Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính của Cty Đan Việt

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính của Cty Đan Việt hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Phân tích tình hình tài chính tại Công ty Thép Đan Việt dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.2.1. Phân tích tài chính chung tại Công ty TNHH TM thép Đan Việt

2.2.1.1. Phân tích cơ cấu và diễn biến tài sản

Phân tích theo chiều ngang

Bảng 2: Phân tích cơ cấu và diễn biến tài sản (theo chiều ngang)

Qua bảng phân tích cân đối kế toán trên ta thấy giá trị tài sản của công ty trách nhiêm hữu hạn Thương mại thép Đan Việt biến động cụ thể như sau:

Tổng tài sản năm 2022 so với 2021 giảm là 9.107.651.603 đ tương ứng với tỷ lệ giảm là 10,25%. Song năm 2023 so với 2022 lại tăng 63.083.129.141đ tương ứng với tỷ lệ tăng là 79,13%, nguyên nhân tăng nhanh là do:

Tài sản ngắn hạn

Năm 2022 so với năm 2021 tài sản ngắn hạn giảm 10.922.783.143 đ tương ứng với mức giảm 19,56% trong khi đó tài sản ngắn hạn năm 2023 so với 2022 lại tăng cao 65.269.855.793 đ tương ứng với tăng 145,27%. Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính của Cty Đan Việt

Tiền và các khoản tương đương tiền năm 2022 giảm 2.688.279.776 đ tương ứng với mức giảm 81.64%. Nhưng sang năm 2023 thì công ty đã điều chỉnh lượng tiền mặt tại quỹ tăng lên khá cao 3.114.747.259 đ tương ứng với tỷ lệ tăng 515,08%, có thể thấy lượng tiền mặt tồn tại quỹ của công ty tương đối nhiều, điều này không tốt vì làm chậm vòng quay vốn dẫn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh sẽ không hiệu quả.

Khoản phải thu khách hàng năm 2022 so với năm 2021 tăng 1.016.643.218đ tương ứng với tăng 12,37%. Nhưng năm 2023, khoản phải thu khách hàng đã tăng lên 9.865.816.895đ so với năm 2022, tương ứng tăng 106,84%. Điều này cho thấy doanh nghiệp đang bị khách hàng chiếm dụng vốn.

Hàng tồn kho năm 2021 giảm 15.080.257.378đ, tương ứng với mức giảm 35,45% so với năm 2021. Năm 2022 hàng tồn kho tăng 52.901.654.820đ tương ứng với tăng 192,68%. Do đặc điểm của doanh nghiệp là công ty kinh doanh mặt hàng sắt thép mà giá sắt thép ko ngừng biến động, năm 2021 nền kinh tế bị khủng hoảng nên giá thép bị hạ thấp nên doanh nghiệp giảm trữ lượng tồn kho mặt hàng thép đến năm 2022 khi giá mặt hàng thép tăng trở lại thì ban lãnh đạo công ty quyết định tăng trữ lượng hàng tồn kho để bán và chờ giá thép tiếp tục tăng.

Năm 2022 tài sản ngắn hạn khác tăng 5.648.846.793đ, tương ứng với mức tăng 284.59% so với năm 2021. Năm 2023 khoản tài sản ngắn hạn khác giảm. nhưng không đáng kể 612.363.181đ tương ứng với mức giảm 8,02% so với năm 2022.

Tài sản dài hạn

Qua bảng phân tích biến động tài sản ta thấy quy mô của tài sản tăng lên chủ yếu là do tăng về tài sản cố định, với mức tăng liên tục trong các năm như sau: năm 2022 so với năm 2021 tăng 1.995.395.540 đ tương ứng với tăng 6,08%. Năm 2023 so với năm 2022 giảm 2.186.726.652 đ tương ứng với mức giảm 6,28% chủ yếu là do việc giảm tài sản cố định. Điều này chứng tỏ doanh nghiệp đã đầu tư vào phương tiện vận tải, máy móc thiết bị để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Cụ thể:

Tài sản cố định năm 2021 so với năm 2021 tăng 1.995.395.540 đ tương ứng với tăng 6.08%, điều này do doanh nghiệp đã đầu tư mua mới dây chuyền máy cắt của nhật. Năm 2022 tài sản cố định có giảm nhưng giảm không đáng kể, giảm 2.186.726.652 đ tương ứng với mức giảm so với năm 2021, điều này là do công ty bán bớt máy móc thiết bị không còn sử dụng.

Phân tích theo chiều dọc

Bảng 3 : Phân tích cơ cấu và diễn biến tài sản (theo chiều dọc)

Theo bảng 2 đánh giá khái quát về tài sản thì ta thấy quy mô sử dụng tài sản cả 3 năm 2021, 2021 và 2022 đều tăng. Để hiểu rõ hơn tình hình biến động trên ta cần đi sâu vào phân tích từng khoản mục trên bảng kết cấu tài sản. Qua biểu đồ sau đây chúng ta sẽ có cái nhìn tổng quát về cơ cấu tài sản của công ty qua 3 năm 2021, 2021 và 2022:

Biểu đồ 1. Tài sản dài hạn so với tài sản ngắn hạn 2021-2023

Tài sản ngắn hạn:

Trong năm 2021 tài sản ngắn hạn có giá trị 55.851.418.528đ chiếm tỷ trọng 62,87%. Sang năm 2022 tài sản ngắn hạn có giá trị 44.928.635.385đ chiếm tỷ trọng 56,36% và đến năm 2023 thì tài sản ngắn hạn có giá trị 110.198.491.178đ chiếm tỷ trọng 77,17% trong tổng tài sản. Như vậy tài sản ngắn hạn có sự thay đổi lớn trong 3 năm cả về giá trị và tỷ trọng. Cụ thể biến động của từng khoản mục như sau:

  • Năm 2021 tỷ trọng tiền và các khoản tương đương tiền có giá trị 3.292.988.247đ chiếm tỷ trọng không đáng kể, chiếm 3,71% trong tổng giá trị tài sản, điều này làm ảnh hưởng tới tính linh hoạt của khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp. Sang năm 2022 khoản này có giá trị 604.708.471đ chiếm tỷ trọng 0,76% trong tổng tài sản. Việc giảm tiền năm 2023 làm cho khoản này chiếm tỷ trọng nhỏ nhất trong tài sản ngắn hạn. Như vậy năm 2021 công ty đã để tồn quỹ tiền mặt rất ít, điều này không tốt vì nó sẽ làm giảm khả năng thanh toán nhanh và giảm tính chủ động của doanh nghiệp. Do đó, năm 2022 tiền và các khoản tương đương tiền đã được điều chỉnh tăng lên và có giá trị 3.719.455.730đ chiếm tỷ trọng 2,60% trong tổng tài sản, tương ứng tăng 3.114.747.259đ , tỷ trọng tăng 1,85% so với 2021. Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính của Cty Đan Việt
  • Khoản phải thu khách hàng năm 2021 có giá trị 8.217.800.158đ chiếm tỷ trọng 9,25%. Năm 2022 khoản này có giá trị 9.234.443.376đ chiếm tỷ trọng 11,58%, tăng lên 1.016.643.218đ nhưng tỷ trọng lại tăng 2,33% so với 2021. Và năm 2023 thì phải thu khách hàng có giá trị 19.100.260.271đ, chiếm tỷ trọng 13,37%, tương ứng tăng 9.865.816.895đ, tỷ trọng tăng 1,79% so với 2022. Đây là một dấu hiệu không tốt đối với công ty, vì qua 3 năm khoản phải thu đều tăng lên đặc biệt là năm 2023 với mức tăng khá cao cho thấy doanh nghiệp đang bị chiếm dụng vốn rất lớn.
  • Trong tổng tài sản ngắn hạn chúng ta có thể thấy cả 3 năm 2021, 2021 và 2022 hàng tồn kho luôn chiếm tỷ trọng lớn. Cụ thể năm 2021 hàng tồn kho là 42.535.978.152đ chiếm tỷ trọng 47,88% trong tổng tài sản. Năm 2021 hàng tồn kho là 27,455,720,774đ chiếm tỷ trọng 34.44%, giảm 15,080,257,378đ, tỷ trọng cũng giảm 13,45% và đến năm 2022 hàng tồn kho là 80.357.375.594đ chiếm tỷ trọng 56,27%, tăng 52.901.654.820đ, tỷ trọng tăng 21,83%. Hàng tồn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản vì đặc thù kinh doanh của doanh nghiệp là kinh doanh mặt hàng sắt thép có trữ lượng hàng tồn kho lớn. So sánh 3 năm có mức tăng giảm lượng hàng tồn kho có sự thay đổi, đặc biệt là năm 2021 lượng hàng tồn kho giảm mạnh do nền kinh tế suy thoái và giá sắt thép giảm mạnh ban lãnh đạo công ty quyết định giảm lượng hàng tồn kho để giảm chi phí kho bãi cũng như chi phí lãi vay ngân hàng.
  • Tài sản ngắn hạn khác của công ty gồm các khoản thuế giá trị gia tăng được khấu trừ và các khoản chi phí trả trước ngắn hạn. Năm 2021 tài sản ngắn hạn khác có giá trị 1.984.915.971đ chiếm tỷ trọng 2,23%. Sang năm 2021 tài sản ngắn hạn khác là 7.633.762.764đ chiếm tỷ trọng 9,58%, tăng 5.648.846.793đ, tỷ trọng tăng 7.34% . Và năm 2022 khoản này giảm nhẹ xuống còn 7.021.399.583đ chiếm tỷ trọng 4,92%, giảm 612.363.181đ tương ứng giảm tỷ trọng 4,66% so với 2021.

Tài sản dài hạn:

Do đặc thù về loại hình kinh doanh của công ty là kinh doanh và gia công các sản phẩm sắt thép nên tài sản cố định chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng giá trị tài sản. Tỷ trọng tài sản cố định có sự thay đổi trong 3 năm , năm 2021 chiếm 36.92%, năm 2021 chiếm 43,64% và năm 2022 chiếm 22,83%. Có sự thay đổi này là do năm 2021 doanh nghiệp mua thêm dây chuyền máy cắt từ nhật bản để gia công được nhiều loại sắt thép có kích thước khác nhau, đến năm 2022 ban lãnh đạo công ty quyết định bán 1 số dây chuyền không còn cần thiết để giảm bớt chi phí.

Qua phân tích có thể thấy kết cấu tài sản có những biến động rõ nét. Tỷ trọng tài sản dài hạn có sự thay đổi liên tục trong 3 năm, song song với đó là tỷ trọng tài sản ngắn hạn tăng lên, đây là do đặc thù loại hình kinh doanh của doanh nghiệp là kinh doanh và gia công sắt thép. Trong tài sản dài hạn của công ty thì tài sản cố định chiếm tỷ không lớn, chiếm dưới 45%. Trong tài sản ngắn hạn thì khoản tiền và tương đương tiền, khoản phải thu khách hàng và hàng tồn kho là chiếm tỷ trọng lớn và có xu hướng tăng lên, nhất là hàng tồn kho công ty cần có những điều chỉnh hợp lí về khoản tiền mặt và hàng tồn kho để tăng vòng quay vốn và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

2.2.1.2. Phân tích cơ cấu và diễn biến nguồn vốn Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính của Cty Đan Việt

Phân tích theo chiều ngang

Bảng 4 : Phân tích cơ cấu và diễn biến nguồn vốn (theo chiều ngang)

Thông qua bảng phân tích biến động nguồn vốn có thể thấy: cuối năm 2022 tổng nguồn vốn của công ty so với năm 2021 giảm 9.107.651.603đ tương ứng với tỷ lệ giảm 10,25% và năm 2023 tổng nguồn vốn tăng cao với tốc độ tăng cao hơn rất nhiều so với năm 2022 chứng tỏ công ty đã tích cực trong việc huy động vốn đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do:

Nợ phải trả: năm 2022 so với 2021 giảm 32.955.132.113đ tương ứng với tỷ lệ giảm 46,70%, song năm 2023 nợ phải trả tăng 58.690.234.637đ tương ứng với tăng 156,06% so với năm 2022. Trong nợ phải trả có các khoản vay và nợ ngắn hạn, dài hạn biến đổi một cách đột ngột:

Nợ ngắn hạn: năm 2022 so với năm 2021 nợ ngắn hạn giảm 30.347.341.349đ tương ứng giảm 54,46%, nhưng sang năm 2023 khoản này lại tăng 65.555.677.916đ so với năm 2022. Trong nợ ngắn hạn thì khoản phải trả cho người bán giảm nhiều nhất, cụ thể năm 2021 phải trả người bán là 19.877.364.644đ, nhưng đến năm 2022 công ty không phải thanh toán cho doanh nghiệp khác. Năm 2023 nợ ngắn hạn tăng chủ yếu do tăng các khoản vay và nợ ngắn hạn, tăng 62.798.435.159đ tương ứng tăng 256,08%, phải trả cho người bán cũng tăng 3.375.024.629đ .

Nợ dài hạn: trong khi nợ ngắn hạn năm 2022 giảm thì nợ dài hạn cũng giảm 2.607.790.764đ tương ứng tăng 17,58% so với năm 2021. Năm 2023 song song với việc nợ ngắn hạn tăng cao thì các khoản nợ dài hạn lại giảm 6.865.443.279đ tương ứng với tỷ lệ giảm là 56,14%.

Qua phân tích nợ phải trả có thể thấy công ty có khả năng chiếm dụng vốn, tuy nhiên nếu công ty không có khả năng thanh toán tốt thì công ty sẽ bị ràng buộc hoặc bị sức ép từ các khoản nợ vay. Ví như năm 2023 doanh nghiệp tăng các khoản vay nợ ngắn hạn trong khi đó lại giảm các khoản nợ dài hạn điều này rất có thể dẫn đến rủi ro cho doanh nghiệp.

Nguồn vốn chủ sở hữu của công ty liên tục tăng trong các năm: 2022 tăng 23.847.480.510đ tương ứng tăng 130,55%. Trong đó vốn đầu tư của chủ sở hữu tăng 27.000.000.000đ tương ứng tăng 180,00% và lợi nhuận chưa phân phối giảm 3.156.183.841đ tương ứng giảm 96,73%. Năm 2023 nguồn vốn chủ sở hữu tăng 4.392.894.504đ tương ứng tăng 10,43% trong đó phải kể đến khoản lợi nhuận chưa phân phối tăng tương ứng tăng 4.392.894.504đ tương ứng với mức tăng 4.112,45%. Việc bổ sung nguồn vốn chủ sở hữu đã giúp cho tính tự chủ về tài chính của công ty tăng lên, công ty cần bổ sung thêm nguồn vốn này ở kì tiếp theo để có một khả năng tài chính vững vàng.

Phân tích theo chiều dọc:

Bảng 5 : Phân tích cơ cấu và diễn biến nguồn vốn (theo chiều dọc)

Theo bảng 4 đánh giá khái quát về nguồn vốn thì ta thấy tổng nguồn vốn cả 3 năm 2021, 2021 và 2022 đều có sự thay đổi. Để hiểu rõ hơn tình hình biến động trên ta cần đi sâu vào phân tích từng khoản mục trên bảng kết cấu nguồn vốn. Qua biểu đồ sau đây chúng ta sẽ có cái nhìn tổng quát về cơ cấu nguồn vốn của công ty qua 3 năm 2021, 2022 và 2023: Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính của Cty Đan Việt

Biểu đồ 2 : Nguồn vốn chủ sở hữu so với nợ phải trả 2021-2023

Theo bảng phân tích kết cấu nguồn vốn ta thấy năm 2021 vốn chủ sở hữu là 18.267.293.198đ chiếm tỷ trọng nhỏ 20.56% sang năm 2022 giá trị vốn chủ sở hữu tăng lên là 42.114.773.708đ và tỷ trọng vốn tăng lên 52.83% và năm 2023 vốn chủ sở hữu là 46.507.668.212đ , chiếm tỷ trọng 32.57%. Vốn chủ sở hữu tăng là do doanh nghiệp huy động vốn chủ sở hữu tăng và do khoản lợi nhuận chưa phân phối cũng tăng. Nhưng tỷ trọng vốn chủ sở hữu giảm đi là do cơ cấu nợ phải trả tăng lên. Nợ phải trả liên tục tăng cao trong 3 năm. Năm 2022 so với 2021 tuy có giảm 32.955.132.113đ, tỷ trọng giảm 32.26%. Nhưng đến năm 2023 so với 2022 tăng khá cao 58.690.234.637đ, tỷ trọng tăng 20.26%. Đặc biệt trong năm 2023 nợ ngắn hạn tăng lên 65.555.677.916đ, tỷ trọng tăng 31.84%, trong khi đó nợ dài hạn giảm 6.865.443.279đ, tỷ trọng giảm 11.58%, ta có thể thấy doanh nghiệp có khả năng huy động vốn vay rất tốt tuy nhiên việc tăng khoản vay ngắn hạn và giảm khoản vay dài hạn rất có thể dẫn đến rủi ro trong kinh doanh. Doanh nghiệp cần có điều chỉnh giữa khoản vay ngắn hạn và vay dài hạn sao cho hợp lí để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và hạn chế được rủi ro.

Kết luận:

Phân tích tình hình tài chính thông qua phân tích bảng cân đối kế toán của

Công ty TNHH TM thép Đan Việt cho thấy:

  • Các khoản phải thu của khách hàng tăng, phản ánh nguồn vốn của công ty đang bị khách hàng chiếm dụng, do đó công ty đang cố gắng đẩy mạnh công tác thu hồi công nợ.
  • Hàng tồn kho liên tục tăng sẽ gây ứ đọng vốn và làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
  • Tài sản cố định chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng tài sản. Do đặc thù kinh doanh của công ty là kinh doanh và gia công các sản phẩm sắt thép nên tài sản cố định ko chiếm tỷ trọng quá lớn trong tổng tài sản.
  • Vốn chủ sở hữu tăng chậm, nợ phải trả liên tục tăng nhanh điều này rất dễ dẫn đến rủi ro cho doanh nghiệp.

Phân tích mối quan hệ cân đối giữa tài sản và nguồn vốn

Mối quan hệ cân đối giữa tài sản với nguồn vốn thể hiện sự tương quan về giá trị tài sản và cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Mối quan hệ cân đối này giúp nhà phân tích phần nào nhận thức được sự hợp lí giữa nguồn vốn doanh nghiệp huy động và việc sử dụng chúng trong đầu tư, mua sắm, dự trữ, sử dụng có hợp lí, hiệu quả hay không. Mối quan hệ cân đối này được thể hiện qua các bảng phân tích sau:

Bảng 6: Bảng cân đối tài sản và nguồn vốn năm 2021

Cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn: năm 2021 : 55.851.418.528đ > 55.726.989.221đ năm 2022 : 44.928.635.385đ > 25.379.647.872đ năm 2023 : 110.198.491.178đ > 90.935.325788đ

Cả 3 năm 2021, 2022 và 2023 tài sản ngắn hạn lớn hơn nợ ngắn hạn, điều này hợp lý vì dấu hiệu này thể hiện doanh nghiệp giữ vững quan hệ cân đối giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn, sử dụng đúng mục đích nợ ngắn hạn. Đồng thời nó cũng chỉ ra một sự hợp lý trong chu chuyển tài sản ngắn hạn và kỳ thanh toán nợ ngắn hạn. Doanh nghiệp có khả năng đáp ứng nhu cầu hoàn trả nợ ngắn hạn.

Cân đối giữa tài sản dài hạn với nợ dài hạn và nguồn vốn chủ sở hữu năm 2021 : 32.798.945.611đ < 33.103.638.918đ

Năm 2022: 34.794.341.151đ < 54.343.328.664đ năm 2023 : 32.607.614.499đ < 51.870.779.889đ

Cả 3 năm 2021, 2022 và 2023 tài sản dài hạn nhỏ hơn nợ dài hạn và nguồn vốn chủ sở hữu. Vậy nợ dài hạn ngoài việc đầu tư cho tài sản dài hạn thì đã có một phần đầu tư vào tài sản ngắn hạn. Điều này đảm bảo tính an toàn về mặt tài chính nhưng không đảm bảo về mặt hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vì gây ra sự lãng phí trong kinh doanh. Khi sử dụng nguồn vốn vay dài hạn sẽ an toàn nhưng tốn nhiều chi phí hơn so với nguồn vốn vay ngắn hạn.

2.2.2. Phân tích tình hình tài chính qua báo cáo kết quả kinh doanh Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính của Cty Đan Việt

Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo chiều ngang

Bảng 9: Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo chiều ngang

Biều đồ 4: Lợi nhuận sau thuế và doanh thu thuần 2021-2022

Doanh thu thuần của doanh nghiệp tăng đều qua 3 năm. Năm 2022 doanh thu thuần của doanh nghiệp là 219.545.894.024đ, tăng 50.847.868.332đ ( tương ứng 30.14%) so với năm 2021. Năm 2023 doanh thu thuần của doanh nghiệp là 227.215.597.650đ, tăng 7.669.703.626đ ( tương ứng 3.49%) so với năm 2021. Từ năm 2021 sang năm 2022 doanh nghiệp tăng doanh thu với mức tăng cao là 30.14% nhưng đến năm 2023 doanh thu chỉ tăng lên nhẹ với mức tăng là 3.49%, qua đó ta thấy doanh nghiệp đang dần dần mở rộng quy mô kinh doanh.

Nhưng lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp không tăng đều qua 3 năm. Năm 2022 lợi nhuận sau thuế là 76.909.956đ , giảm 2.232.162.394đ ( tương ứng 96.67%) so với năm 2021. Sở dĩ có sự giảm mạnh về lợi nhuận là do xu hướng chung của nền kinh tế năm 2022, kinh tế trong nước cũng như nước ngoài suy thoái, ảnh hưởng rất lớn tới các mặt hàng công nghiệp đặc biệt là sắt thép, giá sắt thép bị giảm mạnh vì thế việc kinh doanh trở nên khó khăn, cùng với việc tăng lãi suất ngân hàng làm ảnh hưởng tới lợi nhuận của công ty. Năm 2023, lợi nhuận sau thuế của công ty là 3.239.794.000đ, tăng 3.162.884.044 đ, tuơng ứng 4.112,45% so với năm 2022. Năm 2023, nền kinh tế trong nước đã có dấu hiệu phục hồi, lãi suất ngân hàng giảm cùng với giá thép tăng lên tạo điều kiện cho công ty đầu tư kinh mặt hàng sắt thép.

Nguyên nhân chủ yếu của việc năm 2023 lợi nhuận của công ty cao như vậy là do giảm được chi phí lãi vay với mức giảm 2.538.559.562 đ tương ứng 36.58% so với năm 2021, khi nền kinh tế phục hồi, ngân hàng bắt đầu giảm lãi suất giảm bớt gánh nặng về lãi vay cho doanh nghiệp.

Năm 2022 tuy doanh thu cũng trên 30% so với năm 2021 nhưng lợi nhuận lại giảm mất 96.67%, vì chi phí lãi vay năm 2022 tăng lên 2,103,813,627đ tương ứng với 43.50%,đây là giai đoạn nền kinh tế khủng hoảng ngân hàng tăng lãi suất ở mức cao làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Doanh thu hoạt động tài chính của công ty tăng rất nhiều qua 3 năm. Năm 2022 doanh thu hoạt động tài chính là 723.246.527đ , tăng 687.486.976đ ( tương ứng 1,922.53%) so với năm 2021. Năm 2023 doanh thu hoạt động tài chính có tăng lên nhưng tăng nhẹ so với năm 2022.

Chi phí hoạt động tài chính, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp của công ty chỉ có năm 2022 là tăng cao hơn so với năm 2021 và 2023. Chi phí hoạt động tài chính năm 2022 tăng 43.18% so với năm 2021. Chi phí bán hàng năm 2022 tăng 1,323.66% so với năm 2021. Chi phí quản lý doanh nghiệp năm 2022 giảm nhẹ 2.17% so với năm 2021, đây là vấn đề công ty cần quan tâm giảm bớt chi phí trong điều kiện nền kinh tế bị khủng hoảng để rút thêm được kinh nghiệm. Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính của Cty Đan Việt

Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo chiều dọc

Bảng 10: phân tích báo cáo kết quả hoạt đông kinh doanh (theo chiều dọc)

Nhìn vào bảng kết cấu báo cáo kết quả kinh doanh ta có thể thấy năm 2021 để có 100đ doanh thu thuần thì công ty phải bỏ ra 91,74đ giá vốn hàng bán, 2,14đ chi phí quản lý doanh nghiệp. Năm 2022 để có 100đ doanh thu thuần thì công ty phải bỏ ra 94,13đ giá vốn và 1,61đ chi phí quản lý doanh nghiệp. Và đến năm 2023 để có 100đ doanh thu thuần thì doanh nghiệp phải bỏ ra 94,17đ giá vốn và 1,32đ chi phí quản lý doanh nghiệp. Từ đây có thể thấy để cùng đạt được 100đ doanh thu thuần trong mỗi năm thì giá vốn hàng bán có xu hướng tăng lên, còn chi phí quản lý doanh nghiệp có xu hướng giảm dần theo các năm.

Cứ 100đ doanh thu thuần đem lại 8,26đ lợi nhuận gộp năm 2021, 5,87đ năm 2022 và 5,83đ năm 2023. Điều này chứng tỏ sức sinh lời trên một đồng doanh thu thuần bị giảm dần từ năm 2021 đến năm 2023.

Trong 100đ doanh thu thuần của năm 2021 có 1,83đ lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong đó năm 2021 cứ 100đ doanh thu thuần bị lỗ mất 0,14đ lợi nhuận thuần từ hoạt động sản xuất kinh doanh và năm 2022 thì cứ 100đ doanh thu thuần có 1,98đ lợi nhuận, điều này cho thấy năm 2022 công ty kinh doanh không hiệu quả, lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh có xu hướng giảm đi gây lỗ cho doanh nghiệp.

Cứ trong 100đ doanh thu thuần thì lại có 1,37 đ lợi nhuận sau thuế (năm 2021), năm 2022 có 0,04đ và năm 2023 có 1,43đ từ đây cho thấy năm 2022 hoạt động kinh doanh của công ty có chiều hướng đi xuống nhiều so với 2021. Lý do là do xu thế chung của nền kinh tế trong giai đoạn này khi mà lãi suất ngân hàng cao, giá thép không ổn định nhưng đến năm 2023 khi nền kinh tế ổn định hơn thì tình hình kinh doanh của doanh nghiệp đã khả quan hơn.

Kết luận:

Như vậy có thể thấy cả 3 năm 2021, 2022 và 2023 doanh nghiệp đã liên tục đẩy mạnh bán ra để tăng doanh thu thuần, điều đó chẳng những làm tăng lợi nhuận mà còn tạo điều kiện tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn. Tuy vậy cũng cần nghiên cứu doanh thu tăng là do sản lượng sản phẩm bán ra tăng hay do doanh nghiệp tăng giá bán sản phẩm, những nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi đó và tình hình về giá vốn hàng bán ở doanh nghiệp ra sao. Khi khối lượng tiêu thụ tăng thì trị giá vốn hàng bán tăng cũng là lẽ đương nhiên nhưng tốc độ tăng giá vốn hàng bán lại nhanh hơn tốc độ tăng của doanh thu thì doanh nghiệp cần đi sâu tìm hiểu nguyên nhân là do giá cả hàng hoá, nguyên nhiên vật liệu trên thị trường tăng hay là do khuyết điểm trong khâu quản lý giá thành để từ đó có biện pháp điều chỉnh hợp lý. Chi phí tài chính liên tục tăng nhanh làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp, trong khi đó doanh thu hoạt động tài chính tăng không đáng kể. Do đó doanh nghiệp cần có sự điều chỉnh hợp lí giữa việc sử dụng vốn vay và vốn chủ, đồng thời doanh nghiệp cũng cần có biện pháp nâng cao doanh thu hoạt động tài chính trong những kì tiếp theo.

2.2.3. Phân tích các nhóm chỉ tiêu tài chính đặc trưng

Để đánh giá chính xác hơn về tình hình tài chính của doanh nghiệp các nhà phân tích tài chính còn sử dụng các chỉ tiêu tài chính đặc trưng để giải thích thêm về các mối quan hệ tài chính. Do đó các chỉ tiêu tài chính được coi là biểu hiện đặc trưng nhất về tài chính của doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất định.

2.2.3.1. Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính của Cty Đan Việt

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, để tài trợ cho các tài sản của mình, các doanh nghiệp không thể chỉ dựa vào nguồn vốn chủ sở hữu mà còn cần đến nguồn tài trợ khác là vay nợ. Việc vay nợ này được thực hiện cho nhiều đối tượng và dưới nhiều hình thức khác nhau. Với bất kỳ một đối tượng nào thì mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất khi cho vay là người cho vay sẽ xem xét xem doanh nghiệp có khả năng hoàn trả khoản vay không tức là khả năng thanh toán của doanh nghiệp ở mức độ nào.

Khả năng thanh toán của doanh nghiệp phản ánh mối quan hệ tài chính giữa các khoản có khả năng thanh toán trong kỳ với các khoản phải thanh toán trong kỳ đồng thời thể hiện rõ nét chất lượng công tác tài chính. Tại một thời điểm nếu doanh nghiệp không đủ khả năng thanh toán đó sẽ là dấu hiệu đầu tiên của khó khăn tài chính, còn nếu nghiêm trọng hơn có thể đưa doanh nghiệp đến phá sản. Vì vậy, khả năng thanh toán là một chỉ tiêu quan trọng trong phân tích tài chính doanh nghiêp, nó sẽ phản ánh rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó giúp cho doanh nghiệp tìm ra nguyên nhân và đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế mức độ rủi ro của doanh nghiệp. Khả năng thanh toán của một doanh nghiệp thông thường được xem xét trong ngắn hạn.

Các chỉ số về khả năng thanh toán được xem xét là

  • Khả năng thanh toán tổng quát
  • Khả năng thanh toán chung
  • Khả năng thanh toán nhanh
  • Khả năng thanh toán tức thời
  • Khả năng thanh toán lãi vay

Bảng 11: Bảng tổng hợp nhóm chỉ tiêu thanh toán

Hệ số khả năng thanh toán tổng quát (h1)

Khả năng thanh toán tổng quát của công ty 3 năm đều lớn hơn 1. Chứng tỏ tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp đủ để thanh toán các khoản nợ hiện tại của doanh nghiệp và tất cả các khoản huy động bên ngoài đều có tài sản đảm bảo. Năm 2021, doanh nghiệp cứ đi vay 1 đồng thì có 1,26 đồng đảm bảo. Năm 2022, doanh nghiệp cứ đi vay 1 đồng thì có 2,12 đồng đảm bảo và năm 2023 giảm xuống doanh nghiệp cứ đi vay 1 đồng thì chỉ có 1,48 đồng đảm bảo.

Nhìn chung khả năng thanh toán tổng quát của doanh nghiệp qua 3 năm đã tăng dần. Cụ thể năm 2021 chỉ số này bằng 2,12 lần, tăng 0,86 lần ( tương ứng 68.39% ) so với năm 2022, chứng tỏ năm 2023 khả năng đảm bảo thanh toán nợ bằng tài sản của doanh nghiệp là rất cao. Đến năm 2022 tuy khả năng thanh toán tổng quát giảm xuống chỉ còn 1.48 lần so với năm 2023 nhưng nhìn chung h1 của công ty khá cao chứng tỏ khả năng thanh toán của công ty tương đối tốt, tình hình tài chính nhìn chung khá lành mạnh và vững vàng .

Chỉ số này giảm đi là vì mặc dù cả tổng tài sản và tổng nợ phải trả đều tăng lên, nhưng tốc độ tăng của tổng tài sản thấp hơn tốc độ tăng của tổng nợ phải trả. Năm 2023, tổng tài sản tăng 79,13 %, còn tổng nợ phải trả tăng những 156,06% ( theo bảng phân tích diễn biến tài sản, và bảng phân tích diễn biến nguồn vốn )

Hệ số khả năng thanh toán chung (h2)

Khả năng thanh toán chung của công ty 3 năm đều lớn hơn 1,chứng tỏ tài sản ngắn hạn của công ty đủ khả năng thanh toán nợ ngắn hạn.

Khả năng thanh toán chung của doanh nghiệp tăng dần, năm 2022 chỉ số này là 1,77 lần, tăng 0,77 lần ( tương ứng 76,63%) so với năm 2021. Năm 2023 chỉ số này là 1,21 tăng 0,21 lần so với năm 2022.

Hệ số này thể hiện mức độ đảm bảo của tài sản lưu động với nợ ngắn hạn. Năm 2021, cứ 1 đồng nợ ngắn hạn thì được đảm bảo bởi 1 đồng tài sản lưu động. Năm 2022, cứ 1 đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bởi 1,77 đồng tài sản lưu động. Năm 2023, cứ 1 đồng nợ ngắn hạn thì được đảm bảo bởi 1,21 đồng nợ ngắn hạn.

Với công ty trách nhiêm hữu hạn Thương mại thép Đan Việt chỉ số này là rất tốt, vì tính hợp lý của hệ số phản ánh khả năng thanh toán nợ ngắn hạn phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh. Ngành nghề mà tài sản cố định chiếm tỷ trọng không quá lớn ( như ngành nghề mà công ty trách nhiêm hữu hạn Thương mại thép Đan Việt đang tham gia kinh doanh ) trong tổng tài sản thì hệ số này cao và ngược lại. Điều đó cho thấy tsnh của công ty đủ để đảm bảo cho nhu cầu thanh toán nợ ngắn hạn và điều này sẽ làm tăng uy tín của công ty với các chủ nợ. Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính của Cty Đan Việt

Hệ số khả năng thanh toán nhanh (h3)

Chỉ số này bằng 1 là lí tưởng nhất. Chỉ số khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp trong 3 năm đều nhỏ hơn 1. Cụ thể năm 2022 là 0,69 lần, tăng 0,45 lần ( tương ứng 188,13%) so với năm 2021. Năm 2023 chỉ số này là 0.33 lần, giảm 0.36 lần ( tương ứng 52,33%) so với năm 2022.

Chỉ số này của doanh nghiệp thấp là do tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp chiếm tỷ trọng cao so với tài sản dài hạn, (tài sản ngắn hạn chiếm từ 56% -> 77% tổng tài sản ), mà trong đó hàng tồn kho lại chiếm tỷ trọng rất cao trong tài sản ngắn hạn (hàng tồn kho chiếm từ 61% -> 76% tài sản ngắn hạn do đặc thù của cty là kinh doanh mặt hàng sắt thép).

Chỉ số này của doanh nghiệp 3 năm đều thấp thì có thể doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán công nợ, vì vào lúc cần doanh nghiệp có thể buộc phải sử dụng các biện pháp bất lợi như bán các tài sản với giá thấp để trả nợ. Tuy nhiên hệ số này có phù hợp hay không còn phụ thuộc vào kỳ hạn thanh toán món nợ phải thu phải trả trong kỳ của doanh nghiệp.

Hệ số khả năng thanh toán tức thời (h4)

Hệ số thanh toán tức thời (h4) của công ty cũng nhỏ hơn 1 là do tính đặc thù của ngành cho nên hệ số này của công ty tương đối thấp, năm 2021 là 0,06 lần, năm 2022 là 0.02 lần, giảm 0.04 lần tương ứng 59,68% so với năm 2021, năm 2023 hệ số thanh toán tức thời tăng 0.02 lần tương ứng tăng 71,67% so với năm 2022. Nhìn chung hệ số thanh toán tức thời của công ty vẫn nhỏ hơn 1, điều này cho ta thấy nếu như các chủ nợ mà cùng đòi nợ thì công ty không có khả năng thanh toán ngay cho các chủ nợ . Công ty cần có những biện pháp tăng khả năng thanh toán tức thời để đảm bảo việc kinh doanh.

Hệ sô khả năng thanh toán lãi vay (h5)

Khả năng thanh toán lãi vay của doanh nghiệp năm 2022 là 1,02 lần, giảm 0,65 lần (tương ứng 38,94%) so với năm 2021. Năm 2023 là 2,02 lần, tăng 1,01 lần ( tương ứng 99,16%) so với năm 2022

Cả 3 năm 2021, 2022, 2023 vốn vay của doanh nghiệp đã được sử dụng hợp lý nhưng vẫn ở mức thấp nên chỉ đủ khả năng để bù đắp lãi vay, một phần cũng do vốn vay của doanh nghiệp chiếm khá lớn chiếm từ 47% -> 79 % tổng nguồn vốn ( nợ phải trả có giá trị từ 37.608.202.828đ -> 96.298.437.465đ, chiếm giá trị khá lớn trong tổng nguồn vốn).

Chỉ số này năm 2023 cao hơn hẳn năm 2022 là rất tốt, chứng tỏ việc sử dụng vốn vay năm 2023 đã hiệu quả hơn năm 2022, khả năng an toàn trong việc sử dụng vốn vay cũng cao hơn. Chỉ số này năm 2023 có bước nhẩy vọt so với năm 2022 là vì lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp năm 2023 tăng rất nhiều so với năm 2022 (tăng 4112,45%), và chi phí lãi vay giảm đi (năm 2023 giảm 36,58% so với năm 2022)

2.2.3.2. Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính của Cty Đan Việt

Bảng 12 : Bảng tổng hợp nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư

Hệ số nợ :

Hệ số nợ (hv) cho biết trong một đồng vốn kinh doanh của công ty đang sử dụng có mấy là vay nợ, mấy đồng là vốn chủ sở hữu. Hệ số nợ của công ty năm 2021 là 0,47 lần thấp hơn năm 2022 là 0,32 lần ( tương ứng 40,61 %). Năm 2023 hệ số nợ là 0,67 lần tăng lên 0,20 lần ( tương ứng 42,95 % ) so với năm 2022.

Năm 2021, trong 1 đồng vốn kinh doanh thì có 0,79 đồng hình thành từ vay nợ bên ngoài. Năm 2022 giảm xuống, trong 1 đồng vốn kinh doanh thì có 0,47 đồng hình thành từ vay nợ bên ngoài. Năm 2023, trong 1 đồng vốn kinh doanh chỉ có 0,67 đồng hình thành từ vay nợ bên ngoài.

Doanh nghiệp có mức độ độc lập tương đối với các chủ nợ, do đó ko bị ràng buộc hoặc sức ép nhiều lắm từ các khoản nợ vay, nhưng khi hệ số nợ cao hơn thì doanh nghiệp lại có lợi hơn, vì được sử dụng 1 lượng tài sản lớn mà chỉ đầu tư 1 lượng nhỏ.

Hệ số nợ của năm 2022 giảm xuống 40,61% so với năm 2021 vì cả nợ phải trả và tổng vốn đều giảm. Hệ số nợ năm 2023 tăng lên 42,95 % so với năm 2022 vì cả nợ phải trả và tổng vốn đều tăng mạnh. Hệ số nợ của công ty tương đối cao chứng tỏ khả năng tự lập về tài chính của công ty khá thấp. Nhưng nó cũng cho thấy công ty đã rất chú ý tới việc sử dụng vốn vay như công cụ để gia tăng lợi nhuận. Tuy nhiên trong năm vừa qua thì hv của công ty đang dần tăng lên là do công ty đã vay đi vay thêm tiền để đầu tư vào các thiết bị, phương tiện vận tải để phục vụ cho quá trình hoạt động kinh doanh.

Hệ số vốn chủ: (hay còn gọi là tỷ suất tự tài trợ)

Tỷ suất tự tài trợ của công ty trong giai đoạn 2021- 2023 dao động trong mức 21% -> 53%. Năm 2022 tỷ suất tự tài trợ của công ty là 0.53 lần , tăng 0,32 lần ( tương ứng 156,89%) so với năm 2021. Năm 2023 tỷ suất tự tài trợ của công ty là 0.33 lần giảm 0,20% ( tương ứng 38,35%) so với năm 2022.

Năm 2021, cứ 100 đồng vốn doanh nghiệp sử dụng thì có 21 đồng vốn chủ. Năm 2022 tăng lên, cứ 100 đồng vốn doanh nghiệp sử dụng thì có 53 đồng vốn chủ. Năm 2023 giảm xuống, cứ 100 đồng vốn doanh nghiệp sử dụng thì có 33 đồng vốn chủ

Tỷ suất tự tài trợ của công ty năm 2023 giảm xuống vì năm 2023, tuy vốn chủ cũng tăng lên cùng với vốn vay, nhưng vốn chủ tăng ít hơn, vốn chủ chỉ tăng 10,43%, mà vốn vay tăng 79,13%, nên hệ số nợ tăng lên, tỷ suất tự tài trợ giảm xuống. Ở cả 3 năm hc của công ty thấp chứng tỏ công ty có ít vốn tự có, mức độ tự tài trợ của công ty với vốn kinh doanh của mình là chưa tốt, với mức độ tự tài trợ như vậy thì trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay công ty sẽ gặp nhiều khó khăn .

Hệ số đảm bảo nợ

Hệ số đảm bảo nợ năm 2021 của công ty là 0,26 lần, năm 2022 là 1,12 lần tăng 0.86 lần so với năm 2021, năm 2023 là 0,48 giảm 0,64 lần so với năm 2022. Hệ số này cho ta biết năm 2021 cứ 1 đồng vốn vay thì có 0,26 đồng vốn chủ đảm bảo, năm 2022 là 1,12 đồng đảm bảo, và năm 2023 là 0,48 đồng đảm bảo nguyên nhân làm hệ số đảm bảo nợ giảm là do năm 2023 vừa qua công ty đã đi vay thêm nợ từ bên ngoài. Chỉ số này ở năm 2022 lớn hơn 1 là rất tốt, nhưng ở 2 năm 2021 và năm 2023 đều nhỏ hơn 1 là điều không có lợi cho doanh nghiệp. Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính của Cty Đan Việt

Tỷ suất đầu tư vào tài sản dài hạn

Tỷ suất đầu tư vào tsdh cho biết việc bố trí cơ cấu tài sản của công ty. Tỷ suất đầu tư của công ty trong 3 năm đều thấp ( chỉ dao động từ 23% -> 44% ). Năm 2022, tỷ suất đầu tư của công ty là 0,44 lần cao hơn 0,07 lần ( tương ứng 18.2%) so với năm 2021. Năm 2023 tỷ suất đầu tư của công ty là 0.23 lần giảm 0.21 lần (tương ứng 47,68% ) so với năm 2022

Ta có thể thấy công ty rất chưa chú trọng việc đầu tư vào tài sản cố định (chiếm từ 23% -> 44% tài sản dài hạn ). Việc đầu tư của công ty được coi là hợp lý, do đặc điểm của doanh nghiệp là doanh nghiệp kinh doanh sắt thép là chủ yếu, còn gia công chỉ là phần thu nhập thêm của công ty vì thế nên công ty ít chú trọng việc đầu tư vào tài sản dài hạn.

Năm 2022, tỷ suất đầu tư vào tài sản dài hạn tăng nhiều chủ yếu là do tốc độ tăng tài sản dài hạn lớn hơn tốc độ tăng tổng tài sản. Tài sản dài hạn năm 2022 tăng chủ yếu dựa trên việc tài sản cố định tăng( trong đó có việc công ty mua thêm dây chuyền máy cắt xả của nhật để cắt sắt thép ), các khoản đầu tư tài chính dài hạn tăng, và các khoản phải thu dài hạn giảm.

Năm 2023 tỷ suất đầu tư vào tài sản dài hạn giảm chủ yếu là do công ty giảm việc đầu tư vào tài sản cố định so với năm 2022.

Tỷ suất đầu tư vào tài sản ngắn hạn

Tỷ suất đầu tư vào tsnh năm 2021 trong 100 đồng vốn kinh doanh thì có 63 đồng bỏ vào đầu tư cho tsnh, năm 2022 thì có 56 đồng, năm 2023 là 77 đồng. Năm 2022 giảm xuống 7 đồng so với năm 2021, năm 2023 tăng lên 21 đồng. Năm 2023 tăng nhiều là do tài sản ngắn hạn tăng nhiều hơn mức tăng của tổng tài sản (tài sản ngắn hạn tăng 145,27 % trong khi đó tổng tài sản chỉ tăng 79.13 %). Lĩnh vực hoạt động chính của công ty là kinh doanh mặt hàng sắt thép cho nên tỷ suất đầu tư vào tsnh là rất cao. Việc đầu tư này là hợp lý với ngành nghề kinh doanh của công ty.

Tỷ suất tự tài trợ tài sản dài hạn

Năm 2021 vốn chủ của doanh nghiệp chỉ tự đầu tư được 56% tài sản dài hạn. Năm 2022 tăng lên vốn chủ đầu tư được 121% tài sản dài hạn ( tăng lên 65% so với năm 2021 ). Năm 2023, vốn chủ tự đầu tư được 143% tài sản dài hạn( tăng lên 22% so với năm 2022 ).

Nhìn chung cả 3 năm tỷ suất này đều tăng mạnh, là vì tuy tài sản dài hạn giảm nhưng cả 3 năm vốn chủ đều tăng. Lý do tỷ suất tài trợ tài sản dài hạn cao như vậy là do tài sản cố định chiếm phần lớn trong tài sản dài hạn mà doanh nghiệp đầu tư ít vào tài sản cố định do đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp nên vốn chủ của cty có đủ khả năng để đầu tư vào tài sản dài hạn.

2.2.3. Nhóm chỉ tiêu hoạt động Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính của Cty Đan Việt

Khi giao tiền vốn cho người khác sử dụng, các nhà đầu tư, chủ doanh nghiệp, người cho vay… Thường băn khoăn trước câu hỏi: tài sản của mình được sử dụng ở mức hiệu quả nào? Các chỉ tiêu về hoạt động sẽ đáp ứng câu hỏi này. Đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho việc sử dụng tài nguyên, nguồn lực của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá tác động tới hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Do đó, các nhà phân tích không chỉ quan tâm tới việc đo lường hiệu quả sử dụng tổng số nguồn vốn mà còn chú trọng đến hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành nguồn vốn của doanh nghiệp.

Tỷ suất hoạt động tồn kho:

Vòng quay hàng tồn kho = Doanh thu thuần / Giá trị hàng tồn kho bình quân

Qua bảng phân tích trên ta thấy vòng quay hàng tồn kho năm 2021 là 6,38 vòng và kì luân chuyển hàng tồn kho là 56.43 ngày. Năm 2022 vòng quay hàng tồn kho là 6.27 vòng và kỳ luân chuyển hàng tồn kho là 57.38 ngày. Năm 2022 vòng quay hàng tồn kho giảm làm cho kỳ luân chuyển tăng 0.95 ngày. Điều này cho thấy lượng hàng tồn kho ngày càng cao, do đặc thù kinh doanh của công ty.

Nguyên nhân làm cho vòng quay hàng tồn kho giảm:

Năm 2023 vòng quay hàng tồn kho giảm xuống là 4.21 vòng làm cho kỳ luân chuyển hàng tồn kho tăng lên là 85.41 ngày, tăng 28.03 ngày so với 2022. Vòng quay hàng tồn kho liên tục giảm là do quyết định của ban lãnh đạo công ty hàng để chờ giá thép tăng lên. Nguyên nhân dẫn đến vòng quay hàng tồn kho năm 2021 giảm: Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính của Cty Đan Việt

Kỳ thu tiền bình quân:

Kỳ thu tiền bình quân dùng để đo lường hiệu quả và chất lượng quản lí khoản phải thu. Nó cho biết bình quân khoản phải thu mất bao nhiêu ngày.

Nhìn vào bảng phân tích ta có thể thấy kỳ thu tiền bình quân năm 2021 là 17.99 ngày, năm 2022 là 14.31 ngày, giảm 3.68 ngày so với 2021. Điều này cho thấy công ty đang làm rất tốt công tác thu hồi các khoản phải thu, công ty cần cố gắng phát huy mặt này. Nguyên nhân dẫn đến kỳ thu tiền bình quân năm 2021 giảm:

Năm 2023 kỳ thu tiền bình quân là 22.45 ngày, tăng 8.14 ngày so với năm 2021. Đến năm 2023 ngày thu tiền tăng lên chứng tỏ doanh nghiệp chưa quản lý được tốt các khoản thu.

Nguyên nhân làm cho kỳ thu tiền bình quân tăng ở năm 2023 là do:

Khoản phải thu tăng làm cho kỳ thu tiền bình quân tăng :

Qua bảng phân tích, vòng quay tài sản cố định năm 2021 là 5,36 vòng, năm 2022 là 6,5 vòng, tăng 1,14 vòng so với 2021. Điều này cho thấy công ty đang sử dụng tài sản cố định ngày càng hiệu quả hơn. Nguyên nhân dẫn đến vòng quay tài sản cố định tăng là do:

Năm 2023 vòng quay tài sản cố định là 6.74 vòng, tăng 0.25 vòng so với 2022. Điều này chứng tỏ công ty đã thực hiện hợp lí việc đầu tư tài sản cố định, làm tăng hiệu quả sử dụng vốn cố định, công ty cần cố gắng phát huy.

Ta thấy số vòng quay tổng tài sản năm 2021 là 1.9 và năm 2022 là 2.75 tăng 0,85 vòng so với 2021. Điều này có nghĩa cứ 1đ vốn sử dụng năm 2022 tạo ra doanh thu thuần nhiều hơn so với năm 2021 là 0.58đ . Nguyên nhân làm cho vòng quay tổng tài sản tăng:

Năm 2023 số vòng quay tổng tài sản là 1.59 vòng giảm 1.16 vòng so với năm 2021. Điều này cho thấy khả năng quản lý tài sản của công ty năm 2023 là không tốt.

Nguyên nhân làm cho vòng quay tổng tài sản giảm

Qua phân tích các chỉ số hoạt động cho thấy công ty sử dụng vốn vào hoạt động kinh doanh năm sau tốt hơn năm trước. Vòng quay hàng tồn kho liên tục tăng cho thấy sự quyết định của ban lãnh đạo công ty muốn giữ hàng để chờ giá thép tăng . Kỳ thu tiền bình quân cũng liên tục tăng cho thấy chính sách quản lý khoản phải thu của công ty chưa tốt. Vòng quay tài sản cố định và vòng quay tổng tài sản liên tục tăng cho thấy hiệu quả sử dụng vốn ngày càng cao. Tuy vậy công ty vẫn cần phải luôn luôn cải thiện các chỉ số hoạt động, tìm kiếm nhiều khách hàng hơn nữa, tăng cường đẩy mạnh hoạt động kinh doanh nhằm tăng doanh thu… có như thế mới tạo cơ sở vững chắc cho công ty thực hiện các chủ trương đường lối về mở rộng thị trường.

2.2.3.4. Nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính của Cty Đan Việt

Lợi nhuận là mục đích cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh, lợi nhuận càng cao, doanh nghiệp càng tự khẳng định vị trí và sự tồn tại của mình trong nền kinh tế thị trường. Nhưng nếu chỉ thông qua số lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được trong thời kỳ cao hay thấp để đánh giá chất lượng hoạt động sản xuất kinh doanh là tốt hay xấu thì có thể đưa chúng ta tới những kết luận sai lầm. Bởi lẽ số lợi nhuận này không tương xứng với lượng chi phí đã bỏ ra, với khối lượng tài sản mà doanh nghiệp đã sử dụng. Để khắc phục nhược điểm này, các nhà phân tích thường bổ xung thêm những chỉ tiêu tương đối bằng cách đặt lợi nhuận trong mối quan hệ với doanh thu đạt được trong kỳ với tổng số vốn mà doanh nghiệp đã huy động vào sản xuất kinh doanh.

Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS):

Ta thấy tỷ lệ sinh lời trên doanh thu năm 2022 giảm 1,33% so với năm 2021. Năm 2021 tỷ lệ này là 1.37% có nghĩa là 100đ doanh thu thì được 1.37đ lợi nhuận sau thuế, và năm 2022 tỷ lệ này giảm xuống là 0.04% có nghĩa là 100đ doanh thu thì thu được 0.04đ lợi nhuận sau thuế. Qua đó ta thấy năm 2022 doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả hơn năm trước rất nhiều. Nguyên nhân ROS thay đổi là do sự ảnh hưởng của 2 nhân tố:

Tỷ suất sức sinh lợi căn bản năm 2022 giảm mạnh so với năm 2021 là 3,48%. Nghĩa là năm 2021 cứ đầu tư 100đ vốn vào kinh doanh thì tạo ra được 3,61đ lãi cho doanh nghiệp, còn năm 2022 cứ đầu tư 100đ vốn kinh doanh thì tạo ra được 0.13đ lãi cho doanh nghiệp. Điều đó chứng tỏ khả năng sinh lợi căn bản của công ty chưa tốt.

Tỷ số lợi nhuận ròng trên tổng tài sản năm 2021 là 2.6% nghĩa là cứ bỏ ra 100đ đầu tư vào tài sản thì thu lại được 2.6đ lợi nhuận sau thuế, như vậy tỷ số lợi nhuận ròng trên tổng tài sản của công ty năm 2021 ở mức cao. Năm 2022 tỷ suất này là 0.1%, giảm 2.5% so với 2021 cho thấy việc kinh doanh năm 2022 của công ty là rất khó khăn. Các nhân tố tác động làm giảm tỷ số lợi nhuận ròng trên tổng tài sản:

Năm 2023 tỷ số lợi nhuận ròng trên tổng tài sản là 2.27%, tăng 2.17% so với năm 2022, nghĩa là năm 2023 khi đầu tư 100đ tài sản thì thu được 2.27đ lợi nhuận sau thuế, đây là dấu hiệu tốt, tình hình kinh doanh của cty đang phát triển theo chiều hướng tốt. Việc dẫn đến tỷ số lợi nhuận ròng trên tổng tài sản tăng là do:

Tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ năm 2022 giảm 12.46% so với 2021. Năm 2021 là 12.64% nghĩa là cứ 100đ vốn chủ sở hữu đầu tư vào kinh doanh thì tạo ra 12.64đ lãi cho chủ sở hữu, năm 2022 là 0.18% có nghĩa là cứ 100đ vốn chủ sở hữu đầu tư vào kinh doanh thì tạo ra 0.18đ lãi cho chủ sở hữu. Công ty cần phải cố gắng nhiều hơn nữa để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu.

Năm 2023 tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu là 6.97% nghĩa là 100đ vốn chủ sở hữu đầu tư vào kinh doanh thì đem lại 6.97đ lợi nhuận cho chủ sở hữu, tăng 6.78đ so với năm 2022. Như vậy việc sử dụng vốn chủ sở hữu của công ty đã mang lại hiệu quả năm sau cao hơn năm trước. Nguyên nhân dẫn đến ROE tăng :

Qua bảng phân tích có thể thấy năm 2022 các chỉ tiêu sinh lợi đều giảm nhanh cho thấy năm 2021 doanh nghiệp sử dụng vốn và kinh doanh không đạt hiệu quả. Năm 2023 doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả hơn nhiều so với năm 2022, thể hiện tất cả các chỉ tiêu sinh lợi tăng một cách đáng kể đặc biệt là lợi nhuận sau thuế trên doanh thu và chỉ tiêu lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu. Điều này cho thấy năm 2023 doanh nghiệp sử dụng vốn chủ có hiệu quả cao so với năm 2022. Vì vậy công ty nên duy trì tình hình kinh doanh này vào năm 2017 để đạt lợi nhuận cao hơn.

2.2.4. Phân tích phương trình dupont Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính của Cty Đan Việt

Phân tích phương trình dupont sẽ cho ta thấy được mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), các nhân tố ảnh hưởng tới hai tỷ suất này, trên cơ sở đó có thể đưa ra biện pháp cải thiện tình hình tài chính cho công ty.

Doanh lợi tài sản của công ty năm 2022 thấp hơn năm 2021, cho thấy năm 2022 công ty sử dụng tài sản kém hiệu quả hơn năm 2021, năm 2023 doanh lợi tài sản tăng, cho thấy năm 2023 cty đã sử dụng tài sản hiệu quả hơn.

Từ đăng thức trên ta thấy cứ bình quân đưa ra 100 đồng giá trị tài sản vào sử dụng trong năm 2021 tạo ra được 2.6 đồng LNST và năm 2022 tạo ra được 0.1 đồng LNST, năm 2023 là 2.27 đồng LNST là do :

  • Sử dụng bình quân 100 đồng giá trị tài sản vào kinh doanh năm 2021 tạo ra được 1.89 đồng doanh thu thuần, năm 2022 tạo ra được 2.75 đồng doanh thu thuần và năm 2023 tạo ra được 1.59 đồng doanh thu thuần.
  • Trong 100 đồng doanh thu thuần thực hiện trong năm 2021 có 1.37 đồng LNST và năm 2022 có 0.04 đồng và năm 2023 là 1.43 đồng.
  • Như vậy, có hai hướng để tăng ROA là tăng tỷ suất LNST trên doanh thu thuần (ROS) hoặc tăng vòng quay vốn kinh doanh.
  • Tăng ROS bằng cách tiết kiệm chi phí
  • Tăng vòng quay vốn kinh doanh bằng cách tăng doanh thu và giảm giá bán và tăng cường hoạt động xúc tiến bán hàng.

Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ năm 2022 giảm xuống rất nhiều so với năm 2021. Chủ yếu do tỷ suất doanh lợi doanh thu giảm đột biến.

Năm 2023 tỷ suất này tăng cũng là chủ yếu do tỷ suất doanh lợi doanh thu tăng. Ta thấy bình quân 100 đồng vốn csh bỏ vào kinh doanh năm 2021 tạo ra được 12.64 đồng LNST và năm 2022 tạo ra được 0.18 đồng LNST và năm 2023 tạo ra được 6.97 đồng LNST là do:

  • Trong 100 đồng vốn kinh doanh bình quân năm 2021 có 4.86 đồng hình thành từ vốn chủ sở hữu, năm 2022 có 1.89 đồng hình thành từ vốn chủ sở hữu và năm 2023 là 3.07 đồng. Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính của Cty Đan Việt
  • Sử dụng bình quân 100 đồng giá trị tài sản năm 2021 tạo ra được 2.6 đồng doanh thu thuần, năm 2022 tạo ra được 0.1 đồng doanh thu thuần và đến năm 2023 tạo ra được 2.27 đồng doanh thu thuần.

Có hai hướng để tăng ROE: tăng ROA hoặc tăng tỷ số tổng tài sản/vốn chủ sở hữu.

  • Tăng ROA làm như phân tích trên.
  • Tăng tỷ số tổng tài sản/vốn chủ sở hữu bằng cách giảm vốn chủ sở hữu và tăng nợ. Ta thấy tỷ số nợ càng cao thì lợi nhuận của vốn chủ sở hữu càng cao. Tuy nhiên khi tỷ số nợ tăng thì rủi ro sẽ càng tăng lên. Do đó, doanh nghiệp sẽ phải hết sức thận trọng khi sử dụng nợ.

Qua việc phân tích báo cáo tài chính của công ty tnhh hoàng phương ta rút ra được một số nhận xét như sau:

Về cơ cấu tài sản và nguồn vốn:

Tài sản ngắn hạn của công ty có sự thay đổi liên tục về quy mô và về tỷ trọng trong 3 năm. Cụ thể năm 2022 so với năm 2021 giảm 10.922.783.143đ và tỷ trọng giảm 6,52%. Năm 2023 tăng 65.269.855.793đ và tỷ trọng tăng 20,81%. Cùng với đó là tài sản dài hạn tăng nhưng ko đáng kể trong 3 năm về mặt quy mô và tỷ trọng. Tài sản dài hạn chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng tài sản, chiếm từ 22->43%. Do đặc thù kinh doanh của công ty chủ yếu là kinh doanh sắt thép, gia công chỉ là phần thu nhập thêm ko đáng kể nên việc đầu từ vào tài sản dài hạn là không quá lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp.

Cơ cấu nguồn vốn của công ty cũng có sự biến đổi rõ nét. Vốn chủ sở hữu tăng cả về quy mô và tỷ trọng, đặc biệt năm 2022 so với năm 2021 tăng 23.847.480.510đ trong khi đó tỷ trọng tăng nhanh từ 20,56 % (năm 2021) lên thành 52,83% (năm 2022). Năm 2023 quy mô vốn chủ sở hữu tăng lên 46.507.668.212đ, nhưng tỷ trọng giảm 20,26%. Song song với đó là nợ phải trả cũng thay đổi mạnh cả về mặt quy mô và tỷ trọng. Cụ thể năm 2022 so với năm 2021 giảm 32.955.132.113đ, tỷ trọng giảm 32,26%. Năm 2023 tăng mạnh 58.690.234.637đ, tỷ trọng tăng 20,26%. Điều này cho thấy công ty có khả năng chiếm dụng vốn tốt và nguồn vốn tài trợ cho tài sản của công ty ngày càng tăng nhanh đặc biệt là nguồn vốn vay. Tuy nhiên nợ phải trả chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn sẽ ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn cho những kì tiếp theo gặp khó khăn. Nợ phải trả nhiều làm cho lãi vay tăng nhanh, giảm lợi nhuận, ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Và nợ phải trả chiếm tỷ trọng càng cao thì việc gặp rủi ro trong kinh doanh càng lớn.

Khả năng thanh toán của công ty có xu hướng tăng, thể hiện năng lực chi trả các khoản nợ vay của công ty đang tốt dần lên. Tuy hiện tại các khả năng thanh toán lớn hơn 1, tức là doanh nghiệp vẫn đảm bảo cho khả năng chi trả hiện tại nhưng khả năng thanh toán nhanh và khả năng thanh toán tức thời vẫn còn nhỏ hơn 1 và ở mức rất thấp (năm 2022 khả năng thanh toán nợ nhanh là 0.33% giảm 0,36% so với 2021, năm 2023 khả năng thanh toán tức thời là 0.04%,1 con số rất thấp) vì vậy công ty nên quan tâm nhiều hơn nữa đến các chỉ tiêu này để đảm bảo tính ổn định cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong tương lai.

Chỉ số nợ ngày càng tăng cao đặc biệt là hệ số nợ (67% năm 2023, tăng 30% so với năm 2022). Đòi hỏi công ty phải nỗ lực nhiều hơn trong việc gia tăng lợi nhuận để bù đắp những khoản lãi vay. Nhưng quan trọng hơn là cần phải tăng nguồn vốn chủ sở hữu để tăng cường tính tự chủ cho công ty.

Tỷ số về hoạt động của công ty khá tốt, vòng quay tài sản cố định, vòng quay tổng tài sản liên tục tăng trong 3 năm, điều này cho thấy hiệu quả sử dụng tài sản của công ty ngày càng cao, hàng hóa tiêu thụ tốt. Nhưng vòng quay hàng tồn kho giảm chứng tỏ số ngày lưu kho cao, khả năng thu hồi vốn chưa được tốt. Kỳ thu tiền bình quân vẫn ở mức cao cho thấy công tác quản lý và thu hồi công nợ của công ty chưa được làm tốt.

Tỷ suất sinh lợi của công ty giảm ở năm 2022 và có xu hướng tăng nhanh ở năm 2023 điều này cho thấy năm 2022 công ty kinh doanh không hiệu quả và giảm sút so với 2021, nhưng đến năm 2023 khi nền kinh tế ổn định hơn công ty cũng đã dần đạt được lợi nhuận cao hơn, điều này cần phát huy ở những năm tiếp theo.

Như vậy qua phân tích có thể năm 2022 doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả hơn so với năm 2021, tốc độ tăng doanh thu thấp hơn so với tốc độ tăng giá vốn, điều này làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp giảm. Nhưng đến năm 2023 công ty đã dần dần rút ra được kinh nghiệm và tăng được lợi nhuận giúp công ty phát triển hơn. Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính của Cty Đan Việt

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Biện pháp cải thiện tài chính tại Cty Thép Đan Việt

One thought on “Khóa luận: Thực trạng tình hình tài chính của Cty Đan Việt

  1. Pingback: Khóa luận: Tổng quan chung về Công ty thép Đan Việt

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464