Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng về báo cáo tài chính hợp nhất ở VN hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Hoàn thiện công tác lập và phân tích báo cáo tài chính hợp nhất ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.2.1 Nghiên cứu việc phân tích báo cáo tài chính hợp nhất năm 2007 ở Tập đoàn FPT
Khi kết thúc năm tài chính và các báo cáo tài chính đã được hoàn tất, tập đoàn FPT tiến hành phân tích tình hình tài chính thông qua hệ thống báo cáo tài chính với các nội dung chủ yếu: phân tích cấu trúc tài chính và tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh, phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán, phân tích hiệu quả kinh doanh.
Phương pháp chủ yếu được Tập đoàn FPT sử dụng để phân tích báo cáo tài chính là phương pháp so sánh bao gồm cả so sánh ngang (so sánh cùng một chỉ tiêu giữa các thời kỳ với nhau) và so sánh dọc (so sánh giữa các chỉ tiêu trên các báo cáo tài chính với nhau).
2.2.1.1 Phân tích quy mô, cấu trúc tài chính và tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh Khóa luận: Thực trạng về báo cáo tài chính hợp nhất ở VN
2.2.1.1.1 Phân tích quy mô, cấu trúc tài sản
a. Phân tích quy mô cơ cấu tài sản
Nguồn tài liệu dùng để đánh giá quy mô, cấu trúc tài chính của Tập đoàn là Bảng cân đối kế toán hợp nhất của Tập đoàn năm 2006, 2007 .
Bảng 15: Bảng phân tích quy mô, cơ cấu tài sản của FPT
Qua bảng phân tích quy mô, cơ cấu tài sản của Tập đoàn FPT ở trên ta có thể thấy tổng tài sản của Tập đoàn năm 2007 tăng 1.946.832.840.627 đồng so với năm 2006, tương ứng với tốc độ tăng là 57,1%. Nguyên nhân chính là do tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp tăng 1.298.057.864.016 đồng đóng góp 66,68% sự gia tăng của tổng tài sản. Trong đó đặc biệt là sự gia tăng của hàng tồn kho, với mức tăng 873.549.472.027 đồng tương ứng với tốc độ tăng 157,49%. Nhìn vào sự gia tăng hàng tồn kho ở mức độ lớn như vậy có thể thấy công tác tiêu thụ hàng của Tập đoàn chưa được tốt, hàng sản xuất ra quá dư thừa, không tiêu thụ hết. Bên cạnh đó, còn có các nhân tố quan trọng khác góp phần làm tăng tổng tài sản như: Tài sản cố định tăng 94,74% và đặc biệt là đầu tư dài hạn tăng 2320,5% . Đó là do trong năm 2007 là năm kinh tế Việt Nam tăng trưởng mạnh, thị trường chứng khoán bùng nổ, trong xu thế đó, Tập đoàn FPT đã mở ra các hướng mới về tài chính, bất động sản, quảng cáo trực tuyến và bán lẻ và mở thêm 8 công ty thành viên, liên kết, do vậy việc đầu tư tài sản cố định, đầu tư dài hạn tăng lên là tất yếu. Khóa luận: Thực trạng về báo cáo tài chính hợp nhất ở VN
Về cơ cấu tài sản có thể thấy tài sản ngắn hạn luôn chiếm tỉ trọng cao (luôn đạt trên 80%) trong đó đặc biệt là các khoản phải thu (năm 2006 chiếm tỉ trọng 51,53% tổng tài sản, năm 2007 giảm còn 35,53%). Tỷ trọng các khoản phải thu trên tổng tài sản quá cao như vậy chứng tỏ Tập đoàn đang bị đối tác chiếm dụng vốn, tuy nhiên tỉ lệ này có xu hướng giảm, chứng tỏ một sự cải thiện trong khả năng sử dụng vốn.
b. Phân tích quy mô, cơ cấu nguồn vốn.
