Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Tổng quan về xuất khẩu dệt may tại Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong 5 năm trở lại đây – Thực trạng và giải pháp dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
I. THỰC TRẠNG NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM.
Ngành dệt may Việt Nam trong những năm gần đây đã có sự tăng trưởng đáng kể cả về số lượng các doanh nghiệp cũng như các trang thiết bị máy móc hiện đại. Sự gia tăng đáng kể này đã chứng tỏ sự quan tâm, đầu tư rất lớn từ phía Đảng và Nhà nước nói chung và từ phía các doanh nghiệp dệt may nói riêng.
Bảng 4: Số lượng các doanh nghiệp dệt may Việt Nam (2008)
Với số lượng các doanh nghiệp như trên, chứng tỏ một điều ngành dệt may nước ta đã có một bước tiến đáng kể so với trước đây. Tuy nhiên thị phần và khách hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường thế giới còn khá nhỏ bé, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có (mới chỉ chiếm 0,95% thị trường EU; 2,9% thị trường Nhật Bản; 3,2% thị trường Hoa Kỳ và khoảng 1% tổng thương mại dệt may toàn thế giới8). Không những thế, ngành dệt may còn bị phụ thuộc rất nhiều vào hạn ngạch, chưa tận dụng hết khả năng khai thác thị trường ở mặt hàng xuất khẩu không hạn ngạch, làm việc chủ yếu qua trung gian xuất khẩu, chưa thể thâm nhập vào mạng lưới phân phối của các thị trường lớn. Điều đó làm giá trị xuất khẩu ngành bị giảm xuống đáng kể, ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của toàn ngành nói riêng và kinh tế Việt Nam nói chung. Chúng ta sẽ nghiên cứu thực trạng ngành dệt may Việt Nam để từ đó tìm ra nguyên nhân của vấn đề này.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
1. Công nghê, trang thiết bị. Khóa luận: Tổng quan về xuất khẩu dệt may tại Việt Nam
1.1 Trang thiết bị.
Ngành dệt hiện có khoảng 1.500.000 cọc sợi, cả sợi bông và sợi pha (bông pha xơ PE) và khoảng 15.000 sợi không cọc OE với chỉ số Nm (chỉ số quốc tế) từ sợi Nm 10 đến sợi Nm 102 bao gồm cả sợi chải kỹ, 4 dây chuyền cán bông, 10.000 máy dệt thoi, 1.290 máy dệt kim tròn và 250 máy dệt kim phẳng. Một năm ngành có thể sản xuất 150.000 tấn sợi, 10.000 tấn bông, 500 triệu mét vải dệt thoi và 70.000 tấn dệt kim. Tuy nhiên , phần lớn số thiết bị ngành Dệt hầu hết đã cũ và thiếu đồng bộ giữa các khâu sản xuất. Thiết bị dệt còn quá ít so với thiết bị kéo sợi, phần lớn là máy dệt thoi khổ hẹp, chủng loại nghèo nàn, sản xuất ra không đáp ứng được nhu cầu thị trường…Về thiết bị kéo sợi cũng có đến hơn 60% là cọc sợi chải thô, chỉ số chất lượng bình quân thấp, chỉ có khoảng 26- 30% là cọc sợi chải kỹ, chỉ số cao dùng cho dệt kim và vải cao cấp9.
Trong những năm gần đây, ngành dệt may Việt Nam đã cố gắng khắc phục tình trạng yếu kém, thiếu đồng bộ, tập trung đầu tư vào các khâu còn yếu và hoàn tất một số thiết bị để nâng cao chất lượng vải cho một số đơn vị dệt, đồng thời bảo lãnh cho một số doanh nghiệp vay vốn trả chậm (10- 12 năm) để hiện đại hoá thiết bị và nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu của ngành may xuất khẩu. Tuy nhiên đầu tư hiện đại hoá ngành dệt vẫn là một nhiệm vụ khó khăn, đòi hỏi nỗ lực của toàn ngành và sự hỗ trợ của nhà nước.
- “Dệt may Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức”, báo Diễn đàn doanh nghiệp 9/2003, trang 10- 11.
- “ Tình hình phát triển công nghiệp phụ liệu cho ngành dệt may”, tạp chí Chiến lược chính sách công nghiệp, số 8/2005, trang 25, 26.
