính nằm trong hệ thống TAND với một cơ chế riêng được điều chỉnh bởi ngành luật TTHC bao gồm: có hệ thống pháp luật tố tụng hành chính hợp hiến, tính thống nhất, tính khả thi; có hệ thống Tòa hành chính hoạt động có hiệu lực, hiệu quả với những Thẩm phán có trình độ chuyên môn tốt và đạo đức, bản lĩnh nghề nghiệp vững vàng; có cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm sát chặt chẽ trong quá trình tố tụng hành chính, các phán quyết của Tòa án phải được bảo đảm thực thi.
Bên cạnh đó cũng cần tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm lập pháp của các nước trên thế giới cho phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của Việt Nam theo Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 thì “cải cách tư pháp phải xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội… kế thừa truyền thống pháp lý dân tộc, những thành tựu đã đạt được của nền tư pháp xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm nước ngoài phù hợp với hoàn cảnh của nước ta và yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế…” [4]. Do đó, việc hoàn thiện pháp luật TTHC Việt Nam về bảo đảm quyền của đương sự phải phù hợp với truyền thống pháp lý điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội Việt Nam nhưng phải tiếp thu được thành tựu khoa học tố tụng trên thế giới.
3.1.3. Việc hoàn thiện và thực hiện các quy định về bảo đảm quyền của đương sự phải khắc phục có hiệu quả những tồn tại, hạn chế, bất cập hiện nay Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
Kết quả nghiên cứu lý luận tại Chương 1 và thực trạng pháp luật tại Chương 2 cho thấy, vẫn còn một số quy định của pháp luật chưa hợp lý, chưa đầy đủ hay chưa gắn kết với việc bảo đảm quyền của đương sự. Do đó, cần rà soát tổng thể những tồn tại, hạn chế, bất cập hiện nay trong Luật TTHC năm 2015 về quyền của đương sự và thực tiễn thực hiện, từ đó đề xuất những giải pháp đồng bộ, có tính hệ thống về bảo đảm quyền của đương sự. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, cần phải tiếp tục cụ thể hóa, bổ sung các quyền của đương sự, bảo đảm các quyền của đương sự được cụ thể hóa một cách đầy đủ nhất. Bên cạnh đó phải rà soát và thiết lập đầy đủ các nghĩa vụ đối ứng của đương sự khác để quyền của đương sự có thể được thực hiện.
Thứ hai, cần sửa đổi, bổ sung một số quy định về người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp của đương sự theo hướng tạo điều kiện thuận lợi nhất để các chủ thể này có thể thay mặt, hỗ trợ đương sự thực hiện các quyền của họ.
Thứ ba, việc sửa đổi, bổ sung quy định về trách nhiệm của Tòa án và nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng phải theo hướng gắn với việc bảo đảm quyền của đương sự.
Thứ tư, việc sửa đổi, bổ sung quy định về cơ chế kiểm sát của VKS phải hướng tới tạo điều kiện cho VKS có thể kiểm sát có hiệu quả việc thực hiện quyền của đương sự.
Thứ năm, việc sửa đổi, bổ sung các quy định về chế tài phải đáp ứng yêu cầu về tính bao quát trong xử lý các hành vi vi phạm quyền của đương sự, đáp ứng hiệu quả của việc răn đe, phòng ngừa vi phạm quyền của đương sự cũng khôi phục được quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền bị vi phạm.
3.2. Giải pháp bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
3.2.1. Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính
- Bổ sung, cụ thể hóa các quyền của đương sự chưa được pháp luật ghi nhận
Từ những bất cập của pháp luật về bảo đảm quyền của đương sự, cần sửa đổi, bổ sung Luật TTHC năm 2015 hoặc hướng dẫn chi tiết trên cơ sở rà soát các văn bản pháp luật TTHC và tổng kết thực tiễn hoạt động TTHC. Cụ thể, để bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính, pháp luật TTHC phải ghi nhận đầy đủ, hợp lý các quyền cụ thể làm căn cứ pháp lý để đương sự yêu cầu cá nhân, cơ quan hữu quan thực hiện khi cần tiến hành các hoạt động tố tụng có liên quan.
- Bổ sung, làm rõ khái niệm người khởi kiện, quyền khởi kiện và đối tượng khởi kiện trong vụ án hành chính
Việc xác định rõ người khởi kiện, quyền khởi kiện và đối tượng khởi kiện không chỉ giúp cho việc xác định đúng vị ví, vai trò, quyền và nghĩa vụ của người khởi kiện mà còn giúp cho Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án hành chính một cách chính xác, khách quan, công bằng. Vì vậy, TANDTC cần có văn bản hướng dẫn cụ thể hơn để xác định đúng người khởi kiện trong những trường hợp người khởi kiện không phải là người bị tác động trực tiếp bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu kiện. Ngoài ra cũng cần hướng dẫn cụ thể hơn về đối tượng khởi kiện hành chính được xác định như thế nào, tiêu chí nào xác định đối tượng khởi kiện là quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính bị khiếu kiện. Cụ thể, cần xác định các tiêu chí, dấu hiệu đặc thù của QĐHC, HVHC có thể là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính:
- (1) Tính quyền lực công (giải quyết một vấn đề cụ thể trong hoạt động hành pháp);
- (2) Chứa đựng mệnh lệnh cá biệt; (3) Sự tác động trực tiếp của QĐHC, HVHC đối với cá nhân, tổ chức cụ thể; (4) Không thuộc phạm vi loại trừ. Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
Điều 30 Luật TTHC năm 2015 cũng cần sửa đổi theo hướng phù hợp với Điều 3 và thống nhất về phạm vi các QĐHC, HVHC là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính. Hiện tại Điều 30 Luật TTHC năm 2015 đang tạo ra sự mâu thuẫn giữa các điều khoản cũng như tăng tính phức tạp không cần thiết của điều luật, chưa bao hàm tất cả các QĐHC, HVHC theo đúng quy định của Điều 3 nếu bị khởi kiện phải được Tòa án có thẩm quyền thụ lý giải quyết. Vì vậy, cần thay bằng việc quy định danh sách cử tri, danh sách trưng cầu dân ý bằng HVHC trong việc lập danh sách cử tri, danh sách trưng cầu dân ý là đối tượng khởi kiện mà không hề làm thay đổi bản chất, nội dung của tranh chấp hành chính được giải quyết đồng thời đảm bảo thống nhất điều kiện về quyết định hành chính (bởi các trường hợp trên không phải là QĐHC, không thống nhất quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật TTHC về quyết định hành chính bị kiện). Mặt khác cũng không nhất thiết phải phân biệt quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức với QĐHC vì công chức trong trường hợp này khởi kiện với tư cách cá nhân công dân chứ không phải là công chức trong hoạt động công vụ với nhà nước và đây cũng là một loại QĐHC cá biệt.