Bảng 16: Bảng phân tích quy mô cơ cấu của nguồn vốn Tập đoàn FPT
Tương ứng với sự gia tăng của tổng tài sản, tổng hình thành tài sản trong năm 2007 cũng tăng 1.946.832.840.672 đồng trong đó chỉ tiêu tăng đáng kể là nợ phải trả, nợ phải trả tăng những 1.373.830.239.949 tỉ đồng, góp phần làm tăng 70,75% trong sự gia tăng của tổng nguồn vốn. Nguyên nhân làm cho nợ phải trả tăng mạnh như vậy (79,86%) là do nợ ngắn hạn của FPT tăng mạnh tăng hơn 1314 tỉ so với năm 2006 tương ứng với tốc độ 76,71%, nợ dài hạn cũng tăng với tốc độ chóng mặt 861,84% tuy nhiên do chiếm tỷ trọng nhỏ nên không ảnh hưởng nhiều đến sự gia tăng của tổng nguồn vốn.
Mặt khác, về cơ cấu nguồn vốn, nợ phải trả tuy có tỉ trọng xấp xỉ vốn chủ sở hữu song sự chênh lệch có chiều hướng ngày càng gia tăng, năm 2006 tỉ trọng nợ phải trả trong tổng nguồn vốn (hệ số nợ phải trả so với tổng nguồn vốn) là 50,46% đã tăng lên là 57,77%, trong đó tỉ trọng nợ ngắn hạn/tổng nguồn vốn luôn ở mức cao trên 50%, hệ số tài trợ (VCSH/tổng nguồn vốn) giảm từ 45,93% xuống còn 36,96%. Điều này cảnh báo cân bằng tài chính của Tập đoàn đang xấu đi, Tập đoàn sẽ gặp rắc rối trong việc thanh toán nợ ngắn hạn.
c. Phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh
Tập đoàn FPT phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh thông qua phân tích chỉ số vốn lưu động thuần.
Vốn lưu động thuần = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn = Vay nợ dài hạn + Vốn chủ sở hữu – Tài sản dài hạn
Chỉ tiêu này trong 2 năm 2006, 2007 đều trên 1300 tỉ đồng6, vốn lưu động thuần lớn hơn 0 chứng tỏ nguồn vốn dài hạn đủ để vừa tài trợ cho tài sản dài hạn và tài trợ 1 phần các tài sản ngắn hạn. Do vậy về trước mắt doanh nghiệp không phải chịu áp lực trả nợ ngắn hạn, hoạt động của doanh nghiệp có tính ổn định cao, tạo được lòng tin cho các nhà đầu tư.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2.2.1.3 Phân tích tình hình và khả năng thanh toán Khóa luận: Thực trạng về báo cáo tài chính hợp nhất ở VN
Phân tích tình hình các khoản phải thu, nợ phải trả của Tập đoàn.
Tập đoàn FPT phân tích tình hình các khoản phải thu, nợ phải trả đơn giản bằng cách tính chỉ số: tỷ lệ nợ phải thu so với nợ phải trả.
Tỷ lệ nợ phải thu so với nợ phải trả của FPT trong 2 năm 2006, 2007 là 102% và 60%, tỉ lệ này có xu hướng giảm mạnh, năm 2007 thấp hơn 100% nghĩa là Tập đoàn đang bị chiếm dụng vốn, bị trì hoãn việc trả nợ từ đối tượng khác nhiều hơn là doanh nghiệp đi chiếm dụng vốn của các đối tác khác, chứng tỏ việc thu hồi nợ là không tốt . Tập đoàn cần có chính sách tín dụng hợp lý để thu hồi các khoản nợ đồng thời tăng khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn cho các tổ chức khác, giảm lượng vốn bị chiếm dụng để tăng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh. b, Phân tích khái quát khả năng thanh toán của Tập đoàn.
Tập đoàn FPT sử dụng chỉ tiêu Hệ số khả năng thanh toán chung để đánh giá khái quát khả năng thanh toán.
Bảng 17: Bảng tính hệ số khả năng thanh toán chung (đơn vị: VNĐ)
Báo cáo thường niên của Tập đoàn FPT năm 2007
Ta có thể thấy trong 2 năm 2006 và 2007 hệ số khả năng thanh toán chung đều lớn hơn 1 điều này chứng tỏ toàn bộ giá trị tài sản thuần hiện có doanh nghiệp đủ khả năng thanh toán các khoản nợ đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường.
Phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn
Để phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn của mình, FPT sử dụng các chỉ tiêu sau: hệ số thanh toán hiện thời, hệ số khả năng thanh toán nhanh. Ta có các chỉ tiêu đó trong năm 2005, 2006, 2007 là:
Bảng 18: Bảng thể hiện các chỉ số hệ số thanh toán hiện thời, hệ số thanh toán nhanh
Số liệu qua các thời kỳ cho thấy FPT luôn duy trì khả năng thanh toán ở mức an toàn, doanh nghiệp đủ tài sản (tiền) để chi trả nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn nhưng mặt khác cho thấy doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiều vào tài sản lưu động so với nhu cầu dẫn đến hiệu quả sử dụng nguồn lực là chưa cao.
So sánh mối tương quan giữa hệ số thanh toán nhanh và hệ số thanh toán nợ ngắn hạn thấy được các khoản phải thu ngắn hạn và hàng tồn kho chiếm tỷ trọng vừa phải trong tài sản ngắn hạn. Năm 2007, số ngày tồn kho bình quân của Tập đoàn là 33 ngày, công nợ bình quân là 30 ngày luôn đảm bảo yếu tố an toàn trong quá trình tăng trưởng nhanh của Tập đoàn. Song sang năm 2007 cả hệ số thanh toán hiện thời và hệ số thanh toán nhanh đều giảm so với 2006 đó là do công nợ của doanh nghiệp tăng & tỉ trọng các khoản phải thu và hàng tồn kho đang ngày càng tăng, điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đang giảm dần khả năng thanh toán nợ ngắn hạn.
Nói tóm lại, phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán của Tập đoàn FPT để thấy tài sản của Tập đoàn đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ. Tập đoàn cần có biện pháp thu hồi các khoản phải thu , tiết kiệm chi phí, chủ động dòng tiền thu vào đảm bảo tự chủ tài chính cũng như sử dụng tốt hơn các nguồn lực tài chính của mình.
2.2.1.4 Phân tích hiệu quả kinh doanh tại Tập đoàn FPT.
Để đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh, trước tiên chúng ta phải xem xét sự biến động các chỉ tiêu trong báo cáo kết quả kinh doanh để thấy được sự tăng giảm của lợi nhuận doanh nghiệp và các nhân tố ảnh hưởng tới nó. Khóa luận: Thực trạng về báo cáo tài chính hợp nhất ở VN
Các số liệu đó được tính cho năm 2006 và 2007 là:
Bảng 19: Bảng phân tích báo cáo kết quả kinh doanh của FPT năm 2007
Với tổng doanh thu 13.872 tỷ VNĐ, FPT đã hoàn thành 98,9% kế hoạch năm 2007, tăng trưởng 18,6% so với năm 2006. Điểm nổi bật nhất trong kết quả kinh doanh 2007 là mức tăng trưởng lợi nhuận cao hơn rất nhiều so với mức tăng trưởng doanh thu. Nếu như doanh thu năm 2007 chỉ tăng 18,6% so với 2006 thì lợi nhuận trước thuế tăng 68,9% so với cùng kì năm ngoái. Trong năm 2007, lợi nhuận trước thuế toàn Tập đoàn đạt 1.029 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ đạt 737,5 tỷ đồng với mức tăng trưởng ấn tượng 63,7% so với năm 2006. Điều đó chứng tỏ tốc độ tăng thu nhập lớn hơn tốc độ tăng chi phí rất nhiều (tốc độ tăng chi phí cao nhất là ở chi phí quản lý tăng 63,23%). Do vậy Tập đoàn cần xác định các yếu tố tác động, xem xét để tiết giảm chi phí quản lý ở các kỳ sau.