Trong khi đó, trang thiết bị ngành may đã tăng cả về chất lượng và số lượng, nhất là tính năng công dụng, từ máy đạp chân C22 của Liên Xô cũ, máy 8322 của Đức đến JUKI của Nhật Bản và FFAP của CHLB Đức. Cho đến nay đã có 60% thiết bị ngành may được đổi mới và tổng số máy may cả nước có khoảng 200.000 máy, số máy chuyên dùng cũng tăng lên đáng kể nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất và chủng loại mặt hàng như máy vắt 5 chỉ, máy thùa đính, trần giấy Pasant, may cạp 4 kim, bàn là treo, bàn là hơi có đệm hút chân không…Trong từng công đoạn sản xuất cũng được trang bị thêm máy móc với tính năng công dụng mới nhằm tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm trên mỗi công đoạn của chu trình sản xuất. Nhờ vậy mà mỗi năm ngành may có khả năng sản xuất được 500 triệu sản phẩm. Đây là con số thể hiện nỗ lực rất lớn của toàn ngành. Khóa luận: Tổng quan về xuất khẩu dệt may tại Việt Nam
Bảng 5: Năng lực sản xuất của toàn ngành dệt may năm 2007
Đối với lĩnh vực nhuộm, in và hoàn tất, tất cả các thiết bị trong khâu này đều phải nhập ngoại. Hiện nay có khoảng 35% thiết bị in, nhuộm trong ngành nhập từ năm 1986 trở lại đây. Tất cả các thiết bị này thuộc hệ A2, A3 vẫn hoạt động tốt. Số còn lại nhập từ trước năm 1986, thậm chí có máy nhập từ thập kỷ 60, công nghệ lạc hậu, phần lớn chỉ nhuộm được các vải khổ hẹp nhưng lại tiêu hao nhiều điện năng, thuốc nhuộm hoá chất dẫn đến chi phí sản xuất cao.
1.2 Công nghệ.
Trong những năm gần đây đã có một số dây chuyền kéo sợi mới, sử dụng công nghệ bông chải liên hợp tự động chất lượng cao, các máy ghép tự động khống chế chất lượng, ứng dụng kỹ thuật vi mạch điện tử vào hệ thống điều khiển tự động cũng như kiểm tra chất lượng…Nhiều sản phẩm giả tơ, giả len, sản phẩm từ microfiber đã bắt đầu được sản xuất và có uy tín trên thị trường. Trong khâu dệt kim do phần lớn máy móc được nhập chủ yếu từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Đức,… thuộc thế hệ mới, nhiều chủng loại đã được trang bị computer đạt năng suất cao, tính năng sử dụng rộng, nhưng công nghệ và chất lượng đào tạo chưa được nâng cao nên mặt hàng còn đơn điệu, chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường.
Để đáp ứng yêu cầu chất lượng sản phẩm cao, công nghệ may đã có những chuyển biến khá kịp thời. Các dây chuyền may được bố trí vừa và nhỏ (25- 26 máy), sử dụng 34- 38 lao động và có nhân viên kiểm tra thường xuyên, có khả năng chấn chỉnh sai sót ngay cũng như thay đổi mã hàng nhanh. Khâu hoàn tất được trang bị thiết bị đóng túi, súng bắn nhãn, máy dò kim… Công nghệ tin học cũng được ứng dụng vào một số khâu sản xuất ở một số doanh nghiệp.
Công nghệ dệt may của ta nhìn chung đã được đổi mới nhiều nhưng so với thế giới vẫn còn khá lạc hậu. Chỉ có khoảng 45% thiết bị đạt mức độ trung bình của khu vực, vì vậy mà vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu của ngành. Xét trong toàn ngành dệt may, hiện đang có sự mất cân đối giữa ngành dệt và ngành may, dẫn đến tình trạng các sản phẩm của ngành dệt chưa đáp ứng được đầu vào của ngành may, đặc biệt là may xuất khẩu. Vì vậy ngành dệt may Việt Nam cần phải đầu tư đổi mới đồng bộ giữa khâu dệt và khâu may. Có như vậy sản phẩm của ngành dệt mới có sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, đồng thời đáp ứng được nhu cầu của ngành may nói chung. Có thể nói đầu tư đổi mới công nghệ là vấn đề sống còn với các đơn vị dệt may để ngành phát huy hơn nữa vai trò của ngành công nghiệp mũi nhọn.
2. Nguyên phụ liệu. Khóa luận: Tổng quan về xuất khẩu dệt may tại Việt Nam
Theo Hiệp hội dệt may Việt Nam thì có đến 60- 70% sản phẩm dệt may xuất khẩu của Việt Nam đều làm gia công cho nước ngoài. Làm gia công tức là doanh nghiệp chỉ được trả tiền cho phần gia công từ nhà nhập khẩu trong khi đó làm hàng bằng nguyên phụ liệu của mình thì giá trị thu về sẽ cao hơn rất nhiều.