Pháp luật TTHC quy định thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện hành chính theo hướng không loại trừ tất cả các quyết định hành chính nội bộ, bởi các QĐHC mang tính chất nội bộ về công tác nhân sự của cơ quan mà có tác động nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của công chức như quyết định cho thôi việc công chức hoặc cho nghỉ hưu sớm, quyết định cách chức, quyết định điều động, biệt phái đối với công chức… Bên cạnh đó, điểm b Điều 30 nên sửa đổi quy định về quyết định, hành vi của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính, xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng theo luật TTHC năm 2015 là đối tượng khởi kiện nhằm đảm bảo nguyên tắc công bằng, quyền con người, quyền công dân.
- Sửa đổi, bổ sung quy định về quyền khiếu nại của đương sự theo hướng mở rộng quyền này
Như đã chỉ ra ở mục 2.1.1.2 Chương 2 thì quy định về quyền khiếu nại của đương sự trong Luật TTHC năm 2015 còn chưa hợp lý, chưa đáp ứng yêu cầu bảo đảm quyền khiếu nại của đương sự đối với các loại văn bản tố tụng khác của Tòa án và các hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng chưa được ghi nhận. Thông qua hành vi khiếu nại, Tòa án có thể xử lý, khôi phục các quyền của đương sự bị vi phạm trong bản án, quyết định cũng như các văn bản tố tụng khác của Tòa án. Vì vậy, để bảo đảm quyền khiếu nại của đương sự khoản 22 Điều 55 Luật TTHC năm 2015 cần được sửa đổi, bổ sung như sau: đương sự có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án; khiếu nại bản án, quyết định, các văn bản tố tụng khác do Tòa án ban hành và các hành vi tố tụng của những người tiến hành tố tụng theo quy định của Luật này.
- Bổ sung quyền đề nghị cá nhân, cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
Quyền đề nghị cá nhân, cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC là một trong những quyền của đương sự mà tác giả cho rằng pháp luật TTHC cần phải ghi nhận. Tuy nhiên, qua đối chiếu với thực trạng pháp luật nhận thấy quyền này đã bị bỏ sót. Vì vậy, để bảo đảm quyền đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, Luật TTHC năm 2015 nên bổ sung quyền được đề nghị cá nhân, cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC.
- Bổ sung quyền được xét xử bởi một Tòa án độc lập, khách quan trong một thời hạn hợp lý
Đây là một trong những quyền cơ bản mà pháp luật TTHC cần phải ghi nhận cho đương sự, bởi lẽ bảo đảm quyền được xét xử bởi một Tòa án độc lập, khách quan trong một thời hạn hợp lý là cơ sở để bảo đảm quá trình giải quyết vụ án được chính xác, đúng pháp luật và nhanh chóng. Mặt khác, đây còn được xem là nguyên tắc cốt lõi cho việc bảo vệ công lý. Tuy nhiên, thực trạng pháp luật cho thấy quyền này chưa được ghi nhận, do vậy tác giả đề xuất cần bổ sung quyền này thành một nguyên tắc của Luật TTHC.
- Bổ sung quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi khởi kiện
Quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi khởi kiện cũng là một trong những quyền của đương sự mà pháp luật TTHC cần phải ghi nhận để đương sự có thể sử dụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình nhưng Luật TTHC năm 2015 chưa có quy định. Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi khởi kiện có thể đáp ứng yêu cầu cấp bách của các đương sự, bảo vệ kịp thời tài sản, thu thập chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có, tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng xảy ra. Vì vậy, để bảo đảm các quyền của đương sự được ghi nhận đầy đủ, đồng thời bảo đảm tính mềm dẻo linh hoạt trong quá trình giải quyết vụ án, nhằm tạo mọi điều kiện tốt nhất cho đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, Luật TTHC cần bổ sung quy định về quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trước khi khởi kiện của đương sự. Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
- Bổ sung các căn cứ áp dụng khi đương sự đề nghị Tòa án “tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án”
Khi đương sự thực hiện quyền này thuộc các trường hợp Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án hành chính. Đồng thời cũng bổ sung thêm căn cứ quyết định áp dụng hoặc huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết VAHC hoặc trong thời gian tạm hoãn phiên toà.
- Thống nhất quy định việc giao nộp tài liệu, chứng cứ của đương sự
Theo tác giả, cần quy định việc giao nộp tài liệu chứng cứ là nghĩa vụ để buộc đương sự phải thực hiện nghĩa vụ giao nộp, cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, bảo đảm việc thu thập, xác minh, đánh giá chứng cứ của Tòa án được nhanh chóng, tránh được việc tại phiên toà đương sự lại cung cấp nhiều chứng cứ mới buộc Tòa án phải tiếp tục xác minh, đánh giá làm cho việc giải quyết vụ án hành chính kéo dài.
- Sửa đổi, bổ sung quy định về nghĩa vụ đối ứng của đương sự gắn với bảo đảm quyền của đương sự khác
Trong Chương 1, tác giả đã đề cập đến vấn đề để bảo đảm cho quyền của đương sự được thực thi thì không chỉ đơn thuần là ghi nhận quyền mà phải xác lập và bảo đảm nghĩa vụ đối ứng của đương sự khác, vì có một số quyền của đương sự này là nghĩa vụ đối ứng của đương sự khác. Cụ thể:
- Bổ sung nghĩa vụ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc gửi cho người khởi kiện văn bản thể hiện quan điểm của mình đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo
Như đã phân tích ở Chương 1, việc đương sự phía đối lập thực hiện các nghĩa vụ đối ứng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc bảo đảm các quyền của đương sự. Ở giai đoạn sơ thẩm nếu người khởi kiện biết được quan điểm của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với yêu cầu khởi kiện của mình thì người khởi kiện có thể cân nhắc để thực hiện như quyền thay đổi, rút yêu cầu khởi kiện, quyền tự thỏa thuận hoặc quyền đối thoại. Tuy nhiên, khi nghiên cứu thực trạng pháp luật về việc ghi nhận nghĩa vụ đối ứng của đương sự khác cho thấy Luật TTHC năm 2015 chưa quy định về nghĩa vụ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên trong việc gửi cho người khởi kiện văn bản thể hiện quan điểm của mình đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo. Vì vậy, để các bên đương sự biết về các tài liệu, chứng cứ của nhau, tạo điều kiện cho các bên thực hiện tốt các quyền đã được đề cập ở trên thì Luật TTHC năm 2015 cần bổ sung này.