Bên cạnh đó, Tập đoàn còn đi vào phân tích cụ thể kết quả hoạt động của những mảng kinh doanh truyền thống. Một mặt xem xét sự biến động của các mảng truyền thống qua thời gian, một mặt so sánh tỉ lệ thực hiện kế hoạch đã đề ra. Có thể thấy trong các mảng truyền thống, hoạt động đào tạo đang đem lại doanh số và lãi trước thuế lớn nhất cho Tập đoàn (đóng góp 77% vào doanh số, 46% vào lãi trước thuế), kế đến là xuất khẩu phần mềm. Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch từng ngành cũng rất cao đặc biệt là các ngành: phân phối, đào tạo, xuất khẩu phần mềm đạt doanh thu vượt mức kế hoạch đề ra. Duy chỉ có ngành bán lẻ chỉ đạt 24,5% kế hoạch đề ra. Nguyên nhân là do năm 2007, là năm đầu tiên Công ty Bán lẻ FPT đi vào hoạt động. Do khởi đầu khá muộn, tháng 8/2007, và cần nhiều thời gian làm marketing, tạo lập vị thế và chiếm lĩnh thị phần trong lĩnh vực kinh doanh nên đã không hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch.
Biểu đồ 1: Tỷ lệ hoàn thành doanh thu theo kế hoạch của Tập đoàn FPT năm 2007
Tỷ lệ hoàn thành doanh thu theo kế hoạch năm 2007
Đồng thời FPT còn tính toán nhóm tỉ suất về khả năng sinh lời bao gồm các chỉ số: Lãi gộp/Doanh thu, Lợi nhuận thuần/Doanh thu, Lãi ròng/Doanh thu, Lãi ròng/tổng tài sản (ROA), lãi ròng/vốn chủ sở hữu (ROE).
Bảng 20: Bảng phân tích các chỉ tiêu về khả năng sinh lời của Tập đoàn FPT
Có thể dễ dàng nhận thấy xu hướng gia tăng trong nhóm chỉ tiêu này. Các chỉ lợi nhuận gộp trên doanh thu, lợi nhuận thuần trên doanh thu, lãi ròng trên doanh thu, ROA các năm sau đều cao hơn các năm trước. Điều này phản ánh sự gia tăng hiệu quả kinh doanh của Tập đoàn. Tuy vậy chỉ tiêu ROE của năm 2006, 2007 lại thấp hơn hẳn năm 2005, có thể lý giải điều này là do trong 2 năm 2006, 2007 để đáp ứng nhu cầu về vốn, doanh nghiệp đã vay nợ thêm rất nhiều dẫn đến tỉ lệ vay nợ/Tổng tài sản rất cao (trên 70%). Do đó sẽ dẫn đến việc gia tăng chi phí vay nợ làm giảm lãi ròng, tuy vậy chỉ tiêu ROA của FPT năm 2007 vẫn rất cao (20,1%), tức là cứ bỏ ra 100 đồng đầu tư tài sản thì thu về được 20,1 đồng sau khi đã trừ đi mọi chi phí.
Ngoài ra, các chủ sở hữu và các nhà đầu tư đều quan tâm đến khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu, năm 2007 ROE của FPT là 49,7% chỉ tiêu này cho biết cứ 100đ vốn chủ sở hữu bỏ ra thì thu lại được 49,7 đồng, tỉ lệ này cao hơn lãi suất của ngân hàng rất nhiều, do vậy cổ phiếu của FPT rất thu hút nhà đầu tư.
2.2.2 Nhận xét về công tác phân tích báo cáo tài chính hợp nhất ở Việt Nam Khóa luận: Thực trạng về báo cáo tài chính hợp nhất ở VN
2.2.2.1 Ưu điểm
Các Tập đoàn đã sử dụng kết hợp cả 4 phương pháp phân tích để phân tích báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất: phương pháp so sánh, phương pháp tỷ lệ, phương pháp loại trừ, phương pháp Dupont, trong đó phương pháp so sánh là phương pháp được sử dụng thường xuyên và xuyên suốt trong tất cả các nội dung phân tích. Phương pháp so sánh giúp các nhà quản trị thấy được sự biến động về trị số tuyệt đối và tương đối của từng khoản mục theo thời gian như: quy mô vốn, tài sản tăng hay giảm. Phương pháp loại trừ cho phép nhà quản trị xác định được sự tăng giảm trị số từng khoản mục theo thời gian là do những nhân tố nào gây ra, mức độ ảnh hưởng của những nhân tố đó như thế nào. Mặt khác, sử dụng phương pháp tỷ lệ nhà quản trị sẽ tính toán ra được hệ thống các chỉ tiêu, qua đó có thể bằng kinh nghiệm và thực tiễn đưa ra nhận xét về hoạt động của Tập đoàn. Cuối cùng bằng phương pháp Dupont nhà quản trị sẽ thấy mối liên hệ giữa các chỉ tiêu này, có thể phân tích chúng trong mối quan hệ qua lại lẫn nhau để thấy được bức tranh tổng quát về tình hình tài chính Tập đoàn. Việc phối hợp các phương pháp trên đã làm việc phân tích báo cáo tài chính hợp nhất thêm sâu sắc và hiệu quả.