Sản phẩm dệt may của Việt Nam chưa cạnh tranh được với hàng của Trung Quốc vì Việt Nam chưa có hoặc chưa phát triển ngành nguyên phụ liệu cho ngành dệt may.
Về nguyên liệu sợi bông ở Việt Nam: Sợi bông là nguyên liệu chủ yếu của ngành dệt. Nước ta thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm rất thích hợp cho việc phát triển cây bông, nhưng do năng suất trồng bông ở Việt Nam thấp nên người nông dân chuyển sang trồng các loại cây khác mang lợi ích kinh tế cao hơn. Chính vì vậy mà sản phẩm bông sơ không đáp ứng được nhu cầu nguyên liệu của toàn ngành dệt mà chỉ đáp ứng được 20% nhu cầu, còn lại là nhập khẩu. Bên cạnh đó giá bông của Việt Nam lại cao hơn giá bông nhập khẩu, do vậy mà ngành dệt đã phải phụ thuộc rất nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu, trong khi đó giá sợi bông nhập khẩu trên thị trường thế giới không ổn định, ảnh hưởng rất lớn đến giá thành của sản phẩm dệt, làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và làm cho các doanh nghiệp luôn ở thế bị động.
Về nguyên liệu tơ tằm: Theo số liệu thống kê của Tổng công ty dâu tằm Việt Nam (Viseri), diện tích dâu tằm của Việt Nam vào khoảng 25.000 ha, đứng thứ hai thế giới (chỉ sau Trung Quốc). Về lý thuyết, với diện tích trồng dâu như vậy, Việt Nam có thể trở thành một trung tâm sản xuất kén, tơ nguyên liệu có hạng. Thế nhưng hiện tại chúng ta vẫn phải nhập tơ sống từ Trung Quốc để se tơ và dệt lụa với số lượng 200 tấn/ năm. Đây là một nghịch lý nữa trong vấn đề nguyên liệu cho ngành dệt bởi nghề trồng dâu nuôi tằm từ xưa đến nay vẫn được coi là một nghề truyền thống của dân tộc ta Khóa luận: Tổng quan về xuất khẩu dệt may tại Việt Nam
Về nguyên liệu sợi hoá học từ ngành hoá dầu: Hiện nay Việt Nam phải nhập hoàn toàn nguyên liệu này. Trong vài năm tới nguồn nguyên liệu này có thể được hình thành khi ngành công nghiệp lọc dầu Việt Nam bắt đầu phát triển.
Đầu tư phát triển nguồn nguyên liệu là một phần quan trọng trong chiến lược tăng tốc ngành dệt may. Diện tích trồng bông công nghiệp sẽ phải là 150.000 ha vào năm 2010 để đáp ứng nhu cầu của ngành dệt. Để có được con số này cần phải có một số vốn khá lớn, khoảng 15.000 tỷ đồng. Đây quả là một nhiệm vụ khó khăn vì cây bông vốn là cây rất “khó tính”, luôn đòi hỏi “ chân ngâm nước, đầu đội nắng”, chỉ cần một cơn gió “ác” là đã tơi tả, độ rủi ro rất cao. Do đó nếu Nhà nước không có các biện pháp trợ giá kịp thời thì cây bông khó mà cạnh tranh được với những cây dễ tính, cho lợi nhuận cao. Trung Quốc ngay từ những năm 1998, 1999 đã trợ giá cho mỗi kilôgam bông trong nước là 0,6 USD, ngoài ra họ còn hỗ trợ cho hàng xuất khẩu thông qua tỷ giá, cước phí vận tải nên hàng dệt may Trung Quốc dễ dàng đánh bại hàng của các nước khác.
Ngoài ra ngành dệt may cũng cần phải có những nhà máy xí nghiệp chuyên sản xuất nguyên phụ liệu kể cả việc đưa các cơ sở sản xuất vào các khu dân cư, tận dụng nguồn nhân công nhàn rỗi. Bên cạnh đó phải phát triển kéo sợi, dệt kim, in hoa, nhuộm và hoàn tất, cũng như đầu tư vào các sản phẩm dệt công nghiệp, các loại vải đặc thù khác.
Từ ngày 1/1/2005 sau khi hiệp định ATC hết hiệu lực, nhà nhập khẩu có xu hướng chọn nơi sản xuất nào mà họ có thể đặt hàng trọn gói, đáp ứng đơn hàng lớn, đúng thời hạn. Vì vậy những nước nào phát triển ngành công nghiệp phụ trợ sẽ có nhiều lợi thế. Chủ động nguyên, phụ liệu chính là cách tiếp thêm nguồn sinh lực cho sự phát triển bền vững của ngành dệt may.
