Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng về xuất khẩu dệt may Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Xuất khẩu dệt may của Việt Nam trong 5 năm trở lại đây – Thực trạng và giải pháp dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
1. Kim ngạch xuất khẩu.
Giai đoạn 2003- 2008 là một giai đoạn hết sức quan trọng trong sự nghiệp phát triển của ngành dệt may Việt Nam. Trong giai đoạn này đã diễn ra rất nhiều sự kiện có tác động không nhỏ tới ngành dệt may xuất khẩu. Giai đoạn này đánh dấu một bước tiến đáng kể của ngành dệt may, vươn lên đứng vị trí dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Bảng 8: Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam (2003-2008)
Kể từ sau khi hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực vào ngày 10/02/2001, kim ngạch xuất khẩu dệt may sang thị trường nay đã có sự tăng trưởng lớn lên trông thấy. Bước sang năm 2002, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam đã tăng thêm 37,2% so với năm 2001, riêng thị trường Mỹ, tăng gấp lần so với năm 2001, đạt xấp xỉ 900 triệu USD. Cũng trong năm 2002, EU đồng ý tăng hạn ngạch cho Việt Nam thêm 25%, tương đương 150 triệu USD, mở rộng thêm thị trường xuất khẩu của ta tại Liên minh châu Âu. Tuy nhiên, nếu so sánh giữa hai thị trường lớn là Mỹ và Eu trong giai đoạn này, thì Mỹ vẫn là điểm đến hứa hẹn hơn đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Thị trường Mỹ là một thị trường không mấy kỹ tính như EU (các tiêu chuẩn về chất lượng, kỹ thuật, môi trường… luôn là mối lo ngại hàng đầu của các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may Việt Nam khi gia nhập thị trường EU). Chính vì thế, trong thời gian này, các doanh nghiệp của ta chỉ tập trung vào thị trường Hoa Kỳ, làm cho kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này tăng lên một cách vượt bậc (tăng gấp 20 lần so với năm 2001). Thị phần xuất khẩu của dệt may Việt Nam cũng có sự thay đổi lớn. Trước kia 2 thị trường truyền thống của ta là EU và Nhật Bản luôn chiếm đa số trong thị phần xuất khẩu của ta, nhưng nay tình hình đó đã bị đảo ngược. Mỹ chiếm 57% thị phần xuất khẩu của ta, trong khi EU là 18% và Nhật Bản chỉ có 9%. Bước sang năm 2003, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn rất kỳ vọng vào thị trường dệt may của Mỹ, nơi mà nhu cầu nhập khẩu dệt may lên tới con số 70 tỷ USD mỗi năm. Còn thị trường dệt may EU, mặc dù đã tăng hạn ngạch cho hàng dệt may Việt Nam đối với tất cả các mặt hàng nhạy cảm (CAT nóng) từ 50- 70% cũng không làm các doanh nghiệp của ta chú ý tới lắm. Mặc dù đã được cảnh bảo về tỷ lệ hạn ngạch xuất khẩu mà trong năm 2003 phía Mỹ sẽ áp dụng với Việt Nam nhưng các doanh nghiệp vẫn tiếp tục kí hợp đồng một cách ồ ạt, không để ý tới lượng hạn ngạch mà mình sẽ được cấp sau đó. Đến khi hạn ngạch xuất khẩu dệt may sang Mỹ được công bố (1,7 tỷ USD cho năm 2003), các doanh nghiệp chỉ nhận được lượng hạn ngạch rất nhỏ so với số lượng trong hợp đồng mình đã kí từ trước với đối tác Mỹ, dẫn đến tình trạng “ khê” quota trầm trọng. Rất nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng” dở khóc, dở cười”: hợp đồng kí kết được, hàng sẵn sàng để xuất mà lại không thể xuất đi được. Hơn thế nữa, vì qúa tập trung vào thị trường dệt may Mỹ, nên các doanh nghiệp của ta lại đang dần để mất thị phần ở EU và Nhật Bản vào tay các nước khác. Tại Nhật Bản, thị phần của hàng dệt may Việt Nam chỉ chiếm 3,2- 3,6% trong khi Trung Quốc chiếm tới 90% thị trường này. Khóa luận: Thực trạng về xuất khẩu dệt may Việt Nam
Nhìn bảng 9, ta nhận thấy rằng tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu dệt may tăng khá nhanh từ năm 2005 trở đi. Năm 2005, EU xoá bỏ hạn ngạch dệt may cho Việt Nam, mở ra con đường rộng lớn cho ngành hàng này có dịp tranh tài một cách công bằng hơn với các nước xuất khẩu dệt may lớn trên thế giới. EU vốn là thị trường khó tính, yêu cầu chất lượng cao, sản phẩm phải có yếu tố chú trọng sức khoẻ. Nhiều nhà nhập khẩu của EU thường đòi hỏi các doanh nghiệp khi xuất khẩu sang thị trường này phải sưu tập đủ bộ tiêu chuẩn chất lượng gồm các chứng chỉ chất lượng sản phẩm: HACCP, CE, ISO 9000, SA 8000, và quan trọng nhất là hệ thống chứng chỉ môi trường ISO 14000. Yêu cầu khắt khe như vậy, cộng thêm việc bị áp dụng hạn ngạch làm cho các doanh nghiệp Việt Nam khá e ngại thị trường này. Những chứng chỉ nêu trên có thể khắc phục được, nhưng hạn ngạch lại phải tuỳ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác. Chính vì thế, việc EU xoá bỏ hạn ngạch cho Việt Nam là một bước đi khá quan trọng trong việc đẩy mạnh tốc độ xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam. Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang EU là 1,2 tỷ USD, chiếm 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành dệt may. Năm 2007 là 1,43 tỷ USD và năm 2008 là 1,8 tỷ USD. Về phía thị trường Mỹ, hạn ngạch được dỡ bỏ sau khi chúng ta gia nhập WTO cũng góp phần làm tăng kim ngạch xuất khẩu. Là thị trường chiếm tỷ trọng chủ yếu trong thị trường xuất khẩu Việt Nam. Các chuyên gia nhận định rằng nếu như không bị áp dụng chương trình giám sát hàng dệt may của Mỹ, thì xuất khẩu dệt may của Việt Nam còn tăng trưởng nhiều hơn nữa.
Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam không chỉ bị ảnh hưởng bởi những tác động bên ngoài mà còn bị chi phối bởi những yếu tố bên trong như chất lượng, giá cả… mà điển hình hơn cả, tác động không nhỏ tới giá trị xuất khẩu của ta, đó là thực trạng gia công xuất khẩu ở nước ta còn chiếm tỷ lệ khá lớn (70- 80%). Làm cho giá trị xuất khẩu thấp, chỉ chiếm 35% so với kim ngạch xuất khẩu. Theo số liệu ước đoán, hàng dệt may xuất khẩu theo hình thức FOB chỉ chiếm 20- 30%, còn lại là hàng gia công. Ngành dệt may Việt Nam hiện đang đứng thứ 9 trong top 10 nước xuất khẩu hàng dệt may lớn nhât thế giới, nhưng so với nhiều nươc ở châu Á, tốc độ tăng trưởng của hàng dệt may Việt Nam vẫn còn thấp, chỉ khoảng 20- 30%, trong khi Trung Quốc đạt tăng trưởng 80%, Indonesia đạt 48%…Thực chất, FOB dệt may của Việt Nam mới chỉ là “FOB sơ khai”- gia công với giá cao hơn mà thôi. Vì thực tế, doanh nghiệp Viẹt Nam được các nhà nhập khẩu chỉ định mua nguyên phụ liệu, may theo mẫu mà họ đưa ra và được hưởng 5- 10% trên giá trị của sản phẩm. Sản xuất FOB “thật sự” doanh nghiệp phải tự thiết kế mẫu mã, chọn nguyên phụ liệu, chào hàng (mua đứt, bán đoạn). Sản xuất FOB cao cấp, ở Việt Nam chỉ thực hiện được vài phần trăm nhưng phần lớn lại rơi vào doanh nghiệp sản xuất tiêu thụ ở thị trường nội địa. Và đại bộ phận sản xuất FOB tiêu thụ tại Việt Nam hiện nay vẫn là FOB sơ khai. Các doanh nghiệp cho biết con số 5- 10% có được trên giá trị của hàng FOB đối với doanh nghiệp Việt Nam là khá cao, nhưng xét trên thực tế, nhà nhập khẩu nước ngoài có nhiều cái lợi. Để có được 5- 10% đó, doanh nghiệp Việt Nam phải bỏ tiền trước để sản xuất, gánh những rủi ro (thiếu nguyên phụ liệu đột xuất, đảm bảo chất lượng…) có thể xảy ra trong quả trình sản xuất, mà những vấn đề này lẽ ra nhà nhập khẩu phải chịu trách nhiệm chính. Chính vì thế, giải quyết vấn đề gia công hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam cần ưu tiên hàng đầu trong thời gian tới.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2. Cơ cấu xuất khẩu. Khóa luận: Thực trạng về xuất khẩu dệt may Việt Nam
Các mặt hàng xuất khẩu chính của ngành dệt may Việt Nam gồm có: hàng may mặc, tơ sợi, vải lụa, các loại sản phẩm khác. Trong đó, hàng may mặc chiếm tỷ trọng lớn nhất trong các mặt hàng xuất khẩu. Nguyên nhân cũng dễ hiểu, bởi vì ngành may mặc được đầu tư khá nhiều về máy móc, trang thiết bị cũng như các yếu tố khác trong khi đó ngành dệt thì hiện nay tình hình sản xuất vẫn chưa tốt cả về máy móc, trang thiết bị, đội ngũ công nhân.
Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, ngành dệt may Việt Nam đã có nhiều khởi sắc. Từ năm 1990 trở về trước, sản phẩm may mặc chủ yếu là sơ mi nam, nữ, quần áo bảo hộ và một số sản phẩm đơn giản xuất khẩu sang thị trường Liên Xô và Đông Âu với sản lượng năm cao nhất là hàng trăm triệu sản phẩm. Khi thị trường này tan vỡ, sự khủng hoảng đã là động lực cho sự chuyển hướng thị trường, tạo vốn đầu tư máy móc thiết bị nâng cao năng lực sản xuất trong ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam. Sản phẩm dệt may đã dần dần được xuất khẩu sang thị trường các nước phát triển như Canada, Thuỵ Điển, Australia, Hà Lan, Ba Lan… đặc biệt là Mỹ, Eu, Nhật Bản…
Danh mục mặt hàng xuất khẩu cũng ngày càng được cải tiến và phong phú hơn trước đây. Các loại hàng đã xuất khẩu sang thị trường Nhật, Canada, EU, Mỹ… bao gồm:
Theo đánh giá của các tổ chức nước ngoài, hàng dệt may Việt Nam khá phong phú về chủng loại, song chính sự phong phú này làm cho chất lượng sản phẩm chưa được đồng đều. Hàng cao cấp, chất lượng cao của ta còn ít, chủ yếu là áo sơ mi nam, T- shirt thì hầu hết là gia công cho nước ngoài, kiểu dáng mẫu mã không có gì mới lạ trên thị trường thế giới. Một số mặt hàng khác như vải dệt kim, tơ tằm, hay sợi chưa dệt thì hạn chế về màu sắc, chất lượng chưa thật tốt do chúng ta còn nhiều khó khăn về thiết bị và công nghệ tiên tiến để xử lý sản phẩm. Mặt khác, do hạn chế về vốn và hoạt động marketing, các loại hàng dệt may Việt Nam chưa thích ứng được với sự thay đổi liên tục của thời trang thế giới nên thường bị lỗi mốt, dù chất lượng cao, giá hạ, vẫn không bán được. Đội ngũ thiết kế tạo mẫu của nước ta còn non yếu, chưa có nhiều kinh nghiệm, chuyên môn còn kém nên hàng hoá của nước ta chưa bắt kịp với nhịp độ phát triển của thế giới. Do đó, đây cũng là vấn đề cần chú ý, khắc phục để sản phẩm của ngành dệt may Việt Nam ngày càng đa dạng phong phú và có uy tín trên thị trường thế giới.