Về nội dung của phân tích báo cáo tài chính hợp nhất là tương đối toàn diện, đầy đủ các mặt tài chính từ qui mô, cơ cấu của tài sản nguồn vốn, tình hình và khả năng thanh toán, đánh giá hiệu quả kinh doanh của Tập đoàn. Việc phân tích không chỉ dừng lại ở quy mô mà đã phần nào đi sâu vào phân tích về mặt chất lượng. Vì vậy, các kết luận đưa ra có tính khoa học và sát với thực tế. Do vậy, việc phân tích này đã đáp ứng phần nào nhu cầu công tác quản trị của Tập đoàn, nhu cầu phân tích đầu tư của nhà đầu tư.
Công tác phân tích đã được các nhà quản trị làm cho sinh động và trực quan hơn bằng việc sử dụng hệ thống các biểu đồ hình cột và hình tròn bên cạnh việc sử dụng các bảng biểu. Điều này làm cho nội dung phân tích không chỉ đầy đủ và trực quan mà còn làm phong phú và linh hoạt thêm cách trình bày kết quả đánh giá khi sử dụng các phương pháp phân tích báo cáo tài chính.
Một ưu điểm nên duy trì và phát huy trong công tác phân tích báo cáo tài chính hợp nhất tại các Tập đoàn ở Việt Nam là kết quả của phân tích báo cáo tài chính không dừng ở việc đưa ra các kết luận về thực trạng tình hình tài chính của Tập đoàn phản ánh qua hệ thống báo cáo tài chính mà còn nêu ra các phương hướng và giải pháp có tính chất khả thi để phát huy mặt mạnh, khắc phục điểm yếu trong hoạt động kinh doanh và nâng cao năng lực tài chính của doanh nghiệp mình.
2.2.2.2 Nhược điểm Khóa luận: Thực trạng về báo cáo tài chính hợp nhất ở VN
Báo cáo tài chính hợp nhất là một báo cáo tài chính tổng hợp rất phức tạp. Hơn nữa, nó còn rất mới mẻ và mới chỉ được hướng dẫn, đưa vào sử dụng bắt buộc từ 4 năm trở lại đây. Có thể thấy một thực tế là năm 2006 hầu hết các báo cáo tài chính hợp nhất của các Tập đoàn kể cả các Tập đoàn lớn vẫn còn không đầy đủ cả 4 mẫu báo cáo theo quy định của pháp luật. Việc lập báo cáo tài chính hợp nhất đã vậy, việc phân tích báo cáo tài chính hợp nhất lại càng mới mẻ và phức tạp hơn.
Thứ nhất: Các cá nhân, tổ chức thực hiện công tác phân tích báo cáo tài chính hợp nhất vẫn còn chưa thấy được điểm khác biệt với phân tích báo cáo tài chính thông thường. Do vậy họ thực hiện việc phân tích báo cáo tài chính hợp nhất như phân tích báo cáo tài chính thông thường: họ phớt lờ chỉ tiêu lợi ích của cổ đông thiểu số trong bảng cân đối kế toán, trong kết quả kinh doanh và tiến hành việc phân tích báo cáo tài chính hợp nhất như không hề có 2 chỉ tiêu đó.