Hoạt động buôn bán nguyên phụ liệu ở Việt Nam vẫn chưa phát triển. Từ trước ở Việt Nam cũng có một vài chợ nguyên phụ liệu nhưng những chợ này có quy mô không lớn chỉ có thể đáp ứng nhu cầu của các tiểu thương và doanh nghiệp phục vụ thị trường nội địa. Trong khi yêu cầu nguyên phụ liệu làm hàng xuất khẩu của ngành này rất lớn. Để thực hiện một lượng hàng xuất khẩu ngày càng tăng, ngành dệt may cần rất nhiều nguồn nguyên phụ liệu, đặc biệt cho hàng dệt may xuất khẩu theo giá FOB. Bởi lẽ, để ngành xuất khẩu dệt may phát triển hơn nữa, chúng ta cần giảm thiểu xuất khẩu hàng gia công và tăng xuất khẩu mặt hàng theo giá FOB vì đây là loại hàng cho giá trị cao hơn rất nhiều so với xuất khẩu gia công. Tuy nhiên, việc này đang gặp rất nhiều khó khăn vì nguồn nguyên phụ liệu của ta vẫn phải nhập khẩu quá nhiều, dẫn đến tỷ trọng hàng xuất khẩu giá FOB không cao. Vì thế, phát triển nguyên phụ liệu là vấn đề sống còn của ngành dệt may xuất khẩu nước ta.
Tháng 11/2004, Tổng công ty dệt may Việt Nam đã khánh thành trung tâm kinh doanh nguyên phụ liệu ngành dệt may. Tuy nhiên, với quy mô nhỏ, trung tâm chỉ mang tính trưng bày sản phẩm hơn là nơi giao dịch nguyên phụ liệu cho ngành dệt may.
3. Lao động dệt may. Khóa luận: Tổng quan về xuất khẩu dệt may tại Việt Nam
Theo Hiệp hội dệt may Việt Nam, công nhân may Việt Nam được đánh giá là có tay nghề khá so với khu vực và thế giới. Với ngành dệt thì đây là một điều đáng lo ngại. Với kỹ thuật và công nghệ trung bình thì công nhân dệt Việt Nam có thể đáp ứng được yêu cầu về tay nghề nhưng với các phương tiện máy móc hiện đại, công nhân Việt Nam còn bất cập.
Có thể nói trong những năm qua, việc đầu tư cho “hiện đại hoá con người”, tăng cường “chất xám” của ngành dệt may chưa được quan tâm đúng mức. Vì vậy, lực lượng cán bộ, quản lý, cán bộ khoa học có trình độ cao và thợ lành nghề mới chỉ dừng ở những con số khiêm tốn. Ngay chính tại Tổng công ty dệt may Việt Nam-cơ quan đầu ngành, cũng chỉ có 10 phó tiến sĩ về công nghệ sợi và cứ có 25 công nhân mới có 1 kỹ sư, một tỷ lệ thấp nếu so sánh với các nước khác trên thế giới. Một thực tế đang làm cản trở công tác đào tạo của ngành dệt may là nguồn sinh viên theo học các ngành công nghệ tại một số trường như Bách Khoa, Công Nghiệp … có rất ít chỉ tiêu tuyển sinh. Cơ sở đào tạo cán bộ cho ngành dệt may cũng đang đứng trước nguy cơ bị co lại.
Theo nghiên cứu đánh giá, hàng năm ngành dệt may cần phải bổ dung khoảng 30.000 lao động, trong đó có khoảng 400 kỹ sư công nghệ. Đây quả là sự mất cân đối cung- cầu lao động chất xám trầm trọng, một sự thiếu hụt không dễ dàng bù đắp nhanh chóng được. Một đội ngũ không kém phần quan trọng là các nhà tạo mẫu. Hiện nay chúng ta có những viện mẫu thời trang nhưng đội ngũ quá ít nên một điều dễ hiểu là mẫu mã , kiểu dáng hàng dệt may Việt Nam còn quá đơn điệu, nghèo nàn. Bên cạnh đó vấn đề trình độ cũng rất đáng quan tâm. Khóa luận: Tổng quan về xuất khẩu dệt may tại Việt Nam
Lao động dệt may hiện nay chủ yếu tự học, đào tạo theo phương thức kèm cặp trong các nhà máy, xí nghiệp là chính. Toàn bộ ngành chỉ có 4 trường đào tạo với “công suất” mỗi năm khoảng 2000 công nhân, không thể đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp, thậm chí khi về doanh nghiệp phải chấp nhận tự đào tạo lại. Chính vì thế các công ty may vẫn lựa chọn phương thức tự đào tạo tại đơn vị.
