Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong 5 năm trở lại đây – Thực trạng và giải pháp dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ và ổn định nhờ vào các chiến lược, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước, trong đó, phải kể đến chiến lược hướng vào xuất khẩu và chuyển dịch cơ cấu ngành hàng. Đặc biệt, Đảng và Nhà nuớc ta xác định phát triển ngành dệt may trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu nhằm thoả mãn ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng trong nước, tạo nhiều việc làm trong xã hội, nâng cao khả năng cạnh tranh của từng doanh nghiệp, của toàn ngành trong tiến trình hội nhập vững chắc khu vực và trên thế giới. Khóa luận: Xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam
Phát triển công nghiệp dệt may và xuất khẩu hàng dệt may đang đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam với tốc độ tăng trưởng hàng năm từ 20- 25% và thu về cho đất nước hàng tỷ USD. Ngoài ra, ngành công nghiệp dệt may còn giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động, đáp ứng được nhu cầu việc làm đang tăng lên nhanh chóng ở nước ta. Bên cạnh đó, dệt may còn đáp ứng nhu cầu may mặc của người dân trong nước và vươn ra đáp ứng nhu cầu may mặc của người dân nước ngoài, tạo điều kiện mở rộng thương mại quốc tế.
Ngày nay nhu cầu tiêu thụ mặt hàng này trên thế giới ngày càng có xu hướng tăng lên cả về chất lượng và số lượng. Chính vì vậy, đây là một điều kiện rất tốt để một nước đang phát triển như Việt Nam tận dụng cơ hội phát triển sản xuất, tăng cường xuất khẩu, tạo tiền đề cho các ngành công nghiệp khác có cơ hội tăng trưởng cao hơn, bắt kịp tốc độ phát triển các ngành công nghiệp tương tự ở các nước tiên tiến khác.
Hơn thế nữa, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đang trở thành một bước tiến không thể thiếu trong mỗi quốc gia. Chính vì thế, những rào cản hay những ưu đãi của các nước đối với nhau là một vấn đề hết sức nhạy cảm hiện nay, và nó có tác động không nhỏ tới kim ngạch xuất khẩu của mỗi nước. Và ngành dệt may cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Chính vì những lý do trên, em đã mạnh dạn chọn đề tài: “Xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong 5 năm trở lại đây, thực trạng và giải pháp” cho khoá luận tốt nghiệp của mình.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2. Đối tượng, nội dung nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu. Khóa luận: Xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong 5 năm trở lại đây.
- Nội dung của đề tài là tìm hiểu và phân tích thực trạng xuất khẩu dệt may của Việt Nam, từ đó tìm ra giải pháp thúc đẩy xuất khẩu ngành dệt may, để ngành dệt may Việt Nam trở thành một trong những nước xuất khẩu lớn nhất thế giới( Top của thế giới trong thời gian gần và hướng tới cạnh tranh vị trí dẫn đầu với Trung Quốc trong thời gian xa hơn nữa).
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong 5 năm, từ năm 2003 đến năm 2008.
3. Phương pháp nghiên cứu.
Để có thể thu thập thông tin làm cơ sở đưa ra những giải pháp, em đã sử dụng một số phương pháp như: phương pháp đọc tài liệu, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích kinh doanh, phương pháp dự báo.
4. Kết cấu của khoá luận gồm:
Chương I: Khái quát về thị trường dệt may và xuất khẩu dệt may.
Chương II: Thực trạng xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong 5 năm trở lại đây( 2003-2008).
Chương III: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam trong những năm tới.
Do thời gian và vốn kiến thức còn hạn chế, nên khoá luận tốt nghiệp của em còn nhiều thiếu sót. Rất mong sự quan tâm, đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để khoá luận này được hoàn thiện hơn.
Qua đây, em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Thạc sĩ Nguyễn Thị Tường Anh đã giúp đỡ, hướng dẫn và góp ý cho em trong quá trình hoàn thành bài khoá luận này.
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG DỆT MAY VÀ XUẤT KHẨU DỆT MAY.
I. THỊ TRƯỜNG DỆT MAY. Khóa luận: Xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam
1. Thị trường dệt may thế giới.
1.1 Quá trình phát triển của ngành dệt may trong xã hội:
Dệt may là một trong những hoạt động xa xưa nhất của con người. Sau thời kì nguyên thuỷ, lấy da thú che thân, từ khi biết canh tác, loài người đã bắt chước thiên nhiên, đan lát các thứ cỏ cây làm thành nguyên liệu. Theo các nhà khảo cổ thì sợi lanh (flax) là nguyên liệu dệt may đầu tiên của con người. Sau đó sợi len bắt đầu xuất hiện ở vùng Lưỡng Hà và sợi bông ở ven sông Indus (Ấn Độ). Trong thời kì cổ đại, ngành dệt may cũng phát triển tuỳ thuộc vào thổ nhưỡng và sinh hoạt kinh tế: các dân tộc sống bằng nghề chăn nuôi dùng len là chủ yếu (Lưỡng Hà, Trung Đông, Trung Á), trong khi đó vải lanh lại phổ biến ở vùng Ai Cập và miền Trung Mỹ, Vải bông tại Ấn Độ và lụa tơ tằm tại Trung Quốc, các dân tộc Inca, Maya, Tolteca… tại Châu Mỹ thì dùng các sợi chuối (abaca) và sợi thùa (sisal). Theo kinh thi của Khổng Tử thì tơ tằm được tình cờ phát hiện tại Trung Quốc vào năm 2640 trước Công nguyên. Sau đó vua Phục Hy, vị hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc, khuyến khích dân chúng trồng dâu nuôi tằm, tơ lụa trở thành một ngành phồn thịnh, một trong những hàng hoá trao đổi giữa Đông và Tây. Trong nhiều thế kỷ, Trung Quốc là nước duy nhất sản xuất và xuất khẩu lụa và tơ tằm. Con đường tơ lụa (Silk Route), còn được truyền tụng cho đến ngày nay, không chỉ là địa bàn của các nhà buôn mà còn mở đường cho các luồng giao lưu văn hoá, nghệ thuật, tôn giáo, và cả các cuộc viễn chinh binh biến. Khóa luận: Xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam
Tuy các kỹ thuật dệt may đã mau chóng đạt đến mức độ tinh vi, có khi thành cả nghệ thuật, nhưng trong suốt 5 nghìn năm, con người vẫn chỉ dùng các nguyên liệu tự nhiên, lấy từ cây cỏ như các sợi bông, sợi đay (jute), sợi gai dầu (hemp), hay từ động vật như da, sợi len, tơ tằm….Vì thế, sản xuất bị giới hạn, vải vóc vẫn là sản phẩm quý, những y phục gấm vóc chỉ dành cho giai cấp quý tộc, thượng lưu còn đại đa số dân chúng chỉ mặc vải thô, quanh quẩn với một vài màu sắc. Mãi đến giữa thế kỷ 18, với cuộc cách mạng kỹ thuật bên Anh và sự ra đời của các máy dệt cơ khí, chạy bằng hơi nước (steam loom), ngành dệt mới thực sự ra khỏi sản xuất thủ công để trở thành một ngành công nghiệp phát triển đáp ứng được nhu cầu của đại đa số dân chúng. Tuy nhiên, con người vẫn còn lệ thuộc vào thiên nhiên, và nhiều nhà khoa học ở châu Âu đã tìm ra một loại sợi nhân tạo có thể sản xuất hàng loạt với giá rẻ. Nhưng phải đợi đến năm 1884, một người Pháp, Bá tước Hilaire Bernigaud de Chardonnet mới phát minh ra một cách chế tạo tơ nhân tạo, sau 6 năm nghiên cứu cùng với nhà khoa học Louis Pasteur, để tìm cách khắc phục các bệnh dịch tàn phá các cơ sở nuôi tằm. Năm 1889, ông Chardonnet trưng bày tại hội chợ triển lãm thế giới Pais một máy kéo sợi nhân tạo và những tấm lụa nhân tạo đầu tiên. Năm sau, ông khánh thành nhà máy sợi nhân tạo, bắt đầu sản xuất vào năm 1892, nhưng lúc ấy các phương pháp chưa hoàn chỉnh và giá thành còn cao nên phải đợi đến đầu thế kỷ 20, cơ sở này mới hoạt động với quy mô lớn và thành công.
Chardonnet được coi như cha đẻ của kỹ nghệ sợi hoá học (chemical fibres) chữ gọi chung cho các sợi nhân tạo và sợi tổng hợp. Mục đích của ông khi tìm cách làm tơ nhân tạo là để bình dân hoá vải vóc, để bất cứ ai cũng có thể có những bộ quần áo lụa là, cho tới lúc ấy vẫn chỉ dành cho thiểu số. Ông đã thành công hơn dự kiến vì kỹ thuật phát sinh từ những sáng chế của ông đã dẫn đến cả một cuộc cách mạng trong may mặc, biến thời trang thành một hiện tượng quần chúng trong cả nước. Ngành dệt may từ đó cũng phát triển ngày càng nhanh, cùng với đà tiến triển của kinh tế và thương mại. Từ 1889 đến 1939, phải sau 50 năm, sản luợng sợi hoá học trên thế giới mới đạt mức 1 triệu tấn 1 năm, nhưng chỉ 12 năm sau đã tăng gấp đôi, và cứ thế tăng vọt. Năm 1900, trên thế giới có 1,6 tỷ người, tiêu thụ 3,8 triệu tấn sợi, hầu như là sợi tự nhiên: bông (81%) len (19%), số sợi hoá học chỉ đạt dưới 1000 tấn. Năm 1975, thế giới tiêu thụ 26 triệu tấn sợi, trong đó: 50% bông, 6% len và 44% sợi hoá học. Như thế chỉ trong 3 phần tư thế kỷ, số lượng tiêu thụ đã nhân lên 4,3 lần đối với bông, 2,2 lần với len và 11000 lần cho sợi hoá học1. Mức tăng trưởng phi thường này tuy thế bị khựng lại sau năm 1973 do cuộc khủng hoảng về “Tình hình phát triển công nghiệp dệt may thế giới”, tạp chí Chiến lược chính sách công nghiệp, số 8/2004, trang 13, 14. dầu lửa và giai đoạn kinh tế suy thoái sau đó. Ngoài ra vì dầu hoả là nguyên liệu chính của sợi hoá học, khuynh hướng thay thế sợi tự nhiên bằng sợi nhân tạo cũng chậm lại và ngày nay sợi tự nhiên, chủ yếu là bông vẫn tồn tại trên thị trường và sợi hoá học chỉ chiếm đa số với khoảng 60%.
Sản phẩm của ngành dệt may không chỉ là quần áo vải vóc và các vật dụng quen thuộc như khăn bàn, khăn tắm, chăn mềm, nệm, rèm thảm… mà còn cần thiết cho tất cả các ngành nghề và sinh hoạt: lều, buồm, lưới cá, cần câu, các loại dây như dây thừng, dây chão, các thiết bị bên trong xe hơi, xe lửa, máy bay, tàu bè (một chiếc xe hơi trung bình dùng đến 17 kg sợi vải), vòng đai cua- roa, vỏ săm lốp, ống dẫn, bao bì và nói chung mọi vật liệu dùng để đóng gói, bao bọc, cách nhiệt, cách điện, cách âm, cách thuỷ và các dụng cụ dùng trong y khoa như chỉ khâu và bông băng. Có thể hiểu tại sao ngành dệt may đã đi liền với sự phát triển của các nước công nghiệp, cùng với sắt thép là hai ngành vừa được ưu tiên thừa hưởng những phát minh kỹ thuật vừa là động cơ chuyển biến cả nền kinh tế từ thủ công nghiệp sang công nghiệp trong thời kỳ cách mạng kỹ thuật. Điều này cũng lý giải vì sao các nước công nghiệp vẫn quyết tâm bảo vệ ngành dệt may nội địa trước sự cạnh tranh của các nước nghèo, từ thập niên 1970 trở đi, khi các nước này tập trung xây dựng ngành dệt may thành trọng điểm của chiến lược phát triển. Và tại sao đây lại là một trong những mối tranh chấp căng thẳng từ nhiều năm trong quan hệ thương mại giữa các nước giàu và nghèo.
1.2 Thị trường dệt may thế giới. Khóa luận: Xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam
1.2.1 Về kim ngạch
Theo thống kê của tổ chức WTO, kim ngạch hàng dệt trao đổi trên thế giới trong năm 2002 là 152 tỷ USD, tức 2,4% mậu dịch hàng hoá và 3,2% mậu dịch hàng công nghiệp. Đối với hàng may mặc, các con số tương đương là 201 tỷ USD, 3,2% mậu dịch hàng hoá và 4,3% mậu dịch hàng công nghiệp. Những tỉ số này còn khiêm tốn vì hàng dệt may, tuy cơ bản và cần thiết cho mọi mặt của đời sống, nhưng vì đã trở thành phổ biến, thậm chí tầm thường do đó ít giá trị, trừ một số sản phẩm cao cấp dành cho các ứng dụng chuyên môn. Một lý do khác là sự cạnh tranh từ các nước nghèo có giá nhân công rẻ đã kéo giá thành xuống, khiến mức tăng trưởng đo bằng trị giá của thương mại dệt may thấp hơn mức tăng trưởng về lượng.
Sự phân bố theo luồng thương mại cho thấy hoạt động trong khu vực lớn hơn là từ vùng này sang vùng khác. Trong năm 2002, các trao đổi vải sợi giữa các nước châu Á đạt 38 tỷ USD, và giữa nội bộ các nước Tây Âu là 36,4 tỷ USD, hai con số cao hơn gấp bội các trao đổi liên vùng như xuất khẩu của Tây Âu về khối Đông Âu – Liên Xô cũ 8,9 tỷ USD, châu Á về Tây Âu 7,9 tỷ USD, châu Á về Bắc Mỹ 8,3 tỷ USD và Bắc Mỹ về châu Mỹ La Tinh 5,7 tỷ USD. Về phía hàng may mặc cũng tương tự: Nội bộ Tây Âu 45,6 tỷ USD, nội bộ châu Á là 22,8 tỷ USD, châu Á về Bắc Mỹ 34,5 tỷ USD, châu Mỹ La Tinh về Bắc Mỹ 19,7 tỷ USD, châu Á về Tây Âu 20,9 tỷ USD, Và khối Đông Âu – Liên Xô cũ về Tây Âu 9,6 tỷ USD. Khóa luận: Xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam
Tây Âu và châu Á cũng dẫn đầu khi phân bố theo vùng. Với hàng dệt, trong năm 2002, Tây Âu chiếm 38% kim ngạch xuất khẩu thế giới và 35% nhập khẩu, châu Á chiếm 44% xuất khẩu và 29% nhập khẩu, cách xa Bắc Mỹ 9% xuất khẩu và 12% nhập khẩu. Các vùng khác như khối Đông Âu- Liên Xô cũ, châu Mỹ La Tinh, châu Phi và vùng Trung Đông đều có những tỷ số một vài phần trăm cho cả xuất khẩu và nhập khẩu.
Bảng 1: Kim ngạch buôn bán hàng dệt và may mặc của thế giới 1990- 2002
Về may mặc, Tây Âu và châu Á cũng thống trị thị trường như thế. Tây Âu chiếm 30% xuất khẩu và 41% nhập khẩu, châu Á 45% xuất khẩu nhưng chỉ chiếm 13% nhập khẩu, và Bắc Mỹ ngược lại, nhập 31% gấp 6 lần xuất 5%. Thị phần của các vùng kia lại càng ít ỏi hơn, châu Mỹ La Tinh khá nhất cũng chỉ chiếm 10% xuất và 4% nhập. Qua con số này, có thể nói trong mậu dịch quốc tế về hàng dệt may, Tây Âu, châu Á và Bắc Mỹ đóng vai trò chính.
Xét trên bình diện các nước xuất nhập khẩu dệt may chính của thế giới, ta thấy cũng có một vài diểm dáng lưu ý. Những năm gần đây sau cuộc khủng hoảng tiền tệ ở khu vực Châu Á, từ năm 2002 trở đi, kinh tế thế giới đã hồi phục, nhu cầu tiêu thụ hàng dệt may cũng tăng lên, nhất là tại các nước Châu Á. Bước sang thế kỉ mới này, ngành gia công sợi Châu Á sẽ phát triển trong môi trường có nhiều thuận lợi, ngành may mặc cũng đóng góp một vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế mỗi nước trong khu vực.
Bảng 2: Tình hình nhập khẩu hàng dệt may trên thế giới
Nhu cầu nhập khẩu hàng dệt may trên thế giới ngày càng gia tăng mạnh. Năm 2000 kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của thế giới đã tăng lên 363,493 tỷ USD trong đó mặt hàng may mặc tăng lên là 214,12 tỷ USD tương đương 6,7% so với năm 1999 và tăng lên 91% so với năm 1990. Đối với mặt hàng dệt, kim ngạch nhập khẩu là 149,370 tỷ USD tăng 4,5% so với năm 1999; và tăng 13,5% so với kim ngạch nhập khẩu năm 1990. Tuy nhiên đến năm 2001 thì lượng nhập khẩu hàng dệt may bị chững lại, tổng kim ngạch nhập khẩu của thế giới chỉ đạt 348,235 tỷ USD giảm đi 4,2% so với năm 2000. Hàng dệt giảm 10,788 tỷ USD tương đương 52,25%. Nguyên nhân là do nhu cầu của thị trường thế giới giảm mạnh đối với hàng dệt, đồng thời do nền kinh tế thế giới gặp nhiều khó khăn đặc biệt là 2 nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ và Nhật đang rơi vào tình hình khủng hoảng, nền kinh tế bị đình trệ. Tại Mỹ và Nhật Bản lượng hàng dệt may nhập khẩu từ các nước trên thế giới giảm đáng kể. Trong đó tại thị trường Mỹ lượng nhập khẩu hàng may mặc giảm 724 triệu USD, còn lượng hàng dệt nhập khẩu vào thị trường này cũng giảm triệu USD. Thị trường Nhật nhập khẩu hàng dệt giảm đi 190 triệu USD, hàng may mặc giảm 516 triệu USD. Ngoài ra, thị trường EU là một trong những thị trường lớn của thế giới về tiêu thụ hàng dệt may thì lượng nhập khẩu cũng bị giảm xuống đáng kể, nhập khẩu hàng may mặc giảm 812 triệu USD, hàng dệt giảm 3086 triệu USD.
Sau năm 2002, nền kinh tế thế giới nói chung đã có sự tăng trưởng trở lại sau khi thoát khỏi cuộc khủng hoảng. Ngành dệt may thế giới cũng có sự phát triển khá tốt trong giai đoạn này. Lượng sản phẩm dệt may nhập khẩu đều tăng lên trông thấy. Đặc biệt, vào năm 2005, khi việc huỷ bỏ chế độ hạn ngạch giữa các nước là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO chính thức có hiệu lực, dệt may thế giới đã có những thay đổi đang mừng, vượt xa cả sự mong đợi do lo lắng vì tình trạng chiếm lĩnh thị thường xuất khẩu của một số nước lớn như Trung Quốc khi hạn ngạch được bãi bỏ. Các hãng sản xuất hàng dệt may xuất khẩu đều đạt tỷ trọng trung bình 20% mỗi năm. Số lượng và giá trị mỗi đơn hàng cũng tăng cao, điển hình là khu vực Trung Quốc, Tây Âu và Mỹ, chiếm đại đa số trong thị phần bán lẻ thế giới. Trung Quốc và Ấn Độ là hai đất nước có sự tăng trưởng hơn cả, sau một năm xoá bỏ hạn ngạch, cả hai đều tăng truởng với tốc độ 20% một năm. Và sự xâm nhập dữ dội này từ các nước xuất khẩu, nhất là Trung Quốc đã gây ra sự phản ứng gay gắt của ngành dệt may Eu và Mỹ. Họ đã phải đàm phán với Trung Quốc về một thoả thuận hạn chế hàng dệt may để bảo vệ nền sản xuất trong nước. Mỹ cũng đã kí một thoả thuận tăng sản lượng hàng dệt may của Trung Quốc vào thị trường mình đến năm 2008 nhưng thấp hơn nhiều so với năm 2005.
Hiện nay, trên thị trường thế giới, Nhật và Mỹ là 2 quốc gia tiêu thụ hàng dệt may nhiều nhất trên thế giới, mà lượng hàng nhập lớn nhất lại từ Trung Quốc. Để có thể cạnh tranh với Trung Quốc, Mỹ có thể sẽ điều chỉnh nguồn hàng nhập khẩu. Tại Mỹ, giá cạnh tranh rất gay gắt, nhu cầu tiêu dùng đang dần thu hẹp lại nên giá cả tại thị trường này giảm liên tiếp. Đồng thời, Mỹ cũng đang hạn chế việc xuất khẩu hàng dệt may từ các nước đang phát triển. Đây là điều bất lợi cho nước ta khi xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Còn Nhật Bản là nước không có hạn ngạch hạn chế nhập khẩu về mặt hàng dệt may nên thị phần hàng dệt may của Trung Quốc chiếm hơn 80% tổng nhập khẩu hàng dệt may vào thị trường này.
Dựa vào tốc độ phát triển kinh tế và tốc độ tăng trưởng dân số người ta dự boá nhu cầu hàng dệt may thế giới năm 2005- 2020.
Bảng 3: Dự báo triển vọng nhu cầu hàng dệt của thế giới 2005- 2020
1.2.2 Về thị trường xuất nhập khẩu Khóa luận: Xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam
1.2.2.1 Một số thị trường nhập khẩu chính:
Thị trường EU
Liên minh Châu Âu bao gồm 25 quốc gia, là một khối kinh tế thương mại có lịch sử phát triển rất lâu đời. Nói đến hàng may mặc người ta thường nghĩ ngay đến các trung tâm đào tạo mốt thời trang nổi tiếng ở châu Âu như: Pháp, Italy… với nhiều công ty tạo mốt nổi tiếng thế giới. Do vậy đây là trung tâm thông tin về thời trang hàng may mặc trên thế giới. Mặt khác, EU là một thị trường có nhu cầu tiêu thụ hàng may mặc lớn. Với thị trường này yêu cầu về chức năng bảo vệ của quần áo chỉ chiếm từ 10-15 % giá trị sử dụng, còn yêu cầu về giá trị thẩm mỹ chiếm từ 85-90%. Vì thế sản phẩm may mặc của thị trường này đòi hỏi sự kết tinh chất xám cao, mức tiêu thụ mặt hàng này trung bình là 17kg/năm trong khi đó Hàn Quốc là 14,3kg/năm, Hồng Kông là 11,9kg/năm, Trung Quốc là 5,5kg/năm, Việt Nam chỉ là 0.84kg/năm. Chính vì vậy EU là một trong những thị trường hàng may mặc lớn nhất thế giới.
Thị trường Mỹ:
Hàng may mặc là một trong những mặt hàng lớn nhất của Mỹ (hàng năm Mỹ nhập khẩu khoảng 70 tỷ USD cho hàng dệt may). Nhu cầu tiêu thụ mặt hàng may mặc của thị trường này rất lớn, nhưng chủ yểu là nhập khẩu, sản xuất trong nước rất ít. Với tiềm năng nhập khẩu hàng may mặc lớn Mỹ là một thị trường hấp dẫn với nhiều quốc gia và thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà xuất khẩu hàng may mặc lớn ở các nước.
Thị trường Nhật:
Hàng năm Nhật bản nhập một số lượng lớn hàng dệt may của nước ngoài, theo thống kê của hiệp hội hàng dệt của Nhật thì năm 2007 giá trị hàng dệt may nhập khẩu của Nhật đã lên tới 24 tỷ USD. Do nguyên nhân địa lý và một số nguyên nhân khác mà hàng dệt may nhập khẩu của Nhật chủ yếu là từ các nước Hàn Quốc, Trung Quốc… Nhật là một thị trường rất khó tính về chất lượng, bên cạnh những chứng chỉ ISO thì luật bảo vệ người tiêu dùng của Nhật được áp dụng từ năm 1985 cũng là điều cần chú ý. Những lỗi trên sản phẩm như là mũi kim gãy, khuy kim loại, hoá chất nhuộm ảnh hưởng đến sức khoẻ… sẽ bị phạt rất nặng nếu bị phát hiện. Về mỹ thuật, thị trường Nhật lại dễ tính hơn thị trường Châu Âu, vì thế chất lượng vẫn là vấn đề then chốt.
1.2.2.2. Một số thị trường xuất khẩu chính: Khóa luận: Xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam
Trung Quốc:
Ưu thế của hàng Trung Quốc là giá cả thấp, hạn ngạch và thuế quan ưu đãi, chủng loại hàng hoá phong phú, đặc biệt hiện nay, Trung Quốc đã gia nhập WTO nên càng có nhiều thuận lợi. Hơn nữa về lĩnh vực dệt may Trung Quốc có nhiều năm kinh nghiệm trên thị trường quốc tế và khu vực.
Hàng Trung Quốc xuất khẩu ra thị trường theo 2 kênh chính: Các công ty bán lẻ có nhãn hiệu và các cửa hàng nhỏ. Đặc biệt đối với kênh tiêu thụ thứ 2 thì hàng Trung Quốc hầu như chiếm ưu thế vì có thể cung cấp lượng hàng rất lớn trong thời gian ngắn và giá rẻ nhất thế giới.
Ấn Độ:
Ấn Độ từng là nước có ngành công nghiệp dệt may lớn nhất thế giới, trong những thế kỷ trước, hàng dệt may của Ấn Độ đã có mặt tại mọi ngóc ngách trên Trái Đất. Tuy nhiên sau ngày độc lập ngành công nghiệp này bị biến thành một đống đổ nát hoang tàn, chỉ còn những nhà máy bị bỏ hoang.
Nhưng giờ đây ngành dệt may cuối cùng đã “lấy lại phong độ”. Chính phủ bãi bỏ nhiều quy định bất hợp lý mở đường cho nhiều xưởng dệt may mới ra đời. Những nhà sản xuất hàng đầu như Welspun India, Alok Industries, và Gokaldas Exports Ltd đang nỗ lực hết sức chuẩn bị cho ngày chế độ hạn nghạch đối với hàng dệt may được xoá bỏ. Năm 2003- 2004 Ấn Độ đầu tư tổng cộng 700 triệu USD cho việc trang bị máy móc và nhà xưởng hiện đại. Các công ty cũng đặt kế hoạch đến cuối năm 2005 sẽ chi thêm khoảng 2,5 tỷ USD để tăng công suất và thúc đẩy hoạt động Marketing tới các nhà bán lẻ nước ngoài. * Các nước vùng vịnh Caribê và Mêhicô:
Ưu thế của các nước này là có địa lý gần trung tâm tiêu thụ dệt may lớn trên thế giới như Mỹ, Bắc Mỹ. Chính vì vậy nước này dễ kiểm soát sản xuất và bảo đảm tiến độ giao hàng, giá nhân công tương đối rẻ, đặc biệt lại có hệ thống ưu đãi về thuế quan (GSP) và hạn ngạch. Hàng hoá cắt ở các khu vực dệt may lớn đưa gia công ở các nước này không bị khống chế bằng hạn ngạch. Chính sách ưu đãi chung về thuế quan đã giúp ngành xuất khẩu may mặc ở khu vực này phát triển nhanh chóng và ngày càng tăng cao.
Các nước ASEAN
Trong 10 năm trở lại đây ngành dệt may ở các nước ASEAN phát triển rất nhanh. Các nước Philippin, Inđonesia, Malaysia, Thái Lan có kinh nghiệm xuất khẩu hàng hoá đã nhiều năm với các ưu thế về trình độ quản lý, năng suất lao động, ưu đãi chung về thuế quan. Ngoài ra các nước này cũng được hưởng ưu đãi về hạn ngạch, giá nhân công tuy có cao hơn Việt Nam nhưng vẫn còn rất rẻ, đặc biệt tại Philippin, Inđonesia giá đất và nhà xưởng rẻ hơn Việt Nam nên thu hút được khá nhiều nhà đầu tư nước ngoài.
2. Thị trường dệt may Việt Nam.
2.1. Sự ra đời và phát triển của ngành dệt may Việt Nam.
2.1.1 Từ khi ra đời đến trước cải cách kinh tế (1986).
Việt nam các nghề thủ công như dệt vải, thêu thùa đã xuất hiện từ rất lâu và cho đến ngày nay vẫn còn nhiều làng dệt thủ công đang tồn tại và ngày một phát triển. Đó là các làng như: làng lụa Vạn Phúc (Hà Nội), Triều Khúc (Hà Nội), làng Mẹo (Thái Bình).
Tuy nhiên lịch sử cho thấy, sự ra đời của ngành công nghiệp này bắt đầu từ khi khu liên hợp dệt Nam Định được thành lập vào năm 1897. Sau đó ngành công nghiệp này đã phát triển nhanh hơn vào sau chiến tranh thế giới thứ 2. Ở miền Nam, các nhà máy đã được thành lập và sử dụng các máy móc hiện đại của phương Tây. miền Bắc, các nhà máy quốc doanh sử dụng máy móc của Trung Quốc, Liên Xô và các nước Đông Âu cũng được thành lập trong giai đoạn này. Khóa luận: Xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam
Vào năm 1954, sau khi giải phóng miền Bắc, nhà máy dệt Nam Định đã được khôi phục và xây dựng lại. Một số nhà máy được xây dựng mới như nhà máy dệt mùng 8- 3, nhà máy dệt Vĩnh Phúc, nhà máy may Thăng Long, nhà máy may Chiến Thắng, nhà máy may Nam Định, nhà máy may Đáp Cầu. Các làng nghề truyền thống, các cơ sở dệt may hợp doanh cũng được khuyến khích phát triển.
Sau khi giải phóng miền Nam (tháng 4- 1975), chính phủ đã tiếp quản các nhà máy dệt, may ở miền Nam như nhà máy dệt Thắng Lợi, nhà máy dệt Phong Phú, nha máy dệt Thành Công, nhà máy may Nhà Bè, nhà máy may Việt Tiến, nhà máy may Hoà Bình,…
Sau đó, chính phủ đã thành lập liên hiệp các xí nghiệp dệt, công ty xuất khẩu dệt (TEXTIMEX), công ty xuất nhập khẩu may (CONFECTIMEX), và một loạt các nhà máy cũng được thành lập như công ty dệt Hà Nội, nhà máy dệt Nha Trang, công ty dệt Huế. Ngoài ra, các chính quyền địa phương cũng thiếp lập các cơ sở dệt- may của họ. Ngành công nghiệp dệt- may đã phát triển rất nhanh chóng trong giai đoạn này để đáp ứng được nhu cầu của thị trường trong nước.
Ngành công nghiệp dệt- may bắt đầu xuất khẩu sản phẩm của mình tới các nước thuộc khối kinh tế Comecon vào năm 1976. Đầu tiên, Việt Nam xuất khẩu sang các nước Liên Xô cũ qua các hợp đồng gia công. Qua hoạt động này, Việt Nam nhập bông từ Liên Xô cũ và sau đó xuất trả lại sản phẩm hoàn tất. Vào năm 1979, Việt Nam mở rộng hoạt động này sang các nước Hung-ga-ri, Tiệp Khắc, Đông Đức.
Vào giữa những năm 80, nền kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng mất cân đối. Sản xuất nội địa khủng hoảng và thiếu hiệu quả, các doanh nghiệp làm ăn liên tục thua lỗ, đa phần các mục tiêu theo kế hoạch không thực hiện được. Do đó lạm phát tăng rất nhanh (lên tới 775% vào năm 1986). Nền tài chính không chỉ yếu kém mà còn phụ thuộc nhiều vào viện trợ nước ngoài. Các nguồn thu nội địa trong ngân sách nhà nước chỉ chiếm 60- 70% của ngân sách. Phần còn lại được cung cấp từ những nguồn bên ngoài. Thâm hụt ngân sách rất cao.
Trong một nền kinh tế đình trệ như vậy, ngành dệt may của Việt Nam không thể tránh khỏi những hệ luỵ liên quan. Sản xuất bị đình đốn, rất nhiều doanh nghiệp dệt may rơi vào tình trạng phá sản, hoặc làm ăn không có hiệu quả. Đồng tiền mất giá, các doanh nghiệp khó có thể nhập khẩu nguyên liệu để gia công sản phẩm xuất khẩu. Vậy nên, trong thời kì gia công xuất khẩu là chủ yếu này, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam tăng trưởng rất ít, nếu như không muốn nói là tăng trưởng âm.
Tuy nhiên, cũng có một số doanh nghiệp thời kì này đã tìm ra được giải pháp chống chọi với tình hình bi đát đó. Điển hình là nhà máy dệt Phong phú, nhà máy dệt Thành Công. Họ đã biết kết hợp với các xí nghiệp sản xuất nguyên phụ liệu, đầu tư phát triển trồng bông để có nguyên phụ liệu sản xuất trong giai đoạn này. Mô hình này đã giúp các doanh nghiệp vừa giải được bài toán nguyên liệu sản xuất, vừa cản được sự phá sản của các xí nghiệp nguyên phụ liệu trong thời kì này.
Có thể nói, giai đoạn 1979- 1986 là một giai đoạn hết sức khó khăn đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành dệt may Việt Nam nói riêng. Điều đó càng đòi hỏi cần có một sự cải tổ toàn bộ nền kinh tế và nghị quyết Đại hội VI của Đảng vào năm 1986 là sự mở màn cho sự cách tân này.
2.1.2 Từ 1986 đến trước khi Liên Xô sụp đổ(1991). Khóa luận: Xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam
Từ năm 1987, Việt Nam đã từ bỏ nền kinh tế tập trung quan liêu và chế độ bao cấp, sau một số chương trình ổn định nền kinh tế vĩ mô, tự do hoá thị trường thành công trong giai đoạn 1988- 1991, Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ trong phát triển kinh tế, thâm hụt ngân sách giảm, lạm phát đã được chặn đứng và tiếp tục giảm. Luồng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngay càng tăng, và sự dịch chuyển lao động quốc tế từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển đã là điều kiện tốt nhất để ngành công nghiệp dệt- may phát triển và tham gia nhiều hơn vào thị trường thế giới.
Cùng với việc mở rộng quan hệ giao lưu quốc tế, ngành đã chủ động tìm những thị trường mới như EU, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Trong giai đoạn 1987- 1990, ngành công nghiệp dệt may đã phát triển rất mạnh. Các công ty may được thành lập ở mọi nơi thu hút hàng trăm ngàn lao động và đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước. Điều này có được là do chúng ta đã kí kết với Liên Xô hợp đồng gia công với số lượng rất lớn hàng dệt may trong thời gian dài từ năm 1986 (được gọi là hợp đồng 19/5), theo đó Liên Xô cung cấp tất cả nguyên liệu, mẫu mã thiết kế, Việt Nam sẽ tiến hành sản xuất và giao lại quần áo hoàn chỉnh.
2.1.3 Từ sau khi Liên Xô sụp đổ(1991) cho đến nay :
Sau sự sụp đổ của Liên Xô (1991),ngành công nghiệp Dệt-May Việt Nam đã phải chịu một cuộc khủng hoảng nặng nề cả sản xuất cũng như ngành cung cấp nguyên liệu và thiết bị. Có thể nói giai đoạn 1991-1992 là giai đoạn khó khăn nhất của ngành công nghiệp Dệt-May. Rất nhiều công ty đã phải giảm sản lượng hay phải đối phó với tình trạng giải tán. Trước tình hình này ngành công nghiệp Dệt – May phải đối phó với những thách thức rất lớn như: làm sao để phát triển ngành dệt may bắt kịp với thế giới và qua đó tìm cơ hội đưa hàng dệt may Việt Nam vào các thị trường đầy tiềm năng như Mĩ, EU, Nhật Bản, đưa Việt Nam trở thành cường quốc sánh vai với bạn bè năm châu bốn bể? Để đáp ứng được yêu cầu cấp bách đó, chính phủ Việt Nam đã kí kết những hiệp định hết sức quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn đến cả nền kinh tế Việt Nam cũng như ngành dệt may nói riêng. Các hiệp định quan trọng đó là: Khóa luận: Xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam
- Năm 1992: Việt Nam kí hiệp định buôn bán hàng dệt may với EU.
- Năm 1994 :Mỹ bỏ cấm vận với Việt Nam.
- Năm 1995 :Mỹ bình thường hoá và đặt quan hệ ngoại giao đối với Việt Nam.
- 8/1995 :Việt Nam gia nhập ASEAN.
- 29/4/1995,Thủ tướng chính phủ đã ra quyết định số 253/TTg cho phép thành lập Tổng công ty Dệt- May Việt Nam trên cơ sơ kết hợp Liên hiệp các doanh nghiệp SX-XNK hành may mặc và Tổng công ty Dệt Việt Nam nhằm tạo sức mạnh tổng hợp ,tạo được thế và lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh hàng may mặc phát triển.
- 13/7/2000:Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ được ký kết tạo điều kiện thuận lợi cho hàng dệt may của ta thâm nhập vào thị trường Mỹ, một thị trường lớn với nhiều tiềm năng hứa hẹn lợi nhuận cao.
- 1/1/2005:EU va Canada xoá bỏ hạn ngạch dệt may cho Việt Nam.
Hơn thế nữa, những thay đổi có ý nghĩa cũng đã xuất hiện trong sản xuất hàng Dệt-May cuả thế giới. Sự phát triển của ngành công nghiệp Dệt-May đã trở thành bước khởi đầu quan trọng trong tiến trình công nghiệp hoá của nhiều quốc gia. Qua thời gian với yếu tố về giá lao động và vốn, ngành sản xuất sản phẩm dệt may đã chuyển từ Mỹ, Anh, Nhật Bản sang các quốc gia có giá lao động thấp hơn.
Hiện tượng này đã tạo ra làn sóng thành công trong hai thập kỷ gần đây của châu Á. Các quốc gia này, điển hình là Trung Quốc đã thay thế các nước công nghiệp mới NICS, trở thành những nhà xuất khẩu hàng dệt- may chính của thế giới. Việt Nam cũng vinh dự nằm trong nhóm này.
Năm 2004, ngành dệt may Việt Nam đã đạt được giá trị xuất khẩu 4,319 tỷ USD trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 7,1 tỷ USD, đạt 16,6% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước2.
Công cuộc cải tổ thành công nền kinh tế Việt Nam và sự dịch chuyển lao động quốc tế từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển đã là điều kiện tốt nhất để ngành công nghiệp dệt- may Việt Nam phát triển và tham gia nhiều hơn vào
Thống kê của hiệp hội dệt may Việt Nam thị trường thế giới. Ngành công nghiệp này đã đạt được nhiều thành công có ý nghĩa. Giá trị xuất khẩu gần đây đã vươn lên trở thành ngành xuất khẩu chủ lực lớn thứ hai chỉ sau ngành dầu khí, tỉ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm khoảng 25% (2001- 2004). Hơn nữa, ngành còn giải quyết công ăn việc làm cho hơn 2 triệu lao động (80% là nữ), chiếm 22,7% lực lượng lao động công nghiệp của đất nước.
Tóm lại, trong sự biến động của tình hình kinh tế thế giới, và sự chuyển biến của nền kinh tế Việt Nam, ngành dệt- may Việt Nam đã trải qua nhiều khó khăn từng bước vươn lên hội nhập với khu vực và thế giới, góp phần thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển và nâng cao đời sống của nhân dân.
2.2 Tình hình sản xuất, kinh doanh hàng dệt may của Việt Nam trong những năm gần đây. Khóa luận: Xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam
2.2.1 Tình hình sản xuất.
Trong những năm gần đây, mức độ tăng trưởng của ngành công nghiệp dệt may tương đối cao, nhưng vẫn còn thấp so với tổng sản phẩm của ngành. Mặc dù mức độ tăng trưởng cao nhưng nền công nghiệp dệt may Việt Nam vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu nội địa. 50% nguyên liệu ngành may và 80% bông vẫn phải nhập khẩu. Việt Nam chỉ có thể sản xuất 3400 tấn sợi cotton mỗi năm, chỉ đáp ứng được 5% nhu cầu nội địa. Sợi tổng hợp và sợi toàn bộ phải nhập khẩu, sợi cotton để sản xuất hàng dệt kim phải nhập khẩu với số lượng lớn. Hơn nữa 100% chất liệu để nhuộm và khoảng 80% thuốc hoá học vẫn phải nhập khẩu.
Sản phẩm dệt kim.
Sản phẩm dệt kim rất đa dạng và đã được tiêu thụ rộng rãi. Công nghiệp dệt kim Việt Nam sử dụng máy dệt tròn. Do đó, sản phẩm chủ yếu là áo Polo, T- Shirt, được làm bằng sợi cotton, sợi PE/CO.
Cùng với sự phát triển nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu rất nhiều sản phẩm mà những nhà sản xuất trong nước không thể sản xuất được. Sản phẩm dệt kim xuất khẩu được làm bằng sợi PE chiếm 75- 80% tổng sản phẩm xuất khẩu nhưng giá thành thấp, trung bình từ 2,5- 3,5 USD/ 1 sp. Sản phẩm chất lượng cao với giá 10USD cho một sản phẩm vừa phải và “Đầu tư 16 ngàn tỷ đồng tăng tốc ngành dệt may”, thời báo Kinh tế Việt Nam 6/2008, trang 3- 4.
20USD4 cho một sản phẩm cao cấp thì chúng ta chỉ đáp ứng được một phần rất nhỏ. Những sản phẩm này chủ yếu được làm từ sợi cotton chất lượng cao, mịn và chống bai. Chi phí cao mà giá thành lại thấp đã đẩy những sản phẩm phổ biến trước đây như áo sơ mi không tay không cổ và áo sơ mi cổ đăng ten rơi vào tình trạng không thể tiếp tục sản xuất. Nếu như không được cải tiến về mặt công nghệ thì những sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam cũng sớm rơi vào tình trạng trên.
Sản phẩm may mặc.
Sản phẩm may mặc Việt Nam phong phú và đa dạng, hợp thời trang. Bên cạnh đó phù hợp với trang phục truyền thống và quốc tế. Khi nền kinh tế phát triển, điều kiện sống nâng cao, nhu cầu về may mặc cũng phong phú, đa dạng hơn. Hiện nay sản phẩm may mặc đang được sản xuất nhiều ở Việt Nam là: đồ lót cho phụ nữ và nam giới; sản phẩm dùng ở nhà: đồ ngủ, vỏ gối, vỏ chăn,…; đồ thể thao: áo bó, quần jeans,…; sản phẩm mặc hàng ngày: áo sơ mi, quần, váy…; đồ thời trang; các sản phẩm đặc biệt: quân phục, bảo hộ lao động… Nền công nghiệp may mặc ở Việt Nam đã có một bước chuyển lớn, từ những sản phẩm giản đơn đến những sản phẩm hợp thời trang, theo kịp với sự phát triển của nền công nghiệp thời trang thế giới. Tuy nhiên các doanh nghiệp nước ta hiện nay vẫn còn thiếu những thiết bị chuyên dùng và lao động có tay nghề cao nên chất lượng vẫn còn kém so với các quốc gia khác.
2.2.2 Tình hình kinh doanh. Khóa luận: Xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam
Thị trường dệt may nội địa.
Với trên 80 triệu dân và nhu cầu tiêu dùng từ 9- 10 m vải/ 1 người mỗi năm, thị trường nội địa đã và đang lôi kéo các doanh nghiệp dệt may trở lại. Nhiều công ty trước đây chỉ chú trọng đến xuất khẩu thì giờ đây đã tập trung nhiều vào thị trường trong nước và thu được những thành công đáng kể.
Trong vòng 10 năm trở lại đây, thị trường dệt may nội địa đã từng bước được mở rộng, có bước phát triển bền vững, từ đó đưa doanh thu nội địa ngày càng tăng cao. Đến nay, hệ thống siêu thị Vinatex Mart của tập đoàn dệt may sau 8 năm đi vào hoạt động đã khẳng định vai trò chủ đạo trong hệ thống phân phối hàng may mặc ở thị trường trong nước, trở thành cầu nối tiêu thụ sản phẩm cho các doanh nghiệp dệt may của các thành phần kinh tế. Sau nhiều năm bền bỉ thực hiện chiến lược đầu tư “Dệt may Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức”, báo Diễn đàn doanh nghiệp, 9/2003, trang 10- 11. phát triển mạng lưới, đến nay Vinatex Mart đã có một hệ thống 60 siêu thị tại 20 tỉnh, thành phố trong cả nước. Tại hệ thống siêu thị này, các loại hàng bày bán đều là hàng sản xuất trong nước, tiêu thụ các loại hàng phổ thông cho các đối tượng diện rộng, đây là hệ thống phân phối xương sống, góp phần lan toả ra thị trường nội địa. Doanh thu của hệ thống siêu thị đạt hơn 1000 tỷ đồng/ năm5. Lý do chính cho sự gia tăng doanh thu đáng kể này là do hàng may mặc Việt Nam đã chiếm được lòng tin của người tiêu dùng vì hàng hoá bán ra đều là hàng có chất lượng cao với mẫu mã thiết kế và kích cỡ phù hợp với người Việt Nam. Giá cả cũng cạnh tranh được với hàng dệt may Trung quốc ở sản phẩm cùng loại. Hơn thế nữa, khách hàng Việt Nam luôn dành cho các nhà sản xuất trong nước những tình cảm trân trọng, cổ vũ, động viên bằng việc ủng hộ trực tiếp mua hàng giúp sản xuất phát triển. Tại các siêu thị, hàng hoá đa dạng phong phú đã giúp người mua có nhiều sự lựa chọn hơn và qua đó cũng giúp đỡ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tiềm lực yếu không đủ điều kiện mở cửa hàng. Đây cũng là chỗ dựa cho các doanh nghiệp dệt may trước sực ép cạnh tranh ngày càng tăng trên thị trường nội địa.
Cùng với hệ thống siêu thị Vinatex Mart, các doanh nghiệp hàng đầu của tập đoàn dệt may Việt Nam như Việt Tiến, May 10, Phương Đông… cũng đầu tư xây dựng chuỗi cửa hàng phân phối các sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất với chất lượng hàng từ loại khá cho đến cao cấp phục vụ các đối tượng khách hàng có thu nhập cao.
Đi đầu trong việc mở rộng thị trường nội địa là Tổng công ty may Việt Tiến với hệ thống 2000 cửa hàng phân phối, doanh thu nội địa năm 2008 đạt 500 tỷ đồng. Việt Tiến đang thực hiện chiến lược phát triển thị trường trong nước với mức tăng trưởng lên tới 40%6, đưa ra thị trường hàng loạt sản phẩm mới, nhất là các mặt hàng thời trang cao cấp như Viettien, Vee- Sendy, T- Tup, Sciaro, Manhattan, hàng may sẵn cho học sinh, công nhân nhãn hiệu Vie- Laross. Ngoài ra, doanh nghiệp đang tiếp tục mở rộng, phát triển kênh phân phối, đưa sản phẩm vào 48 trung tâm thương mại. Khóa luận: Xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam
Các doanh nghiệp như May 10, Nhà Bè, Đức Giang doanh thu bán ra xấp xỉ từ 50- 100 tỷ đồng. Tổng doanh thu nội địa của cả hệ thống phân phối của tập đoàn dệt may Việt Nam bao gồm Vinatex Mart và các doanh nghiệp sản xuất tự tiêu thụ mỗi năm khoảng 2500 tỷ đồng, mức tăng trưởng hàng năm từ 10- 15 %/ năm7, đây là con số khẳng định sự vươn lên chiếm lĩnh thị trường dệt may trong nước. Lãnh đạo tập đoàn dệt may cũng khẳng định việc mở rộng thị trường nội địa là hướng đi mang tính lâu dài để tăng trưởng bền vững.
Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào từng doanh nghiệp mà có sự chiếm lĩnh thị trường nội địa khác nhau. Các doanh nghiệp dệt may lớn hoạt động tốt hơn và chiếm lĩnh thị trường nội địa khá cao còn những doanh nghiệp nhỏ lẻ, công việc này quả thật khá khó khăn với họ. Cho nên, hàng dệt may Việt Nam cho đến nay vẫn chỉ chiếm khoảng 30% thị phần thị trường nội địa. Đây là một con số đáng buồn tại chính quê nhà. Vì vậy, việc thúc đẩy mở rộng thị trường nội địa, tạo sân sau vững chắc cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam quay trở về khi mà dệt may gặp khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm ở nước ngoài là nhiệm vụ cấp bách và cần thiết nhất trong bối cảnh hiện nay.
Thị trường nước ngoài
Nếu xét đến khía cạnh kinh doanh tại thị trường nước ngoài của ngành dệt may Việt Nam, thì quả thật trong lĩnh vực này, ngành dệt may Việt Nam chưa thực sự làm tốt. Chúng ta mới chỉ thâm nhập thị trường nước ngoài qua con đường xuất khẩu, nhưng chủ yếu là xuất khẩu gia công( chiếm khoảng 70%)- sản phẩm do mình làm ra nhưng lại bị dán tem của nhà sản xuất khác. Sau khi xuất khẩu xong, việc quảng cáo và tiêu thụ sản phẩm ra sao là của nhà nhập khẩu. Như vậy, ngành dệt may Việt Nam mới đi dược một nửa quãng đường kinh doanh cuả mình tại các thị trường nước ngoài.
Kim ngạch xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong những năm gần đây khá cao, năm 2003 mới là 3,6 tỷ USD nhưng đến năm 2008 là 9,1 tỷ USD, đứng đầu kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Ngành công nghiệp dệt may đã thành công trong việc mở rộng thị trường sang Tây Âu và châu Á, châu Mỹ. Ngành may mặc đã trở thành ngành xuất khẩu quan trọng vượt trội hơn cả ngành dệt, mặc dù xuất khẩu ngành dệt cũng đã phát triển, nhưng cho đến nay tỷ trọng ngành này vẫn chiếm một phần rất nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành dệt may.
Tuy nhiên xuất khẩu dệt may của Việt Nam chủ yếu là qua hình thức gia công nên mặc dù xuất khẩu với số lượng lớn nhưng trị giá hàng không cao. Và hệ quả kéo theo của hình thức xuất khẩu này là thương hiệu của ngành dệt may Việt Nam ít được biết đến. Vì thế, các doanh nghiệp Việt Nam khó có thể tự mình mở một hệ thống bán hàng tại nước ngoài khi mà người dân nước đó còn chưa biết họ là ai, sản phẩm họ bán ra có tốt không, có đảm bảo chất lượng không. Còn nếu gia nhập vào các hệ thống bán lẻ của các nhà bán lẻ hàng đầu thế giới thì hầu như chúng ta chưa làm được, hoặc có chăng, sản phẩm dệt may của Việt Nam lại bị dán cho một cái tên khác của một nhà cung cấp nổi tiếng nào đó.
Nhìn chung, việc kinh doanh sản phẩm dệt may tại thị trường nước ngoài, chúng ta cần đầu tư nhiều hơn nữa, nhất là việc quảng bá thương hiệu dệt may của Việt Nam và chất lượng sản phẩm phải đáp ứng được yêu cầu khó tính của người tiêu dùng tại các nước phát triển.
II. XUẤT KHẨU DỆT MAY. Khóa luận: Xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam
1. Khái niệm.
1.1. Xuất khẩu.
Xuất khẩu, trong lý luận thương mại quốc tế là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho nước ngoài; trong cách tính cán cân thanh toán quốc tế theo IFM là việc bán hàng hoá cho nước ngoài.
(Theo điều 28, mục 1, chương 2 luật thương mại Việt Nam 2005), xuất khẩu hàng hoá là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.
1.2. Gia công xuất khẩu
Gia công xuất khẩu là quá trình tạo thêm giá trị thặng dư cho sản phẩm nhưng không làm thay đổi đặc tính vật lý hoặc hoá học cơ bản của sản phẩm.
Có 2 loại gia công:
- Người thuê gia công sẽ chịu chi phí nguyên phụ liệu, gửi nguyên phụ liệu, mẫu mã sản phẩm, yêu cầu chất lượng…người nhận gia công chỉ làm duy nhất công đoạn gia công sản phẩm, sau đó gửi lại thành phẩm cho người thuê gia công và nhận tiền công làm gia công hàng hoá.
- Người thuê gia công chỉ đưa mẫu mã sản phẩm, người nhận gia công sẽ bao tiêu toàn bộ sản phẩm từ khâu mua nguyên vật liệu đến khâu hoàn chỉnh sản phẩm, sau đó bán lại cho người thuê gia công theo giá đã bao gồm tiền công và các chi phí khác phát sinh cùng giá mua nguyên vật liệu.
2. Vai trò xuất khẩu và đặc điểm của hàng dệt may trong nền kinh tế và thương mại thế giới.
2.1. Vai trò xuất khẩu dệt may đối với nền kinh tế quốc dân.
Công nghiệp dệt may thường được gắn với giai đoạn phát triển ban đầu của nền kinh tế và đóng vai trò chủ đạo trong quá trình công nghiệp hoá ở nhiều nước. Đây là ngành công nghiệp cơ bản nhất trong nền kinh tế của mỗi nước. Nhìn lại lịch sử thế giới sẽ thấy sự phát phát triển rực rỡ của ngành này tại các nước tư bản chủ nghĩa như Anh, Nhật Bản, Mỹ… Có thể nói, công nghiệp dệt may đã tạo tiền đề rất vững vàng cho nền kinh tế các nước này phát triển đi lên. Sau chiến tranh thế giới thứ II, Nhật bản thua trận, nền kinh tế nước này bị tàn phá nghiêm trọng, và ngành công nghiệp dệt may là một cứu cánh cho họ. Nhật Bản đã đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp dệt may của mình, gia tăng xuất khẩu, thu ngoại tệ để phát triển các ngành khác và đặc biệt là giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu lao động Nhật Bản. Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó. Dệt may Việt Nam đã có sự phát triển khá lâu đời, thu hút hàng triệu lao động phổ thông mỗi năm. Thực tế, ngành dệt may là ngành không có yêu cầu đòi hỏi cao về mặt trình độ, vì vậy, nó là cách giải bài toán lao động tốt nhất của ta tính tới thời điểm này. Khi mà khoa học công nghệ chưa phát triển, còn lạc hậu so với thế giới, lẽ đương nhiên, việc đào tạo nhân lực phát triển đất nước chưa được hoàn thiện, dẫn đến trình độ nhân lực còn thấp thì công nghiệp dệt may đã giải quyết tốt nguồn nhân lực khá dồi dào này, góp phần nâng cao mức sống của người dân và ổn định tình hình chính trị xã hội. Khóa luận: Xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam
Công nghiệp dệt may có liên quan chặt chẽ tới sự phát triển của các ngành công nghiệp khác. Khi dệt may là ngành công nghiệp hàng đầu của nền kinh tế, nó sẽ cần một lượng lớn nguyên liệu là sản phẩm của các lĩnh vực khác và vì thế tạo điều kiện để đầu tư và phát triển các ngành kinh tế này. Ngược lại, công nghiệp dệt lớn mạnh sẽ là động lực để công nghiệp may và các ngành khác sử dụng sản phẩm dệt làm nguyên liệu phát triển theo. Hai ngành dệt và may luôn có sự hỗ trợ bổ sung cho nhau trong suốt qúa trình phát triển của toàn ngành. Sự phát triển này sẽ thúc đẩy quá trình xuất khẩu của ta, nhất là ngành dệt. Ngành dệt là ngành có vai trò hết sức quan trọng bởi nếu không có vải nguyên liệu, ngành may mặc của ta cũng không thể đi lên được. Hơn thế nữa, nó sẽ giải quyết vấn đề phải nhập nguyên liệu vải của nước ngoài, giúp các doanh nghiệp chủ động hơn trong quá trình xuất khẩu hàng may mặc ra nước ngoài cả về thời gian lẫn tiền bạc. Chúng ta đều biết rằng, gia công xuất khẩu vẫn là hình thức chủ yếu trong ngành dệt may Việt Nam hiện nay. Nếu khâu nguyên phụ liệu đáp ứng tốt sẽ tăng được giá trị xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam, giúp các doanh nghiệp chủ động về thời gian, giá cả, các doanh nghiệp sẽ an tâm hơn trong việc kí kết các hợp đồng xuất khẩu do chủ động được về nguồn hàng. Chính vì thế, sự phát triển của hai ngành dệt- may có tác động không nhỏ tới cán cân thương mại, tăng thu ngoại tệ cho đất nước.
Vai trò của ngành dệt may đặc biệt to lớn đối với kinh tế của nhiều quốc gia trong điều kiện thương mại quốc tế. Xuất khẩu hàng dệt may đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn để mua máy móc thiết bị, hiện đại hoá sản xuất, làm cơ sở cho nền kinh tế cất cánh. Điều này đặc biệt thể hiện rõ trong lịch sử phát triển kinh tế của các nước như Anh, Nhật,NICs, Trung Quốc, Nam Á và Đông Nam Á. Để có thể phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cái cần nhất đối với mỗi quốc gia đó chính là ngân sách nhà nước phải phong phú, lượng ngoại tệ phải đủ phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá. Lượng vốn này nếu đi vay của nước ngoài quá nhiều sẽ là “con dao hai lưỡi” đối với chính đất nước đó. Bởi lẽ, chúng ta sẽ phải tuân theo một số điều kiện không hay, ảnh hưởng tới nền kinh tế chung của cả nước để có thể vay được khoản tiền đó. Cách tốt nhất là tự mình phát triển những ngành công nghiệp nhẹ, giản đơn nhưng không tốn quá nhiều chi phí, để thu ngoại tệ phục vụ sự phát triển của đất nước. Trong những năm qua, ngành công nghiệp dệt may đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đó, trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn, đứng đầu về kim ngạch xuất khẩu của cả nước, góp phần tăng thu cho ngân sách quốc gia và tạo tiền đề cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Tại các nước đang phát triển hiện nay, công nghiệp dệt may đang góp phần phát triển nông nghiệp và nông thôn qua tăng trưởng sản xuất bông, đay, tơ tằm và là phương tiện để chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp. Tại các nước công nghiệp phát triển, công nghệ dệt may đã phát triển tới một trình độ rất cao, chuyên sản xuất những sản phẩm cao cấp có giá trị gia tăng rất lớn, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người tiêu dùng. Không chỉ có thế, sự phát triển của vùng nguyên liệu sẽ kéo theo sự phát triển của cả ngành sản xuất nguyên phụ liệu. Nó sẽ là tiền đề rất tốt cho sự phát triển của ngành công nghiệp dệt may, và xúc tiến xuất khẩu nguyên phụ liệu sang các thị trường khác.
2.2. Đặc điểm của hàng dệt may Khóa luận: Xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam
2.2.1 Đặc điểm về nhu cầu và số lượng.
Trong thương mại quốc tế, sản phẩm của ngành dệt may là một trong những hàng hoá đầu tiên tham gia vào mậu dịch quốc tế. Nghiên cứu những đặc ttrưng nổi bật của thương mại thế giới hàng dệt may là một trong những yếu tố cần thiết để tăng cường tính cạnh tranh của sản phẩm và đảm bảo xuất khẩu thành công trên thị trường quốc tế. Thương mại quốc tế hàng dệt may có một số đặc trưng nổi bật sau đây:
Sản phẩm dệt may là loại sản phẩm có yêu cầu rất phong phú, đa dạng, tuỳ thuộc vào đối tượng tiêu dùng. Người tiêu dùng khác nhau về phong tục tập quán, văn hoá, tôn giáo, khác nhau về khu vực địa lý, khí hậu, về giới tính, tuổi tác sẽ có nhu cầu rất khác nhau về trang phục. Nghiên cứu thị trường để nắm vững nhu cầu của tổng nhóm người tiêu dùng trong các bộ phận thị trường khác nhau có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tiêu thụ sản phẩm.
Sản phẩm dệt may mang tính thời trang cao, phải thường xuyên thay đổi mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc, chất liệu để đáp ứng nhu cầu thích đổi mới, độc đáo và gây ấn tượng của người tiêu dùng. Do đó, để tiêu thụ được sản phẩm, việc am hiểu các xu hướng thời trang là rất quan trọng.
Một đặc trưng nổi bật trong buôn bán sản phẩm dệt may trên thế giới là vấn đề nhãn mác sản phẩm. Mỗi nhà sản xuất cần tạo ra được một nhãn hiệu thương mại của riêng mình. Nhãn hiệu sản phẩm theo quan điểm xã hội thường là yếu tố chứng nhận chất lượng hàng hoá và uy tín của người sản xuất. Đây là vấn đề cần quan tâm trong chiến lược sản phẩm vì người tiêu dùng không chỉ tính đến giá cả mà còn rất coi trọng chất lượng sản phẩm.
Khi buôn bán các sản phẩm dệt may cần chú trọng đến yếu tố thời vụ. Phải căn cứ vào chu kỳ thay đổi của thời tiết trong năm ở từng khu vực thị trường mà cung cấp hàng hoá cho phù hợp. Điều này cũng liên quan đến vấn đề thời hạn giao hàng, nếu như không muốn bỏ lỡ cơ hội xuất khẩu thì hơn bao giờ hết, hàng dệt may cần được giao đúng thời hạn để cung cấp hàng hoá kịp thời vụ.
Thu nhập bình quân đầu người, thói quen tiêu dùng, cơ cấu tỷ lệ chi tiêu cho hàng may mặc trong tổng thu nhập dân cư và xu hướng thay đổi cơ cấu tiêu dùng trong tổng thu nhập có tác động lớn đến xu hướng tiêu thụ hàng dệt may. Với các thị trường có mức thu nhập bình quân, tỷ lệ chi tiêu cho hàng may mặc cao, yêu cầu về mẫu mã, kiểu dáng, chất lượng sẽ trở nên quan trọng hơn các yếu tố về giá cả.
2.2.2 Đặc điểm về sản xuất. Khóa luận: Xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam
Công nghiệp dệt may là ngành sử dụng nhiều lao động giản đơn phát huy được lợi thế của những nước có nguồn lao động dồi dào với giá nhân công rẻ. Đặc biệt ngành này đòi hỏi vốn đầu tư ít nhưng tỷ lệ lãi khá cao. Chính vì vậy sản xuất ngành dệt may thường phát triển mạnh và có hiệu quả rất lớn đối với các nước đang phát triển và đang ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá. Khi một nước trở thành nước công nghiệp phát triển có trình độ công nghệ cao, giá lao động cao, sức cạnh tranh trong sản xuất hàng dệt may giảm thì họ lại vươn tới những ngành công nghiệp có hàm lượng kỹ thuật cao hơn, tốn ít lao động và mang lại lợi nhuận cao. Công nghiệp dệt may lại phát huy vai trò ở các nước kém phát triển hơn. Lịch sử phát triển của ngành dệt may thế giới cũng là lịch sử dịch chuyển của công nghiệp dệt may từ khu vực phát triển sang khu vực kém phát triển hơn do có sự chuyển dịch về lợi thế so sánh. Như vậy không có nghĩa là ngành công nghiệp dệt may không còn tồn tại ở các nước phát triển mà thực tế ngành này đã tiến đến giai đoạn cao hơn, sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao.
2.2.3 Đặc điểm về thị trường.
Một đặc trưng nổi bật của công nghiệp dệt may là được bảo hộ chặt chẽ ở hầu hết các nước trên thế giới bằng những chính sách thể chế đặc biệt. Trước khi hiệp định về hàng dệt may – kết quả quan trọng của vòng đàm phán Uruguay ra đời và phát huy tác dụng, việc buôn bán quốc tế các sản phảm dệt may được điều chỉnh theo những thể chế này. Nhờ đó các nước nhập khẩu phần lớn thiết lập các hạn chế đối với nhập khẩu hàng dệt may. Mức thuế phổ biến đánh vào hàng dệt may cũng cao hơn so với các hàng hoá công nghiệp khác. Bên cạnh đó, từng nước nhập khẩu còn ra những quy định riêng đối với hàng dệt may nhập khẩu. Những thể chế nhằm bảo hộ sản xuất hàng dệt may của mỗi nước đã chi phối thị trường hàng dệt may trên thế giới, ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và buôn bán hàng dệt may trên thế giới. Khóa luận: Xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Tổng quan về xuất khẩu dệt may tại Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu dệt may tại Việt Nam