Thứ hai: Cũng như việc phân tích báo cáo tài chính thông thường, hoạt động phân tích báo cáo tài chính mới chủ yếu được thực hiện trong nội bộ công ty, Tập đoàn, hoặc các ngân hàng, công ty chứng khoán. Việc phân tích báo cáo tài chính hợp nhất của các cá nhân trong đầu tư chứng khoán là hầu như không có. Một mặt là do nhà đầu tư cá nhân ở Việt Nam chưa có thói quen phân tích báo cáo tài chính khi đầu tư chứng khoán. Mặt khác cũng do thực trạng chưa minh bạch hóa thông tin trên báo cáo tài chính. Nhiều khi những con số công bố chỉ là sự công bố trên giấy tờ, thực tế nó đã được qua quá trình xử lý để làm đẹp bản báo cáo tài chính. Chính vì độ tin cậy của số liệu trên báo cáo tài chính không cao, kể cả các báo cáo tài chính đã qua kiểm toán nên nhà đầu tư cá nhân không tin tưởng vào việc phân tích báo cáo tài chính, họ cho rằng đó chỉ là việc tốn công vô ích khi phân tích các số liệu được các doanh nghiệp tô vẽ ra.
Song cũng phải thừa nhận, các số liệu trên báo cáo tài chính hợp nhất nhiều khi không thể phản ánh đúng tình trạng của Tập đoàn. Bởi một khâu rất quan trọng trong lập báo cáo tài chính hợp nhất là việc loại trừ các giao dịch nội bộ. Nhưng có những trường hợp điều kiện không cho phép hoặc việc loại trừ giao dịch nội bộ quá phức tạp, Tập đoàn không thể loại trừ triệt để ảnh hưởng của các giao dịch nội bộ, điều này cũng sẽ làm bóp méo các chỉ số tài chính phân tích.
Bên cạnh phương pháp so sánh là phương pháp luôn được sử dụng trong phân tích báo cáo tài chính, phương pháp tỷ lệ được xem là phương pháp hiệu quả thứ 2. Đối với các báo cáo tài chính của các Tập đoàn đơn lẻ, ta chỉ cần tính ra các chỉ số rồi so sánh sự biến động của các chỉ số đó qua thời gian, so với trung bình ngành, so với Tập đoàn cùng ngành khác, sẽ xác định được mức độ của công ty mình. Song do tính chất của nhóm công ty, gồm nhiều công ty đa ngành, nằm trong chuỗi dây chuyền sản xuất do vậy các kết quả tính ra có thể là trung bình của rất nhiều ngành nghề (trung bình cả thị trường) hơn nữa khi lập báo cáo tài chính hợp nhất không được loại trừ các công ty con có hoạt động kinh doanh quá khác biệt với nhóm công ty do vậy việc so sánh với trung bình ngành, Tập đoàn cùng ngành ở những Tập đoàn lớn là gần như không hiệu quả.
Bên cạnh đó, ngay cả trên thế giới, cũng chưa có sự thống nhất về cách tính các chỉ tiêu dù chỉ thêm bớt một vài thành tố thứ yếu. Điều này cũng là một trong những nguyên nhân gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc phân tích báo cáo tài chính hợp nhất. Ví dụ như khi tính chỉ số sức sinh lời của tài sản (ROA): Khóa luận: Thực trạng về báo cáo tài chính hợp nhất ở VN
Song có một nguyên tắc khi tính các chỉ tiêu đo lường hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp là: Nếu tính vốn chủ sở hữu bao gồm cả lợi ích của cổ đông thiểu số hoặc tổng tài sản (đã gồm cả lợi ích của cổ đông thiểu số) thì các chỉ tiêu về kết quả kinh doanh cũng cần phải tính cả phần lợi ích của cổ đông thiểu số.
Các Tập đoàn của Việt Nam vẫn còn rất lúng túng, hay nhầm lẫn về vấn đề này. Có thể thấy ngay trong phân tích báo cáo tài chính của FPT. Khi tính chỉ tiêu ROE, công ty đã lấy lợi nhuận thuần sau thuế (bao gồm cả lợi ích của cổ đông thiểu số) chia cho vốn cổ phần của công ty (không bao gồm lợi ích cổ đông thiểu số). Điều này sẽ làm phóng đại chỉ tiêu ROE. Hoặc như trường hợp tính chỉ tiêu EPS. Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 30 (VAS 30) quy định các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán phải công bố chỉ số EPS trong báo cáo tài chính. Song lại chỉ đưa ra cách tính chỉ tiêu EPS một cách chung chung. Dẫn đến nhiều công ty lập báo cáo tài chính hợp nhất tính EPS bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế (gồm cả lợi ích cổ đông thiểu số) chia cho số cổ phiếu bình quân lưu hành trong kỳ.
Về phương pháp phân tích: Công việc phân tích báo cáo tài chính hợp nhất mới chủ yếu được thực hiện bằng phương pháp so sánh. Phương pháp phân tích này rất tiện lợi và dễ áp dụng trong công tác phân tích báo cáo tài chính nói chung và báo cáo tài chính hợp nhất nói riêng. Đối với một số nội dung phân tích không thể chỉ sử dụng phương pháp trên là đủ bởi nếu chỉ sử dụng phương pháp so sánh hoặc tỷ lệ, cân đối sẽ chỉ cho thấy cái nhìn bề ngoài mà không thấy bản chất bên trong, không thấy được nguyên nhân của sự biến động từ đó tạo ra khó khăn trong công tác đưa ra các quyết định kinh doanh. Một ví dụ điển hình là việc phân tích hai chỉ tiêu ROE và ROA. Nếu chỉ sử dụng phương pháp tỷ lệ để tính toán sau đó sử dụng phương pháp so sánh để so sánh chỉ tiêu này so với năm trước hoặc so với mục tiêu tự kiến. Điều này không cho nhà quản trị thấy và đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố khác cấu thành nên chỉ tiêu ROA, ROE đến hai chỉ tiêu này. Điều này hoàn toàn có thể làm được thông qua việc sử dụng phương pháp Dupont như đã trình bày ở chương I.
Cũng do việc chỉ sử dụng phương pháp so sánh và tỉ lệ trong việc phân tích báo cáo tài chính hợp nhất của doanh nghiệp mà hầu như nội dung phân tích báo cáo tài chính hợp nhất mới chỉ đáp ứng được phân tích căn bản, chưa đi sâu vào phân tích các mối quan hệ chéo giữa tài sản – nguồn vốn (nguồn tài trợ tài sản), phân tích cụ thể chi tiết tuổi nợ phải thu cũng như phải trả.
Về tài liệu phân tích: Các Tập đoàn đã sử dụng thông tin trên một số báo cáo tài chính để đánh giá, mà chủ yếu sử dụng các thông tin trên bảng cân đối kế toán hợp nhất, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất, còn những thông tin trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ hợp nhất hầu như chưa sử dụng. Như vậy, sẽ không có thông tin về nhu cầu khả năng tạo ra tiền và hoạt động nào có khả năng tạo ra tiền nhiều hơn.
Song nguyên nhân của việc này cũng một phần do ở Việt Nam vẫn chưa có văn bản nào hướng dẫn lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ hợp nhất, việc lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ hợp nhất hoàn toàn do các Tập đoàn tự thực hiện trên cơ sở văn bản quy định, hướng dẫn lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ nói chung.
Về đội ngũ cán bộ làm công tác phân tích: Hiện tại, ở các Tập đoàn hầu như chưa có bộ phận chuyên trách phân tích tài chính nói chung và phân tích báo cáo tài chính nói riêng. Việc phân tích này thường do bộ phận kế toán của Tập đoàn thực hiện, nội dung phân tích còn rất sơ sài, chỉ mang tính hình thức. Chính vì vậy kết quả phân tích chưa có giá trị thực tiễn. Việc phân tích hiện nay chủ yếu là phân tích tĩnh (phân tích số liệu tại một thời điểm). Trên thực tế hoạt động tài chính của Tập đoàn luôn luôn biến động, mà sự biến động đó có ảnh hưởng rất lớn đến tình hình tài chính của Tập đoàn. Do đó, nếu chỉ dựa vào phân tích tĩnh sẽ không dự đoán được tình hình tài chính trong tương lai gần của Tập đoàn. Khóa luận: Thực trạng về báo cáo tài chính hợp nhất ở VN
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp hoàn thiện báo cáo tài chính ở VN

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Tổng quan báo cáo tài chính hợp nhất tại Việt Nam