Tại công ty may Hưng Yên, hàng năm công ty này tuyển dụng hàng trăm lao động phổ thông, sau đó cho học qua trung tâm dạy nghề và bố trí thợ giỏi kèm cặp trong thời gian 3 tháng. Sau thời gian này, các lao động giỏi có thể tự đứng máy , thao tác chuyền như một công nhân lành nghề, lâu năm.
Một số đơn vị liên doanh như Kyung Việt, VIT Garment,… cũng chấp nhận tuyển dụng nông dân rôì tự đào tạo thành công nhân của mình. Làm nhue thế doanh nghiệp sẽ đào tạo được công nhân theo thế mạnh của mình và tiết kiệm kinh phí đào tạo, trả lương theo thời gian học việc của công nhân.
Công ty VINATEX hiện có trên 100.000 lao động, hàng năm phải bổ sung khoảng 10.000 lao động, cũng chủ yếu theo phương thức tự đào tạo như vậy. Vì đào tạo không bài bản, nên hàng năm số lượng công nhân thay thế chất lượng không cao, năng suất lao động thấp hơn rất nhiều so với lao động công tác lâu năm.
Tuy nhiên để hoàn thành các đơn hàng , bắt buộc các doanh nghiệp phải liên tục tuyển dụng thêm lao động mới, thực hiện làm 3 ca, 4 kíp để đảm bảo tiến độ giao hàng. Và vì thế, vấn đề chất lượng lao động ngành dệt may lại rơi vào vòng luẩn quẩn: đào tạo không bài bản, chất lượng lao động không cao dẫn đến năng suất thấp.
Trừ một số doanh nghiệp uy tín như May 10, Việt Tiến, Nhà Bè thì có lẽ lao động dệt may chất lượng tốt nhất đang thuộc về phía các liên doanh. Công ty VINATEX, lương bình quân toàn công ty đạt 1.359.000đồng/ tháng/ lao động, là mức lương tương đối cao so với lương trung bình toàn ngành may. Nhưng VINATEX cũng mất nhiều lao động về phía các liên doanh. Tổng công ty vẫn thiếu trầm trọng lao động giỏi, phải thuê các chuyên gia nước ngoài sang đào tạo để bổ sung vào chỗ thiếu hụt.
Thực tế cho thấy việc đầu tư “ chất xám” trong những năm qua của ngành dệt may còn nhiều khoảng trống và việc lấp đầy những khoảng trống đó không phải là chuyện ngày một ngày hai, nhưng vẫn cần phải làm ngay. Bởi vì mục tiêu của ngành dệt may là phấn đấu nâng tỷ lệ hàng tự sản xuất và xuất khẩu trực tiếp lên 35- 40% trong tổng khối lượng hàng dệt may xuất khẩu, giảm dần tỷ lệ hàng gia công xuống mức thấp nhất. Mục tiêu đó sẽ nằm trong tầm tay hay xa vời phụ thuộc rất nhiều vào sự đầu tư phát triển “chất xám” nhanh hay chậm, mạnh hay yếu.
Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức WTO, chúng ta sẽ phải cạnh tranh quyết liệt hơn trên thị trường thế giới, và ngành dệt may không thể nào đứng ngoài cuộc chơi này. Ngay từ bây giờ, ngành cần tập trung đổi mới công nghệ, đào tạo và nâng cao chất lượng lao động, đáp ứng yêu cầu của đối tác trước khi quá muộn.
4. Giá.
Theo Bộ Công thương, hiện nay hầu hết các chủng loại hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu đều có giá cao hơn 5- 7%, thậm chí 10% so với hàng cùng loại của Trung Quốc, Ấn Độ, Băng la đet. Cụ thể: đối với CAT.338/339 đơn giá trung bình thực hiện tại Việt Nam là 5,79- 8,2 USD/ m2, trong khi ở Băng la đet chỉ là 4,66- 4,88USD/m2, Trung Quốc là 4,68- 5,84USD/m2 và Inđonêxia là 6,46-7,84USD/m2. Khóa luận: Tổng quan về xuất khẩu dệt may tại Việt Nam
Nguyên nhân của tình trạng này là do Việt Nam chưa chủ động được nguyên phụ liệu, năng suất lao động của công nhân thấp, phí vận chuyển trong nước và quốc tế cao…
Mặt khác, theo thống kê của Tổng công ty dệt may Việt Nam, năm 2004, giá bán lẻ trên thị trường trong nước phần lớn giữ nguyên giá hoặc tăng lên vào cuối năm, rất ít mặt hàng giảm giá. Vải kiến trúc do công ty dệt Thắng Lợi sản xuất khổ 1.2m với các loại màu, giá đầu năm và cuối năm đều ở mức 10.100 đồng/m, loại in hoa 11.000/m; Vải kiến trúc do công ty dệt Đông Á sản xuất, giá cả năm ổn định ở mức 15.000 đồng/m. Giá các loại vải nhập năm 2004 nhìn chung ổn định và tăng nhẹ song do hợp thị hiếu về màu sắc, chất lượng, tuy giá cao nhưng vẫn được người tiêu dùng chấp nhận, như Siu Nhật: 40.000 đồng/m, vải quần Terylain: 110.000-120.000 đồng/ m.