- Bổ sung nghĩa vụ gửi văn bản phản hồi ý kiến của đương sự có liên quan đến kháng cáo, nghĩa vụ gửi bản sao đơn kháng cáo và tài liệu, chứng cứ kèm theo của người kháng cáo cho đương sự liên quan đến kháng cáo
Việc phản hồi kháng cáo giúp các bên đương sự hiểu được quan điểm của đối phương ở giai đoạn phúc thẩm, để các bên cân nhắc thêm trong việc áp dụng các quyền tố tụng ở giai đoạn này như rút kháng cáo, quyền tự thỏa thuận. Nếu các bên không thống nhất được quan điểm thì thông qua việc phản hồi kháng cáo và gửi tài liệu chứng cứ kèm theo (nếu có) giúp cho các bên biết được tài liệu, chứng cứ nhằm thực hiện hiệu quả quyền tranh tụng tại phiên tòa. Tuy nhiên, Luật TTHC năm 2015 chưa quy định nghĩa vụ đối ứng này mà chỉ dừng lại ở việc quy định đương sự được thông báo có quyền gửi văn bản có ý kiến bằng văn bản nộp cho Tòa án. Vì vậy, để bảo đảm thực hiện quyền được tiếp cận chứng cứ, tài liệu, quyền tranh tụng ở cấp phúc thẩm của đương sự có liên quan đến kháng cáo thì Luật TTHC năm 2015 cần bổ sung nghĩa vụ này.
- Bổ sung quy định về thời điểm trao đổi tài liệu, chứng cứ giữa các đương sự và trách nhiệm giám sát, đôn đốc của Thẩm phán Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
Thực trạng pháp luật về bảo đảm thực hiện quyền của đương sự ở mục 2.1.1.2 của Chương 2 cho thấy không phải đương sự nào cũng thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ này. Lý do chính dẫn đến nguyên nhân này là do Luật TTHC năm 2015 không quy định thời hạn gửi tài liệu, chứng cứ, dẫn đến quyền được biết tài liệu, chứng cứ của đương sự phía đối lập chưa được bảo đảm thực hiện. Mặt khác, thực tế xét xử cho thấy một số đương sự vẫn sao gửi tài liệu chứng cứ cho đương sự khác nhưng gửi sát ngày xét xử, nên việc được biết về tài liệu chứng cứ để phục vụ cho quyền tranh tụng không hiệu quả. Do vậy, Điều 83 Luật TTHC năm 2015 nên bổ sung thời hạn gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác là tại thời điểm giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Đồng thời phải quy định biện pháp bảo đảm để đương sự thực hiện nghĩa vụ này, chẳng hạn như Thẩm phán phụ trách giải quyết vụ án phải có trách nhiệm giám sát việc thực hiện giao nhận tài liệu, chứng cứ của các đương sự.
- Hoàn thiện quy định của pháp luật về bảo đảm quyền của đương sự thông qua vai trò của người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự
Hoàn thiện quy định của pháp luật về bảo đảm quyền của đương sự thông qua vai trò của người đại diện:
- Cần quy định thống nhất về vấn đề ủy quyền của người bị kiện
Với những hạn chế, bất cập của quy định này, Luật TTHC cần sửa đổi phạm vi ủy quyền theo hướng mở rộng người bị kiện không chỉ ủy quyền cho cấp phó mà có thể ủy quyền cho Thủ trưởng cơ quan chuyên môn trực tiếp liên quan đến lĩnh vực có quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện tham gia tố tụng, chứ không nhất thiết quy định cứng nhắc rằng cứ phải ủy quyền cho cấp phó và có quy định mở là trừ trường hợp xét thấy cần thiết thì Tòa án yêu cầu trực tiếp người đứng đầu cơ quan, tổ chức hoặc cấp phó của người đứng đầu tham gia tố tụng. Nếu quy định theo hướng này sẽ khắc phục được việc vắng mặt thường xuyên của người bị kiện nhưng vẫn bảo đảm được nguyên tắc tranh tụng, đối thoại. Từ đó sẽ bảo đảm tốt hơn việc thực hiện các quyền của đương sự khác trong tố tụng hành chính đồng thời nâng cao trách nhiệm của cơ quan hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính do mình ban hành hoặc thực hiện, hướng đến xây dựng một nền hành chính phục vụ nhân dân. Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
- Bổ sung một số chủ thể không được làm người đại diện của đương sự
Người đại diện của đương sự là người tham gia và thay mặt đương sự thực hiện các hoạt động tố tụng. Vì vậy, nhà lập pháp luôn có những quy định tạo điều kiện thuận lợi cho sự tham gia của người đại diện, mục đích là để bảo đảm quyền của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án. Tuy nhiên, dựa trên đặc điểm bảo đảm quyền của đương sự mà tác giả đã phân tích ở Chương 1 thì việc bảo đảm quyền tố tụng phải được áp dụng cho tất cả các bên đương sự. Vì vậy, sự tham gia tố tụng của người đại diện cho đương sự vừa bảo đảm thực hiện quyền cho đương sự mà họ đại diện nhưng cũng để bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ đối ứng nhằm bảo đảm quyền của đương sự khác. Sự minh bạch, khách quan của người đại diện tham gia tố tụng có ý nghĩa quan trọng việc góp phần quyết định sự chính xác của quá trình giải quyết vụ án và quyết định sự bảo đảm thực thi các quyền của đương sự. Tuy nhiên, thực trạng các quy định của pháp luật TTHC về bảo đảm quyền của đương sự thông qua vai trò của người đại diện cho thấy: Khoản 6, 7 Điều 60 Luật TTHC năm 2015 không cấm người giám định, người phiên dịch, người làm chứng làm người đại diện cho đương sự nếu họ tham gia trong cùng một vụ án, đồng thời cũng không cấm những người thân thích với thành viên HĐXX trong vụ án đó làm người đại diện, tác giả thiết nghĩ cần bổ sung quy định này để bảo đảm sự khách quan trong quá trình giải quyết VAHC.
- Bổ sung quy định về hình thức ủy quyền trong TTHC để bảo đảm quyền được ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng
Đối với người đại diện theo pháp luật, việc tham gia tố tụng là nghĩa vụ của họ, mặc nhiên họ phải tham gia mà không cần phải qua thủ tục ủy quyền như người đại diện theo ủy quyền. Để khắc phục những vướng mắc, hạn chế về sự tham gia của người đại diện mà tác giả đã phân tích ở mục 2.1.2.1 của Chương 2, tạo điều kiện thuận lợi cho sự tham gia của người đại diện theo ủy quyền thì Luật TTHC năm 2015 cần sửa đổi, bổ sung quy định về hình thức ủy quyền trong TTHC để bảo đảm quyền của đương sự là được ủy quyền cho cá nhân tham gia tố tụng theo hướng sau:
Thứ nhất, nếu như Bộ luật dân sự năm 2015 cho phép đương sự được quyền lựa chọn một trong các hình thức của giao dịch dân sự theo luật định là bằng văn bản, bằng lời nói, bằng hành vi cụ thể thì Luật TTHC năm 2015 cũng nên mở rộng theo hướng này. Tuy nhiên, để xác định được đúng ý chí của chủ thể có quyền ủy quyền trong trường hợp hình thức ủy quyền xác lập bằng lời nói hoặc bằng văn bản mà không phải công chứng, chứng thực thì có thể quy định như sau: “Thẩm quyền đại diện có thể xác lập bằng lời nói được ghi trong biên bản tại Tòa án hoặc bằng văn bản của người ủy quyền làm tại Tòa án”.