3. Một số thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng về xuất khẩu dệt may Việt Nam
3.1. Thị trường Mỹ.
Thị trường Mỹ là một thị trường lớn về tiêu thụ hàng hoá cũng như hàng dệt may, Mỹ là một thị trường lớn đối với các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu của Việt Nam. Thị trường này cũng thể hiện rõ tính ưu việt cũng như tiềm năng đầy hứa hẹn đối với hàng dệt may xuất khẩu hiện tại và trong tương lai. Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam mới bắt đầu thị trường đầy tiềm năng này chỉ trong khoảng 10 năm gần đây. Năm 1996 kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này chỉ đạt ở mức rất thấp 9,1 triệu USD. Đây là một con số không đáng kể so với kim ngạh xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam vào các thị trường khác như thị trường Nhật Bản 248 triệu USD, thị trường EU 225 triệu USD. Vào thời gian đó, không ai có thể khẳng định đây là một thị trường đầy triển vọng kể cả các chuyên gia kinh tế. Từ khoảng thời gian 1996- 2000, tốc độ tăng trưởng kim ngạch của thị trường này khá thấp, có khi còn giảm (năm 2001- 44,6 triệu USD, so với năm 2000 là 49,5 triệu USD). So với con số 70 tỷ USD mà Mỹ bỏ ra để nhập khẩu hàng dệt may mỗi năm thì con số này quả thật không thấm tháp gì. Giải thích tại sao thị trường Mỹ là một thị trường tiêu thụ lớn hàng giầy da và hàng may mặc mà lượng hàng may xuất khẩu của ta vào thị trường này lại ít ỏi như vậy. Câu trả lời thật đơn giản và ai cũng biết rõ; đó là do quan hệ hai nước Việt Nam – Hoa Kỳ trong thời gian này mới bắt đầu bình thường trở lại do đó các doanh nghiệp Việt Nam đang dần làm quen với thị trường đồng thời chưa có thông tin và đầu mối quan trọng để tăng cường hàng xuất khẩu vào thị trường này, nên thời gian này hoạt động của ta trên thị trường này chủ yếu thăm dò là chính.
Vào năm 2000, nước ta chính thức kí hiệp định thương mại Việt- Mỹ, thuế suất nhập khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Mỹ giảm đến 10 lần. Từ năm 2002 chúng ta có hiệp định dệt may Việt- Mỹ với ưu đãi tối huệ quốc (MFN) cho hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam nên kim ngạch xuất khẩu của Việt nam tăng mạnh (900 triệu USD). Mức gia tăng kỉ lục này đã đưa Mỹ trở thành thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất của Việt Nam, trên cả EU và Nhật, vốn lâu nay là thị trường truyền thống của ta.
Bảng 9: Kim ngạch xuất khẩu của hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ.
Trước tình hình kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Mỹ tăng mạnh, Mỹ đã tiến hành kí hiệp định về hàng dệt may Việt Nam – Hoa Kỳ, trong đó có cả việc Mỹ sẽ áp dụng quota đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam , bắt đầu từ năm 2003. Theo hiệp định này, trị giá hàng dệt may quản lý bằng hạn ngạch năm 2003 gồm 25 nhóm hàng và 38 mặt hàng cụ thể sau:
Bảng 10: Các mặt hàng dệt may quản lý bằng hạn ngạch.
Để thực hiện hiệp định, ngày 28/04/2003, Bộ thương mại(nay là Bộ công thương) có văn bản số 0962/TM- XNK hướng dẫn thực hiện, theo đó các doanh nghiệp phải báo cáo chi tiết, chính xác về năng lực và quy mô sản xuất của mình để làm cơ sở đối chiếu hạn ngạch và cấp hạn ngạch hàng dệt may xuất khẩu sang Hoa Kỳ năm 2003. Văn bản cũng nghiêm cấm các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may sử dụng giấy chứng nhận xuất khẩu hàng dệt may để xuất khẩu sang Hoa Kỳ hoặc dùng vải của nước khác xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam. Những công việc bước đầu của thực hiện hiệp định như vậy tạo thuận lợi về quản lý trong thực hiện hiệp định. Tuy nhiên các doanh nghiệp lại lo lắng rằng hạn ngạch như vậy có đáp ứng được nhu cầu xuất khẩu không? Và làm thế nào để sử dụng có hiệu quả hạn ngạch? Sự lo lắng của các doanh nghiệp là hoàn toàn có cơ sở, bởi qua thực tiễn hiệp định dệt may EU cũng luôn nổi cộm lên hai vấn đề này. Và đúng như các doanh nghiệp lo lắng, tình trạng thiếu quota để xuất khẩu đã đẩy nhiều doanh nghiệp vào tình thế lúng túng. Hạn ngạch thì có hạn mà tốc độ xuất khẩu hàng dệt may của các doanh nghiệp trong 5 tháng đầu năm 2003 quá lớn nên giá trị hạn ngạch để giao cho các doanh nghiệp trong 7 tháng cuối năm chỉ còn khoảng 600 triệu USD, trong đó còn lại một số CAT còn lại rất ít hoặc không còn, buộc các doanh nghiệp phải có phương án xử lý phù hợp trước tình hình này. Khóa luận: Thực trạng về xuất khẩu dệt may Việt Nam
Hạn ngạch là một vấn đề khá nóng bỏng trong trong giai đoạn Việt Nam chưa là thành viên của WTO, thì chất lượng là vấn đề xuyên suốt quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Hiện nay, những sản phẩm của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ phải được một công ty kiểm toán đánh giá thực hiện theo tiêu chuẩn SA 8000. Đây là một yêu cầu hoàn toàn mới đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Tổng công ty dệt may Việt Nam hiện có 28 doanh nghiệp thực hiện theo hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000, 2 doanh nghiệp thực hiện ISO 14000 và 4 doanh nghiệp thực hiện SA 8000. Trước mắt phía Mỹ yêu cầu các doanh nghiệp thực hiện theo SA 8000 khi chưa có chứng chỉ, nhằm đáp ứng được các điều kiện, môi trường làm việc của người lao động. Mặt khác hàng dệt may của Việt Nam hiện nay có tới 81,2% mặt hàng vải và hàng may mặc không có tên cơ sở sản xuất, thành phần nguyên liệu, nhãn hiệu hàng hoá nên khi xuất khẩu sang thị trường Mỹ đã bị từ chối và trả lại hàng gây thiệt hại lớn cho các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.
Quả thật con đường dẫn tới nước Mỹ thật gian nan và vất vả. Hàng rào thuế quan vừa được rỡ bỏ thì “bức tường” phi thuế quan lại được xây dựng lên, kiên cố hơn,dai dẳng hơn. Minh chứng rõ ràng nhất là việc áp dụng hạn ngạch đối với Việt Nam chỉ ngay sau khi thấy rằng tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu dệt may sang Mỹ của ta có chiều hướng gia tăng, hạn ngạch này đã áp dụng tới tận năm 2007, và cho đến khi Việt Nam là thành viên của WTO, chế độ hạn ngạch này bị bãi bỏ thì chương trình giám sát hàng dệt may của Mỹ bắt đầu được khởi động.
Thị trường Mỹ là một trong những thị trường mục tiêu không những của doanh nghiệp Việt Nam mà còn của doanh nghiệp của các nước. Biện pháp nhanh nhất để thâm nhập mạnh mẽ vào thị trường mục tiêu này là nước ta nhanh chóng được gia nhập WTO để hưởng lợi từ việc bãi bỏ quota nhập khẩu dệt may và giảm thuế suất nhập khẩu trong khối. Đó là thời kì mà các doanh nghiệp của Việt Nam đang trông đợi và cũng phải đối đầu với rất nhiều thách thức mới ở thị trường khu vực và thị trường quốc tế. Mặc dù cơ chế này chỉ đánh giá khối lượng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Hoa kỳ 6 tháng/ lần nhưng làm ảnh hưởng đáng kể đến tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của mặt hàng này, làm cản trở đầu tư, nâng cao năng lực sản xuất của các doanh nghiệp dệt may trong nước cũng như doanh nghiệp nước ngoài, ngăn cản các khách hàng Mỹ đặt hàng tại Việt Nam. Các chuyên gia cho rằng nếu không có cơ chế giám sát này thì hàng dệt may của ta xuất khẩu sang Mỹ còn tăng lên nữa vào năm 2007. Bộ Công thương Việt Nam cho rằng thị trường này vẫn tiềm ẩn những rủi ro do chương trình giám sát vẫn được duy trì và sẽ tiếp tục đánh giá số liệu của 6 tháng tiếp theo vào tháng 3/2008. Bộ Thương mại Hoa Kỳ chưa đưa ra bất kỳ một hành động cụ thể nào nhằm giảm bớt tác động tiêu cực của chương trình giám sát đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam như không giảm bớt mặt hàng trong diện bị giám sát và cũng không nêu các tiêu chí điều kiện cụ thể làm cơ sở tự khởi kiện điều tra chống bán phá giá hàng dệt may Việt Nam. Cơ chế giám sát của Hoa Kỳ được duy trì cho đến hết năm 2008. Theo số liệu xuất khẩu dệt may sang Hoa Kỳ 9 tháng năm 2008 mà Hải quan Hoa Kỳ công bố, giá xuất khẩu trung bình hàng tháng của Việt Nam đã có xu hướng giảm xuống và lượng xuất khẩu có xu hướng tăng lên, thêm vào đó yếu tố chính trị của Hoa Kỳ làm tăng thêm nguy cơ khiến các nhà nhập khẩu càng e ngại trong việc đặt hàng tại Việt Nam, cản trở đáng kể tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong những năm tới. Không chỉ bị làm giảm kim ngạch xuất khẩu, ngành dệt may của ta còn đứng trước nguy cơ bị kiện chống bán phá giá. Có thể nói mục đích của chính sách giám sát hàng dệt may của Mỹ không ngoài việc khởi kiện chống bán phá giá hàng dệt may của ta khi xuất khẩu sang thị trường Mỹ. Từ tháng 8/2007 dến tháng 1/2008, Bộ Thương mại Mỹ đã xúc tiến vụ kiện chống bán phá giá hàng dệt may của Việt Nam đã xuất khẩu trong thời gian trước đó. Ngành dệt may Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp dệt may xuất khẩu sang Mỹ rất lo lắng trước tình hình nay, bởi lẽ, mặc dù đã tham gia vào tổ chức Thương mại thế giới WTO nhưng nền kinh tế của Việt Nam vẫn bị coi là nền kinh tế phi thị trường, vì vậy khi điều tra về tình hình giá cả của hàng dệt may Việt Nam, phía Mỹ sẽ không căn cứ vào số liệu mà chúng ta đưa ra mà lại lấy của một số nước có nền kinh tế tương đương với Việt Nam để so sánh đối chiếu. Rất may là trong vụ kiện lần này, bộ Thương mại Mỹ đã không có đủ bằng chứng để tiến hành điều tra bán phá giá đối với mặt hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, phát biểu trong cuộc họp báo thông báo quyết định này, Trợ lý bộ trưởng bộ thương mại Mỹ phụ trách về quản lý xuất nhập khẩu cho biết bộ Thương mại Mỹ sẽ tiếp tục thực hiện cam kết về kiểm tra hàng hoá nhập khẩu từ Việt Nam để đảm bảo rằng hàng dệt may Việt Nam không bán phá giá vào thị trường Mỹ và đe doạ cạnh tranh với các nhà sản xuất của Mỹ. Đây là một hành động thể hiện thái độ thiếu thiện chí của bộ Thương mại Hoa Kỳ, thể hiện sự bảo hộ rõ rệt ngành dệt may của Mỹ, phá vỡ nguyên tắc cạnh tranh công bằng bình đẳng giữa các nền kinh tế mà WTO đã đề ra. Để chống lại tình trạng này, thiết nghĩ điều đầu tiên chúng ta cần làm là các doanh nghiệp Việt Nam cần hợp tác chặt chẽ với các nhà nhập khẩu lớn Hoa Kỳ, thực hiện các đơn hàng có chất lượng và giá cao, lưu ý tránh nhận những đơn hàng đơn giản, giá trị thấp làm ảnh hưởng đến mức gía bình quân của cả nước, là cơ sở để phía Hoa Kỳ tự khởi kiện chống bán phá giá. Thêm vào đó, chúng ta không nên coi việc chứng minh kinh tế thị trường chỉ là nhằm thoả mãn các yêu cầu của bên ngoài, sự công nhận nền kinh tế thị trường nhiều khi chỉ mang màu sắc chính trị, Việt Nam cần phát triển nền kinh tế thị trường vì chính yêu cầu nội tại của mình. Việc chỉ lo chứng minh với quốc tế mình là nền kinh tế thị trường để các vụ kiện đạt các kết quả tốt chỉ mang tính chất kỹ thuật, đối phó. Hãy để các thị trường liên thông với nhau tốt hơn, các doanh nghiệp không còn bị phân biệt đối xử hay ưu ái quá mức, có như thế nền kinh tế mới phát triển đúng như thực trạng cung – cầu vốn có của nó.
3.2. Thị trưòng EU. Khóa luận: Thực trạng về xuất khẩu dệt may Việt Nam
Thị trường Eu là “ miền đất hứa” của Việt Nam khi khung pháp lý về thị trường đã được mở hoàn toàn, và hơn thế nữa, EU còn dành cho Việt Nam cơ chế ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP) dành cho các nước đang phát triển. Hàng dệt may là mặt hàng xuất khẩu chủ lực đang được xuất khẩu với số lượng lớn sang thị trường này. Đặc biệt là năm 2005, EU xoá bỏ quota đối với hàng dệt may Việt Nam, cơ hội xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này quả là rất lớn. Năm 2007, kim ngạch cả năm xuất khẩu của dệt may Việt Nam đạt khoảng 7,8 tỷ USD, tăng khoảng 31% so với năm 2006, trong đó thị trường EU là một trong ba thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam. Xuất khẩu dệt may sang EU của Việt Nam tăng nhanh sau năm 1992, khi Việt Nam và EU thiết lập mối quan hệ thương mại với nhau. Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này năm 1996 đạt 223 triệu USD, năm 1997 dù ở trong cuộc khủng hoảng chung của khu vực, kim ngạch xuất khẩu dệt may sang EU vẫn tăng lên 336 triệu USD, con số này cũng tăng lên đáng kể trong suốt giai đoạn 1998- 2001, tăng từ 504 triệu USD lên 617 triệu USD. Nhưng năm 2002 con số này, con số này chỉ còn 553 triệu USD, năm 2003 tuy có tăng lên nhưng cũng chỉ đạt 612 triệu USD. Tuy nhiên sang năm 2004, kim ngạch xuất khẩu dệt may sang thị trường này đã tăng trưởng trở lại với 684,5 triệu USD, tuy vẫn kém xa chỉ tiêu đặt ra là 1 tỷ USD. Năm 2005, EU xoá bỏ quota, hàng dệt may Việt Nam được xuất khẩu tự do sang EU, đây là một cơ hội lớn cho dệt may Việt Nam được phát huy năng lực cạnh tranh một cách công bằng và tối đa. Năm 2006 kim ngạch xuất khẩu chung của ngành đạt 5,864 tỷ USD, tăng trưởng 20% so với năm 2005. Trong đó thị trường EU đạt 1,243 tỷ USD (chiếm 20%). Năm 2007 là 1,432 tỷ USD và năm 2008 là 1,8 tỷ USD11.
Sức cạnh tranh của doanh nghiệp này ngày càng được nâng cao, theo đánh giá của WB, một số mặt hàng dệt may của Việt Nam được đánh giá là có chất lượng tốt, giá thành cạnh tranh. Công nhân Việt Nam được đánh giá cao về đào tạo, có kỷ luật, cần cù và khéo léo. Đây là một thế mạnh của dệt may Việt Nam. Tình trạng xuất khẩu dệt may núp bóng dưới các nhãn hiệu nổi tiếng vẫn còn, nhưng nhìn chung thương hiệu Việt của sản phẩm dệt may cũng đang dần chứng tỏ được uy tín và chất lượng trên trường quốc tế. Hàng dệt may Việt Nam được xem là có lợi thế cạnh tranh trên các thị trường “trung bình khá”. Sản phẩm xuất khẩu sang EU ngày càng đa dạng về chủng loại, thêm các mặt hàng mới có tiềm năng như áo len, áo nỉ, bít tất…Mẫu mã, hình thức, màu sắc phong phú hơn. Việt Nam đã có sự đầu tư vào chất xám và sự sáng tạo trong sản phẩm. Lực lượng tham gia xuất khẩu ngày càng được mở rộng. Số doanh nghiệp tham gia xuất khẩu sang thị trường EU đã tăng lên với những chiến lược tăng quy mô sản xuất mở rộng thị trường hơn nữa. Cơ cấu thị trường cũng được mở rộng. Sản phẩm dệt may Việt Nam đã xuất hiện ở hầu hết các nước thành viên của EU, và đẩy mạnh ở thị trường Đông Âu. Hai hình thức xuất khẩu chính của Việt Nam sang thị trường EU là gia công xuất khẩu (chiếm tới 70%) và xuất khẩu trực tiếp theo giá FOB, chỉ mới chiếm 30%. Hình thức gia công là xuất khẩu qua một nước trung gian, chủ yếu là qua các nước NICs có nền công nghiệp dệt may phát triển- với vị trí là nhà đặt hàng. Các nhà nhập khẩu EU đóng vai trò là người chủ hàng nước ngoài và là nguồn cung ứng chính về nguyên phụ liệu. Xuất khẩu trọn gói theo FOB là doanh nghiệp sản xuất Việt Nam có thể tự thoả thuận nguồn cung ứng nguyên phụ liệu trong và ngoài nước có giá thành rẻ, hình thức này mang lại lợi nhuận thực tế cao hơn, giúp doanh nghiệp tiếp cận tốt hơn với thị trường và xu thế thế giới.
Việc Việt Nam trở thành thành viên của WTO sẽ tạo thuận lợi hơn nữa cho các nhà xuất khẩu trong việc tiếp cận thị trường rộng lớn là EU. Nhưng thực tế lại có vẻ không xứng đáng với tiềm năng vốn có của ngành dệt may. Xuất khẩu dệt may vào EU không cao, kể từ khi có thị trường Mỹ. Mỗi năm đạt trên dưới 0,5 tỷ USD so với thị trường mới là Mỹ (1,7- 3 tỷ USD). Trước khi có thị trường Hoa Kỳ, EU là thị trường lớn của Việt Nam. Đó là do các doanh nghiệp đã qúa tập trung vào thị trường Mỹ mà “bỏ bê” thị trường EU.
Bãi bỏ quota vào thị trường EU là một điều đáng mừng nhưng thực tế lại không như mong đợi của các doanh nghiệp và các nhà hoạch định chính sách. Bãi bỏ quota có ý nghĩa là giảm bớt khó khăn cho doanh nghiệp xuất khẩu để có được một điều kiện cạnh tranh bình đẳng. Tuy nhiên với khách hàng khó tính như EU các nhà doanh nghiệp Việt Nam vẫn cứ phải e dè. Bởi chất lượng và yêu cầu của thị trường EU phức tạp và cầu kỳ hơn thị trường Mỹ. Khóa luận: Thực trạng về xuất khẩu dệt may Việt Nam
Ngành dệt may Việt Nam vẫn đang có nhiều khó khăn, thách thức để phát triển bền vững ở thị trưòng EU. Khó khăn đầu tiên lại xuất phát ngay trong ngành dệt may, đặc biệt khi các ngành công nghiệp phụ trợ chưa phát triển tương ứng. Do thiếu công nghiệp phụ trợ nên hàng dệt may Việt Nam phụ thuộc gần như vào thị trường thế giới cả xuất khẩu lẫn nhập khẩu. Cho đến thời điểm này ngoài lợi thế lao động ra còn lại đều phải nhập khẩu với tỷ lệ lớn như: 100% máy móc thiết bị, phụ tùng, 100% xơ sợi hoá học, 90% bông xơ thiên nhiên chủ yếu nhập từ Mỹ, 70% vải các loại, 67% sợi dệt cũng là nhập khẩu. Các loại phụ liệu như chỉ may, mex dựng, khoá kéo cũng phải nhập khẩu từ 30- 70% tổng nhu cầu. tính đến năm 2006, năng lực sản xuất toàn ngành về nguyên liệu của Việt Nam là: xơ bông 10.000 tấn/ năm (5% nhu cầu), xơ sợi tổng hợp 50.000 tấn (305 nhu cầu), sợi xơ ngắn 260.000 tấn (60% nhu cầu). Đối với sản xuất dệt nhuộm, vải dệt kim 150.000 tấn (60% nhu cầu), dệt thoi 680 triệu m2 (30% nhu cầu)12. Từ số liệu trên có thể thấy, ngành dệt may Việt Nam đang đi trên “đôi chân của người khác”. Đây là một trong những nguyên nhân chính làm hạn chế khả năng cạnh tranh quốc tế của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam so với các cường quốc xuất khẩu dệt may như Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan.
Toàn ngành dệt may hiện có khoảng 2000 doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp nhà nước chiếm 0,5%; FDI chiếm 25% và phần lớn là doanh nghiệp tư nhân và công ty cổ phần. Xét trên quy mô phần lớn các doanh nghiệp dệt may Việt Nam thuộc loại vừa và nhỏ. Với quy mô đó, nếu không liên kết với một số doanh nghiệp lớn thì những doanh nghiệp này khó tồn tại chứ chưa nói đến việc cạnh tranh quốc tế. Thực tế cho thấy cứ xoá bỏ hạn ngạch tới đâu thì hàng dệt may Việt Nam mất hoặc giảm thị phần cho tới đó và các doanh nghiệp thiếu những nhà quản trị giỏi, thiếu kỹ năng tiếp cận thị trường và năng suất lao động lại thấp nên không thể cạnh tranh ngang bằng với Bangladesh, Srilanca, Thái Lan, Indonesia và cường quốc dệt may Trung Quốc trên thị trường EU. Và kim ngạch xuất khẩu sang thị trường EU bị giảm sút nghiêm trọng nhất trong 3 thị trường xuất khẩu chính của dệt may Việt Nam.
Thời gian vừa qua, các nhà chuyên môn đã đưa ra hai giả thuyết cho việc xuất khẩu hàng dệt may khi thị trường EU bãi bỏ hạn ngạch dệt may đối với Việt Nam. Hoặc có thể kim ngạch xuất khẩu vào EU sẽ tăng do doanh nghiệp mạnh dạn đặt đơn đặt hàng lớn, điều mà họ không dám khi còn chế độ quota và vì thế gia tăng xuất khẩu. Hoặc là không, bởi lẽ sự cạnh tranh giữa các nước xuất khẩu sẽ làm cho con đường xuất khẩu của Việt Nam không dễ gì được mở rộng. Nhất là trong điều kiện hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam phần lớn tập trung vào thị trường Mỹ, nơi chiếm đến 80% năng lực sản xuất của doanh nghiệp dệt may Việt Nam. Tuy nhiên các nhà chuyên môn cũng nghiêng về nhận định cho rằng xuất khẩu dệt may sang thị trường EU sẽ tăng nhưng chỉ tăng nhiều và đáng kể nếu doanh nghiệp san sẻ thêm năng lực từ Mỹ cho thị trường EU, nơi đòi hỏi cao hơn rất nhiều về chất lượng và độ phức tạp của sản phẩm.
Một khó khăn nữa chính là việc chỉ đi gia công cho người khác nên lâu nay ngành dệt may chưa có sự khép kín quy trình sản xuất công nghiệp bao gồm từ sản xuất thượng nguồn (nguyên liệu đầu vào) đến mẫu mã thiết kế, sản xuất thành quy mô công nghiệp, kênh phân phối và xây dựng thương hiệu. Thương hiệu Việt vẫn chưa thực sự có giá trị cạnh tranh lớn so với những nhãn hiệu nổi tiếng khác. Hầu hết các sản phẩm xuất khẩu đều chỉ bán cho các nhà buôn lớn nhưng chính các nhà buôn này lại không chia sẻ bất cứ một rủi ro nào từ các tranh chấp pháp lý như kiện phá giá, áp đặt hạn ngạch. Đã vậy hình thức xuất khẩu chủ yếu là gia công như hiện nay không thể mang lại giá trị lợi nhuận cao (phần dành chi trả nhập khẩu nguyên phụ liệu đã chiếm tới 70% lợi nhuận).
3.3 Thị trường Nhật Bản. Khóa luận: Thực trạng về xuất khẩu dệt may Việt Nam
Nhật Bản vốn là cường quốc về dệt may. Ngay từ buổi đầu thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, Nhật Bản đã chọn ngành dệt may như là một ngành công nghiệp mũi nhọn. Nhà nước Nhật Bản đầu tư rất nhiều vào ngành này và đã đạt được mức tăng trưỏng đáng kể, sản phẩm đã đáp ứng được nhu cầu của thị trường trong nước. Tuy nhiên những năm gần đây, do giá nguyên liệu trên thị trường thế giới cao, đồng Yên tăng giá kết hợp với chi phí lao động khá cao nên việc sản xuất các sản phẩm dệt may kém hiệu quả và lợi nhuận thấp. Tình trạng này đã dẫn đến việc các nhà sản xuất chuyển dịch cơ cấu sản phẩm ra nước ngoài và tăng cường nhập khẩu hàng dệt may.
Kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này của Nhật Bản khá cao, không ngừng tăng lên trong thời gian gần đây. Năm 2007 tổng nhập khẩu hàng dệt may của Nhật Bản là 24 tỷ USD, tăng 26% so với năm 200113
Hiện nay, Việt Nam xuất khẩu hàng dệt may vào thị truờng Nhật Bản với kim ngạch khoảng 400- 500 triệu USD/năm nhưng thị phần của ta tại Nhật còn rất nhỏ bé. Nhật Bản mỗi năm nhập khẩu 24 tỷ USD thì kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam chỉ chiếm khoảng 3- 5%, Trung Quốc chiếm gần 90% thị phần. Để xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường này các doanh nghiệp Việt Nam cần chú trọng hơn nữa đến sản xuất dệt kim bởi khoảng 70% lượng nhập khẩu dệt may của Nhật Bản là hàng dệt kim. Mục tiêu sẽ là thị trường đại chúng, chưa phải là thị trường quần áo cao cấp bởi năng lực sáng chế mẫu mã của ta chưa hề có biến chuyển mạnh mẽ trong thời gian tới. Khóa luận: Thực trạng về xuất khẩu dệt may Việt Nam
Mặt hàng dệt may xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản đã từ lâu kim ngạch rất cao. Nhật Bản vốn là thị trường truyền thống của các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam, đồng thời thị trường này lại là thị trường phi hạn ngạch nên thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập thị trường dễ dàng hơn đối với việc thâm nhập thị trường có hạn ngạch như EU, Mỹ….Hơn nữa đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam và hàng dệt may của Trung Quốc đều được Nhật Bản cho hưởng quy chế MFN.
Kim ngạch xuất khẩu sang Nhật Bản năm 1996 thể hiện rõ đây là thị trường lâu đời và có triển vọng phát triển đối với ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam. Thời điểm các doanh nghiệp khi mới tiếp cận thị trường thì kim ngạch xuất khẩu sang Nhật vào năm này đã đạt được 248 triệu USD cao nhất trong các thị trường xuất khẩu chính như thị trường EU, thị trường Mỹ….Năm 2001 kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này đạt giá trị cao nhất 620 triệu USD tăng 48% so với năm 2000. Tuy nhiên năm 2002 thì kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam lại giảm đi so với kim ngạch xuất khẩu năm 2001, gần 11% chỉ đạt 558 triệu USD. Trong 4 thị trường chính chiếm 85% kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng dệt may Việt Nam có hai thị trường EU và Mỹ có mức tăng trưởng cao, còn hai thị trường Nhật và Đài Loan có mức tăng trưởng âm. Chỉ trong 4 tháng đầu năm 2003 kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may sang Nhật giảm khoảng 11 triệu USD so với cùng kỳ năm 2002. Tình trạng này không tốt cho các nhà sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vì xu hướng xuất khẩu sang thị trường này đang giảm từ năm 2002. Năm 2004,kim ngạch sang thị trường này tăng lên 530 triệu USD, mức tăng không đáng kể. Năm 2007 kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này chỉ là 706,8 triệu USD, quá ít so với 2 thị trường chính là EU và Mỹ (EU là 1,432 tỷ USD, Mỹ là 4,292 tỷ USD).
Kim ngạch dệt may của Việt Nam ở Nhật Bản đang tăng lên nhưng không có nghĩa là thị phần của chúng ta được rộng mở hơn. Bởi lẽ, Trung Quốc vẫn chiếm đa số tại thị trường này. Các nhà phân tích cho biết, thị phần hàng dệt may Trung Quốc tại Nhật Bản tiếp tục tăng lên từ 78,1% năm 2001 lên 79,2% vào năm 2002 và đến năm 2003 đã là 90%. Có 3 lý do cho sự tăng trưởng này. Thứ nhất Trung Quốc đã chính thức gia nhập tổ chức Thương mại thế giới WTO cuối năm 2001 và năm 2002 là năm đầu tiên nước này hưởng lợi từ những quy chế thành viên của WTO như: thuế nhập khẩu hàng dệt may của Nhật Bản đã giảm khoảng 20%. Thứ hai, quy chế thành viên của WTO đã giúp cho Trung Quốc hưởng những ưu đãi của Hiệp định dệt may của WTO, theo đó không hạn chế số lượng xuất khẩu hàng dệt may sang các nước thành viên WTO, trong đó có Nhật Bản. Ngoài ra quy chế thành viên của WTO còn cho phép Trung Quốc thu hút số lượng lớn các nhà đầu tư dệt may của Nhật Bản, và điều này cũng giúp tăng lượng hàng xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản. Thứ ba, hàng dệt may của Trung Quốc có chất lượng khá tốt, đa dạng về mẫu mã và hình thức, giá thấp nên có sự cạnh tranh tốt hơn nhiều so với hàng dệt may Việt Nam. Theo ước tính chi phí hàng dệt may của Việt Nam cao hơn từ 20-30% so với hàng Trung Quốc. Tuy nhiên yếu kém của dệt may Việt Nam còn thể hiện ở một số mặt khác như chất lượng ở mức trung bình và chưa có một thương hiệu nào tại Nhật Bản. Bên cạnh đó phần lớn vật liệu dệt may của Việt Nam đều phải nhập khẩu và do vậy sản xuất rất thụ động. Chỉ trong năm 2003 Việt Nam đã nhập khẩu 96,7 triệu USD bông (97,133 tấn); 314,2 triệu USD sợi (262,844 tấn) ;996 triệu USD vải.
Sang năm 2008, hiệp định đối tác kinh tế song phương giữa Việt Nam và Nhật Bản được kí kết, trong hiệp định này, hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này sẽ được hưởng mức thuế suất 0% nếu như đáp ứng điều kiện “ hai công đoạn”, tức là hàng dệt may của Việt Nam phải có xuất xứ nguyên liệu từ Nhật Bản, Việt Nam hoặc ASEAN. Điều này đã tạo tiền đề không nhỏ thúc đẩy xuất khẩu dệt may Việt nam sang Nhật Bản trong năm 2009. Mặc dù năm 2008 kim ngạch xuất khẩu vẫn chỉ dùng ở con số 820 triệu USD nhưng sang năm 2009, dự kiến con số này sẽ lên tới trên 1 tỷ USD. Hơn thế nữa, đã có sự thay đổi trong cơ cấu thị trường xuất khẩu tại Nhật Bản. Hiện nay Trung Quốc chỉ còn chiếm 73,6%, EU chiếm 8,1%; Đài Loan 1,3%; ASEAN 7,5%, Việt Nam chiếm 34,4% trong tổng khối ASEAN, là nước xuất khẩu lớn nhất trong khối. Nếu chúng ta kiên nhẫn hơn với thị trường khó tính này thì xuất khẩu dệt may của Việt Nam sẽ tăng tốc rất nhanh sau khi chiếm được lòng tin của thị trường này.
III. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU DỆT MAY CỦA VIỆT NAM TRONG 5 NĂM TRỞ LẠI ĐÂY. Khóa luận: Thực trạng về xuất khẩu dệt may Việt Nam
1. Những mặt đã làm được của ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam.
Ngành công nghiệp dệt may có một vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân vì nó không chỉ phục vụ nhu cầu thiết yếu của con người mà còn giải quyết nhiều công ăn việc làm cho lao động xã hội, có thế mạnh trong xuất khẩu, tạo điều kiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển và đóng góp ngày càng nhiều cho ngân sách nhà nước.
So với các nước ASEAN, ngành dệt may của ta có lợi thế về nguồn nhân công rẻ, khéo léo và có khả năng tiếp thu nhanh về công nghệ tiên tiến. Hiện giá công lao động trong ngành dệt may là thấp nhất trong khu vực, là một yếu tố có lợi cho ngành dệt may Việt Nam.
Bảng 11: Hệ số lợi thế so sánh giữa các nước ASEAN
Hơn nữa, Việt Nam còn có khả năng làm gia công với giá cả hấp dẫn và đạt được mức giá tương đối tốt. Chính nhờ sản xuất theo phương pháp OPT (buôn bán hàng hoá gia công bên ngoài- hạn ngạch nhập khẩu bổ sung cho các công ty sử dụng nguyên vật liệu thô nhập khẩu) nên có tính cạnh tranh cao hơn so với các nước khác không thể sản xuất theo phương thưc này như: Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia. Mức giá cả mà chúng ta đưa ra có thể cạnh tranh với các đối thủ châu Á (Ấn Độ, trung Quốc, Bangladesh, Indonesia).
Trong lĩnh vực sản xuất hàng may mặc thì các doanh nghiệp Việt Nam đã có kinh nghiêm và có kiến thức về xuất khẩu. Tay nghề của công nhân và một số quy trình sản xuất chuyên môn hoá có chất lượng cao. Một số bộ phận của nhà máy và phân xưởng sản xuất đã được trang thiết bị tốt hơn. Với thời gian xuất khẩu mặt hàng dệt may tuy chưa lâu xong đối với khách hàng tại thị trường châu Á thì chúng ta đã có kinh nghiệm trong việc hợp tác khách hàng, sản xuất theo yêu cầu của họ. Thông qua dội ngũ Việt kiều, các doanh nghiệp dệt may đã có mối quan hệ với thị trường xuất khẩu mới. Một số sản phẩm đã trực tiếp xuất khẩu theo hình thức FOB. Ngoài ra ở nươc ta hiện nay, phương tiện vận tải đường bộ và đường biển tương đối thuận lợi cho nhu cầu xuất khẩu.
Việt Nam được đánh giá là một nước có chính trị ổn định trong khu vực, đó là điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam vì tình hình thế giới đang có nhiều biến động. Hiện nay ở Việt Nam đang thực hiện nhiều biện pháp khuyến khích xuất khẩu đặc biệt là xuất khẩu mặt hàng dệt may và mặt hàng này đang là lợi thế của nước ta. Nhà nước cũng khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài bằng nhiều biện pháp như ban hành luật đầu tư nước ngoài với mức thuế ưu đãi, tạo sân chơi chung cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế bình đẳng cạnh tranh…chính nhờ những chính sách của Đảng và Nhà nước ưu đãi cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu nên các doanh nghiệp dệt may đang có nhiều lợi thế hơn để hoàn thành mục tiêu đã đề ra trong thời gian tới.
2. Điểm yếu cần khắc phục của ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng về xuất khẩu dệt may Việt Nam
Các doanh nghiệp dệt may trong cả nước hiện nay chủ yếu xuất khẩu theo hình thức gia công cho nước ngoài. Nguyên phụ liệu phục vụ cho ngành dệt may chủ yếu là nhập khẩu từ nước ngoài nên giá gia tăng toàn ngành còn thấp (chỉ khoảng 15-20%).
Hơn nữa với tình trạng hiện nay của ngành dệt thì chúng ta có thể nói rằng ngành dệt hầu như không tồn tại trong nước, các doanh nghiệp dệt và doanh nghiệp may không có hoặc rất ít có quan hệ giao dịch, ngành dệt và ngành may còn rất cách xa nhau. Trong nước chỉ có một lượng rất hạn chế các nhà cung cấp sợi và vải, các mặt hàng này chủ yếu phải nhập từ nước ngoài. Những hạn chế lớn nhất của nước ta ở chỗ tuy hàng may mặc của ta có kim ngạch lớn nhưng kim ngạch xuất khẩu sang các nước ASEAN chỉ chiếm khoảng 5%, trong khi lại nhập khẩu một số lượng lớn vỉ sợi từ các nước này. Sản xuất nguyên phụ liệu cung cấp cho ngành may xuất khẩu mới đáp ứng 10- 15% nhu cầu.
Công tác thiết kế mẫu còn yếu, chưa được chú trọng. Mặc dù nước ta có một đội ngũ các nhà thiết kế mẫu trẻ, giàu năng lực, thế nhưng mẫu thiết kế chưa thực sự đi vào cuộc sống, chủ yếu còn nặng về phần trình diễn, còn thời trang hàng ngày phần lớn là được sưu tập từ các catalogue nước ngoài. Khâu thiết kế còn nhiều hạn chế, chưa xây dựng được thương hiệu mang nét đặc trưng và đạt tầm cỡ quốc tế và đó cũng chính là một trong những nguyên nhân khiến hàng dệt may Việt Nam dù có ưu thế những vẫn chưa thể tự chủ để phát triển và hội nhập.
Hầu hết các doanh nghiệp dệt may chưa có kinh nghiệm và còn thụ động trong hoạt động tiếp thị, chưa có chiến lược tiếp thị đối với hàng dệt may Việt Nam. Công tác xúc tiến thương mại chưa kết hợp sử dụng triệt để 4 công cụ : quảng cáo, xúc tiến bán hàng, bán hàng trực tiếp và tuyên truyền. Các doanh nghiệp dệt may trong nước đang trong tình trạng thiếu trầm trọng các kỹ sư công nghệ, quản đốc, cán bộ quản lý chất lượng sản phẩm, công nhân…có tay nghề vì thế dẫn đến hầu hết năng suất lao động của các doanh nghiệp trong ngành dệt may là rất thấp. Đội ngũ lao động của các doanh nghiệp này chỉ được đào tạo rất hạn chế, đặc biệt là đội ngũ quản lý. Hệ thống thiết bị đào tạo hiện tại vẫn chỉ mang tính lý thuyết.
Ngoài ra, chất lượng dịch vụ trong ngành dệt may như hệ thống thông tin, giao dịch, khả năng giao hàng đúng tiến độ của các doanh nghiệp nước ta cũng có khoảng cách so với các nước khác. Dù ngày càng có nhiều nhà máy được mở ra nhưng số lượng đơn hàng lại ít dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp thường không có hạn ngạch để sản xuất hàng xuất khẩu hoặc không nhận được đơn hàng, ngay cả việc có đơn hàng lớn nhưng không dám kí kết vì sợ không được giao hạn ngạch và năng lực sản xuất không đáp ứng kịp thời để giao hàng đúng tiến độ.
Ngành dệt may Việt Nam đang quá trình phát triển, và đang dần khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế của đất nước. Sự phát triển luôn bao gồm cái được và cái mất, cái tốt và cái chưa tốt. Chúng ta nhìn nhận ra những khuyết điểm để sửa chữa, hỗ trợ những mặt đã làm tốt được tốt hơn. Hi vọng rằng với những chủ trương cởi mở của Đảng và Nhà nước cùng với sự nỗ lực của toàn ngành dệt may Việt Nam, ngành sẽ ngày càng phát triển, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước và từng bước hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Khóa luận: Thực trạng về xuất khẩu dệt may Việt Nam
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp thúc đẩy xuất khẩu dệt may tại Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Tổng quan về xuất khẩu dệt may tại Việt Nam