Do sự cạnh tranh không lành mạnh, không cân sức trên thị trường, hàng nhập lậu rất nhiều vì sự thiếu quản lý của nhà nước, hàng second- hand bán với giá rẻ lấn át hàng sản xuất trong nước. Tại thị trường thành phố Hồ Chí Minh, loại sợi 40PE đang được các doanh nghiệp bán ở mức 26.000 đồng/kg, nhưng hàng nhập lậu về lại có giá 20.000 đồng/ kg, sợi 30PE cũng rơi vào tình trạng trên, buộc các doanh nghiệp phải ngừng sản xuất mặt hàng này.
Bên cạnh đó nhà nước đã điều chỉnh tăng giá đồng đôla Mỹ, gây ra nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp vay vốn nước ngoài để đầu tư, vay ngoại tệ ngân hàng để nhập nguyên liệu, ước tính sơ bộ cho thấy khoản chênh lệch tỷ giá phát sinh làm cho các doanh nghiệp chịu thua thiệt một khoản rất lớn, có nơi lên tới hàng chục tỷ đồng. Tình trạng này làm cho các doanh nghiệp thiếu vốn lưu động, hàng tồn kho chậm luân chuyển, tiền trả lãi vay ngân hàng tăng do đó chi phí sản xuất cũng cao lên.
Tuy vậy, xét về mặt xuất khẩu, thì một số sản phẩm dệt may sản xuất trong nước lại có lợi thế so với các nước khác. Chẳng hạn khi xem xét giá FOB của một áo sơ mi nam bán tại Mỹ thì có thể thấy so với sản phẩm sản xuất ở Ấn Độ và Thái Lan thì sản phẩm của Việt Nam có giá cạnh tranh tốt.
Bảng 6: Cơ cấu giá thành sản phẩm dệt may làm gia công
Biểu trên cho thấy tiền công chiếm tỷ lệ nhỏ trong cơ cấu giá thành sản phẩm của các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu nước ta. Trong khi đó tỷ lệ tiền nguyên liệu lại rất cao, nhất là nguyên liệu ngoại nhập, có thể chiếm tới 60- 70%. Trong khi đó 80% năng lực ngành may nước ta huy động vào làm gia công, với hầu hết nguyên phụ liệu ngoại nhập, ta chỉ lấy công làm lãi nên hiệu quả thấp là đương nhiên.
5. Chất lượng. Khóa luận: Tổng quan về xuất khẩu dệt may tại Việt Nam
Trong cạnh tranh, công cụ quan trọng nhất để tạo vị thế của doanh nghiệp và quốc gia trên thị trường là chất lượng sản phẩm. Đối với thị trường may mặc thế giới thì tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm đòi hỏi rất khắt khe và luôn luôn thay đổi. Đăc biệt khi đã là thành viên chính thức của WTO thì các doanh nghiệp dệt may của ta càng phải nỗ lực không ngừng nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm.
Các thành viên chủ lực của Tổng công ty dệt may Việt Nam đã đưa ISO 9000 vào đời sống kinh doanh và sản xuất, sau đó là ISO 14000, tiêu chuẩn SA 8000… Nếu không có sự áp dụng này, ngành dệt may Việt Nam không tạo được niềm tin với bạn hàng quốc tế rằng chất lượng là một tố chất chính trong chiến lược kinh doanh của ngành dệt may Việt Nam.