Thứ hai, trong trường hợp đương sự có quyền ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng mà không thể trực tiếp tới Tòa án, để có căn cứ xác định được đúng đương sự có quyền ủy quyền thì văn bản ủy quyền có thể được chứng thực hoặc chứng nhận của cơ quan nơi người ủy quyền học tập hoặc làm việc, của cơ quan quản lý nơi người ủy quyền học, của cơ quan bảo vệ xã hội nơi người ủy quyền cư trú, của cơ quan chữa bệnh nơi người ủy quyền đang điều trị, chỉ huy lực lượng vũ trang hoặc trường quân sự, nếu người ủy quyền là người phục vụ trong các đơn vị quân đội đó hoặc thành viên trong gia đình của những người này. Giấy ủy quyền của người đang ở giam giữ do thủ trưởng trại giam chứng thực. Có như vậy thì đương sự, cụ thể là người khởi kiện có thể ủy quyền cho người khác từ giai đoạn nộp đơn khởi kiện.
Hoàn thiện quy định của pháp luật về về bảo đảm quyền của đương sự thông qua vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
- Bổ sung quyền khiếu nại của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đối với quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
Việc quy định đầy đủ, hợp lý quyền và nghĩa vụ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự sẽ tạo điều kiện thuận lợi để họ hỗ trợ cho đương sự về mặt pháp lý. Pháp luật TTHC phải trao cho họ những quyền tố tụng cơ bản nhất như: Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng nếu đương sự không yêu cầu và quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng như đã đề cập tại chương 2 của luận văn.
- Sửa đổi khoản 5 Điều 61 Luật TTHC năm 2015 theo hướng đơn giản hóa về thủ tục đăng ký tham gia làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp của đương sự
Việc loại bỏ các thủ tục không hợp lý gây khó khăn cho người bảo vệ tham gia tố tụng là một trong những yêu cầu cần phải được tiến hành để tạo điều kiện cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia tố tụng. Qua phân tích thực trạng pháp luật TTHC cho thấy, thủ tục đăng ký tham gia làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp của đương sự chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho sự tham gia của chủ thể này. Do đó, quyền được nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp của đương sự chưa được bảo đảm thực hiện. Để bảo đảm quyền được nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp của đương sự, khoản 5 Điều 61 Luật TTHC năm 2015 nên sửa đổi theo hướng: Ngay sau khi kiểm tra giấy tờ và thấy người đề nghị có đủ điều kiện làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này thì Tòa án phải vào sổ đăng ký người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và xác nhận vào giấy yêu cầu người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Trường hợp từ chối đăng ký thì Tòa án phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người đề nghị.
- Bổ sung quy định ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tại phiên tòa phải được nhận ghi trong bản án, trường hợp Hội đồng xét xử không chấp nhận ý kiến đó thì phải nêu rõ lý do và ghi trong bản án
So với trước đây vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nói chung và luật sư nói riêng càng ngày càng được xã hội coi trọng. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy, vai trò của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không được cơ quan tiến hành tố tụng tôn trọng triệt để, ý kiến của họ đôi lúc không được HĐXX ghi nhận. Do đó, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự chưa thể phát huy hết vai trò của mình để bảo đảm tốt nhất việc thực hiện quyền của đương sự. Để khắc phục tình trạng này, Luật TTHC năm 2015 nên bổ sung quy định theo hướng ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự tại phiên tòa phải được nhận ghi trong bản án, trường hợp HĐXX không chấp nhận ý kiến đó phải nêu rõ lý do và được ghi vào trong bản án. Nếu ý kiến của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự được thể hiện trong bản án của Tòa án thì điểm b khoản Điều 194 Luật TTHC năm 2015 quy định về bản án sơ thẩm cần phải bổ sung thêm về nội dung ghi nhận ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Điều này buộc HĐXX phải tôn trọng ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và sự tham gia tố tụng của chủ thể này nhằm bảo đảm quyền của đương sự mới thật sự có ý nghĩa. Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
- Hoàn thiện quy định của pháp luật về trách nhiệm của Tòa án và nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm thực hiện quyền của đương sự
- Bổ sung nguyên tắc Tòa án có trách nhiệm bảo đảm quyền của đương sự
Để bảo đảm quyền của đương sự thì pháp luật TTHC cần quy định trách nhiệm của Tòa án như một nguyên tắc cơ bản của Luật TTHC năm 2015, trong đó xác định Tòa án phải có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự thực hiện các quyền tố tụng của họ theo luật định, phổ biến các quyền, nghĩa vụ tố tụng cụ thể cho các bên đương sự từ giai đoạn người khởi kiện nộp đơn khởi kiện.
- Bổ sung quy định giới hạn thời hạn Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ
Việc Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ được xem là một trong những biện pháp mà Tòa án hỗ trợ cho đương sự trong việc thực hiện nghĩa vụ thu thập chứng cứ để phục vụ cho quyền tranh tụng của đương sự, nhưng không có sự giới hạn về thời gian Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ. Chính quy định này lại ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền tranh tụng của đương sự vì không biết để tiếp cận những tài liệu, chứng cứ Tòa án mới thu thập bổ sung. Do đó, Luật TTHC năm 2015 cần giới hạn thời hạn Tòa án thu thập tài liệu, chứng cứ là trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm.
- Bổ sung quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội thẩm nhân dân trong việc bảo đảm thực hiện quyền của đương sự
Quy định của Luật TTHC năm 2015 về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội thẩm nhân dân chưa phát huy được vai trò hỗ trợ việc thực hiện quyền của đương sự. Vì vậy, pháp luật TTHC cần phải quy định nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể này gắn liền với bảo đảm đảm quyền của đương sự chẳng hạn như: Thẩm phán có nhiệm vụ, quyền hạn tạo điều kiện cho đương sự thực hiện quyền được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ; Hướng dẫn cho đương sự thực hiện quyền tranh tụng tại phiên tòa; những vấn đề gì cần hỏi, nêu từng vấn đề cần tranh luận và hướng dẫn cho đương sự về cách thức và căn cứ tranh luận; Kiểm tra và giám sát việc thực hiện nghĩa vụ gửi tài liệu, chứng cứ của các đương sự,…Đối với Thư ký Tòa án nên bổ sung thêm các nhiệm vụ, quyền hạn như phổ biến và giải thích các quyền và nghĩa vụ tố tụng cho đương sự ngay khi thụ lý hồ sơ và các quyền tố tụng cụ thể trong các giai đoạn tố tụng sau đó; hướng dẫn cho các đương sự thực hiện nghĩa vụ sao gửi tài liệu, chứng cứ,… Luật cũng cần quy định cụ thể hơn về nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ vụ án của Hội thẩm nhân dân từ giai đoạn có quyết định đưa vụ án ra xét xử, tùy thuộc vào tính chất vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp để mời Hội thẩm là những người có kinh nghiệm và am hiểu lĩnh vực đó tham gia phiên tòa để hỗ trợ cho Thẩm phán về vấn đề chuyên môn, chuyên sâu về lĩnh vực này. Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
- Hoàn thiện các quy định về cơ chế kiểm sát việc bảo đảm quyền của đương sự
- Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 124 Luật TTHC năm 2015 đáp ứng yêu cầu về kiểm sát việc thực hiện quyền khởi kiện của đương sự
Quyền khởi kiện là một trong những quyền thuộc nhóm quyền tự định đoạt của đương sự, là quyền tố tụng quan trọng của các chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Việc thực hiện quyền khởi kiện của đương sự là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng hành chính, không có hành vi khởi kiện thì cũng không có quá trình TTHC. Để bảo đảm quyền khởi kiện của đương sự, Luật TTHC năm 2015 quy định VKS với chức năng kiểm sát hoạt động tố tụng, có quyền kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện để khắc phục những trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện không đúng luật định. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy Luật hiện hành chưa đáp ứng được yêu cầu này. Vì vậy, để VKS thực hiện hiệu quả chức năng kiểm sát, bảo đảm quyền khởi kiện của đương sự thì cần phải sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 123 Luật TTHC năm 2015 theo hướng: Khi Tòa án gửi văn bản thông báo về việc trả lại đơn khởi kiện của đương sự cho VKS thì gửi kèm theo bản sao hồ sơ khởi kiện của người khởi kiện.
- Sửa đổi, bổ sung quyền hạn của Viện kiểm sát tại phiên tòa để đáp ứng yêu cầu về kiểm sát thực hiện quyền tranh tụng của đương sự
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên ngoài phát biểu về sự tuân thủ pháp luật của Tòa án thì còn phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, để bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự trong TTHC thì Luật TTHC năm 2015 cần cho phép đương sự được quyền tranh luận, đối đáp với quan điểm của Kiểm sát viên.
- Bổ sung chế tài xử lý các hành vi vi phạm quyền của đương sự
Nhằm bảo đảm cho các quyền của đương sự được thực thi trên thực tế, Luật TTHC năm 2015 đã quy định các chế tài để xử lý khi cá nhân, cơ quan tổ chức có hành vi vi phạm. Tuy nhiên, các chế tài xử lý hành vi vi phạm quyền của đương sự trong Luật TTHC năm 2015 chưa bao quát hết các hành vi mà cá nhân, cơ quan, tổ chức xâm phạm tới việc thực hiện quyền của đương sự. Vì vậy, cần phải bổ sung các chế tài xử lý khi có các hành vi vi phạm quyền của đương sự.
- Bổ sung quy định về chế tài xử lý đối với hành vi cản trở sự tham gia tố tụng của đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
Trong thực tế vẫn có một số trường hợp đương sự đối lập không muốn các đương sự khác hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ tham gia tố tụng nên có những hành vi cản trở sự tham gia của đương sự khác, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Tuy nhiên, Điều 323 Luật TTHC năm 2015 quy định về xử lý hành vi cản trở tham gia tố tụng chỉ quy định hành vi cản trở người đại diện của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân tham gia tố tụng theo yêu cầu của Tòa án mà không quy định về chế tài xử lý hành vi cản trở tham gia tố tụng của đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Vì vậy, để bảo đảm quyền tham gia tố tụng của đương sự, Điều 323 Luật TTHC năm 2015 cần bổ sung thêm quy định về chế tài xử lý đối với hành vi cản trở sự tham gia của đương sự và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
- Bổ sung quy định xử lý hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự
Hiện nay Luật TTHC năm 2015 chỉ quy định chế tài về xử lý hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án mà không có chế tài đối với việc cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Trong khi đó các chủ thể này thường bị các đương sự đối lập hoặc các chủ thể khác gây khó khăn nên việc thu thập chứng cứ không hiệu quả. Vì vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc thu thập tài liệu, chứng cứ phục vụ cho quyền tranh tụng của đương sự thì Luật TTHC năm 2015 cần bổ sung điều luật về xử lý hành vi cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của các chủ thể này.
- Bổ sung chế tài trong trường hợp đương sự không thực hiện nghĩa vụ gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự đối lập
Luật TTHC hiện hành chưa có quy định về chế tài xử lý đương sự không thực hiện nghĩa vụ gửi tài liệu, chứng cứ cho đương sự đối lập. Do không phải chịu bất kỳ một chế tài nào nên đương sự đối lập không thực hiện nghĩa vụ đối ứng của mình, dẫn tới các quyền của đương sự khác như quyền tranh tụng, quyền tự thỏa thuận, quyền đối thoại… không được thực hiện hữu hiệu. Để khắc phục tình trạng này Luật TTHC năm 2015 cần bổ sung chế tài xử lý cho phù hợp tùy theo từng giai đoạn tố tụng.
- Bổ sung trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Tòa án trong trường hợp có hành vi vi phạm quyền của đương sự dẫn đến thiệt hại Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
Điều 19 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định chi tiết các trường hợp Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong tố tụng hành chính. Tuy nhiên, dưới góc độ bảo đảm quyền của đương sự, Nhà nước không chỉ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp liên quan đến áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; thêm, bớt, đánh tráo, hủy hoại tài liệu chứng cứ làm sai lệch hồ sơ vụ án; ra bản án, quyết định trái pháp luật mà cả trong trường hợp vi phạm quyền của đương sự. Bởi vì, trong thực tiễn xét xử có thể có trường hợp Tòa án xâm phạm quyền của đương sự dẫn đến thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần cho đương sự. Chẳng hạn như Tòa án vi phạm quyền được xét xử kịp thời của đương sự làm kéo dài quá trình giải quyết vụ án hoặc ra quyết định tạm đình chỉ không có căn cứ gây thiệt hại đến tài sản của đương sự. Tuy nhiên, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước vẫn chưa đặt ra trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Tòa án trong trường hợp có hành vi vi phạm quyền của đương sự dẫn đến thiệt hại. Thiết nghĩ các nhà lập pháp cần sớm bổ sung quy định này.
- Bổ sung chế tài xử lý trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính
Trong Chương XXIV Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp không có điều luật nào quy định trách nhiệm hình sự đối với hành vi xâm phạm quyền của đương sự trong hoạt động tư pháp nói chung và trong tố tụng hành chính nói riêng. Trong thực tiễn thực hiện quyền của đương sự ở Chương 2 của Luận văn cho thấy, tình trạng người tiến hành tố tụng xâm phạm các quyền của đương sự vẫn còn tồn tại. Vì vậy, để bảo đảm tính răn đe nhằm ngăn ngừa hành vi vi phạm quyền của đương sự thì trong Chương XXIV của Bộ luật hình sự cần bổ sung một điều luật thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng trong hoạt động tư pháp.
- Bổ sung trách nhiệm bồi thường dân sự của đương sự đối với hành vi phạm quyền của đương sự khác dẫn đến thiệt hại
Trong thực tiễn xét xử có thể có những trường hợp đương sự xâm phạm quyền của đương sự khác dẫn đến gây thiệt hại, nhưng Luật TTHC năm 2015 chưa đặt ra trách nhiệm bồi thường dân sự do hành vi xâm phạm quyền của đương sự khác gây thiệt hại phát sinh. Do đó, việc quy định trách nhiệm dân sự để đương sự có hành vi xâm phạm quyền của đương sự khác phải khắc phục hậu quả bằng cách bù đắp tổn thất về vật chất và tinh thần cho đương sự bị xâm phạm là rất cần thiết. Mức bồi thường thì tùy vào giá trị thiệt hại do đương sự bị xâm phạm quyền có nghĩa vụ chứng minh.
3.2.2. Giải pháp tổ chức thực hiện các quy định về bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
- Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân và các cơ quan, tổ chức trong đó có Tòa án trong việc bảo đảm quyền của đương sự
Bảo đảm quyền của đương sự trong quá trình giải quyết VAHC không chỉ phụ thuộc vào sự hoàn thiện của pháp luật mà còn phụ thuộc vào quan điểm, nhận thức của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng. Việc cá nhân, cơ quan, tổ chức nhận thức đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình có ý nghĩa rất quan trọng trong việc sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước Tòa án. Người dân nói chung và người tham gia tố tụng nói riêng cần được giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng quyền con người, quyền của đương sự. Mọi người tham gia tố tụng đều phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật tố tụng hành chính quy định cho họ.
Để giáo dục ý thức chấp hành pháp luật cho người dân, Tòa án cần phải áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp, như phối hợp với các cơ quan tổ chức xây dựng kế hoạch tuyên truyền, phổ biến pháp luật về TTHC, tuyên truyền, giáo dục pháp luật tại phiên tòa, tổ chức các phiên tòa hành chính lưu động… Thông qua việc xét xử công khai các vụ án hành chính, người dân theo dõi, quan sát, đánh giá các hoạt động của HĐXX, nắm được trình tự, thủ tục tố tụng và nội dung giải quyết vụ án qua việc hỏi, trả lời, tranh luận tại phiên tòa, từ đó nâng cao nhận thức pháp luật cho người dân. Việc phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng kế hoạch tuyên truyền, phổ biến pháp luật về TTHC cũng là một biện pháp TAND các cấp cần thực hiện để giáo dục ý thức chấp hành pháp luật cho người dân. Hình thức truyên truyền, giáo dục pháp luật được thực hiện rất phong phú, như: Tổ chức các cuộc vận động nhằm giáo dục ý thức chấp hành pháp luật và các cuộc thi tìm hiểu về pháp luật TTHC, tổ chức các buổi nói chuyện, viết các bài đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng, xây dựng mạng lưới tuyên truyền giáo dục pháp luật sâu rộng đến tận thôn, xóm, ấp, bản, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người v.v.. Thông qua đó, các cơ quan, tổ chức, cá nhân nắm được các quyền cơ bản được pháp luật ghi nhận và bảo vệ; hiểu được trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc giải quyết vụ án hành chính.
Song hành với việc thay đổi nhận thức của người tham gia tố tụng về bảo đảm quyền của đương sự, bản thân những người tiến hành tố tụng cũng phải thay đổi nhận thức về bảo đảm quyền của đương sự. Có thể nói nhận thức hạn chế của người tiến hành tố tụng về bảo đảm quyền con người nói chung và bảo đảm quyền của đương sự nói riêng là một trong những nguyên nhân dẫn tới sự quan liêu và cách hành xử tùy tiện làm cho quyền của đương sự không được bảo đảm. Vì vậy, người tiến hành tố tụng cần phải nhận thức được rằng bảo đảm quyền của đương sự trong TTHC là bảo đảm thực hiện quyền con người đã được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế mà Việt Nam tham gia ký kết và thực hiện quyền cơ bản được Hiến pháp năm 2013 quy định. Vi phạm quyền của đương sự là vi phạm quyền con người, kéo theo nhiều hậu quả nghiêm trọng. Trước hết, gây thiệt hại về lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần cho các đương sự, đây là nguyên nhân tiềm ẩn nguy cơ bất ổn của xã hội. Bên cạnh đó, vi phạm quyền của đương sự đồng nghĩa với việc xâm phạm các giá trị của quyền mà con người hướng như sự công bằng, bình đẳng của pháp luật, dưới một góc độ nào đó vi phạm quyền tố tụng của đương sự sẽ kìm hãm sự phát triển của xã hội. Chính vì những hậu quả nặng nề có thể gây ra cho xã hội, nên những người tiến hành tố tụng phải nhận thức được bảo đảm quyền của đương sự trong TTHC không chỉ bảo đảm cho việc giải quyết vụ án chính xác, khách quan, duy trì ổn định xã hội, tạo niềm tin công lý cho người dân mà còn là bảo đảm sự tồn tại và phát triển của xã hội pháp quyền dân chủ. Vì vậy, các chủ thể tiến hành tố tụng cần phải nhận thức được rằng Tòa án thực hiện hoạt động tư pháp theo hướng làm dịch vụ công để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân. Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
- Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý, thừa phát lại, luật sư
Trợ giúp viên pháp lý, thừa phát lại, luật sư đã góp phần hỗ trợ rất lớn cho các đương sự thực hiện các quyền tố tụng khi tham gia giải quyết vụ án hành chính tại Tòa án. Vì vậy, để bảo đảm quyền của đương sự thì cần phải nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL và thừa phát lại theo hướng:
- Mở rộng phạm vi tống đạt văn bản của tổ chức thừa phát lại theo hướng cho phép thừa phát lại tống đạt các tài liệu, giấy tờ, chứng cứ của đương sự
Theo quy định tại Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 của Quốc hội về thực hiện chế định thừa phát lại và Nghị định số 08/2020/NĐ-CP ngày 08/01/2020 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại, thì đối với nhiệm vụ tống đạt văn bản tố tụng, tổ chức thừa phát lại mới chỉ được phép tống đạt văn bản tố tụng của Tòa án và của cơ quan thi hành án cho đương sự, không cho phép tổ chức thừa phát lại tống đạt các giấy tờ, tài liệu của đương sự. Để bảo đảm quyền tố tụng của đương sự, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các nghĩa vụ gửi tài liệu, chứng cứ cho đương khác và cho Tòa án, pháp luật nên mở rộng phạm vi tống đạt văn bản của tổ chức thừa phát lại theo hướng cho phép thừa phát lại tống đạt các tài liệu, giấy tờ, chứng cứ của đương sự.
- Nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý
TGPL đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ, tư vấn pháp lý cho đương sự trước thời điểm nộp đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa, góp phần bảo đảm quyền của đương sự thuộc nhóm người được TGPL. Do đó, để bảo đảm quyền của đương sự trong TTHC cần nâng cao hiệu quả hoạt động TGPL bằng các cách thức sau đây:
Thứ nhất, chủ động cập nhật, công bố danh sách tổ chức thực hiện TGPL, người thực hiện TGPL trên địa bàn và các thủ tục cần tiến hành khi yêu cầu TGPL để người dân biết và dễ dàng thực hiện các thủ tục cần thiết khi yêu cầu và sử dụng dịch vụ TGPL.
Thứ hai, thống kê số lượng người thuộc diện được TGPL theo quy định của Luật trợ giúp pháp lý năm 2017 trên địa bàn để các tổ chức TGPL chủ động trao đổi trực tiếp với các chủ thể này, giúp họ hiểu về quyền lợi của mình để yêu cầu tổ chức TGPL hỗ trợ khi cần thiết. Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
Thứ ba, người thực hiện TGPL phải thay đổi nhận thức và cách thức thực hiện TGPL và thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ và kỹ năng nhằm cung cấp dịch vụ TGPL có chất lượng cho đối tượng được TGPL. Bên cạnh đó, tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật và phổ biến để mọi người biết những đối tượng nào thuộc diện được hưởng TGPL theo Luật TGPL.
- Tăng cường về số lượng và trình độ chuyên môn đội ngũ luật sư
Đối với đội ngũ luật sư, so với những năm trước đây đội ngũ luật sư gia tăng nhanh chóng về số lượng. Cụ thể, số lượng luật sư thành viên tính đến 15/12/2018 là 13.081 luật sư hành nghề tại hơn 4.000 tổ chức hành nghề luật sư. So với năm 2017, số lượng luật sư tăng lên hơn 1000 luật sư. Phần lớn số lượng luật sư chủ yếu vẫn tập trung tại Hà Nội (3.580 luật sư), Thành phố Hồ Chí Minh (5.488 luật sư) [25]. Chính điều này dẫn đến việc người dân khó tiếp cận với các dịch vụ pháp lý khi có nhu cầu hoặc phải trả chi phí quá cao cho các dịch vụ luật sư. Vì vậy, để bảo đảm quyền của đương sự, cần phải chú trọng phát triển đội ngũ luật sư ở những địa phương mà tỷ lệ luật sư còn thấp, đồng thời, tăng cường bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng hành nghề luật sư nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của đương sự.
- Tăng cường công tác giám sát, kiểm sát của các cơ quan nhà nước đối với hoạt động tố tụng hành chính:
Quyền của đương sự trong vụ án hành chính rất dễ có nguy cơ bị xâm phạm, xuất phát từ mối quan hệ “bất bình đẳng” giữa các bên đương sự tham gia tố tụng, do đó, hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân là cơ chế pháp lý quan trọng bảo vệ và khôi phục, bảo vệ quyền của đương sự trong VAHC. Vì thế, cần quy định cụ thể thẩm quyền giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân đối với hoạt động xem xét, giải quyết VAHC.
Đối với hoạt động kiểm sát của VKS, nhằm tạo cơ sở pháp lý cho VKS bảo vệ quyền của đương sự trong vụ VAHC, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và Luật TTHC cần quy định nhiệm vụ bảo vệ quyền của đương sự là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của VKS trong tố tụng hành chính. Vì thế, Luật TTHC cần ghi nhận cho VKS có thẩm quyền kiểm sát hoạt động TTHC từ khi khởi kiện đến khi kết thúc việc giải quyết vụ án và quyền kiến nghị xử lý hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm quyền của đương sự trong vụ án hành chính của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi các quyền hạn được quy định trong Luật TTHC năm 2015. Quy định cụ thể quyền kiểm sát của VKS trong việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật TTHC tại phiên tòa, đặc biệt là thủ tục tranh tụng đối với thủ tục tranh luận và đối đáp. Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
- Đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ năng lực giải quyết vụ án hành chính của Thẩm phán
Chất lượng xét xử vụ án hành chính của Tòa án phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của Thẩm phán. Vụ án hành chính thường rất phức tạp, đa dạng về chủ thể khởi kiện, người bị kiện, lĩnh vực khiếu kiện, nội dung và yêu cầu khiếu kiện hành chính. Để giải quyết một vụ án hành chính thì Thẩm phán không chỉ nắm vững các quy định của pháp luật tố tụng hành chính mà còn phải nghiên cứu rất nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành, thậm chí vụ án hành chính phức tạp thì số lượng văn bản pháp luật cần nghiên cứu còn nhiều hơn và có khi phải nghiên cứu cả những văn bản pháp luật cách đây vài chục năm (trong lĩnh vực đất đai). Trong khi đó Thẩm phán Tòa hành chính hiện nay ít kinh nghiệm xét xử hơn đối với những loại việc này. Ngoài trình độ chuyên môn thì Thẩm phán giải quyết vụ án hành chính phải có kiến thức về quản lý nhà nước, kỹ năng giải quyết các vụ án hành chính. Hơn nữa, việc luôn phải đối mặt với những “áp lực” về tâm lý, căng thẳng khi giải quyết VAHC cũng tác động đến chất lượng của việc giải quyết vụ án hành chính. Thực tế cho thấy, hiện nay trình độ chuyên môn của Thẩm phán chưa đồng đều, trình độ chuyên môn còn yếu, thiếu kinh nghiệm và kỹ năng giải quyết vụ án hành chính nhất là Thẩm phán ở Tòa án cấp huyện. Từ thực tế đó đặt ra yêu cầu phải nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng, kinh nghiệm trong đó bao gồm cả kỹ năng giao tiếp, ứng xử nghề nghiệp cho đội ngũ Thẩm phán, Thư ký Toà án qua việc tập huấn chuyên sâu về kỹ năng giải quyết án hành chính, kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, đánh giá chứng cứ, kỹ năng điều hành phiên toà, kỹ năng nghiên cứu các văn bản pháp luật. Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về quản lý nhà nước nên chuyên sâu theo từng lĩnh vực; thường xuyên cập nhật văn bản pháp luật và trao đổi nghiệp vụ, kinh nghiệm với các Thẩm phán có kinh nghiệm, lãnh đạo Tòa án hoặc với Tòa án cấp trên để có hướng giải quyết, xử lý vụ án đúng pháp luật. Để đáp ứng yêu cầu này, không chỉ là trách nhiệm của mỗi Thẩm phán mà còn là trách nhiệm của lãnh đạo Tòa án các cấp, Tòa án cấp trên có kế hoạch, chương trình tập huấn, thường xuyên theo dõi hoạt động tố tụng hành chính của các Thẩm phán, Thư ký Tòa án.
- Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho Tòa án đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, bảo đảm hoạt động của Tòa án
Bảo đảm quyền của đương sự trong vụ án hành chính liên quan trực tiếp đến hoạt động của Tòa án. Từ việc nộp đơn khởi kiện đến toàn bộ các thủ tục hành chính – tư pháp trong quá trình tham gia tố tụng hành chính đều được thực hiện tại trụ sở của Tòa án. Vì vậy, việc đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất cho Tòa án là một giải pháp nhằm bảo đảm cho hoạt động của Tòa án và bảo đảm sự thuận lợi cho người dân khi giải quyết các công việc tại Tòa án. Cho nên, cần tiếp tục tăng cường đầu tư xây dựng, mở rộng, cải tạo trụ sở Tòa án nhân dân các cấp theo đề án xây dựng trụ sở Tòa án nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; củng cố và hiện đại hoá cơ sở vật chất phục vụ hoạt động đặc thù của Tòa án các cấp; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin của Tòa án nhằm góp phần thực hiện hiệu quả việc đổi mới thủ tục hành chính – tư pháp; bảo đảm công khai, minh bạch hoạt động của Tòa án, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân giải quyết công việc tại Tòa án. Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
Để nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa án thì cũng cần có chế độ tiền lương đối với Thẩm phán, cán bộ, công chức Tòa án; chế độ cấp phát và sử dụng trang phục của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân. Tiếp tục cụ thể hoá và thực hiện tốt Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, tổ chức bộ máy giúp việc và tổ chức các Tòa chuyên trách trong đó có Tòa hành chính.
Tiểu kết chương 3
Chương 3 của Luận văn tập trung luận giải về các yêu cầu và đề xuất một số giải pháp để bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính. Các yêu cầu về việc hoàn thiện và thực hiện các quy định bảo đảm quyền của đương sự tập trung vào các nội dung như: phải đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN, về cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế trong bối cảnh hiện nay; mặt khác còn phải khắc phục có hiệu quả những tồn tại, hạn chế, bất cập hiện nay trong Luật TTHC năm 2015. Các giải pháp bảo đảm quyền của đương sự trong VAHC bao gồm việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật trên thực tế. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật chủ yếu tập trung vào việc sửa đổi, hoàn thiện các quy định của Luật TTHC năm 2015 về bảo đảm quyền của đương sự còn tồn tại, hạn chế như: cụ thể hóa các quyền của đương sự chưa được ghi nhận; sửa đổi, bổ sung quy định về nghĩa vụ tương ứng của đương sự gắn với bảo đảm quyền của đương sự khác; hoàn thiện quy định của pháp luật về sự tham gia của người đại điện và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp của đương sự; hoàn thiện các quy định của pháp luật về cơ chế kiểm sát việc bảo đảm quyền của đương sự, đồng thời thiết lập chế tài xử lý các hành vi vi phạm quyền của đương sự.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
Nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, yêu cầu cải cách tư pháp, phù hợp với xu thế đổi mới và phát triển đất nước cũng như xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, trong đó có lĩnh vực pháp luật nói chung và lĩnh vực TTHC nói riêng. Thời gian qua, hoạt động TTHC được tiến hành theo các thủ tục công khai, dân chủ, bình đẳng, các VAHC được giải quyết khách quan, toàn diện, chí công vô tư, đúng pháp luật, qua đó góp phần bảo đảm các quyền của đương sự. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế vướng mắc trong các quy định của pháp luật TTHC và thực tiễn giải quyết VAHC cần có các giải pháp khắc phục. Do vậy, trên cơ sở nghiên cứu đề tài “Bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk”, tác giả rút ra một số kết luận khái quát như sau:
- Phân tích các vấn đề lý luận cơ bản về bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết VAHC như: khái niệm, đặc điểm, nội dung và các yếu tố ảnh hưởng đến việc bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết VAHC.
- Phân tích, đánh giá thực trạng bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết VAHC ở Việt Nam thông qua thực trạng bảo đảm quyền của đương sự theo pháp luật TTHC và thực hiện pháp luật TTHC tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Theo đó, tác giả đã chỉ ra những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế từ các quy định pháp luật và việc thực hiện pháp luật TTHC nhằm bảo đảm quyền của đương sự.
- Phân tích các yêu cầu và đề xuất các giải pháp bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết VAHC ở Việt Nam hiện Trong đó, tác giả tập trung một số giải pháp hoàn thiện pháp luật TTHC và tổ chức thực hiện các quy định về bảo đảm quyền của đương sự trong VAHC qua thực tế tại cơ quan, đơn vị tác giả đang công tác. Những giải pháp mà tác giả mạnh dạn nêu ra nếu được thực hiện đồng bộ sẽ thiết lập được cơ chế bảo đảm quyền của đương sự trong TTHC một cách hiệu quả nhất, Tòa án sẽ là nơi bảo vệ, bảo đảm quyền công dân cao nhất trước những xâm hại đến từ các cơ quan công quyền, người có thẩm quyền và phương thức bảo đảm quyền của đương sự của Tòa án thông qua giải quyết VAHC sẽ là phương thức bảo đảm trực tiếp nhất quyền công dân, là nơi người dân tin tưởng về sự bảo đảm công bằng và công lý hành chính.
Những kết quả đạt được trong luận văn thể hiện nỗ lực, cố gắng của tác giả, sự giúp đỡ nhiệt tình và có trách nhiệm của các thầy cô, các đồng chí đồng nghiệp là Thẩm phán, Thư ký TAND tỉnh Đắk Lắk, các Thẩm phán TAND các địa phương trong tỉnh và đặc biệt là cô giáo hướng dẫn khoa học luận văn này. Do điều kiện công tác bận rộn và khả năng nghiên cứu của tác giả còn hạn chế, luận văn này không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót nhất định. Tác giả rất mong được sự thông cảm và đóng góp ý kiến chân thành của các thầy cô giáo để luận văn được hoàn thiện hơn./. Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong giải quyết vụ án.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Bảo đảm quyền của đương sự trong giải quyết vụ án

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
