Khóa luận: Thực trạng về sáp nhập trong ngành ngân hàng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng về sáp nhập trong ngành ngân hàng hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Hoạt động mua lại và sáp nhập trong ngành ngân hàng. Xu hướng trên thế giới và bài học cho Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

II. Hoạt động M&A trong ngành ngân hàng tại Việt Nam

1. Về số lượng

Nguy cơ đổ vỡ của nhóm NHTMCP bắt đầu trở nên căng thẳng từ giữa năm 1998, điển hình là 18 ngân hàng tại thành phố Hồ Chí Minh về tình trạng mất khả năng thanh toán và mức độ thua lỗ so với vốn tự có. Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã can thiệp theo các cơ chế: Khóa luận: Thực trạng về sáp nhập trong ngành ngân hàng

  • Kiểm soát đặc biệt (theo đó một nhóm cán bộ của NHNN đảm nhận tất cả các công việc then chốt của ngân hàng) để xử lý các sai phạm và yếu kém, giúp các ngân hàng phục hồi trở lại hoạt động bình thường.
  • Kiểm soát đặc biệt và hạn chế dần các hoạt động để tiến tới đóng cửa đối với các tổ chức mà NHNN xác định là quá yếu kém.
  • Chỉ định các ngân hàng nhỏ, yếu tự giải thể hoặc sáp nhập, hợp nhất, bán cho tổ chức khác.

Để duy trì ổn định tài chính, NHNN đã sử dụng khoảng 1.500 tỷ đồng từ nguồn tiền cung ứng để đóng cửa một số ngân hàng và tái cấp vốn cho những ngân hàng thực hiện cơ cấu lại.

Đến thời điểm cuối năm 2006 đã có 20 ngân hàng chính thức bị đóng của hoặc đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt để tiến tới rút giấy phép. Trong đó, 2 ngân hàng tự nguyện giải thể, 8 ngân hàng giải thể bắt buộc dưới sự giám sát của ngân hàng Nhà Nước; 6 ngân hàng thực hiện sáp nhập theo chỉ định vào các ngân hàng khác và 4 ngân hàng đang trong tình trạng kiểm soat đặc biệt, thanh lý tài sản để tiến tới rút giấy phép là Việt Hoa, Nam Đô, Vũng Tàu, Châu á-Thái Bình Dương, hiện NHNN chưa chính thức công bố phương án xử lý cuối cùng.

Những tháng đầu năm 2008, nền kinh tế Việt Nam nói chung và thị trường tài chính nói riêng có những biến động bất lợi. Lạm phát tăng cao, tình trạng nhập siêu, tỷ giá biến động mạnh ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và tăng trưởng kinh tế. Thị trường tài chính chứng kiến sự sụt giảm của thị trường chứng khoán, VND khan hiếm và các ngân hàng phải tìm kiếm nguồn bằng cách tăng mạnh lãi suất huy động đến mức chóng mặt hay vay tạm trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất có thời điểm lên đến trên dưới 40%/năm. Chỉ còn một vài ngân hàng vẫn đảm bảo thanh khoản nhờ nguồn vốn dồi dào và một cơ cấu đầu tư tín dụng hợp lý, nhưng số này không nhiều và chịu áp lực bởi sự dịch chuyển nguồn vốn sang các ngân hàng khác. Đến lúc này, có lẽ nhận thấy những áp lực thật sự trong bối cảnh hội nhập và chúng ta tự hỏi liệu các NHTM Việt Nam với sự manh mún, thiếu hợp tác có đủ sức cạnh tranh và tồn tại khi thời điểm mở cửa hoàn toàn lĩnh vực dịch vụ ngân hàng thế giới đã đến. Khóa luận: Thực trạng về sáp nhập trong ngành ngân hàng

Trong những năm gần đây, các ngân hàng mới tham gia thị trường ngày càng nhiều. Phong trào thành lập ngân hàng đã bùng phát mạnh khi thị trường chứng khoán có sự phát triển khá nóng, trong đó khối ngân hàng nhận được sự quan tâm đánh giá cao của các nhà đầu tư. Các tập đoàn kinh tế lớn như Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Điện lực, Bảo Việt… cũng tham gia góp vốn thành lập ngân hàng. Nhìn chung các ngân hàng Việt Nam còn rất non trẻ, tiềm lực tài chính còn yếu, các dịch vụ ngân hàng còn kém đa dạng, công nghệ ngân hàng và năng lực quản lý rủi ro còn nhiều hạn chế. Về công nghệ theo đánh giá của World Bank, chỉ số công nghệ của ngân hàng ở Việt Nam mới chỉ là -0,47 trong khi đó ở Trung Quốc là -0,35, Thái Lan là -0,07, Malaysia là 1,08, Singapore là 1,95… Về nguồn lực tài chính, đến 30/5/2007, trong số 34 NHTM thì có tới 22 ngân hàng có vốn điều lệ dưới 1.000 tỷ đồng. Vietcombank, ngân hàng có bề dày truyền thống với bề dày 45 năm trưởng thành và phát triển, được đánh giá là một trong những ngân hàng lớn, hoạt động hiệu quả nhất, nhưng vốn điều lệ tính đến tháng 4 năm 2009 cũng chỉ đạt 13.223 tỷ đồng tương đương với khoảng gần 700 triệu USD. So sánh về vốn tự có với một sô ngân hàng trong khu vực trong năm 2006 như Bangkok (Thái Lan) đạt 3.674,2 triệu USD, Maybank (Malaysia) là 4.214 triệu USD…, chúng ta nhận thấy rằng các ngân hàng Việt Nam tích lũy vốn còn rất thấp và sẽ ảnh hưởng đáng kể đến năng lực phát triển, ứng dụng các công nghệ ngân hàng hiện đại, làm cơ sở để đa dạng hóa sản phẩm và tăng trưởng bền vững.

Tuy nhiên các ngân hàng vẫn tồn tại và ngân hàng được đánh giá là một ngành đem lại lợi nhuận khá cao so với lĩnh vực kinh doanh khác. Với lợi nhuận đạt đươc rất khả quan từ kinh doanh ngân hàng trong một môi trường cạnh tranh còn nhiều hạn chế, đồng thời tính thiếu hợp tác, không ai chịu ai của các ngân hàng Việt Nam trong chiến lược phát triển, quá trình sáp nhập các ngân hàng Việt Nam hầu như không diễn ra. Có chăng chỉ một vài cuộc sáp nhập đơn lẻ như Ngân hàng TMCP nông thôn Tây Đô được sáp nhập vào Ngân hàng TMCP Phương Đông, Ngân hàng TMCP Đông á mua lại Ngân hàng TMCP Tứ giác Long Xuyên, Ngân hàng TMCP Thành Thắng được sáp nhập vào Sacombank… Nhưng quy mô còn nhỏ và phần lớn đều mang tính bắt buộc chứ chưa xuất phát từ lợi ích kinh tế và mang tính chiến lược như thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, những dấu hiệu của một sự thay đổi lớn trên thị trường, đặc biệt là sự gia tăng áp lực cạnh tranh đã đặt các ngân hàng Việt Nam trước những thách thức rất lớn và hệ quả tất yếu của quá trình này sẽ có một số ngân hàng bị đánh bật ra khổi thị trường, bị phá sản nếu không có tiềm lực tài chính và công nghệ. Những tín hiệu sau đã dự báo có khả năng diễn ra một sự thay đổi trong tương lai gần và ảnh hưởng đến môi trường hoạt động của các ngân hàng Việt Nam:

Thời gian mở cửa hoàn toàn thị trường dịch vụ tài chính – ngân hàng theo cam kết với WTO đã đến rất gần. Đến năm 2020 sẽ mở cửa hoàn toàn thị trường tài chính, nên sẽ xuất hiện tình trạng thâm nhập mạnh mẽ của các tập đoàn tài chính và công nghệ hiện đại. Do đó, mức độ cạnh tranh sẽ quyết liệt hơn, sự đào thải sẽ diễn ra thường xuyên hơn. Thị trường tài chính đã nóng dần lên với việc ngày càng nhiều ngân hàng nước ngoài nắm giữ cổ phần của các ngân hàng Việt Nam như OCBC mua cổ phiếu của VPBank, Standard Chartered mua cổ phiếu của ACB, ANZ sở hữu cổ phần của Sacombank… Nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện trong năm 2005 cũng đã cho thấy các ngân hàng nước ngoài sẽ nhận được sự quan tâm rất lớn của công chúng khi mở cửa thị trường tài chính.

Bảng 2.4. Tỷ lệ nắm giữ cổ phần NHTMCP nội địa của một số tổ chức nước ngoài (tính đến hết tháng 9/2008)

  • Tác động của thị trường tài chính thế giới cùng với thị trường tài chính Việt Nam sẽ trở nên mạnh mẽ hơn khi tự do hóa thị trường tài chính. Do đó, nền kinh tế Việt Nam không còn khép kín mà luôn luôn phải đối đầu với rủi ro từ những “cú sốc” bên ngoài mà sự yếu kém về năng lực tài chính sẽ khiến các ngân hàng dễ dàng bị cuốn đi trong các cuộc khủng hoảng tài chính.
  • Xu hướng của các ngân hàng hiện đại là nâng tỷ trọng dịch vụ, giảm dần tỷ trọng thu nhập từ hoạt động cấp tín dụng. Muốn vậy cần mở rộng, đa dạng hóa các dịch vụ cung ứng và tăng cường khả năng banms hàng bằng nhiều kênh phân phối hiện đại mà con đường ngắn nhất, đem lại hiệu quả cao nhất là đầu tư một cách hợp lý vào công nghệ và hạ tầng kỹ thuật của ngân hàng. Nghiên cứu và kinh nghiệm của một số ngân hàng nước ngoài, áp dụng công nghệ thông tin hiện đại có thể tiết kiệm tới 76% chi phí hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên, điều này cũng đòi hỏi một tiềm lực tài chính vững vàng mà không phải tự bản thân mỗi ngân hàng Việt Nam hiện nay đều đáp ứng được.
  • Cùng với sự hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế, quá trình phát triển, ứng dụng các công cụ tài chính hiện đại và công nghệ mới sẽ diễn ra nhanh hơn. Đồng hành với quá trình này là những rủi ro tiềm ẩn của những hoạt động kinh doanh mới mà các ngân hàng Việt Nam chưa có đủ kinh nghiệm và trình độ quản lý rủi ro nên không tránh khỏi những tổn thất. Ngay như sự phát triển các dịch vụ ngân hàng tự động thông qua các máy ATM, một sản phẩm đã quá thông dụng trên thế giới, khi ứng dụng tại Việt Nam cũng đã nhiều ngân hàng bị mất mát như khách hàng rút số tiền quá số dư, các vụ tranh chấp về giao dịch ATM…

Những tín hiệu đã cho thấy “sân chơi” kinh doanh dịch vụ tài chính ngân hàng không thể dành cho các ngân hàng nhỏ và thiếu tiềm lực. Hoạt động M&A ngân hàng tại Việt Nam tồn tại chủ yếu dưới hình thức góp vốn đầu tư hay bán cổ phần cho các đối tác trong và ngoài nước. Khóa luận: Thực trạng về sáp nhập trong ngành ngân hàng

Hội nhập tài chính quốc tế, bên cạnh những cơ hội, các ngân hàng của Việt Nam sẽ đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Họ không những phải cạnh tranh với nhau mà còn phải cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài được phép có mặt tại Việt Nam kể từ ngày 1/4/2007. Chắc chắn cuộc đua để tăng vốn, thu hút chất xám, đa dạng hóa sản phẩm, tăng đầu tư mạo hiểm ở trong nước và trên thị trường tài chính quốc tế sẽ dẫn đến các mức độ rủi ro khác nhau giữa các ngân hàng. Trong cuộc đua này, có những ngân hàng sẽ phát triển mạnh, khẳng định được đẳng cấp và thương hiệu, có những ngân hàng phải hợp nhất để tạo thành ngân hàng lớn nhằm tăng sức cạnh tranh, có những ngân hàng sẽ bị ngân

hàng khác thôn tính và sẽ có những ngân hàng bị phá sản. Tất cả những kịch bản trên đòi hỏi những nhà hoạch định chính sách trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng phải có sự chuẩn bị trước để không bị bất ngờ. Nếu như ở trên, Thế giới hàng năm có hàng nghìn thương vụ M&A ngân hàng và là hoạt động bình thường thì ở Việt Nam M&A ngân hàng chỉ mới manh nha dưới dạng một số ngân hàng nước ngoài mua một tỷ lệ cổ phần nhỏ gặp những khó khăn lớn về thanh khoản đã buộc phải sáp nhập vào NHTM Nhà nước (VCB, BIDV) với kinh phí từ ngân sách. Như vậy, những vụ M&A này là bắt buộc để khắc phục hậu quả của việc kinh doanh không tốt của các ngân hàng liên quan, tuyệt nhiên không phải là tự nguyện trên nền tảng chiến lược kinh doanh đúng đắn nhằm tạo ra những ngân hàng lớn, mở rộng thị phần và tăng cường năng lực cạnh tranh.

Nhìn chung, cách nhìn về M&A ở Việt Nam còn rất hạn chế do cạnh tranh trên thị trường chưa thật gay gắt do cơ hội kinh doanh để kiếm lời trong một nền kinh tế chuyển đổi hiện nay còn khá lớn. Nói cách khác, tốc độ phát triển thị trường và nhu cầu về ngân hàng còn rất lớn nên các ngân hàng chưa cảm nhận một cách mạnh mẽ về sức ép cạnh tranh để tồn tại và phát triển nhanh của mình. Vì vậy, trào lưu và xu hướng Mua bán-Sáp nhập chưa thật sự sôi động. Tuy nhiên, trong tương lai gần, vấn đề sẽ khác đi. Mức độ cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt hơn, các dịch vụ truyền thống như tín dụng ngày càng có lợi nhuận thấp hơn sẽ buộc các ngân hàng phải phát triển các dịch vụ tài chính khác mới đáp ứng các nhu cầu cho khách hàng và cho sự tích lũy lợi nhuận của ngân hàng. Nhiều ngân hàng Việt Nam hiện nay xét cả về quy mô, nguồn nhân lực, trình độ công nghệ và trình độ quản lý chưa đủ khả năng hoạt động trên các lĩnh vực dịch vụ tài chính mới. Từ đó sẽ xuất hiện nhu cầu liên minh hoặc sáp nhập các ngân hàng nhỏ và vừa với nhau, hoặc sáp nhập với các ngân hàng lớn nhằm tăng cường tiềm lực vốn, chiếm lĩnh thị phần, thu hút nhân tài, tối đa hóa lợi nhuận.

Thị trường M&A sẽ sôi nổi hơn trong thời gian tới, đặc biệt là khi Việt Nam mở cửa hoàn toàn thị trường tài chính vào năm 2010. Các ngân hàng lớn muốn mở rộng thị phần bằng cách nhanh nhất cần phải tính đến M&A. Đó là chiến lược kinh doanh ngắn nhất để đạt hiệu quả cao và cũng là phương thức đầu tư ít tốn kém nhất. Với việc phát triển thị trường nợ và thị trường chứng khoán thì M&A sẽ trở nên dễ dàng hơn. Nó sẽ được thực hiện thông qua các giao dịch mua bán nợ, mua bán chứng khoán theo chuẩn mực, kỹ thuật định giá (bank valuation) quốc tế và với sự tư vấn của các Hãng tư vấn chuyên nghiệp về M&A ngân hàng.

Hiện có 10 ngân hàng nước ngoài đã tiến hành mua một cổ phần đối với các ngân hàng trong nước. Thương vụ lớn nhất là HSBC nắm 20% cổ phần của Techcombank. Ngoài ra, Sumimoto Mitsui Financial Group (SMFG) mua 15% của Eximbank, OCBC mua 15% cổ phần của VP Bạnk, Maybank mua 15% cổ phần của ngân hàng An Bình, Deutsche Bank mua 10% của Habubank, Societe Generale mua 10% của SeABank, ANZ nắm 10% của Sacombank.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

2. Về chất lượng

Mặc dù đã có những bước phát triển mạnh mẽ trong một vài năm gần đây, hoạt động M&A ngân hàng tại Việt Nam tồn tại chủ yếu dưới hình thức góp vốn đầu tư hay bán cổ phần cho các đối tác trong và ngoài nước.

2.1. Ngân hàng nội hợp tác với ngân hàng nước ngoài Khóa luận: Thực trạng về sáp nhập trong ngành ngân hàng

Theo cam kết giữa Việt Nam và các nước thành viên khi gia nhập WTO, các ngân hàng 100% vốn nước ngoài sẽ được tiếp cận thị trường với hầu hết các dịch vụ ngân hàng như một ngân hàng trong nước (trừ dịch vụ tư vấn, cung cấp, chuyển thông tin và xử lý dữ liệu thông tin tài chính). Cụ thể, kể từ ngày 01/4/2007, các ngân hàng nước ngoài được phép thiết lập sự hiện diện thương mại của mình tại Việt Nam dưới hình thức ngân hàng 100% vốn nước ngoài. Ngân hàng 100% vốn nước ngoài sẽ được hưởng quy chế đối xử không phân biệt (đãi ngộ quốc gia) ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO, ngoại trừ ngân hàng mẹ khi muốn thành lập phải có tổng tài sản trên 10 tỷ USD. Đây được xem là một động thái tích cực và chủ động của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế bởi nếu so với Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ, Việt Nam đã gỡ bỏ nhiều hạn chế (như về huy động tiền gửi, điểm đạt máy ATM, phát hành thẻ tín dụng), đặc biệt là sự rút ngắn thị trường cho phép sự hiện diện của ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại thị trường nội địa. Ngoài ra, các tổ chức nước ngoài được tham gia góp vốn mua cổ phần tại các NHTMCP trong nước với tổng tỷ lệ cổ phần nắm giữ không quá 30% vốn điều lệ của một ngân hàng.

Sau hơn một năm kể từ ngày được phép thâm nhập vào thị trường Việt Nam, ngày 08/9/2008, Việt Nam đã cấp giấy phép đầu tiên cho Standard Chartered Bank được thành lập nh 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam. Cùng ngày, NHNN cũng đã cấp giấy phép cho HSBC thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam và theo kế hoạch HSBC sẽ đặt trụ sở chính tại Sài Gòn, là nơi mà ngân hàng này đã mở văn phòng lần đầu tiên vào năm 1870.

Mới đây, ngân hàng Australia and New Zealand Banking Group United (ANZ) vừa chính thức trở thành ngân hàng 100% vốn nước ngoài thứ 3 ở Việt Nam. Ba ngân hàng trên có thời hạn hoạt động là 99 năm và được gọi dưới các tên: Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên HSBC (Việt Nam); Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên Standard Chartered (Việt Nam)và Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên ANZ (Việt Nam). Đây là tên gọi mới cho các ngân hàng con nước ngoài. Các quy định về vốn điều lệ, thời hạn hoạt động đối với các ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên đều đang được áp dụng cho các NHTM trong nước.

Về cơ bản nội dung hoạt động của các ngân hàng 100% vốn nước ngoài này được đối xử như các ngân hàng nội địa. Cụ thể, HSBC, Standard Chartered Bank và ANZ Bank (Việt Nam) được thực hiện các nhiệm vụ như: huy động vốn; hoạt động tín dụng; dịch vụ thanh toán và ngân quỹ; và các hoạt động khác, được quy định cụ thể trong giấy phép. Đối với việc cung ứng dịch vụ ngoại hối trên thị trường trong nước, HSBC, Standard Chartered Bank và ANZ Bank (Việt Nam) chỉ được thực hiện sau khi NHNN xác nhận đủ điều kiện, còn đối với việc cung ứng dịch vụ ngoại hối trên thị trường quốc tế thì chỉ được thực hiện sau khi được NHNN xác nhận đăng ký. Ngoài các hoạt động nêu trên, các ngân hàng trên được thực hiện các nghiệp vụ khác của NHTM, khi có nhu cầu và được NHNN chấp thuận bằng văn bản hoặc khi đã có văn bản quy phạm pháp luật quy định ngân hàng con 100% vốn nước ngoài được phép thực hiện các nghiệp vụ đó. Trong quá trình hoạt động HSBC, Standard Chartered Bank và ANZ Bank (Việt Nam) phải tuân thủ pháp luật Việt Nam, Luật các Tổ chức tín dụng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các Tổ chức tín dụng, các quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối, Nghị định số 22/2006/NĐ-CP ngày 28/2/2006 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, ngh 100% vốn nước ngoài, văn phòng đại diện tổ chức tín dụng nước ngoài tại Việt Nam, các chế độ và quy định do Thống đốc NHNN Việt Nam ban hành. Mặt khác, khi chuyển lợi nhuận ra khỏi Việt Nam, các ngân hàng ngoại này phải nộp thuế theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Như vậy, việc cấp phép cho các ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên 100% vốn nước ngoài đã góp phần đa dạng loại hình hiện diện thương mại trong lĩnh vực dịch vụ tài chính – ngân hàng Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng về sáp nhập trong ngành ngân hàng

Không phải đợi sau khi được chấp thuận thành lập ngân hàng con tại Việt Nam, ngày 28/8/2008, HSBC chính thức công bố trở thành cổ đông nước ngoài đầu tiên gia tăng mức sở hữu 20% vốn cổ phần tại Techcombank. Standard Chartered Bank cũng nhanh chóng mua 16.204.879 cổ phiếu ACB của cổ đông lớn là Công ty tài chính quốc tế – IFC theo giá thỏa thuận (cao gấp 2 lần giá vào cuối phiên giao dịch ngày 21/7/2008) để tăng tỷ lệ nắm giữ vốn cổ phần tại ACB từ 8,84% lên 15%. Ngoài ra trong 10 tháng đầu năm các giao dịch mua cổ phần của MayBank tại NHTMCP An Bình, Societe Generale S.A của Pháp mua 15% vốn cổ phần của SeaBank cũng được thực hiện. NHTMCP Phương Nam cũng đã được NHNN cho phép bán thêm 5% vốn điều lệ cho Tập đoàn ngân hàng UOB của Singapore. OCBC cũng gia tăng tỷ lệ sở hữu cổ phần của mình tại VPBank lên 15%. Eximbank đã chính thức hoàn tất thủ tục chọn xong một đối tác nước ngoài là Sumitomo Mitsui Banking Corporation (SMBC), một trong số ít tập đoàn ngân hàng lớn nhất của Nhật Bản và thế giới.

Không chịu kém các đối thủ trong việc tăng cường thâm nhập thị trường tài chính Việt Nam, Tập đoàn ngân hàng ANZ thực hiện một hướng đầu tư khác bằng việc tiếp tục khẳng định vị trí là một cổ đông lớn của Công ty chứng khoán Sài Gòn (SSI) thông qua việc đăng ký mua cổ phiếu SSI để nâng tỷ lệ chiếm giữ cổ phần của mình từ 10% năm 2007 lên 18% năm 2009.

Bên cạnh đó, cũng trong tháng 8/2008, Comommwealth Bank of Australia đã khai trương chi nhánh tại TP. Hồ Chí Minh, trở thành ngân hàng nước ngoài đầu tiên khai trương hoạt động chi nhánh sau khi các cam kết mở cửa thị trường dịch vụ tài chính Việt Nam khi gia nhập WTO chính thức có hiệu lực.

Tất cả, HSBC, Standard Chartered Bank và ANZ Bank (Việt Nam) đều là những ngân hàng đã có chi nhánh tại Việt Nam và hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ lâu nay do các chi nhánh này đảm nhiệm. Với việc được phép thánh lập và hoạt động ngân hàng con 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam, HSBC, Standard Chartered Bank và ANZ Bank (Việt Nam) đều bày tỏ ý định sẽ tập trung mạnh vào lĩnh vực bán lẻ. Phân khúc thị trường hai ngân hàng này chú trọng từ người tiêu dùng, cửa hàng nhỏ, các nhà bán lẻ, tiểu thương, đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ, tổ chức quốc tế và công ty đa quốc gia. Cụ thể hơn, HSBC (Việt Nam) đã xúc tiến trước việc nâng số máy ATM tại Việt Nam lên 100, kết nối với hệ thống ATM Techcombank, hợp tác với Tổng công ty Bưu chính viễn thông (VNPost) cung cấp dịch vụ qua mạng lưới của VNPost. Standard Chartered Bank (Việt Nam) thì đã kịp khai trương dịch vụ ngân hàng trực tuyến mới đây.

Với tiềm lực tài chính hậu thuẫn của ngân hàng mẹ, kinh nghiệm và lộ trình cam kết được đối xử gần như các ngân hàng trong nước, các ngân hàng ngoại có rất nhiều ưu thế để vuợt qua các ngân hàng nội. Họ sẽ cạnh tranh “trực diện” bằng việc đi mời chào từng khách hàng nhỏ nhất đến vay và gửi tiền, cung cấp các sản phẩm mà với hệ thống hoạt động rộng khắp thế giới thì đây thực sự là những thách thức không nhỏ đối với ngân hàng trong nước.

Sự thâm nhập thị trường mạnh mẽ thông qua nhiều hình thức (ngân hàng con, chi nhánh, góp vốn mua cổ phần và liên doanh) đi kèm với tác phong hoạt động chuyên nghiệp, quy trình cung cấp sản phẩm, dịch vụ nhanh chóng, thuận tiện và đặc biệt với những thương hiệu tiếng tăm chắc chắn các ngân hàng ngoại sẽ làm xói mòn dần những lợi thế vốn được coi là thế mạnh của các ngân hàng nội địa như am hiểu tâm lý, quan hệ truyền thống. Nhìn nhận theo hướng tích cực hơn, đây được xem là động lực buộc các ngân hàng hoàn thiện, nâng cao tiêu chuẩn của hệ thống ngân hàng trong nước, đem lại lợi ích cho nền kinh tế và người tiêu dùng.

Về thị phần, hệ thống ngân hàng trong nước hiện đang nắm giữ khoảng 90% (cả tiền gửi và cho vay), trong đó các NHTM nhà nước chiếm gần 70%. Các ngân hàng nước ngoài (ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài) chỉ chiếm khoảng gần 10% thị phần. Tuy nhiên, đáng chú ý là tốc độ tăng trưởng tài sản có và dư nợ gần đây của khối ngân hàng ngoại tương ứng khoảng 33% và gần 50% so với cuối năm 2007, trong khi đó mức tăng trung bình toàn hệ thống ngân hàng chỉ khoảng 8% và gần 20%. Đến nay, khối ngân hàng này chỉ chiếm 9,3% tổng dư nợ cho vay (cà VND và USD), nhưng chiếm tới 29,5%/ tổng dư nợ cho vay bằng USD của cả hệ thống.

Tình hình cạnh tranh được dự báo sẽ có thay đổi lớn vào năm 2010 khi các NHTM Việt Nam ngày càng lớn mạnh hơn và các ngân hàng nước ngoài được phép hoạt động ở phạm vi rộng hơn. Cụ thể, cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng bán buôn sẽ xảy ra giữa các ngân hàng nước ngoài với khu vực NHTM nhà nước và các dịch vụ ngân hàng mới đối với các NHTMCP.

Việc cung cấp dịch vụ ngân hàng mới (như hợp đồng quyền chọn, quản lý tài sản có và hoạt động ngân hàng qua Internet) sẽ là lĩnh vực có mức độ cạnh tranh cao nhất. Một cuộc khảo sát gần đây cho thấy, mức độ cạnh tranh này sẽ ngày càng cao hoen từ “mức cạnh tranh kém hơn” hiện nay lên mức “cạnh tranh mạnh” trong vòng 5 năm tới khi các ngân hàng trong nước cung cấp dịch vụ mới và các ngân hàng nước ngoài được phép mở rộng phạm vi hoạt động. Các ngân hàng, cả ngân hàng trong nước và nước ngoài, sẽ cùng áp dụng mô hình phát triển khá giống ngân hàng, đó là mở rộng hoạt động ngân hàng bán buôn, cạnh tranh quyết liệt trong lĩnh vực bán lẻ và cung cấp dịch vụ mới và coi đó là mặt trận cạnh tranh mạnh mẽ.

Kinh nghiệm từ nhiều quốc gia có nền kinh tế phát triển như Pháp, Anh, Nhật Bản hay đang phát triển như Trung Quốc và Brazil cho thấy các ngân hàng (nhà nước và tư nhân) trong nước, mỗi ngân hàng đều có mạng lưới chi nhánh rộng khắp sẽ tiếp tục chiếm lĩnh thị trường. Tương tự, dù cho thời gian tới các ngân hàng ngoại hiện diễn tại thị trường Việt Nam qua nhiều hình thức và có thể có vị trí trong tốp những ngân hàng có quy mô lớn hàng đầu nhưng cũng khó có thể vượt qua được những ngân hàng nội địa như Vietcombank hay Agribank,…) để dẫn dắt thị trường.

Với vốn điều lệ đạt mức vừa đủ theo quy định của Việt Nam của 2/3 ngân hàng ngoại trên cho thấy sự khá thận trọng của các ngân hàng ngoại trong việc thăm dò thị trường đối với một loại hình hiện diện mới. Rõ ràng, họ cũng thấy được những khó khăn trong việc xây dựng thị phần dưới một hình thức mới, dù rằng đó là hình thức được đối xử bình đẳng với các ngân hàng nội. Điều này càng cho thấy không phải bất cứ ngân hàng nào cũng có khả năng và mong muốn thành lập ngân hàng con tại một nước để cung cấp, phát triển các dịch vụ bán lẻ mà phần lớn là các ngân hàng có quy mô hoạt động quốc tế. Khóa luận: Thực trạng về sáp nhập trong ngành ngân hàng

Khi thâm nhập vào Việt Nam, không dễ gì có thể áp đảo được các đối thủ trong nước bởi các ngân hàng ngoại hiểu rằng, những yêu cầu để tiếp cận dịch vụ của họ có thể là dễ dàng đối với các khách hàng truyền thống của họ (cá nhân và các doanh nghiệp nước ngoài) nhưng lại trở nên cứng nhắc khi áp dụng với khách hàng mới (doanh nghiệp và cá nhân Việt Nam). Hơn nữa, với mức thu nhập bình quân đầu người thấp, tỷ lệ phân bổ dân cư chưa cân xứng của Việt Nam thì địa đa số khách hàng nội địa vẫn lựa chọn những sản phẩm phổ thông hơn là những sản phẩm có chất lượng cao do các ngân hàng ngoại cung cấp. Và một điều quan trọng hơn nữa, các ngân hàng nội địa có thể không đóng vai trò tiên phong trong việc đưa ra những sản phẩm mới, chất lượng cao nhưng họ sẽ thích ứng nhanh chóng trong việc hoàn thiện sản phẩm tương ứng của mình để có thị phần.

Trong khi các ngân hàng con 100% vốn nước ngoài mới được cấp phép hoạt động, các chi nhánh ngân hàng nước ngoài còn bị hạn chế bởi cam kết (được phép nhận tiền gửi VND từ các thể nhân Việt Nam mà ngân hàng không có quan hệ cấp tín dụng theo mức vốn mà ngân hàng mẹ cấp cho chi nhánh theo lộ trình: 800%, 900%, 1000% vốn pháp định được cấp tương ứng vào năm 2008, 2009, 2010 và từ 2011 được đối xử quốc gia đầy đủ) thì trong hai năm qua, các ngân hàng nội địa đã có sự bứt phá mạnh mẽ trong việc gia tăng tiềm lực tài chính và mở rộng chi nhánh – khiến cho khả năng soán ngôi của khu vực có vốn nước ngoài càng khó có thể đạt được.

Tuy vậy, cần khách quan nhìn nhận, việc gia tăng ảnh hưởng của khu vực có vốn nước ngoài sẽ khiến cho thị phần của các ngân hàng nội địa bị co hẹp và nhiều ngân hàng quy mô nhỏ gặp khó khăn và không nghi ngờ rằng một số ngân hàng loại này sẽ bị mua lại hoặc sáp nhập vào các ngân hàng lớn.

Để xin cấp phép thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, ngoại trừ các điều khoản đã cam kết khi gia nhập WTO ( như ngân hàng mẹ muốn thành lập phải có tổng tài sản từ 10 tỷ USD trở lên vào cuối năm trước thời điểm nộp đơn), các ngân hàng nước ngoài phải đáp ứng được một số điều kiện kỹ thuật cần thiết, trong đó điều kiện được chú ý là cơ quan giám sát, thanh tra có thẩm quyền của nước nguyên xứ đã ký cam kết (bản ghi nhớ, thỏa thuận, thư trao đổi và các văn bản khấc có giá trị tương đương) về hợp tác quản lý, giám sát hoạt động và trao đổi thông tin với NHNN.

Ngoài ba bộ hồ sơ đã được cấp phép hoạt động, hiện có khoảng 30 bộ hồ sơ của ngân hàng nước ngoài, bao gồm mở chi nhánh, thành lập 100% vốn nước ngoài đến từ các quốc gia, vùng lãnh thổ như Mỹ, Hàn Quốc, Đài Loan,… Có ý kiến cho rằng, NHNN có phần trì hoãn và đưa ra một số điều kiện khó khăn cho các nhà đầu tư nước ngoài trong việc tiếp cận lĩnh vực ngân hàng nội địa. Tuy nhiên, về nguyên tắc cam kết WTO – Việt Nam không cấm thành lập ngân hàng đối với nhà đầu tư nước ngoài, nhưng ngoài những điều cam kết thì không chỉ Việt Nam mà hầu hết các quốc gia được quyền và đều áp dụng những rào cản mang tính kỹ thuật, an toàn đối với một lĩnh vực kinh doanh rất nhạy cảm này. Những điều kiện mang tính kỹ thuật của Việt Nam hoàn toàn không trái với các cam kết và phù hợp với mục tiêu sau cùng là ổn định hệ thống và đảm bảo những điều kiện tốt nhất cho người tiêu dùng.

Việc cấp phép hoạt động cho các ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên Việt Nam mới đây cho thấy, Việt Nam tiếp tục thực hiện các cam kết và không có lý do để từ chối việc cấp phép thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài cho các nhà đầu tư nước ngoài khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện và thỏa mãn các quy định. Như vậy, cánh cửa vẫn mở cho các ngân hàng nước ngoài đáp ứng đầy đủ các điều kiện và cùng với đó, sẽ đem lại nhiều lợi ích mới cho nền kinh tế và người tiêu dùng trong nước.

2.2. Ngân hàng nội hợp tác với các tổ chức kinh tế trong nước Khóa luận: Thực trạng về sáp nhập trong ngành ngân hàng

Theo quy định hiện hành (Nghị định 141/2006), đến ngày 31/12/2008, vốn điều lệ tối thiểu của các NHTMCP phải là 1.000 tỷ đồng. Theo thông tin từ NHNN Việt Nam (NHNN), tính đến cuối tháng 10/2008, chín NHTMCP sau đây đã có vốn điều lệ thấp hơn yêu cầu trên và cần phải tăng vốn, đó là: Đệ nhất (FCB) là 609 tỷ đồng, Gia Định 500 tỷ đồng, Thái Bình Dương 566 tỷ đồng, Mỹ Xuyên 500 tỷ đồng, Xăng dầu Petrolimex 500 tỷ đồng, Kiên Long 580 tỷ đồng, Viêt Nam Thương Tín 500 tỷ đồng, Đại Tín 504 tỷ đồng, Đại Á 500 tỷ đồng.

Phần lớn các ngân hàng nhỏ chuyển từ nông thôn lên đô thị năm 2006-2007 đang chật vật để tồn tại. Nhiều ngân hàng cố gắng để không bị lỗ, nhưng đạt được chỉ tiêu vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng như quy định của NHNN vào 31/12/2008 là một trở ngại khó vượt qua. Lãnh đạo ngân hàng Mỹ Xuyên (An Giang), ngân hàng cuối cùng chuyển từ nông thôn lên đô thị năm 2008, đang chạy đôn đáo tìm cổ đông chiến lược cỏ thể góp vốn mua cổ phần. Có rất ít hy vọng cho việc kêu gọi vốn của ngân hàng nhỏ vào khoảng thời gian này khi chỉ số Việt Nam Index tiếp tục phá đáy.

Trong khi các ngân hàng nhỏ chới với, các ngân hàng lớn được quản trị tốt, có điều kiện bứt phá. Đối với họ, bỏ ra vài trăm tỷ đồng để mua lại một ngân hàng nhỏ có thể là việc trong tầm tay. Eximbank sau khi tăng vốn lên 7,200 tỷ đồng cuối năm 2008, vẫn còn thặng dư tới 4000 tỷ đồng, thừa sức mua một nga nhỏ khác. Việc mở rộng mạng lưới bằng cách “thôn tính” ngân hàng cổ phần vốn 500 – 600 tỷ đồng đối với các ngân hàng quốc doanh là quá dễ. Khóa luận: Thực trạng về sáp nhập trong ngành ngân hàng

Hơn nữa trong bối cảnh kinh tế nước ta hội nhập ngày càng sâu, khủng hoảng kinh tế toàn cầu có thể kéo dài, việc cho phép tồn tại những ngân hàng nhỏ kinh doanh kém hiệu quả sẽ chỉ là gánh nặng cho hệ thống ngân hàng nói riêng, nền kinh tế nói chung. Ngoài ra sự đổ vỡ tín dụng, gia tăng nợ xấu, nếu có, cũng sẽ xuất phát trước tiên từ những ngân hàng nhỏ này, vì trong năm 2007 họ là những đơn vị tài trợ nhiều nhất cho bất động sản với nguồn vay liên ngân hàng là chủ yếu.

Những tháng đầu năm 2008, những ngân hàng nhỏ đã từng là nỗi lo của giới kinh doanh khi ở trong tình trạng thiếu tính thanh khoản trầm trọng hàng tháng trời. Họ đã phải xin NHNN “cứu trợ” và đua nhau đẩy lãi suất huy động lên cao. Hiện nay khi NHNN nới lỏng chính sách thắt chặt tiền tệ, lãi suất tụt dốc, họ lại không thể hạ lãi suất huy động để cho vay. Họ buộc phải giữ lãi suất tiết kiệm tương đối cao để giữ chân khách hàng. Chi phí đầu tư vẫn ở mức cao, trong khi lãi suất đầu ra phải giảm, họ càng hoạt động sẽ càng lỗ. Sự phá sản của một vài ngân hàng nhỏ là điều khó tránh khỏi. Như vậy điều kiện sáp nhập các ngân hàng nhỏ vào các ngân hàng lớn đã chín muồi.

Khác với trước đây, các ngân hàng cổ phần chỉ có xu hướng chọn nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, thì nay lại quay sang tìm đối tác chiến lược trong nước là những nhà băng có tầm cỡ hơn mình. Vì vậy, chỉ trong gần 10 tháng đầu năm 2009 đã có khoảng 3 thương vụ mua – bán cổ phần thành công giữa các ngân hàng nội. Trong khi đó, chỉ có một đối tác chiến lược nước ngoài gia tăng tỷ lệ cổ phần nắm giữ tại NH Việt Nam là BNP Paribas (BNP) nâng tỷ lệ cổ phần tại OCB lên 15% và không có thêm thương vụ mua bán nào giữa ngân hàng nước ngoài và trong nước được giao dịch thành công.

Oceanbank đã chọn Petrovietnam (PVN) làm cổ đông chiến lược từ đầu năm 2009, với tỷ lệ cổ phần PVN nắm giữa tại Oceanbank là 20%. Vốn điều lệ của ngân hàng này đạt 2.000 tỷ đồng sau khi có sự tham gia góp vốn của PVN.

Mới đây nhất, Maritime Bank và các thành viên là cổ đông lớn của ngân hàng đã mua lại 45% cổ phần của ngân hàng phát triển Mê Kông (ngân hàng Mỹ Xuyên cũ). Trong đó, riêng Maritime Bank nắm 4,99% cổ phần của ngân hàng phát triển Mê Kông. Hiện ngân hàng phát triển Mê Kông đang trong quá trình hoàn tất hồ sơ để trình các cơ quan có thẩm quyền về việc xin tăng vốn từ 1.000 tỷ đồng lên 2.000 tỷ đồng vào cuối năm nay.

Trước đó, vào đầu quý III/2009, thương vụ mua – bán lớn giữa DaiA Bank và Tập đoàn Tín Nghĩa tại tỉnh Đồng Nai cũng gây chú ý trên thị trường OTC. Tập đoàn Tín Nghĩa trở thành cổ đông lớn nhất, nắm giữ 49% vốn của DaiA Bank, thay vì tỷ lệ 11% trước đó. Điều này có nghĩa, Tín Nghĩa đã nhanh chóng thâu tóm được DaiA Bank, cho dù có nhiều cổ đông lớn khác cũng muốn gia tăng tỷ lệ cổ phần tại NH này.

ACB hiện đang nắm giữ những tỷ lệ cổ phần nhất định tại nhiều nhà băng có quy mô nhỏ hơn. Cụ thể, tại DaiA Bank, ACB nắm giữ 11% cổ phần; tại KienLongBank, ACB nắm giữ tỷ lệ 11%. Còn tại Eximbank, không chỉ với ACB mà còn có cả cổ đông lớn của ngân hàng nắm tỷ lệ 22% cổ phiếu của ngân hàng này và tham vọng sẽ nâng lên 30 – 35% trong thời gian tới.

Có thể nói, từ đầu năm đến nay, xu hướng tìm kiếm ngân hàng nhỏ có tiềm năng được các nhà băng lớn trong nước đặc biệt quan tâm.

3. Đánh giá thực trạng hoạt động M&A ngân hàng Việt Nam hiện nay Khóa luận: Thực trạng về sáp nhập trong ngành ngân hàng

3.1. Hiệu quả hoạt động M&A ngân hàng tại Việt Nam

Hoạt động M&A ngân hàng tại Việt Nam, dù mới chỉ ở giai đoạn đầu của thời kỳ phát triển, hình thức hoạt động còn tương đối đơn giản. Tuy nhiên cũng đã mang những hiệu quả nhất định cho các ngân hàng trong nước cũng như các đối tác nước ngoài. Thể hiện ở những điểm chính sau:

Một là, đa số các vụ M&A ngân hàng đáng kể đều có yếu tố nước ngoài. Cũng có một vài vụ sáp nhập giữa các ngân hàng trong nước như Ngân hàng ACB mua ngân hàng Đại Á. Để phát triển bền vững thị trường tài chính trong thời gian tới thì những đơn vị có quy mô nhỏ cần phải liên kết để tạo ra sức mạnh cho mình. Chính vì thế, ngân hàng TMCP Nam Á cũng đang trong quá trình tìm kiếm đối tác chiến lược để bắt tay hợp tác. Mới đây, ngân hàng TMCP Nam á đã ký kết bản thỏa thuận hợp tác đồng hành với ngân hàng BIDV. Trên cơ sở đó, BIDV sẽ tiến hành trao đổi kinh nghiệm, tư vấn cho ngân hàng TMCP Nam Á trong việc xây dựng các sản phẩm huy động vốn, sản phẩm kinh doanh tài trợ thương mại, kinh doanh ngoại tệ, các sản phẩm phát sinh, thanh toán… Hầu hết những vụ còn lại đều có sự tham gia của ít nhất một bên là doanh nghiệp nước ngoài. Trong đó, có trường hợp doanh nghiệp nước ngoài mua lại toàn bộ cổ phần hoặc cổ phần chiến lược của doanh nghiệp trong nước như vụ ANZ đầu tư vào ngân hàng Sacombank và công ty chứng khoán SSI; HSBC – Techcombank; ACB – Standard Chartered Bank… Khóa luận: Thực trạng về sáp nhập trong ngành ngân hàng

Sự hiện diện của yếu tố nước ngoài trong M&A của Việt Nam có thể được giải mã qua ba lý do sau. 1) Trước hết, ngân hàng nước ngoài có ưu thế về kinh nghiệm và trình độ quản lý trong việc tiến hành thuần thục các hoạt động M&A, trong khu doanh nghiệp Việt Nam còn bỡ ngỡ nên không thể nắm thế chủ động trong hoạt động này. 2) Doanh nghiệp nước ngoài mới tạo ra nguồn “hàng hóa” tốt cho cả cung và cầu trong M&A. Với tiềm lực tài chính của mình, họ mới là khác hàng của những thương vụ hàng chục triệu USD mà các doanh nghiệp trong nước không thể với tới. Mặt khác các doanh nghiệp trong nước cũng chỉ muốn luên doanh, liên kết với nước ngoài nhằm khai thác những thương hiệu tên tuổi và bề dày kinh nghiệm quản lý của họ. 3) M&A là một hình thức đầu tư nước ngoài hiệu quả và phổ biến giúp các doanh nghiệp nước ngoài thâm nhập vào thị trường nội địa mà không phải chịu phí tổn thành lập, xây dựng thương hiệu và thị phần ban đầu. Đặc biệt, trong bối cảnh thị trường dịch vụ được bảo hộ theo lộ trình cam kết WTO thì M&A là một trong những con đường ngắn nhất để các doanh nghiệp nước ngoài tiếp cận mạng lưới bán lẻ của Việt Nam.

Hai là, hình thức M&A ngân hàng của Việt Nam mang tính “thân thiện” nhiều hơn. Hầu như thị trường chưa ghi nhận vụ thôn tính mang tính thù địch nào. Các vụ sáp nhập thể hiện rõ sự hợp tác và ở một góc độ nào đó có thể nói, vẫn mang hơi hướng của hình thức liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài trước đây.

Ba là, cách thức và tác nghiệp M&A còn sơ khai. Các vụ M&A chủ yếu là thâu tóm hay được gọi chủ yếu trên các phương tiện thông tin đại chúng là mua bán doanh nghiệp (toàn bộ hoặc một phần). Hầu như chưa có trường hợp hợp nhất. Hình thức này cũng không phổ biến trên thế giới. Hơn nữa, trình độ quản lý của Việt Nam chưa thể đáp ứng được mức độ hợp tác cao mà các vụ hợp nhất

đòi hỏi. Ngoài ra, rất nhiều vụ được xếp vào M&A nhưng thực chất thiên về đầu tư tài chính. Đó chỉ là những trường hợp nắm vốn của nhau, mua lại cổ phần lớn để trở thành đối tác chiến lược mà không nhắm đến khống chế sở hữu và điều hành công ty (thâu tóm). Mặc dù vậy, trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, doanh nghiệp nước ngoài cũng không có sự lựa chọn nào khác do nhưng hạn chế mua cổ phần không quá 30% (ngân hàng), 49% (doanh nghiệp niêm yết), như trường hợp ANZ – SSI, Sacombank; Standard Chartered Bank – Ngân hàng ACB …

Bốn là, cách thức xây dựng thị trường M&A cũng thể hiện nhiều bất cập. Một số ý kiến cho rằng Việt Nam chưa có một hành lang pháp lý rõ ràng cho các hoạt động M&A. Trên thực tế, quy định liên quan đến M&A đã được xây dựng một cách thiếu đầy đủ trong quá trình soạn thảo Luật Cạnh tranh 2004 và Luật Doanh nghiệp 2005 tạo rào cản cho những vụ chuyển nhượng M&A.

3.2. Những thuận lợi, khó khăn khi thực hiện mô hình M&A ngân hàng tại Việt Nam Khóa luận: Thực trạng về sáp nhập trong ngành ngân hàng

Sự phát triển quá nóng của nền kinh tế, việc gia nhập WTO của Việt Nam, sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng,… là những dấu hiệu thuận lợi thúc đẩy hoạt động M&A ngân hàng. Tuy nhiên, hoạt động này cũng gặp không ít khó khăn khi thực hiện bởi sự thiếu rõ ràng trong các quy định pháp luật, thiếu kiến thức về M&A ngân hàng của các doanh nghiệp và hoạt động kém hiệu quả của các bên tư vấn, môi giới,…

3.2.1. Thuận lợi trong hoạt động M&A ngân hàng

Thứ nhất, việc ra đời các luật và nghị định về kinh doanh như Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Đầu tư 2006 và Luật Chứng khoán 2007 giúp cho thị trường tài chính nói chung và thị trường M&A nói riêng trở nên minh bạch hơn và thu hút được nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Thứ hai, trong suốt những năm gần đây, Việt Nam luôn duy trì một tỷ lệ tăng trưởng kinh tế ổn định, trung bình khoảng 7,3%. Không những ổn định về kinh tế chính trị, Việt Nam đã gia nhập các tổ chức kinh tế lớn như WTO, APEC, ASEAN và hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới. Những chính sách mở cửa và ưu đãi về thuế của chính phủ khiến cho nhiều nhà đầu tư nước ngoài đánh giá cao cơ hội đầu tư ở Việt Nam. Các nhà đầu tư nước ngoài thường có xu hướng lựa chọn M&A ngân hàng như là bước đầu tiên để tiếp cận thị trường Việt Nam. Hơn nữa, gia nhập WTO là động lực tạo ra sự cạnh tranh gay gắt hơn trên thị trường khiến nhiều ngân hàng phải mở rộng quy mô để cạnh tranh. Vì vậy, các ngân hàng lựa chọn hình thức mua bán và sáp nhập như là cách để kêu gọi vốn, các tiềm lực để tăng năng lực cạnh tranh của mình trên thương trường.

Thứ ba, hoạt động M&A ngân hàng còn mới ở Việt Nam. Tuy nhiên, tại nước ngoài, hoạt động này là tương đối phổ biến. Các nhà đầu tư nước ngoài đã quen với các hoạt động M&A tại nước sở tại nên họ sẽ có thuận lợi khi đầu tư vào Việt Nam theo hình thức này. Cần nhấn mạnh rằng hoạt động M&A ngân hàng sẽ phát triển nhanh chóng trong các năm tới.

3.2.2. Khó khăn trong hoạt động M&A ngân hàng Khóa luận: Thực trạng về sáp nhập trong ngành ngân hàng

Là một thị trường non trẻ, hoạt động M&A tại Việt Nam nói chung và M&A ngân hàng nói riêng vẫn gặp phải những khó khăn nhất định từ phía Nhà nước, bản thân các ngân hàng và môi trường kinh doanh.

Thứ nhất, nhà nước chưa hoàn thiện hệ thống pháp luật về M&A. Luật Doanh nghiệp là văn bản pháp lý duy nhất điều chỉnh cả loại hình công ty trong nước và các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong việc thực hiện các giao dịch M&A. Luật Đầu tư có trước khi Việt Nam gia nhập WTO nên vẫn có sự khác biệt giữa luật và cam kết, như phân định việc mua cổ phiếu là đầu tư trực tiếp hay gián tiếp.

Điểm vướng mắc đầu tiên là khái niệm về sáp nhập và mua lại chưa được chuẩn hóa và không được quy định thống nhất trong các luật có liên quan. Cụ thể, Luật Cạnh tranh 2004 và Luật Doanh nghiệp 2005 chỉ đề cập đến khái niệm sáp nhập, không có khài niệm sáp nhập và mua lại. Sáp nhập theo hai luật này được hiểu là việc chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của công ty bị sáp nhập sang công ty nhận sáp nhập (điều 153 Luật Doanh nghiệp 2005. Ở đây, có thể không diễn ra việc mua bán, chuyển nhượng mà cũng có thể là việc một công ty được gia nhập “làm quân” cho một công ty khác (để tránh đổ vỡ, giải tán như trường hợp sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước trước đây và cả hiện nay). Trong thủ tục sáp nhập theo Luật Doanh nghiệp không có Quyết định của doanh nghiệp về việc bán doanh nghiệp. Như vậy trong quá trình sáp nhập ở trường hợp này không có việc chuyển nhượng (bán) tài sản mà chỉ có việc chuyển chủ sở hữu tài sản mà chỉ có việc chuyển chủ sở hữu tài sản, sáp nhập lại để tổ chức lại doanh nghiệp, do vậy không làm hình thành thị trường mua bán doanh nghiệp. Còn Luật Đầu tư 2005 đưa ra hai khái niệm sáp nhập, mua lại (công ty, chi nhánh) viết cách nhau dấu phẩy, nhưng thực chất chính là phạm trù sáp nhập và mua lại theo nghĩa M&A mà thế giới đã biết nửa thế kỷ nay (chữ “và” đã bị thay bởi dấu phẩy). M&A của Luật Đầu tư mang “tính thương mại” vì nó được gắn với việc chuyển nhượng doanh nghiệp. Nghị định 108/2006/NĐ – CP quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật Đầu tư 2005 ngoài quy định về sáp nhập, mua lại doanh nghiệp còn đưa thêm vào hai khái niệm “chuyển nhượng vốn” (điều 65) và “chuyển nhượng dự án” (điều 66) làm cho vấn đề M&A trở nên rối hơn. Ngoài ra nghị định này chỉ quy định thủ tục sáp nhập, mua lại cho nhà đầu tư nước ngoài (điều 56, khoản 3), còn đối với nhà đầu tư trong nước không có quy định. Theo khoản 1 điều 66 nghị định này, nhà đầu tư trong nước được chuyển nhượng dự án, nhưng chỉ đối với trường hợp không gắn với việc chấm dứt hoạt động của tổ chức kinh tế.

Ngoài ra, việc chưa hoàn thiện về khung pháp lý cũng làm cho việc sáp nhập tại Việt Nam chỉ để tổ chức lại doanh nghiệp chứ không làm hình thành thị trường mua bán. Điều này là do quá trình sáp nhập theo quy định của pháp luật về cạnh tranh và doanh nghiệp không phải là việc chuyển nhượng (bán) tài sản mà chỉ có việc chuyển chủ sở hữu tài sản. Do đó, nhà nước không có cơ sở rõ ràng về pháp lý để thu được thuế chuyển nhượng tài sản. Trên cơ sở các quy định của pháp luật về đầu tư, cần sớm có quy định cụ thể, rõ ràng về thuế đối với các vụ chuyển nhượng doanh nghiệp và chuyển nhượng dự án và các quy định này phải được luật hóa.

Thứ hai, phía ngân hàng còn thiếu kiến thức về M&A, nhất là kiến thức về định giá doanh nghiệp. Nhiều công ty không có những hiểu biết cơ bản về nghiệp vụ M&A ngân hàng, kiến thức về M&A ngân hàng của họ còn quá sơ sài. Một số công ty còn chưa biết nhiều về các quỹ đầu tư, chưa hiểu các thể thức đầu tư, cách tính toán chiến lược dài hạn… Chính vì thiếu kiến thức nên họ gặp phải không ít những bất lợi khi thực hiện M&A ngân hàng.

Hơn nữa, giá cả là một trong những mối quan tâm hàng đầu khi tiến hành mua bán. Nhà đầu tư luôn đặt câu hỏi sẽ mua doanh nghiệp với giá bao nhiêu là có lợi nhất. Nền tảng cho một giao dịch thành công là giá cả thể hiện đúng giá trị hàng hóa, phản ánh tốt cung cầu thực tế thị trường. Nếu xem doanh nghiệp là hàng hóa để mua bán, quá trình định giá sáp nhập là bước cực kỳ quan trọng. Do không quan tâm đúng mức tới khâu định giá, nhiều doanh nghiệp đã phải chấp nhận bán với giá thấp hơn nhiều so với giá trị thực tế.

Thứ ba, những khó khăn từ phía môi trường kinh doanh.

Hệ thống thông tin và kiểm soát thông tin cũng như tính minh bạch trong hoạt động kinh doanh còn thiếu. Một vấn đề lớn của các ngân hàng cũng như doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là chưa từng có thói quen công khai thông tin về tình hình hoạt động tài chính nên thông tin trong giao dịch thường không rõ ràng, thiếu tính tin cậy. Nhiều doanh nghiệp cũng như các NHTM có quy mô nhỏ, lại chưa tham gia vào thị trường chứng khoán, chưa được kiểm toán theo đúng tiêu chuẩn. Không ít công ty còn áp dụng chế độ kế toán hai sổ. Chính vì thế việc tính toán, xác định chi phí thực hiện giao dịch đối với bên mua cũng như việc định giá doanh nghiệp bên bán vẫn chưa được thực hiện rõ ràng, chính xác. Đó là nguyên nhân khiến nhiều nhà đầu tư nước ngoài e ngại không dám thực hiện các vụ mua bán, sáp nhập với doanh nghiệp Việt Nam vì sợ phải gánh chịu rủi ro trong định giá. Hoạt động M&A Việt Nam nói chung và hoạt động M&A ngân hàng nói riêng cũng chính vì thế mà chưa phát triển tương xứng với mức cung cầu thực tế.

Hoạt động của bên trung gian còn kém hiệu quả. Hầu hết hoạt động M&A ngân hàng đòi hỏi phải có sự tham gia của các nhà tư vấn, môi giới, luật sư,… Tuy nhiên, do có những hạn chế về hệ thống luật, tính chuyên nghiệp, cơ sở dữ liệu thông tin,… nên các đơn vị này chưa thể trở thành trung gian thiết lập một “thị trường” để các bên mua – bán gặp nhau. Do các công ty tư vấn M&A của Việt Nam còn thiếu và yếu nên tỷ lệ thành công trong giao dịch mua bán doanh nghiệp còn thấp.

Nguồn nhân lực của thị trường M&A còn thiếu. Thêm vào đó, các công ty thực hiện hoạt động này phải chịu sự cạnh tranh với rất nhiều các công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính khác nên chất lượng người lao động trong ngành này – nhất là lao động chất lượng cao còn yếu và chưa đủ để đáp ứng được nhu cầu. Khóa luận: Thực trạng về sáp nhập trong ngành ngân hàng Khóa luận: Thực trạng về sáp nhập trong ngành ngân hàng

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Biện pháp để sáp nhập trong ngành ngân hàng

One thought on “Khóa luận: Thực trạng về sáp nhập trong ngành ngân hàng

  1. Pingback: Khóa luận: Khái quát mua lại và sáp nhập ngành ngân hàng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464