Do sự nỗ lực cố gắng của các doanh nghiệp mà chất lượng hàng dệt may Việt Nam ngày càng được nâng cao, tỷ lệ hàng xuất khẩu bị trả lại giảm đi rõ rệt. Ví dụ điển hình là công ty Hanoisimex, tỷ trọng hàng may mặc xuất sang EU bị trả lại của công ty đến năm 2007 chỉ còn 0,8%. Chất lượng sản phẩm của công ty được đánh giá là không kém gì chất lượng của các quốc gia khác như Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ, Hồng Kông và có khả năng cạnh tranh về chất lượng sản phẩm của quốc gia này trên thị trường may mặc EU. Nhưng tính đến năm 2007, tỷ trọng hàng bị trả lại của công ty Hanoisimex so với sản phẩm của các nước có chất lượng thứ nhất, thứ nhì trên thị trường EU vẫn còn tương đối cao. Cụ thể là cao hơn 0,5% so với hàng của Thổ Nhĩ Kỳ; 0,4% so với sản phẩm của Ấn Độ và 0,2% so với sản phẩm của Trung Quốc và Hồng Kông. Khóa luận: Tổng quan về xuất khẩu dệt may tại Việt Nam
Ngoài công ty Hanoisimex còn có một số doanh nghiệp của Việt Nam như : May Nhà Bè, May 10, May Đức Giang, May Việt Tiến,… cũng được đánh giá là có chất lượng cao tại thị trường trong nước cũng như thế giới.
Bên cạnh đó, dệt may Việt Nam cũng đang gặp khó khăn trong vấn đề thiết kế mẫu sản phẩm như : không có máy may và máy chuyên dùng may mẫu, công việc thiết kế chủ yếu làm bằng thủ công, sự hiểu biết về thị hiếu mẫu mốt nước ngoài còn quá ít (vì không có tài chính để cử cán bộ đi công tác). Những khó khăn trên đã cản trở việc kinh doanh mẫu mốt, không ít những lô hàng sản xuất ở Việt Nam mà phải theo mẫu mốt của chủ hàng nước ngoài. Đây là điểm chúng ta cần khắc phục để tăng khả năng cạnh tranh về chất lượng sản phẩm.
6. Xúc tiến thương mại.
Về xúc tiến thương mại, do doanh nghiệp Việt Nam ít có khả năng nghiên cứu thị trường và ít thương hiệu sản phẩm riêng nên cần hợp tác chiến lược với các công ty ở nước nhập khẩu để khắc phục điểm yếu này. Đồng thời, Hiệp hội dệt may Việt Nam cũng cần đứng ra tổ chức cho các doanh nghiệp trong ngành tham gia thường xuyên vào các chợ quốc tế hàng may mặc hay các triển lãm trưng bày, hội chợ xúc tiến thương mại tầm cỡ quốc tế.
Nguồn kinh phí hỗ trợ các chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm quốc gia cần hỗ trợ ổn định, và trong thời gian dài, ít nhất là từ 3- 5 năm dể Hiệp hội dệt may Việt Nam có thể đưa ra những kế hoạch xúc tiến thương mạidài hạn, vừa tiết kiệm chi phí, vừa tăng hiệu quả. Các chi phí khác do các doanh nghiệp tham dự tự túc hoặc Nhà nước hỗ trợ một phần. Làm sao để bất cứ khi nào có sự hiện diện của Việt Nam trong những hội chợ lớn thu hút được nhiều người quan tâm nhằm giới thiệu về ngành dệt may Việt Nam cũng như về văn hoá và con người Việt Nam.
Thông tin thị trường là một yếu tố quan trọng của hoạt động xúc tiến thương mại, đó là các thông tin về cơ chế, chính sách, thông tin về các yếu tố đầu ra, đầu vào, các đối tác, đối thủ… Nhưng vấn đề là ở chỗ các doanh nghiệp Việt Nam còn biết quá ít về đối tác nước ngoài, mạng lưới thương vụ của ta có mặt ở hầu hết các nước trên thế giới song những thông tin về thị trường nói chung và thị trường dệt may nói riêng được cung cấp về nước rất ít và chưa đồng bộ kể cả một số thị trường lớn và truyền thống của Việt Nam. Trong khi đó các doanh nghiệp Việt Nam nếu không có nhà nước hỗ trợ thì không thể có đủ chi phí để thường xuyên tham gia các hội chợ, triển lãm, các hội nghị xúc tiến mậu dịch ở nước ngoài. Chính vì vậy những thay đổi về mẫu mã, các khuynh hướng thời trang mới chúng ta hoàn toàn không nắm bắt kịp thời để chuẩn bị sản xuất .
7. Đầu tư Khóa luận: Tổng quan về xuất khẩu dệt may tại Việt Nam
Theo Hiệp hội dệt may Việt Nam, trong những năm qua đã có 534 dự án có vốn đầu tư nước ngoài từ 28 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào ngành dệt may Việt Nam với tổng vốn đăng kí là 3,215 tỷ USD.
Bảng 7: Thống kê đầu tư nước ngoài vào ngành công nghiệp Dệt may Việt Nam trong những năm qua.
