Khóa luận: Tổng quan về sản phẩm của Ngân hàng BIDV

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Tổng quan về sản phẩm của Ngân hàng BIDV hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng và giải pháp phát triển sản phẩm tại ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam trong xu thế hội nhập dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

I. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ & PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

1. Quá trình hình thành và phát triển Khóa luận: Tổng quan về sản phẩm của Ngân hàng BIDV

Ngày 26/04/1957, theo Quyết định số 177/TTg của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam – tiền thân của NH ĐT & PT VN – được thành lập, trực thuộc Bộ Tài chính với quy mô ban đầu nhỏ bé gồm 8 chi nhánh, 200 cán bộ. Nhiệm vụ chủ yếu của Ngân hàng Kiến thiết trong thời kỳ 1957 – 1980 là thực hiện cấp phát, quản lý vốn kiến thiết cơ bản từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước cho tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội.

Ngày 24/06/1981, theo Quyết định số 259/CP, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam trực thuộc Bộ Tài chính được đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam trực thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Theo Quyết định này, Ngân hàng có thêm các nhiệm vụ mới như: cho vay vốn đầu tư xây dựng cơ bản các công trình không do ngân sách Nhà nước cấp hoặc vốn tự có không đủ. Bên cạnh đó cấp vốn thanh toán các công trình thuộc ngân sách Nhà nước đầu tư. Đặc biệt, bước đầu Ngân hàng được phép cho vay vốn lưu động với các tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực XDCB.

Ngày 14/11/1990, Ngân hàng Đầu tư và Xây dựng Việt Nam được đổi tên thành Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, tên giao dịch quốc tế là Vietinde Bank (viết tắt BIDV). Thời kỳ 1990 – 1994 là thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, chuyển đổi từ cơ chế tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Cùng với công cuộc đổi mới đó, Ngân hàng cũng thực hiện đổi mới toàn diện hoạt động tiền tệ, tín dụng để tiến tới kinh doanh theo mô hình đa năng tổng hợp. Nhiệm vụ chủ yếu của BIDV trong thời kỳ này là:

  • Huy động vốn trung và dài hạn để cho vay dự án đầu tư phát triển.
  • Tiếp tục nhận vốn ngân sách để cho vay các dự án thuộc chi tiêu kế hoạch Nhà nước.
  • Kinh doanh tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng chủ yếu trong lĩnh vực xây lắp phục vụ đầu tư phát triển.

Từ năm 1995, hoạt động cấp phát vốn đầu tư xây dựng được chuyển giao hoàn toàn cho Tổng cục Đầu tư và Phát triển thuộc Bộ Tài chính, còn Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho phép thực hiện các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại bên cạnh nghiệp vụ cho vay đầu tư XDCB theo kế hoạch Nhà nước.

Ngày 28/03/1996, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 186/TTg cho phép Ngân hàng hoạt động theo mô hình Tổng công ty Nhà nước, và công nhận Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) là một doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt. Quyết định này đã đặt Ngân hàng vào quỹ đạo của một ngân hàng thương mại thực sự, có điều kiện đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ cũng như phương thức huy động các loại vốn để tăng khả năng cạnh tranh, củng cố và khuếch trương vị thế của mình trên thị trường. Khóa luận: Tổng quan về sản phẩm của Ngân hàng BIDV

Tính đến năm 2005, BIDV đã có 48 năm hoạt động và trưởng thành. Với mô hình tổ chức của một ngân hàng kinh doanh đa năng, đến nay BIDV đã có hệ thống tổ chức rộng lớn với hơn 200 chi nhánh tỉnh thành phố, khu vực; 3 sở giao dịch, và văn phòng đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh; liên doanh với các đơn vị khác là: Ngân hàng liên doanh VID-Public, Ngân hàng liên doanh Lào – Việt, và Công ty liên doanh Bảo hiểm Việt – Úc; có 5 công ty trực thuộc. Đến hết năm 2005, BIDV đã có trên 9.300 cán bộ, trong đó cán bộ trẻ chiếm khoảng 70%, trên 77% có trình độ đại học và trên đại học.

Các sản phẩm mà BIDV cung cấp đã được đa dạng hóa và nâng cao chất lượng. BIDV đã tăng thêm nhiều tiện ích, sản phẩm dịch vụ ngân hàng.

Các dịch vụ thanh toán quốc tế, thanh toán trong nước, chuyển tiền, chi trả kiều hối, thanh toán thẻ séc, chuyển đổi mua bán ngoại tệ…đã tăng trưởng cả về quy mô và chất lượng dịch vụ. Nhiều dịch vụ phi ngân hàng như bảo hiểm phi nhân thọ, cho thuê tài chính, chứng khoán…được phát triển.

BIDV đã xây dựng được nền tảng công nghệ thông tin ngân hàng ban đầu, đáp ứng hoạt động của ngân hàng. Ngân hàng đã kết nối mạng thanh toán với gần 200 đơn vị, tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng swift-telex, kết nối mạng thanh toán song biên với một số ngân hàng bạn, triển khai dịch vụ Home Banking, Phone Banking,… Đặc biệt, BIDV đã triển khai thành công dự án hiện đại hóa ngân hàng do ngân hàng thế giới (WB) tài trợ. Đến hết năm 2005, BIDV đã triển khai thành công dự án tại 144 chi nhánh, mở rộng mạng lưới ATM, POS lên hơn 500 máy tại tất cả các địa bàn trọng điểm trên cả nước.

BIDV cũng đã từng bước hội nhập với các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới, tăng cường hợp tác quốc tế. Hiện nay, BIDV có quan hệ đại lý, quan hệ thanh toán với trên 800 ngân hàng lớn trên thế giới và các tổ chức tài chính – tiền tệ quốc tế.

Đến nay, BIDV đã trở thành một trong những NHTM lớn nhất Việt Nam. Các danh hiệu và phần thưởng cao quý: Huân chương độc lập hạng I, Huân chương lao động hạng I, và đặc biệt Danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới – là sự ghi nhận của Đảng, Nhà nước về những thành tích trong suốt 48 năm qua của BIDV.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

2. Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam trong những năm gần đây Khóa luận: Tổng quan về sản phẩm của Ngân hàng BIDV

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS), lợi nhuận thuần trong năm 2003 là 361,079 tỷ đồng, năm 2004 là 610,173 tỷ đồng (tăng 68,99% so với năm 2003), năm 2005 đạt 559,993 tỷ đồng (giảm 8,22% so với năm 2004), quý I năm 2006 đạt 580,864 tỷ đồng (tăng 3,73% so với năm 2005).

Theo chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS), lợi nhuận thuần đạt được trong năm 2003 là 26,395 tỷ đồng, năm 2004 là 83,649 tỷ đồng (tăng 216,91% so với năm 2003), đến năm 2005 đạt 114,992 tỷ đồng (tăng 37,46% so với năm 2004).

Sở dĩ có sự chênh lệch lớn về lợi nhuận thuần giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) và chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) là do mức trích lập dự phòng rủi ro.

Khả năng sinh lời của ngân hàng chủ yếu thể hiện qua các chỉ tiêu ROE, ROA:

Bảng 1: Một số chỉ tiêu về hiệu quả kinh doanh theo VAS và IFRS

Theo VAS, tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản (ROA) của ngân hàng 6 tháng đầu năm 2006 là 0,43%, hầu như không thay đổi so với năm 2005, giảm so với năm 2004 do tốc độ tăng trưởng lợi nhuận sau thuế nhỏ hơn tốc độ của tài sản cả về mặt tuyệt đối lẫn tương đối.

Đối với tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) có sự cải thiện qua các năm. Chỉ số này đạt 10,44% năm 2004; 8,81% năm 2005, và 6 tháng đầu năm 2006 là 7,96%. Chỉ số ROE của ngân hàng nhìn chung duy trì mức hơn 8%/năm, đây là tỷ lệ tương đối thấp so với thông lệ quốc tế . Về tình hình thu nhập, chi phí thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2: Cơ cấu thu nhập theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS)

Qua bảng trên có thể thấy nguồn thu nhập chủ yếu của NH ĐT&PT VN vẫn là thu lãi từ hoạt động tín dụng, tiền gửi, đầu tư giấy tờ có giá: chiếm trên 71% trên tổng thu nhập thuần năm 2005, chiếm 63,15% sáu tháng đầu năm 2006; đóng góp từ hoạt động dịch vụ vào tổng thu nhập thấp: chỉ chiếm 6,49% trên tổng thu nhập năm 2004; 6,01% năm 2005 và sáu tháng đầu năm 2006 là 8,43%.

Tuy nhiên cũng có thể thấy bước sang năm 2006, NH ĐT&PT VN đã có sự phát triển nhanh. Cụ thể, mặc dù đóng góp từ hoạt động dịch vụ vào tổng thu nhập thấp nhưng chỉ trong sáu tháng đầu năm 2006 thu thuần từ dịch vụ đã chiếm 8,43% trên tổng thu nhập thuần trong khi cả năm 2005 tỷ lệ đó mới chỉ là 6,01%. Năm 2005, lãi thuần từ hoạt động kinh doanh ngoại hối chiếm 1,08%; lãi thuần từ hoạt động kinh doanh chứng khoán chiếm 0,01%; lãi thuần từ đầu tư chứng khoán chiếm 14,62%; lãi thuần từ hoạt động kinh doanh khác chiếm 6,18%; trong khi đó chỉ sáu tháng đầu năm 2006 thì các tỷ lệ này tương ứng đã là 1,86%; 2,82%; 21,01%; 1,29%.

Ngân hàng cần đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu điều kiện từ sản phẩm truyền thống sang cung cấp các dịch vụ ngân hàng hiện đại và tiện ích cho khách hàng, đẩy tỷ trọng thu nhập từ hoạt động phi tín dụng. Khóa luận: Tổng quan về sản phẩm của Ngân hàng BIDV

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY    

===>>> Khóa luận: Thực trạng sản phẩm dịch vụ tại Ngân hàng BIDV

One thought on “Khóa luận: Tổng quan về sản phẩm của Ngân hàng BIDV

  1. Pingback: Khóa luận: Phát triển sản phẩm tại ngân hàng BIDV

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464