Bảng thống kê cho thấy, Đài Loan đầu tư nhiều nhất về giá trị vào ngành dệt may Việt Nam, là 1,690 tỷ USD vốn đăng kí, với 156 dự án. Trong đó có 45 dự án đầu tư vào ngành dệt, 93 dự án đầu tư vào ngành may, còn lại là ngành phụ liệu. Tiếp đến là Hàn Quốc, mặc dù tính về số dự án là 177, nhiều hơn Đài Loan, nhưng tính tổng về vốn đăng kí lại đứng sau Đài Loan với 1,003 tỷ USD. Trong đó, đầu tư vào ngành dệt là 40 dự án, ngành may là 122 dự án, phụ liệu là 15 dự án. Ở mức vốn đăng kí trên 100 triệu USD là Nhật Bản và Hồng Kông, còn lại là dưới mức triệu USD, trong đó Đức và Thái Lan có tổng vốn đăng kí ít nhất với 9 triệu USD. Bảng thống kê cũng cho thấy số dự án của các nước đầu tư vào Việt Nam chủ yếu là ngành may. Điều này cũng dễ hiểu vì Việt Nam chủ yếu xuất khẩu các sản phẩm may mặc, nên các nước tập trung chủ yếu vào ngành này. Còn ngành phụ liệu, xu hướng ở Việt Nam chủ yếu là nhập khẩu nguyên vật liệu cho ngành dệt may (trên 80%) nên các nhà đầu tư chưa tập trung mạnh vào lĩnh vực này vì lợi nhuận không cao bằng ngành may.
Trước khi Việt Nam gia nhập WTO, các nhà phân tích từng đưa ra dự báo rằng, Việt Nam sẽ thu hút mạnh các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có ngành dệt may khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO. Thật vậy, bước vào năm 2007 năm đầu tiên Việt Nam thực hiện cam kết WTO, hoạt động đầu tư nước ngoài vào ngành dệt may Việt Nam đã có những chuyển động tích cực. Tập đoàn dệt may Việt Nam (Vinatex) cho biết, các dự án dệt may lớn đã thu hút được sự quan tâm đầu từ phía các đối tác nước ngoài ngay từ đầu năm 2007, cụ thể: tập đoàn Pamatex Berhad (Malaysia) đã quyết định đầu tư hơn 100 triệu USD vào khu kinh tế mở Chu Lai (Quảng Nam), công ty Daewon (Hàn Quốc) đầu tư xây dựng một nhà máy may xuất khẩu trị giá 8 triệu USD tại khu công nghiệp Hoà Khánh (Đà Nẵng). Những tín hiệu này cho thấy ngành dệt may nội địa đang hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Bên cạnh đó, một số dự án cũng đã đi vào hoạt động ngay từ năm 2007, cụ thể: sau hơn 1 năm thi công, cuối tháng 3 năm 2007, tại khu công nghiệp Thuận Yến, thành phố Tam Kỳ công ty Intergarment Corporation (Đài Loan) khánh thành nhà máy may Sportteam với tổng vốn đầu tư xây dựng 2 triệu USD. Nhà máy Sportteam được xây dựng trên diện tích 2,1 ha gồm 22 chuyền may với trên 1200 lao động, chuyên sản xuất các sản phẩm hàng dệt kim và dệt thoi gồm áo quần thể thao các loại với năng lực sản xuất 20 triệu sản phẩm/ năm. Sản phẩm được xuất trực tiếp sang thị trường các nước EU, Mỹ, Canada và các nước Đông Nam Á. Theo kế hoạch, năm 2008, nhà máy tiếp tục mở rộng giai đoạn 2 của dự án, tăng tổng diện tích xây dựng lên 3,7 ha, giải quyết việc làm cho 2000 lao động.
Các chuyên gia cho biết, nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển ngành dệt may vào khoảng 3 tỷ USD cho giai đoạn từ nay cho đến năm 2010. Trong đó, vốn đầu tư phát triển nguyên liệu dệt khoảng 180 triệu USD, các dự án dệt nhuộm 2,275 tỷ USD, các dự án may là 443 triệu USD, các trung tâm thương mại và nghiên cứu triển khai đào tạo vào khoảng hơn 200 triệu USD. Do vậy, người ta trông đợi đến nguồn vốn chính đến từ các nguồn đầu tư nước ngoài, ngoài ra có thể là vốn vay từ các quỹ đầu tư, vốn từ quỹ đất khi di dời và một phần vốn từ thị trường chứng khoán. Khóa luận: Tổng quan về xuất khẩu dệt may tại Việt Nam
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam