Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng luật hôn nhân người dao đỏ ở Bắc Hà hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: hệ thống các nguyên tắc và quy định trong hôn nhân của người dao đỏ ở Huyện Bắc Hà, Tỉnh Lào Cai dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Quan niệm và nguyên tắc, quy định trong hôn nhân
2.1.1. Quan niệm về hôn nhân
Hôn nhân là sự kết hợp của các cá nhân về mặt tình cảm, xã hội, và tôn giáo một cách hợp pháp. Hôn nhân có thể là kết quả của tình yêu. Hôn nhân là một mối quan hệ cơ bản trong gia đình ở hầu hết xã hội. Về mặt xã hội, lễ cưới thường là sự kiện đánh dấu sự chính thức bắt đầu của hôn nhân. Về mặt luật pháp, đó là việc đăng ký kết hôn [23].
Gia đình được coi là tế bào của xã hội. Hôn nhân và gia đình là nền tảng của xã hội, nơi sinh ra, nuôi dưỡng và giáo dục các thế hệ tương lai của đất nước, nơi gìn giữ và phát triển các nét đặc trưng văn hóa, truyền thống của một dân tộc, một quốc gia có các tế bào khỏe mạnh thì xã hội mới phát triển, ngược lại, nếu xuất hiện ngày càng nhiều “tế bào lỗi” thì xã hội sẽ suy thoái, truyền thống văn hóa, đạo đức của đất nước sẽ tan vỡ [23].
Người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét huyện Bắc Hà cho rằng hôn nhân có ý nghĩa đặc biệt không chỉ đối với cá nhân mà còn rất hệ trọng đối với gia đình, dòng họ. Truyền thống hôn nhân của dân tộc là hôn nhân một vợ một chồng.
Bố mẹ con trai chọn con dâu theo nguyên tắc chuẩn mực cộng đồng.
Hôn nhân của người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét huyện Bắc Hà từ trước tới nay luôn thể hiện rõ các đặc trưng văn hóa của dân tộc Dao. Những đặc trưng văn hóa đó được phản ánh tập trung trong các quan niệm về hôn nhân, cũng như các bước tiến hành và nghi thức trong tục lệ cưới xin của họ. Cho đến nay, mặc dù đã có những bước đột biến về kinh tế – xã hội, nhưng những yếu tố truyền thống cơ bản trong định chế hôn nhân, cũng như phong tục cưới hỏi vẫn ảnh hưởng lớn đến đời sống của người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét. Dưới tác động của các điều kiện kinh tế – xã hội hiện nay, hôn nhân và tục lệ cưới xin của người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét một mặt vẫn giữ được những quy định của phong tục tập quán truyền thống, mặt khác cũng chịu ảnh hưởng và tiếp thu một cách có chọn lọc các yếu tố văn hóa mới. Người Dao Đỏ ở Nậm Đét, Bắc Hà quan niệm, trai gái lớn lên thì phải dựng vợ gả chồng, trách nhiệm này là của các bậc cha mẹ đối với tương lai của con cái, cũng như trách nhiệm với tổ tiên, dòng họ. Ngược lại, việc kết hôn còn thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của con cái đối với cha mẹ cũng như gia đình, dòng họ của mình. Do đó, các bậc cha mẹ luôn mong ước, cố gắng hết khả năng để con cái có được gia đình hạnh phúc, yên ấm. Ngoài ra, còn có sự tương trợ giúp đỡ nhau trong họ hàng, hàng xóm láng giềng thông qua các cuộc họp dòng họ, tạo nên sự gắn kết cộng đồng. Nhà giúp rượu, nhà giúp thịt (lợn), nhà giúp gà, nhà giúp gạo, giúp tiền… Sau này các gia đình đó có việc lớn như ma chay, cưới hỏi thì gia chủ sẽ giúp lại. Theo người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét, tiêu chuẩn chung khi chọn vợ phải là những cô gái chịu khó, chăm chỉ làm ăn, nói năng nhẹ nhàng, biết làm các công việc đồng áng, biết thêu thùa dệt vải, thành thạo các công việc nội trợ và ứng xử lễ phép với bố mẹ, anh chị, họ hàng, làng xóm. Nếu làm dâu trưởng thì phải có khả năng đảm đương các công việc trong những ngày lễ tết. Chính vì vậy, cha mẹ thường căn dặn con trai nên chọn vợ là những người phụ nữ có đạo đức tốt, chăm chỉ, sắc đẹp chỉ là một phần. Trước đây, người Dao Đỏ đặc biệt quan tâm đến môn đăng hộ đối, chỉ có dòng họ quý tộc, nhà lang mới được kết hôn với nhau, còn tầng lớp bình dân thì chỉ kết hôn với tầng lớp bình dân. Việc dựng vợ, gả chồng là do cha mẹ sắp đặt, con cái không có quyền lựa chọn, nhất là con gái. Tuy nhiên hiện nay, các đôi trai gái có thể tự do tìm hiểu bạn đời và hôn nhân hoàn toàn dựa trên cơ sở tự nguyện. Đa số các bậc cha mẹ đều quan niệm việc kết hôn là xây dựng hạnh phúc cho con cái, nên tự con cái quyết định, bố mẹ không can thiệp sâu vào chuyện của các con. Mặc dù được tự do trong việc tìm hiểu và lựa chọn bạn đời nhưng các bạn trẻ vẫn hỏi ý kiến bố mẹ trước khi tiến hành kết hôn.
2.1.2. Nguyên tắc trong hôn nhân Khóa luận: Thực trạng luật hôn nhân người dao đỏ ở Bắc Hà.
- Nguyên tắc chọn bạn đời
Mặc dù gia đình đã không còn đóng vai trò chủ đạo trong quá trình lựa chọn và quyết định như trước và xu hướng tự lựa chọn đã nổi trội lên nhưng các tiêu chuẩn về gia đình vẫn được đặt ra. Sự tương xứng giữa hai bên gia đình vẫn tiếp tục được nhấn mạnh. Kinh tế các gia đình không còn là cơ sở của sự tương xứng giữa hai gia đình. Trong các tiêu chuẩn cá nhân, đạo đức tư cách luôn xếp vị trí số 1. Chàng rể tương lai phải biết làm ăn, có học để có thể ra làm việc làng, khỏe mạnh, nhanh nhẹn. Phụ nữ phải biết làm ruộng giỏi, khéo thu vén, khỏe mạnh.
Theo người dân ở Nậm Đét, trước năm 1986 hôn nhân đối với người Dao Đỏ ở đây hầu như theo sự sắp sếp của bố mẹ, bố mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Thậm chí còn có những cuộc hôn nhân ép buộc, khi đó cô dâu chú rể còn chưa từng được gặp mặt nhau lần nào mà vẫn phải lấy nhau, bà Ghến kể rằng “ngày xưa chị gái của cô đến hôm cưới rồi mà vẫn chưa biết mặt chồng mình là ai, do khoảng cách giữa hai thôn xa, công nghệ chuyển giao thông tin cũng không có nên việc trai gái gặp nhau tìm hiểu nhau rất hiếm. Bố mẹ hai bên nếu ưng ý nhau tự giao ước, hẹn ngày rồi định ngày cưới”. Theo các bậc cha mẹ khi xưa cho rằng, họ tìm dâu hoặc rể cho con mình là người trong làng và là cùng nhóm Dao để dễ giao tiếp, trao đổi cũng như thổ lộ tình cảm vì có chung tiếng nói, chung đặc điểm tập quán về ăn mặc, tập tục, quan niệm…
Hôn nhân truyền thống phổ biến của người Dao Đỏ trong những năm sau thời kỳ đổi mới đã có những thay đổi tiến bộ trong hôn nhân: là những đôi nam nữ kết hôn với nhau không phân biệt ở địa phương nào, không phân biệt các nhóm Dao cũng như các dân tộc khác, miễn sao hai người yêu thương nhau.
Người Dao Đỏ ở đây còn có nguyên tắc cấm kết hôn đối với anh em họ hàng trong vòng 3 đời. Đây là nguyên tác cơ bản nhất trong hôn nhân người Dao Đỏ vì họ quan niệm anh em họ hàng gần mà kết hôn với nhau thì cũng như kết hôn với anh em ruột, vì trong vòng 3 đời là thờ cúng cụ, cúng tổ tiên nên cấm kết hôn với nhau.
Đối với người H’mông ở Bắc Hà, mỗi khi có trai gái trẻ yêu nhau say đắm, thề thốt sẽ cùng xây dựng tổ ấm chung sống đến đầu bạc răng long. Khi hai người yêu nhau và có thời gian tìm hiểu nhau vài ba năm tới lúc họ thực sự muốn tổ chức kết hôn thành vợ thành chồng của nhau, người con trai thổ lộ ý định của mình với cha mẹ, cha mẹ tìm hiểu ý định của con trai qua hội bạn của con mình, bàn bạc với chú bác cùng góp ý thận trọng tiến hành từng bước một. Qua vài lần hội ý thống nhất, nhà trai cử người thân thiết như bà cô, hay bà dì, hay chị gái, em gái của chàng trai, có khi là người mẹ chàng trai lấy cớ tới chơi thăm họ hàng người thân ở làng nhà gái chơi với mục đích ngầm theo dõi những hành động, cử chỉ, lời ăn tiếng nói, lối ứng xử giao tiếp của người con gái mà con trai nhà mình đã yêu. Ngoài ra còn thăm dò tin tức nhận xét đánh giá về nhân phẩm đạo đức, lối sống, tính tình của người con gái bên nhà gái qua hàng xóm láng giềng ở bản làng nhà gái. Khi đã có đầy đủ thông tin về nhà trai cung cấp lại toàn bộ thông tin mà tai nghe, mắt thấy cho chủ nhà trai, qua đó bố của người con trai mời bác chú đến cùng nhận xét đánh giá, cùng đưa ra nhận định chung: nếu như mọi người cùng chấp nhận thì bước tiếp theo được tiến hành, không chấp nhận thì buộc con trai từ bỏ ý định của mình. Khóa luận: Thực trạng luật hôn nhân người dao đỏ ở Bắc Hà.
Việc chọn vợ, chọn chồng của dân tộc Dao cũng có những điểm giống người H’mông, trai gái được tự do tìm hiểu nhau rồi thưa chuyện với cha mẹ để cha mẹ quyết định. Nhưng cũng có điểm khác biệt trong việc chọn dâu của người H’mông. Đó là đối với người Dao Đỏ cấm kết hôn trong họ tộc còn với người H’mông thì cấm kết hôn ngoại tộc. Đây là điểm khác biệt rõ nhất của hai tộc người cùng sinh sống ở Bắc Hà.
- Nguyên tắc cư trú sau hôn nhân
Khác với một số tộc người như người Cơ Ho, người M’Nông sinh sống ở khu vực nam Tây Nguyên do gia đình theo chế độ mẫu hệ, con sinh ra thuộc dòng họ mẹ. Nên cư trú sau hôn nhân chủ yếu là sống ở nhà vợ, một vài địa phương xuất hiện hình thức cư trú song phương rồi ra ở riêng. Trong gia đình người phụ nữ đứng vai trò chủ đạo nhưng người đàn ông vẫn được vị nể, quyền thừa kế tài sản thuộc về người con gái út.
Người Dao Họ ở Bảo Thắng thì lại có tục ở rể, sau khi cưới chú rể phải ở bên nhà vợ ít nhất 3 đến 5 năm rồi mới được về nhà mình ở riêng.
Đối với người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét, sau khi cưới cả hai vợ chồng trẻ thường sống ở bên nhà chồng, nếu trai ở rể thì sống bên nhà vợ, đôi vợ chồng trẻ phải sống chung với bố mẹ ít nhất một năm mới được ra ở riêng. Bởi lẽ người Dao Đỏ ở đây cho rằng, đôi vợ chồng trẻ mới cưới sẽ chưa biết đủ hết mọi phép tắc cũng như chưa có kinh nghiệm làm ăn nên chưa thể ra ở riêng được, Bố mẹ đôi vợ chồng trẻ có trách nhiệm dạy bảo việc làm ăn, trao truyền các kỹ năng lao động tăng gia sản xuất, tạo điều kiện để con cái tự chủ kinh tế gia đình, làm chủ và xây dựng một gia đình mới khi ra ở riêng. Anh Triệu Tài Hòa cho biết “Sau khi cưới chúng tôi sống với bố mẹ được 2 năm, đến khi chú út cưới vợ chúng tôi mới ra ở riêng. Ở với bố mẹ chúng tôi được bố mẹ dậy cách làm ăn, làm kinh tế, dậy cách làm chủ gia đình”
2.1.3. Quy định trong hôn nhân
Quy định độ tuổi và các hình thức trong hôn nhân
- Độ tuổi kết hôn của người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét huyện Bắc Hà
Trước đây, khi con trai đủ 13 đến 14 tuổi thì cha mẹ đã tìm con gái hợp mệnh hợp tuổi cho con mình, sau đó tìm ngày tốt để đi hỏi cha mẹ cô gái xem nếu đồng ý gả con gái thì chọn ngày tốt rước dâu. Bàn về vấn đề này tôi nhớ như in lời kể của mẹ tôi “Ngày xưa mẹ mới được 13 tuổi ông ngoại đã gả mẹ cho bố con. Khi đó mẹ còn chưa biết thế nào là gia đình, thế nào là vợ chồng, việc đồng áng chưa biết, sức khỏe non yếu nên khi lấy bố con mẹ rất cực khổ. Đặc biệt là sống chung với bố mẹ chồng, gia đình thì đông con, người làm thì ít, lại đang trong thời kỳ bao cấp không đủ ăn, đủ mặc, không có quyền lên tiếng và quyết định việc gì”. Từ những nhân chứng sống cho thấy việc chọn bạn đời của những đôi trai gái người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét ngày xưa là không được quyền lựa chọn, bố mẹ đặt đâu con phải ngồi đó.
Ngày nay những tư tưởng lạc hậu đó đã không còn. Con cái phải đủ tuổi kết hôn theo pháp luật quy định thì mới cho kết hôn, việc chọn vợ chọn chồng, chọn dâu, bố mẹ hai bên đều phải hỏi ý kiến của con, nếu như con đồng ý thì mới dạm ngõ, ăn hỏi. Nếu các đôi trai gái tự tìm hiểu nhau, yêu nhau mà muốn tiến đến hôn nhân thì chỉ cần thưa với cha mẹ hai bên, là có thể đi đến hôn nhân.
Nét nổi bật trong hôn nhân người Dao Đỏ xã Nậm Đét là vai trò quyết định của cá nhân, nhưng cha mẹ và gia đình vẫn có vai trò quan trọng trong việc tham khảo và tư vấn. Những người có nhiều quyền quyết định trong hôn nhân đó là nam giới, những người kết hôn muộn, người có học vấn cao, người làm nhà nước… tuy nhiên, những người là con cả, con duy nhất thì lại ít có quyền quyết định trong hôn nhân của mình hơn.
- Các hình thức trong hôn nhân Khóa luận: Thực trạng luật hôn nhân người dao đỏ ở Bắc Hà.
Qua nghiên cứu cho thấy, sự thách cưới trong hôn nhân ngày xưa của người Dao Đỏ ở Nậm Đét, Bắc Hà, thông qua thách cưới bằng đồng bạc trắng và các hiện vật. Bên cạnh đó cũng cho thấy được những nét tiến bộ của người Dao Đỏ trong hôn nhân ngày nay.
Ngoài ra, hôn nhân của người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét còn tuân thủ chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Trừ các trường hợp ngoại lệ phải lấy vợ lẽ như do vợ cả không sinh đẻ được hoặc mất. Trong trường hợp có vợ có con, có gia đình đầy đủ mà vẫn ngoại tình, cưới vợ hai hoặc bỏ chồng đi lấy chồng khác thì người đó sẽ bị sử phạt theo hương ước, quy ước của bản làng, của dòng họ.
Đám cưới của người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét hiện nay vừa thể hiện bản sắc văn hóa truyền thống, vừa đan xen những yếu tố văn hóa của đời sống mới. Những yếu tố văn hóa này cũng tùy theo từng thôn, bản, huyện hay vùng sâu, vùng xa và tùy thuộc vào trình độ dân trí của từng người, từng vùng. Theo ý kiến của một số người dân, dù trong hôn nhân có đổi mới như thế nào thì những gì thuộc về bản sắc văn hóa dân tộc cũng không thể thay thế được. Vì đó là những tập quán tốt đẹp, đã trở thành bản sắc văn hóa dân tộc được truyền từ đời này sang đời khác cần được gìn giữ và phát huy. Điều đáng trân trọng nhất là quan hệ cộng đồng được thể hiện đậm nét qua lễ cưới truyền thống của người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét. Ở đó có sự ứng xử khéo léo, đề cao các nghi thức trong mối quan hệ con người với con người, con người với xã hội, tạo điều kiện cho đôi vợ chồng trẻ biết tôn trọng nhau và củng cố mối quan hệ chồng vợ bền chặt hơn. Hiện nay trong hôn nhân của người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét, các yếu tố mang tính cốt lõi liên quan đến phong tục tập quán, tín ngưỡng của họ vẫn còn lưu giữ. Người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét vẫn phải tiến hành đầy đủ các nghi thức chủ yếu trong lễ hỏi vợ, cúng bái tổ tiên, đưa đón dâu… nhưng được điều chỉnh thích hợp để hình thành nghi thức mới lành mạnh, tiết kiệm hơn.
- Quy định về ghi lễ trong hôn nhân
Nghi lễ thường được thể hiện qua sự ứng xử, giao tiếp trong xã hội, trong tín ngưỡng, trong sinh hoạt tôn giáo thông qua đời sống tâm linh, mang đậm sắc thái văn hóa dân tộc. Nghi lễ là một từ chung, mang ý nghĩa qua sự tổ chức, thể hiện các khuôn mẫu giao tiếp đã được đặt ra của một hay nhiều người đối với một hay nhiều người khác, và đối với thần linh, đấng cao cả siêu nhiên. Nghi lễ gồm nhiều nghi thức hành lễ hợp lại. Nghi có nghĩa là uy nghi, dáng vẻ, cung cách. Nghi cũng được hiểu là mẫu mực, là tiêu chuẩn đo lường, nghi còn có nghĩa là đồ cúng. Lễ là sự thực hiện các phép tắc, khuôn mẫu mà người xưa đã thực hiện; là hình thức thể hiện việc tổ chức giao tế xã hội, ví dụ: các cử chỉ, ngôn ngữ trong giao tiếp, cách ứng xử trong cuộc sống đời thường; các hình thức cúng bái, tế lễ, cầu nguyện,… như vậy, nghi lễ được hiểu là nghi thức khi hành lễ, hội đủ các yếu tố mang tính văn hóa tâm linh.
Nghi lễ trong hôn nhân là quá trình người thân trong gia đình và dòng họ thực hiện các nghi lễ dựng vợ, gả chồng cho các con khi đến tuổi kết hôn. Khóa luận: Thực trạng luật hôn nhân người dao đỏ ở Bắc Hà.
Tục lệ cưới xin của các nhóm Dao ở Lào Cai khá phức tạp. Mỗi vùng, mỗi nhóm Dao có những nghi lễ khác nhau.
Ở nhóm Dao Tuyển, người ta lấy chỉ xanh đỏ buộc ghép hai đồng xu với nhau, nhờ người đưa sang nhà gái đánh tiếng. Nếu nhà gái nhận hai đồng xu, nhà trai mới làm lễ dạm hỏi. Sau khi nghe nhà trai bày tỏ nguyện vọng, nếu nhà gái đồng ý thì trao lộc mệnh của con gái cho nhà trai đem về so tuổi. Đại diện nhà trai cầm tờ giấy có tên tuổi người con gái về, trên đường đi nếu không gặp điềm xấu (nghe tiếng hoãng kêu, gặp dúi, tê tê, nhện sa giữa đường, rắn bò qua mặt đường, cây đổ, đất lở, đá lăn nhào, gặp người vác cuốc xẻng, đám ma…) thì mới làm lễ so tuổi của đôi trai gái. Trường hợp gặp những điềm xấu đó thì coi như đám này không hợp với mệnh số của con trai, mà phải đi tìm đám khác. Nếu tuổi đôi trai gái hợp nhau, người ta mổ gà mời thầy bói đến làm lễ xem chân gà. Qua việc bói chân gà mà thấy mọi sự đều tốt lành thì nhà trai đem sang nhà gái một con gà hay một ít thịt lợn để làm lễ báo mệnh, tức báo cho nhà gái biết về kết quả việc so tuổi và xem chân gà, đồng thời chính thức đặt vấn đề kết hôn với nhà gái.
Ở một số nhóm Dao khác, nếu so tuổi đôi trai gái thấy hợp nhau, nhà trai đem gà và lễ vật đến nhà gái làm lễ xem chân gà, rồi kết hợp với lễ báo mệnh. Cũng có nơi, nhân dịp lễ báo mệnh, người ta tổ chức cho con rể tương lai đến trình diện nhà gái.
Trên cơ sở thu thập thông tin qua nghiên cứu thực địa cho thấy, để tiến tới hôn nhân. Đôi bạn trẻ người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét cũng phải trải qua nhiều nghi lễ ở cả hai bên gia đình với những thủ tục khác biệt nhau. Đó là các thủ tục từ khi bố mẹ tìm chọn con dâu hoặc con rể tương lai, nhờ người đánh tiếng, mời người mai mối, mời thầy cúng, đến các lễ dạm ngõ, ăn hỏi, tổ chức đám cưới, thực hiện các nghi lễ trong hôn lễ. Các nghi lễ trong đám cưới như lễ chói buộc, lễ vào nhà, lễ đặt tên, lễ vái lạy tổ tiên và các nghi lễ sau hôn nhân như lễ lại mặt, lễ tạ ơn cha mẹ.
So với người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét huyện Bắc Hà thì nghi lễ trong hôn nhân của người Dao Họ ở huyện Bảo Thắng cũng có những điểm tương đồng và khác nhau. Người Dao Họ ở huyện Bảo Thắng cũng có các bước như đánh tiếng, mời người mai mối, lễ dạm ngõ, ăn hỏi, đến tổ chức đám cưới, lễ lại mặt. Nhưng điểm khác biệt trong hôn nhân của Dao Họ ở Bảo Thắng là các nghi lễ trong hôn nhân có lễ đặt trầu (đặt dâu), lễ tơ hồng, lễ xin vào nhà ở mỗi nghi lễ lại có sự khác biệt trong đó, cụ thể là lễ vào nhà của người Dao Họ ở Bảo Thắng cũng cầu kỳ và phức tạp. Theo Dao Họ trước khi cô dâu bước qua ngưỡng cửa để vào trong nhà, đoàn đón đưa dâu phải đứng trước cửa hát xin vào nhà. Trong nhà có thầy cúng làm phép mở cửa kết hợp trấn trị tà ma vào ba hình nhân. Chỉ khi ông mối xếp các hình nhân xuống đất xong thì đoàn mới được bước qua cửa vào nhà. Hai ông mối đi trước, tiếp đến là cô dâu giẫm chân lên ba hình nhân (chỉ có cô dâu giẫm), rồi chú rể cùng mọi người đi hàng một để vào. Tất cả đi một vòng trước bàn thờ tổ tiên theo chiều ngược kim đồng hồ. Đối với Dao Đỏ ở Bắc Hà nghi lễ vào nhà đơn giản hơn bên cạnh đó cũng thể hiện được sự hiếu khách qua lễ trói buộc đoàn đưa dâu.
2.2. Quy định về chuẩn bị cho lễ cưới Khóa luận: Thực trạng luật hôn nhân người dao đỏ ở Bắc Hà.
2.2.1. Chuẩn bị lương thực, thực phẩm
Các gia đình có con chuẩn bị cưới thì phải chuẩn bị đầy đủ lương thực, thực phẩm như: Gạo nếp để đồ sôi, làm bánh, gạo tẻ; nuôi lợn, việc nuôi lợn phải chuẩn bị trước 1 đến 2 năm, phải nuôi 5 đến 6 con để làm thực phẩm trong ngày hôn lễ vừa là vật dâng lễ; nuôi gà khoảng 100 đến 150kg để phục vụ cho ngày cưới; trồng rau xanh và các loại thực phẩm khác, tùy thuộc vào kinh tế của từng gia đình.
Đối với nhà trai việc chuẩn bị lương thực, thực phẩm cần phải kỹ càng hơn về việc chọn linh vật để dâng lễ cúng: chuẩn bị 3 con lợn để cúng (1 con cúng tổ tiên; 1 con cúng ma xó, 1 con cúng thần hoàng làng); chuẩn bị 4 con gà dâng cúng (1 con cảm ơn bố mẹ cô dâu, 1 con cúng tổ tiên, 1 con định ngày, 1 con tạ ơn thầy cúng). Ông Triệu Phúc Lìn chia sẻ về việc chuẩn bị cho đám cưới “Để đảm bảo cho việc đủ lương thực thực phẩm trong đám cưới nhà chúng tôi phải mất hơn một năm để chuẩn bị. Trong đó nuôi lợn, nuôi gà là tốn nhiều thời gian và công sức nhất, chúng tôi nuôi 6 con lợn để làm đám cưới, vừa dùng để cúng, làm lễ vừa dùng để làm thực phẩm”.
Trong một đám cưới không thể thiếu đi những chén rượu nồng, bởi vậy trong mỗi gia đình người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét luôn có một lò nấu rượu riêng.
“Chúng tôi phải tự nấu rượu để mời quan khách trong đám cưới, như vậy mới thể hiện được thành ý của gia đình kính mến khách. Mỗi đám cưới chúng tôi phải chuẩn bị ít nhất 120 lít rượu gạo” ông Lìn cho biết thêm.
Ngoài chuẩn bị lương thực, thực phẩm các gia chủ cần phải chuẩn bị bếp củi vì người Dao Đỏ ở đây tổ chức đám cưới tại gia nên trước những ngày cưới cần phải chuẩn bị bếp củi và kho củi để sử dụng trong ngày cưới; việc sử dụng bếp củi vừa thể hiện được niềm vui sum họp vừa thể hiệp sự tôn kính của người dân với thần lửa; vì đối với người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét thần lửa là vị thần tối cao nên bất cứ lễ to nhỏ nào đều phải thắp lên ngọn lửa. Bên cạnh đó việc sử dụng bếp lửa còn thể hiện sự gần gũi với thiên nhiên, bảo vệ môi trường của người Dao Đỏ nơi núi rừng.
Qua nghiên cứu cho thấy trong đám cưới người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét chỉ ưa dùng những sản phẩm, lương thực tự cung tự cấp không sử dụng rượu thịt mua ở chợ.
2.2.2. Chuẩn bị về trang phục Khóa luận: Thực trạng luật hôn nhân người dao đỏ ở Bắc Hà.
- Ý nghĩa của trang phục
Trang phục truyền thống của các dân tộc không chỉ được người bản địa sử dụng để mặc hàng ngày, mặc trong những dịp lễ tết, cưới xin, lễ hội mà còn được các dân tộc khác sử dụng để làm trang phục biểu diễn nghệ thuật hay đơn giản chỉ để chụp hình kỷ yếu, lưu niệm. Mỗi một loại trang phục đều có những ý nghĩa khác nhau và thể hiện trên từng hoa văn, họa tiết. Trang phục chính là nơi gửi gắm những tình cảm, ước vọng về cuộc sống tốt lành, sung túc của đồng bào. Trang phục không chỉ để mặc mà còn thể hiện tính thẩm mỹ, tín ngưỡng và tâm linh, cách nhận biết giữa dân tộc này với dân tộc khác.
Theo bà Triệu Thị Cói “trang phục dân tộc có ý nghĩa sung túc, ấm no, con cháu đầy nhà, vật nuôi đầy đàn, mùa màng tươi tốt đều được thể hiện trên các hoa văn họa tiết. Không chỉ vậy, dân tộc Dao Đỏ có nhiều nhóm, mỗi nhóm có một kiểu trang phục riêng, thậm chí cùng một nhóm trong một tỉnh nhưng giữa các huyện, các xã cũng có trang phục truyền thống khác nhau hoặc họa tiết hoa văn giống nhau nhưng dùng màu vải, màu chỉ chủ đạo khác nhau, chủ yếu thiên về màu trắng, vàng, đỏ, xanh hoặc đen”.
Đối với các thế hệ trẻ của người Dao Đỏ ở đây lại nhìn nhận theo một quan niệm khác, chị Bàn Thị Khé cho rằng “Việc cô dâu chú rể mặc áo dân tộc trong ngày cưới chỉ tôn lên vẻ đẹp của nhân vật chính trong ngày lễ. Giúp khách đến phân biệt dễ hơn đâu là cô dâu, chú rể, mặc áo dân tộc trong ngày cưới đã thành thông lệ, phong tục tập quán của người Dao Đỏ ở đây, nó cũng giống như người Kinh mặc váy cưới khi thành hôn”.
Để có cái nhìn nhận khách quan hơn tôi đã tiến hành phỏng vấn thêm một số nhân vật là người dân tộc khác. Theo ông Trương Quốc Đại “Nhìn vào bộ trang phục của người Dao Đỏ ở đây tôi đã thấy nó toát lên sự tín ngưỡng tâm linh, đặc biệt là thể hiện trong các hình thêu và cách bài trí hoa văn thành ấn Bàn Vương. Đồng thời tôi cũng thấy được sự khéo léo và tỉ mỉ qua từng đường kim, mũi chỉ của phụ nữa Dao Đỏ ở đây”
Qua phỏng vấn cụ thể cho thấy cách nhìn nhận về ý nghĩa trang phục dân tộc qua mỗi người, mỗi thế hệ là khác nhau vừa mang ý nghĩa tâm linh vừa thể hiện được ước vọng và tôn lên vẻ đẹp của con người.
Trang phục dân tộc Dao Đỏ trở nên lộng lẫy, độc đáo hơn bởi có sự điểm tô của trang sức như vòng cổ, vòng tay, vòng chân, khuyên tai, nhẫn, xà tích… được làm từ nguyên liệu bạc, trạm khắc rất cầu kỳ, góp phần tạo nên vẻ đẹp duyên dáng và sức hấp dẫn của phụ nữ. Vì vậy trang phục dân tộc có ý nghĩa rất quan trọng trong lễ cưới của người Dao Đỏ, cần phải chuẩn bị kỹ càng và đầy đủ trong thời gian dài.
- Chuẩn bị trang phục cho đám cưới Khóa luận: Thực trạng luật hôn nhân người dao đỏ ở Bắc Hà.
Để hoàn thành một bộ trang phục dân tộc Dao Đỏ ở Nậm Đét thường mất khoảng gần 1 năm nếu làm nhanh, người làm chậm phải mất 2 năm mới may xong bộ quần áo. Chính sự cầu kỳ, tỉ mỉ trong công đoạn thực hiện đã tạo nên bản sắc riêng biệt của trang phục dân tộc Dao Đỏ ở Nậm Đét mà không hề pha lẫn với bất kỳ dân tộc nào. Bà Cói cho biết thêm “Việc thêu thùa ở mỗi nhóm Dao cũng có quy chuẩn họa tiết, hoa văn riêng, màu chỉ chủ đạo ở khăn đội đầu, nẹp áo, yếm, thắt lưng, ống quần, xà cạp, túi, khăn quàng cũng khác nhau. Người Dao thêu tất cả hoa văn phải thêu từ mặt trái, không lộ mối nối chỉ”.
Với người Dao Đỏ ở Tuyên Quang, Hà Giang khi người con gái đi lấy chồng thì phải thêu cho bố chồng và chồng một cái áo và một khăn quấn đầu, còn người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét huyện Bắc Hà, con gái khi đi lấy chồng phải tự tay thêu một bộ áo dân tộc bao gồm: áo dài, áo yếm, khăn quấn đầu, khi nào thêu xong mới được lấy chồng. Ngoài ra mẹ cô gái phải chuẩn bị cái mũ đội đầu cho con gái đội khi đi lấy chồng, mũ được đan bằng tre, một đầu tròn, một đầu nhọn, thiết kế chỗ đội chắc chắn.
Kèm theo bộ trang phục là chuẩn bị ô đen và vải đỏ để choàng lên ô và người cô dâu. Vải đỏ có nghĩa là may mắn, hạnh phúc, vừa có nghĩa tránh ma, đuổi tà trong ngày vui, ngày lễ.
Mẹ chồng có con trai chuẩn bị lấy vợ thì phải thêu cho con dâu một bộ quần áo trang phục dân tộc để mặc trong ngày đón dâu bao gồm: (áo dài, áo yếm, quần, khăn quấn đầu) trong đó áo yếm phải đính 7 cái cúc bạc vuông, 20 cái bạc hoa, 50 hào tiền bạc. Chuẩn bị 2 bộ quần áo mặc thường ngày làm lễ đón dâu; một khăn choàng đầu màu đỏ. Bộ trang phục chuẩn bị cho con dâu được định giá từ 30 đến 40 triệu đồng.
Đối với con trai, thì bố mẹ thêu cho một bộ áo dân tộc, một khăn thêu quấn đầu và một khăn thêu che mặt để mặc trong ngày cưới, chuẩn bị 2 đến 3 bộ quần áo thường ngày. Chuẩn bị 4 tấm vải đỏ, mỗi tấm khoảng 2 mét để làm lễ và choàng lên người chú rể và ô để che khi ra ngoài trời.
Mặc trang phục dân tộc trong ngày cưới đối với Dao Đỏ ở Nậm Đét là điều bắt buộc, bởi trang phục vừa thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc, vừa mang tính tâm linh, vừa mang lại sự may mắn, sung túc và tôn lên vẻ đẹp của người con gái và sự tôn nghiêm của chàng trai người Dao Đỏ ở đây. Khóa luận: Thực trạng luật hôn nhân người dao đỏ ở Bắc Hà.
2.2.3. Chuẩn bị sính lễ và quà tặng
Sính lễ là những vật phẩm mà nhà trai mang cho nhà gái trong ngày cưới thể hiện sự quan tâm, sự chuẩn bị của nhà trai trong đám cưới này, đó có thể là rượu, lợn, gà…có ý nghĩa cho phép cho đôi trẻ qua lại thương yêu nhau, sau là để thông báo chính thức về việc hứa gả giữa hai họ. Đây là một nghi thức khá quan trọng bởi sau lễ ăn hỏi, cô gái trở thành vợ sắp cưới của chàng trai còn chàng trai đã chính thức xin được nhận làm rể của nhà gái và tập gọi bố mẹ xưng con.
Bên cạnh rượu chè, vật phẩm, một trong những thứ không thể thiếu trong mâm lễ ăn hỏi là đồng bạc trắng (tựa như phong bì đen của người kinh). Đồng bạc này có khá nhiều ý nghĩa. Đó là tiền “thách cưới” của nhà gái với nhà trai; là sự cảm ơn của nhà trai dành cho nhà gái đã có công sinh thành, nuôi dưỡng con dâu mà họ sắp rước về; là tiền nhà trai góp công sức, tiền của để cô dâu sắm sửa trước khi về nhà chồng.
Với người Dao Đỏ ở đây sính lễ trong một hôn lễ khá cầu kỳ và phức tạp. Bố mẹ chồng chuẩn bị: Một đôi vòng kiềng, một đôi vòng tay, một đôi hoa tai, một đôi dây truyền (tất cả đều bằng bạc) cho con dâu; chuẩn bị một cái chăn mới, một cái chiếu mới, một cái hòm làm lễ; chuẩn bị một đôi tất, một đôi dép mới cho con dâu khi làm lễ vào nhà chồng.
Sính lễ: Nhà trai phải chẩn bị sính lễ theo phong tục trong hôn nhân của dân tộc mình: chuẩn bị một con lợn khoảng 36kg, 10 cân gạo, 20 lít rượu, 4kg miến, một đôi gà (1 trống, 1 mái) làm lễ xin dâu; chuẩn bị 20 cái còng gà tạ ơn công ơn của (cha mẹ, ông bà nội ngoại, ông bà mai mối, bố mẹ nuôi, thầy cúng, cô dâu chú rể, phù dâu phù rể).
- Lễ cha mẹ: chuẩn bị 1 đùi lợn 12kg; ông mai bà mối 1 đùi lợn 15kg và 1 đồng bạc trắng (tương đương 1 triệu).
- Lễ người đưa dâu: chuẩn bị 1,5kg thịt 3 chỉ kèm 1 nén tiền đồng trên một người đưa dâu.
- Lễ phù dâu phù rể: chuẩn bị 2kg thịt cộng 200.000 đồng đối với một người.
- Lễ cho thầy cúng: chuẩn bị cho thầy cả thầy cúng chính (1 đùi lợn 15kg, 1 con gà trống luộc, 15 miếng thịt mỡ, một túm gạo và 5 hào bạc trắng buộc vào vải trắng; thầy 2 và thầy 3 mỗi thầy 2 kg thịt.
- Lễ dâu vào nhà: chuẩn bị 2 kg thịt.
- Lễ mang đồ cho cô dâu (khẹ lòng): chuẩn bị 2kg thịt và 60 nghìn đồng Lễ ông bà nội ngoại: chuẩn bị 4kg thịt mông.
“Những lễ vật, sính lễ này chúng tôi phải chuẩn bị đầy đủ vì theo phong tục từ xưa đến nay vẫn còn lưu giữ, việc phải lễ nhiều hay ít là do hai bên gia đình thỏa thuận, chủ yếu là bên thách cưới, nếu nhà gái thách cưới bao nhiêu thì nhà trai phải chuẩn bị bấy nhiêu” ông Lìn chia sẻ. Khóa luận: Thực trạng luật hôn nhân người dao đỏ ở Bắc Hà.
2.2.4. Mời thầy cúng, đội kèn trống thực hiện nghi lễ
- Mời thầy cúng
Hôn nhân của người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét huyện Bắc Hà luôn chú trọng vào các nghi lễ, vì vậy để một hôn lễ dẫn đến thành công tốt đẹp thì không thể thiếu đi người thầy chủ trì các nghi lễ trong ngày cưới. Điều đó đòi hỏi những người thầy cúng tài giỏi, đức độ, hiểu biết về phong tục tập quán, các hình thức và nghi lễ trong hôn nhân. Bởi vậy việc đi mời thầy cúng cũng cần những lễ vật, vật phẩm theo điều lệ của bản làng.
Gia đình có con trai chuẩn bị cưới vợ thì bố của người con trai đó mang theo 1 lít rượu, một con gà đi mời thầy cúng, nhờ thầy xem tuổi, chọn ngày lành tháng tốt để ăn hỏi và làm đám cưới cho con. Thầy xem ngày là thầy cúng chủ trì hôn lễ, thực hiện các nghi thức trong ngày cưới. Thầy xem ngày phải là người hợp tuổi với con trai, hợp tuổi với gia chủ thì mới được mời làm lễ.
Sau khi xem được ngày cưới, trước đám cưới 3 ngày, chủ nhà trai phải nắm một gói muối, một trai rượu đến nhà thầy, nhờ thầy giúp đỡ gia đình, chủ trì hôn lễ của cô dâu chú rể, làm chủ cho gia đình trong đám cưới đó. Đến ngày cưới, thầy cúng đến gia đình nhà trai, nhà trai mổ con lợn cho thầy cúng để cúng tổ tiên, “báo cáo tổ tiên cả hai bên gia đình, hôm nay ngày lành tháng tốt, nhà trai mang lễ (1 đôi gà, và các nghi lễ cần chuẩn bị) sang nhà gái xin dâu để cúng tổ tiên bên nhà gái. Báo cáo tổ tiên hẹn giờ, ngày, tháng, năm bên nhà gái đưa cô dâu sang nhà trai theo giờ quy định”.
So với người Dao Đỏ ở huyện Bắc Hà thì người Dao Họ ở huyện Bảo Thắng việc mời thầy cúng có sự khác biệt hơn. Trước hôm cưới, đại diện nhà trai cầm gói muối và đồng xu đi nhờ thầy làm lễ. Sau đó thầy cúng tới khấn mời tam đại về phù hộ cho gia đình. Trước khi sang nhà trai, thầy cúng còn làm lễ ở nhà mình cầu mong tổ tiên phù hộ. Đến nhà trai, thầy làm ba hình nhân từ giấy vàng rồi lấy mực đen vẽ mặt, mũi, chân, tay tượng trưng cho cô dâu, chú rể cùng con của họ. Thầy đặt ba hình nhân trước bàn thờ nhà trai để thắp hương, làm phép niệm chú, sau đó đem cài lên cạnh cửa ra vào. Tiếp đến, thầy viết tên các vị thần vào tờ giấy đỏ đặt xuống chiếu, lấy gạo rắc, dùng hai tay bắt quyết, làm phép vào tờ giấy (lá bùa) rồi dán vào cột trước cửa nhà để trấn trị tà ma không làm hại cô dâu, chú rể và đoàn đi đón dâu. Tiếp theo, thầy cúng còn làm một lễ nhỏ, gọi là lễ gói 12 gói muối để mang đến nhà gái cúng tam đại. Trong đó, 6 gói có buộc đồng tiền kẽm, 6 gói khác không buộc tiền kẽm để nhà gái mang đi biếu 6 người cao tuổi nhất thôn bản. Thầy cúng rót ba chén rượu trên bàn thờ nhà trai, rồi thắp ba nén hương và khấn báo với tam đại nhà trai cầu phù hộ cho đoàn đón dâu đi lại an toàn… Đến nay, cả người Dao Đỏ và Dao Họ vẫn giữ tập quán dùng muối làm vật cúng, tức làm vật tế trong một số nghi lễ.
Như vậy, thầy cúng là nhân vật rất quan trọng trong hôn lễ, đóng vai trò chủ đạo, chủ trì dẫn dát hôn lễ. Là nhân vật trung gian gắn kết giữa con người với thế giới tâm linh. Khóa luận: Thực trạng luật hôn nhân người dao đỏ ở Bắc Hà.
- Mời đội kèn trống và phù dâu, phù rể
Kèn (phàn tỵ), trống (zổ) là một trong những loại nhạc cụ gắn liền với đời sống văn hoá tinh thần của người Dao Đỏ. Người Dao Đỏ chỉ sử dụng kèn, trống trong lễ cưới xin và lễ cấp sắc mà không sử dụng kèn trong ma chay như nhiều dân tộc khác. Người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét quan niệm tiếng kèn, tiếng trống là niềm vui, niềm hạnh phúc lứa đôi. Chính vì vậy người thổi kèn, đánh trống là một trong những nhân tố chủ đạo không thể thiếu trong đám cưới. Gia chủ phải đi mời người biết thổi kèn, biết các nghi lễ để thổi các bài nhạc theo đúng nghi lễ đó. Lễ mời người thổi cũng như lễ mời thầy cúng, cũng phải trang trọng, thể hiện sự tôn trọng, kính mến của gia chủ.
Sau khi mời được người thổi kèn, gia chủ tiếp tục đi mời người đánh trống, đánh chiêng, chũm chọe. Đây là bộ nhạc cụ dân tộc không thể thiếu trong đám cưới của người Dao Đỏ ở Nậm Đét.
Cuối cùng là đi nhờ người làm phù dâu, phù rể, người che ô cô dâu, người đeo hòm. Người được mời là em và cháu của cô dâu, chú rể.
2.3. Quy định về trình tự thực hiện lễ cưới của người Dao Đỏ ở huyện Bắc Hà tỉnh Lào Cai Khóa luận: Thực trạng luật hôn nhân người dao đỏ ở Bắc Hà.
Trong quá trình nghiên cứu thực địa tôi đã rất may mắn, gặp và được mời tham dự lễ cưới của gia đình ông Triệu Phúc Lìn tổ chức đám cưới cho con trai là Triệu Tài Phiếu ở thôn Nậm Đét, xã Nậm Đét, huyện Bắc Hà. Vì vậy, tôi có thể tìm hiểu, theo dõi trình tự các bước và thu thập thông tin về đám cưới của người Đao Đỏ một cách thuận lợi cho bài nghiên cứu của mình.
Với người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét, hôn nhân là công việc hệ trọng trong cuộc đời mỗi con người, gia đình, dòng họ, bởi vậy để đi đến lễ cưới, họ phải trải qua rất nhiều nghi lễ khác nhau như: Lễ thức tìm hiểu, so tuổi, lễ dạm ngõ, ăn hỏi rồi đến lễ cưới chính thức
2.3.1. Dạm ngõ (phun in)
Đôi trai gái yêu nhau ngỏ ý với bố mẹ, bố mẹ mới đi hỏi ý con gái cho con trai của mình. Sau một thời gian tìm hiểu, chàng trai thấy ưng cô gái nào đó sẽ về thưa chuyện với bố mẹ để làm lễ so tuổi. Đây là nghi lễ rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hôn sự của đôi trai gái. Sau lễ so tuổi, thấy đôi trai gái hợp nhau, gia đình nhà trai nhờ một người có tài ăn nói làm ông mối giúp gia đình tổ chức lễ dạm ngõ. Nếu gia đình nhà gái đồng ý thì sau một vài ngày sẽ nhờ người báo cho gia đình nhà trai biết để tổ chức lễ ăn hỏi. Người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét rất coi trọng việc mai mối, khi cưới phải có ông bà mai mối theo sau, người làm mai mối thường là ông bà ngoại của cô dâu, ông bà ngoại sẽ ban xuống cho các con và các cháu bên họ nội để làm mối cho cháu gái của mình.
Người làm mối phải có gia đình, có vợ có chồng thì mới được mời làm mối. Trước đám cưới một tháng bố mẹ cô gái chuẩn bị thuốc lào đi mời ông bà mai mối làm mai cho con gái mình và làm trưởng đoàn nhà gái. Ông mối là người trưởng đoàn đưa dâu, đến trao đổi và xin gửi gắm cháu gái cho gia đình nhà trai. Vì vậy người đến dạm ngõ đánh tiếng bên nhà gái thường là ông bà mai mối.
Khi đến nhà gái, chuẩn bị lễ là một nắm thuốc lào bọc gấy đỏ buộc chỉ đỏ, hỏi bố mẹ cô gái có ưng con trai mình và gả con hay không? Hỏi con gái con gái có đồng ý và yêu thương và đến với nhau hay không. Nếu bố mẹ và cô gái đều đồng ý thì sẽ nhận gói thuốc lào bọc giấy đỏ, sau đó chờ một thời gian, nếu bố mẹ và con gái không đổi ý thì nhà trai đến hỏi lần 2, hỏi ngày tháng năm sinh của con trai và con gái để xem tuổi hợp, nếu đồng ý gả thì hỏi lần cuối và chốt gả hay ở rể. Nếu trường hợp nhà gái đổi ý không muốn lấy thì nhà gái phải mang rượu và gói thuốc về trả nhà trai, nói rõ lý do vì sao đổi ý.
Sau khi đồng ý bố mẹ hai bên ôn lại các nghi lễ truyền thống của dân tộc mình. Trong các nghi lễ này bao gồm cả tục thách cưới được hai bên bàn tới trong ngày dạm ngõ chốt gả. Theo ông Triệu Phúc Nhuần “việc thách cưới của người Dao Đỏ trước những năm 1986 là phân hạng theo mước độ xinh đẹp, tài giỏi và chăm chỉ của cô gái. Nếu nhà nào có con gái vừa xinh đẹp, vừa cao giáo, nết na hiền dịu lại tài giỏi và chăm chỉ thì sẽ được sếp vào hạng thứ nhất và gia đình thách cưới 120 đồng bạc trắng tương đương với 120 triệu. Con gái ở hạng thứ 2 là ở mức tương đối ở mức độ biết, hiểu, tài giỏi và chăm chỉ thì được gia đình thách cưới 80 đồng bạc trắng tương đương với 80 triệu đồng. Hạng 3 là hạng bình thường hiểu biết và chăm chỉ được gia đình thách cưới 60 đồng bạc trắng đương đương với 60 triệu đồng”. Người xưa quan niệm việc thách cưới là để thể hiện mức độ giá trị của người con gái. Tuy nhiên do nền kinh tế thời đó chưa phát triển cộng với các thủ tục thách cưới quá cao nên nhiều nhà không thể cưới được vợ cho con, nếu cưới được vợ cho con thì gia đình cũng trở nên nghèo khó hơn.
Những năm sau đổi mới 1986 đến nay dưới sự chỉ đạo dẫn lối của Đảng thay đổi về đời sống kinh tế, văn hóa xã hội, thể hiện nếp sống văn minh trong việc cưới thì các thủ tục thách cưới đã được bỏ bớt không còn phân biệt theo hạng như xưa mà thay vào đó là mỗi đứa con gái chỉ được thách cưới tối đa 40 đồng bạc trắng.
Ngày nay việc thách cưới, ăn hỏi cũng trở nên đơn giản, nhẹ nhàng các thủ tục được tiến hành nhanh chóng. Nhà có con gái chỉ thách cưới tối đa 20 đồng bạc trắng và các sính lễ cũng được giảm bớt, các nghi lễ cũng được rút gọn. Ông Lìn cho biết “tôi hỏi cưới cho hai con trai tôi, cả hai nhà gái đều thách cưới 20 đồng bạc trắng. Vì đồng bạc trắng bây giờ khó kiếm nên cả hai gia đình đều thỏa thuận quy đổi về tiền mặt”. Khi nhà trai đồng ý với thách cưới của nhà gái thì định ngày ăn hỏi và ngày cưới cho con của mình.
2.3.2. Ăn hỏi (nhản trai) Khóa luận: Thực trạng luật hôn nhân người dao đỏ ở Bắc Hà.
Người Dao Đỏ ở đây thường chọn ngày lành trong tháng 1, tháng 2, tháng 3, tháng 7 âm lịch để sang nhà gái ăn hỏi; ấn định lễ vật dẫn cưới và các ngày, giờ tổ chức rồi ghi vào hai bản giấy đỏ để làm tin, mỗi bên giữ một bản.
Lễ ăn hỏi sẽ được tiến hành sau khi nhà gái đồng ý dạm hỏi, nhà trai hẹn ngày đi vào nhà gái, mang theo 3 con gà (1 con dùng để mở lời, 2 con dùng để cúng 2 bên tổ tiên), mang theo một đôi vòng tay, cho một nắm thuốc lào, nếu nhà gái không thay đổi thì mổ gà cúng, ôn lại toàn bộ nghi lễ thách cưới.
Sau đó nhà trai làm thủ tục đi câu cá (mình bạt bảo), bắc Nhuần cho biết “thủ tục này được tiến hành khi nhà gái đồng ý tiến đến ăn hỏi, người Dao Đỏ gọi là thủ tục đi câu cá tương đương với hình thức hứa hôn”. Theo đó con trai mang nghi lễ xem nhà gái có chấp nhận hay không, nếu không có ý kiến phản hồi thì thầy cúng mời rượu nhà gái, ông bà, bố mẹ, cô gì chú bác, anh chị em trong gai đình nhà gái: Thủ tục câu cá bao gồm 4 đùi gà mỗi bên 2 cái để làm nghi lễ (đùi gà tượng trưng cho mồi câu); 1 đôi vòng tay (vòng tay tượng trưng là lưỡi câu); 10 đến 15 chén rượu (rượu tượng trưng là ao hồ); 1 đồng bạc trắng (đồng bạc tượng trưng là phao câu). Nhà trai tiến hành mời nhà gái lần lượt từ ông bà, bố mẹ, cô gì, chú bác, anh, chị, em của cô dâu nếu nhà gái nhận đùi gà và uống rượu mời thì lễ ăn hỏi hoành thành, nhà gái đồng ý chấp nhận cưới (cá đã cán câu).
Sau khi mời người thân của cô gái, thầy cúng tiếp tục thủ tục mời riêng cô gái, nếu cô gái đồng ý nhận đùi gà và uống chén rượu mời thì mọi thủ tục được hoàn tất, lễ ăn hỏi hoàng thành, bố mẹ chàng trai đeo đôi vòng tay cho cô gái làm vật đính ước, và trao đồng bạc trắng cho bố mẹ cô gái làm vật giao ước sau đó căn dặn gia đình nhà gái, ngày giờ đón đưa dâu và về chuẩn bị cho đám cưới.
Dạm ngõ của Dao Họ ở huyện Bảo Thắng cũng có những khác biệt so với Dao Đỏ ở Nậm Đét huyện Bắc Hà. Theo Dao Họ ở Bảo Thắng, khi xem tuổi thấy hợp năm cưới thì nhà trai chọn ngày tốt sang nhà gái để sang ăn hỏi. Nhà trai gồm bố đẻ chàng trai, ông mối mang theo hai đồng tiền kẽm có lỗ. Đến nhà gái, hai người này lấy một cái bát ăn cơm, một đôi đũa, dùng dây buộc hai đồng tiền với nhau rồi xiên vào đầu đũa để trao cho nhà gái. Nhà gái làm mâm cơm gồm thịt gà, thịt lợn để cúng tổ tiên với sự chứng kiến của đại diện họ hàng cho việc nhà trai xin cháu gái về làm dâu.
Sau đó, hai gia đình trao đổi về hình thức bán dâu hay ở rể, các lễ vật dẫn cưới, nếu con trai đến ở rể thì bao lâu, của hồi môn cho cô dâu… Khi hai nhà thống nhất các nội dung, ông mối viết ra giấy 2 bản, mỗi bên giữ 1 bản để hôm cưới kiểm tra lại. Song, trước 12 giờ đêm của ngày này, nếu hai bên gia đình gặp điều xấu thì buộc phải huỷ đám cưới. Nếu điều xấu không xảy ra thì nhà gái đi xem ngày tốt để tổ chức lễ cưới cho đôi trẻ.
Theo tập quán cả Dao Đỏ và Dao Họ đều kiêng dạm ngõ và cưới vào các tháng 3, 7 và 9 âm lịch; ngày cưới kiêng trùng với ngày, tháng, năm sinh của đôi trẻ và của bố mẹ hai bên gia đình, nếu vi phạm thì đôi trẻ sẽ không gặp may mắn trong cuộc sống sau này.
2.3.3. Tổ chức đám cưới (Chấu xiên cha)
Lễ cưới chính thức của người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai thường được tổ chức vào tháng mười đến tháng hai âm lịch, đây là khoảng thời gian nhàn rỗi, mùa màng đã thu hoạch xong. Gia đình nhà trai sẽ nhờ thầy chọn ngày tốt, ngày đẹp rồi bỏ vào túi giấy hồng nhờ ông mối mang sang thông báo cho gia đình nhà gái biết để chuẩn bị tổ chức lễ cưới chính thức. Ngày cưới, gia đình nhà trai, nhà gái mời đông đủ anh em, bạn bè, bà con hàng xóm về dự và chúc phúc cho con cháu, về chung vui cùng gia đình và nhờ người vào bếp chế biến thực phẩm phục vụ khách khứa. Nhà cửa, buồng cô dâu, chú rể được dọn dẹp sạch sẽ, trang trí lộng lẫy với mong muốn cặp vợ chồng sau này sẽ có cuộc sống giàu có, hạnh phúc. Đám cưới diễn ra liên tục 2 ngày đêm. Qua quan sát, theo dõi ngày thành hôn của đôi bạn trẻ Triệu Tài Phiếu (chú rể 23 tuổi) với Bàn Thị Dần (cô dâu 22 tuổi) tại thôn Nậm Đét, xã Nậm
Đét đã giúp tôi hiểu rõ hơn về nghi lễ trong hôn nhân của người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét. Hôn lễ được diễn ra trong hai ngày một đêm (từ ngày 19 đến 20 tháng 3 năm 2025 dương lịch), đi cùng với nhiều nghi thức phức tạp. Để có được những tài liệu thuyết phục khách quan cho khóa luận tôi đã đi sâu vào phỏng vấn, nghiên cứu từng nghi thức cụ thể.
Ngày thứ nhất, theo chân thầy cúng đến hai bên gia đình làm lễ trình báo tổ tiên [phụ lục 1; ảnh 5]. Khi đến, nhà trai cắt giấy màu, ghi câu đối, trang hoàng nhà cửa, rồi cử 4 người mang đồ dẫn cưới (lễ xin dâu) sang nhà gái gồm rượu, thịt lợn, con gà, hòm, quần áo trang sức cho cô dâu mạc trong ngày cưới chính. Giúp nhà gái tổ chức tiệc rượu liên hoan và làm lễ trình báo tổ tiên bên nhà gái, báo ngày giờ xin dâu về nhà chồng. Khóa luận: Thực trạng luật hôn nhân người dao đỏ ở Bắc Hà.
Tối hôm đầu tiên, qua 12 giờ đêm, nhà trai mổ gà cho thầy cả báo cáo tổ tiên, những lời thỉnh cầu được cất lên với ý nghĩa “gia đình có con trai mới lớn đến tuổi dựng vợ gả chồng hôm nay tổ chức đám cưới cho con xin phép tổ tiên, báo cáo với tổ tiên về ngày, giờ đón dâu và đưa dâu vào nhà, gọi tổ tiên vào ăn uống phù hộ cho gia đình”. Thầy cúng vừa đọc thần chú vừa làm phép làm lễ đuổi hết các loại ma tà ra khỏi nhà, phù phép bằng một bát nước. “Đó là bát nước được tôi phù phép, khi làm lễ báo cáo tổ tiên xong tôi sẽ ngậm bát nước đó rồi phun thổi xung quanh nhà để đuổi hết ma quỷ trong nhà, vì trong những ngày vui đặc biệt là ngày cưới, khi làm lễ gọi mời tổ tiên, thần linh thì những ma quỷ sẽ nghe thấy và đi theo vào nhà, chính vì vậy nên tôi cần phải làm lễ đuổi chúng đi trước khi cô dâu đến” thầy cúng Triệu Phúc Nhuần chia sẻ. Sau khi làm lễ báo cáo tổ tiên thì nhà trai mổ thêm một con lợn để cho thầy 2 cúng thần Hoàng Làng. Làm lễ mời thần Hoàng Làng về chứng kiến ngày cưới của đôi trai gái và mong ngày phù hộ gia đình luôn hạnh phúc con cháu xum họp [phụ lục 1; ảnh 6]. Lễ cúng thần Hoàn Làng là một con lợn có đầy đủ các bộ phận, chưa bị chặt thủ, lòng lợn và tiết đều dược mang ra trình cúng thần, lễ còn kèm theo 2 hào bạc trắng bọc trong túm gạo.
- Gia đình nhà trai tiếp tục mổ thêm hai con gà cho thầy 3 cúng thần lửa.
Thần lửa là vị thần tối cao của người Dao Đỏ ở đây nên khi có lễ thì phải cúng mời thần về chung vui sum họp với gia tiên, cầu mong phù hộ và chúc cho gia đình luôn ấm no hạnh phúc, luôn thắp sắng soi đường chỉ lối cho đôi bạn trẻ mới cưới [phụ lục 1; ảnh 7].
Sau khi làm xong lễ cúng các vị thần và tổ chức mời tiệc rượu cho bà con họ hàng, Thầy cả bắt đầu đọc các câu đối đáp, chúc phúc của họ hàng anh em hàng xóm cho gia đình và bà con nghe. Những câu chúc phúc, chúc lộc được viết bằng chữ nho trên giấy màu đỏ hoặc mầu vàng và đính vào vải hoa dày 1,5 đến 2 mét [phụ lục 1; ảnh 8]. “Đây là những lời chúc của họ hàng gửi gắm đến đôi vợ chồng trong ngày cưới, vải hoa và giấy đỏ còn được gọi là đôi vải đỏ, luôn có đôi có cặp. Vải hoa mang ý nghĩa là sum vầy hạnh phúc, ấm no, con cháu đầy đàn như chăm hoa đua nở luôn trẻ đẹp xinh tươi” ông Nhuần cho biết. Sau khi đọc xong lời chúc phúc nhà trai bát đầu chuẩn bị cho lễ đón dâu và chờ giờ lành đi đón dâu.
Ngày thứ hai, lúc 2 giờ sáng cô dâu Bàn Dần dậy chuẩn bị trang phục, đầu tóc để xuất giá, chuẩn bị xong 4 giờ sáng nhà gái đưa dâu sang nhà trai và đây là ngày cưới chính. Ngày cưới chính bao giờ cũng phải là một trong các ngày Dần, Mão, Ngọ, Mùi là những ngày tốt theo quan niệm của người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét. Giờ đón dâu và đưa dâu vào nhà là giờ Dần và giờ Mão khi đó trời chưa sáng nhà gái phải đưa dâu sang nhà chồng, lúc đó trời chưa sáng không có ánh sáng, không có ánh mặt trời soi vào, vì cô dâu là người đẹp nhất trong ngày cưới nếu để thần mặt trời nhìn thấy sẽ bắt đi mất. Trước khi cô dâu bước ra khỏi nhà, bố mẹ cô dâu dạn dò con gái, lấy chồng phải biết chăm ngoan hiếu thảo với bố mẹ chồng, sau đó cô dâu bái tổ tiên 3 vái để xin phép đi lấy chồng. Cô dâu từ lúc vái tổ tiên ra khỏi nhà lúc nào cũng phải có phù dây dát theo và có bà mối theo sau để bảo vệ và chỉ lối. Khi ra khỏi nhà khác với Dao Họ ở Bảo Thắng cô dâu đội nón và cầm quạt giấy che mặt hay đối với Dao Tuyển, cô Đâu chỉ đội một cái mũ mầu đỏ có đính hạt cườm và tua chỉ thì cô dâu Dao Đỏ ở Nậm Đét huyện bắc Hà phải đội khăn chùm đầu, mặc bộ quần áo mà mẹ chồng thêu cho, đeo trang sức trên mình, choàng khăn hồng vào hai bên sườn, che ô đính vải đỏ tất cả đều mang ý nghĩa là tránh ma đuổi tà, việc đội khăn chùm đầu có ý nghĩa là tránh ma đeo bám, chùm vào mặt cô dâu không cho phép ma quỷ nhìn thấy và đến gần đồng thời chùm đầu vào cũng có ý nghĩa là không cho mặt trời chiếu vào mặt cô dâu, nếu mặt trời chiếu vào sau này sẽ khó khăn trong việc làm ăn [phụ lục 1; ảnh 9]. Theo bà Triệu Thị Pham – mẹ cô dâu cho biết “bộ trang phục mà con gái tôi đang mặc cùng với trang sức đeo trên người đều là lễ phục do mẹ chồng thêu may và chuẩn bị. Khi bước ra khỏi nhà, con gái tôi phải mặc vào để có thể tránh được những điều xui xẻo, và mang lại hạnh phúc cho mình”. Trên đường đi đưa dâu nếu qua các con sông các con suối thì phải đốt tiền giấy, được coi là “lộ phí qua cầu” để cầu xin thần sông, thần suối bắc cầu qua sông cho hồn cô dâu đi qua sông để lấy chồng, nếu không làm lễ xin thì hồn cô dâu sẽ bị giữ ở lại vì không có cầu qua. Khi đi gần đến nhà chồng thì cô dâu phải xuống đi bộ và không được đi dép đến khi vào nhà chồng. Lúc đó nhà trai cử đội kèn trống đến đón dâu ở đầu làng. Khi dâu đến nhà thầy cúng bát đầu thực hiện các nghi thức tập quán trong hôn nhân để đón nhận dâu mới. Đối với người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét huyện Bắc Hà là hai bạn trẻ sắp cưới phải tránh mặt nhau, không được gặp nhau trước 3 ngày cưới, đặc biệt là trong ngày cưới, khi chưa làm lễ xong thì không nhìn thấy mặt nhau. Còn với người Dao Họ ở xã Sơn Hà huyện Bảo Thắng lại khác, trước hôm cưới chính thức, chú rể cùng ông bà mối sang nhà gái xin dâu, và ngủ lại tại nhà gái. Khóa luận: Thực trạng luật hôn nhân người dao đỏ ở Bắc Hà.
Sáng hôm sau, trước khi ra cửa về nhà chồng, cô dâu một tay cầm chiếc khăn, tay kia cầm chiếc quạt giấy, che mặt theo hai bà đưa dâu vào buồng gặp chú rể. Khi gặp chú rể, hai ông mối cùng hai bà đại diện nhà gái làm các nghi thức trao, nhận dâu rể, rồi tất cả cùng ra trước bàn thờ lạy tổ tiên nhà gái và xin phép đưa cô dâu về nhà chồng. Lúc đó, thầy cúng lấy vò rượu mà nhà trai mang đến, dùng chiếc đũa chọc thủng tờ giấy hồng bịt miệng vò, rồi rót ra từng chén đưa mời nhà trai cùng bố mẹ cô dâu, họ hàng nhà gái uống và mừng quà hoặc tiền cho hai vợ chồng trẻ.
- Lễ đón dâu và trói buộc (Chíp xiên cha và shun xiên cha)
Khi cô dâu đi đến đầu làng thì nhà trai cử đoàn đi đón dâu bao gồm nhạc trống kèn, và đoàn đón hòm, đón ô, đón ông bà mai mối. Khi đến đoàn nhà trai lạy đoàn nhà gái 3 lạy để tỏ lòng cảm ơn nhà gái đã không quản đường khó đưa dâu sang nhà chồng đúng giờ giao ước rồi đón dâu và đoàn đưa dâu vào cổng nhà chờ làm lễ [phụ lục 1; ảnh 10]. Đúng lúc đó chú rể phải lánh mặt sang nhà hàng xóm, đến khi cô dâu được vào nhà thì mới đón chú rể về làm lễ nhập tịch tiếp.
Khi đoàn đưa dâu đến, nhà trai chuẩn bị trà, thuốc lào mời khách thể hiện sự cảm ơn đối với đoàn đưa dâu. Khi đến giờ vào nhà thầy cúng tiếp tục làm phép đuổi ma trừ tà đi theo cô dâu và đoàn đưa dâu, sau đó đội kèn trống làm lễ trói buộc bên nhà gái nghĩa làm giữa lại chơi nhà chưa cho về, sau khi làm xong lễ mới mở chói cho về, lễ thể hiện sự yêu quý, kính trọng của nhà trai đối với nhà gái. Lễ trói buộc thể hiện bằng cách phân bố đoàn đưa dâu thàng 3 nhóm rồi đội kèn trống đi vòng, vừa đi vừa thổi bài kèn mời khách lại nhà đi một vòng được coi như buộc một vòng, tổng phải đi 10 vòng [phụ lục 1; ảnh 11].
- Lễ vào nhà (đáp sái)
Sau khi làm lễ trói buộc thầy cúng bắt đầu làm lễ vào cửa cho cô dâu, Đoàn nhà gái tiến đến trước cửa chính, dừng ở ngưỡng cửa, cô dâu đứng trước cửa chính chờ thầy làm phép đuổi tà theo bám. Thầy cúng một tay cầm bát nước, một tay cầm que sắt vừa niệm chú vừa đi quanh nhà ngậm nước phép phun ra xung quanh, hết một vòng nhà sau đó cầm một con gà con thỉnh cầu tổ tiên, cho vào nhà bằng cách xin quẻ sau khi hai thẻ che cùng lật hoặc một úp một ngửa thì có nghĩa tổ tiên đồng ý, khi đó thầy cúng dùng dao phù phép chặt đứt đầu gà, ném ra ngoài cửa [phụ lục 1; ảnh 12]. Sau đó cô dâu được bước chân vào cửa nhà, đồng thời đoàn đưa dâu lúc này mới được vào nhà trai.
Khi vào nhà em trai hoặc em gái của chú rể bê chậu nước đặt trước cửa rồi rửa chân cho chị dâu sau đó đi đôi tất và giầy mà nhà chồng đã chuẩn bị cho cô dâu. Việc rửa chân mang ý nghĩa là rửa sạch đi mọi dơ bẩn đeo bám, rửa sạch đi nhiều điều xui xẻo ở người cô dâu, còn đeo tất và giầy mới vào là gạt bỏ đi xui xẻo thay vào những cái mới mẻ cầu mong mọi thứ được suôn xẻ. Sau khi rửa chân xong, em của chú rể tiếp tục dải chiếu, để chăn và gối của chú rể lên gian giữa nơi có bàn thờ tổ tiên để làm lễ nhập tịch. Khi cô dâu đi sang nhà chồng thì phải mang theo cái hòm và cái chăn, cái chăn được mang ra làm lễ vái lạy tổ tiên. Chăn được đặt theo thứ tự của cô dâu đặt xuống dưới, chú rể đặt lên trên rồi đến hai cái gối. Chăn gối mang ý nghĩa trình báo tổ tiên nay theo lời hẹn ước nhà trai đón dâu về cùng chung sống với gia đình là vợ của con cháu nhà mình, từ nay chung chăn chung gối suốt đời.
- Lễ nhập khẩu (Thim tinh)
Trước khi làm lễ nhập khẩu cho cô dâu thì đoàn trống kèn đi đón chú rể về để làm lễ [phụ lục 1; ảnh 13]. Mở màn là lễ nhập khẩu cho cô dâu, tiếng Dao Đỏ gọi là “Thim tinh”, thầy cúng khấn báo tổ tiên về việc gia đình tổ chức đón dâu, mong tổ tiên chấp nhận và nhập thêm khẩu vào gia đình. Nhập khẩu cho cô dâu và đặt tên cho chú rể là nghi lễ quan trọng và bắt buộc bởi chỉ khi hoàn thành nghi lễ này cô dâu và chú rể mới được chính thức vào nhà và cô gái mới chính thức trở thành thành viên của nhà chồng cũng như được tổ tiên nhà chồng che chở, bảo vệ. Khóa luận: Thực trạng luật hôn nhân người dao đỏ ở Bắc Hà.
Theo ông Lìn “đối với người Dao Đỏ, thời gian diễn ra nghi lễ này phải được chọn rất cẩn thận. Trong đó tốt nhất là những giờ Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ. Thầy cúng sẽ chọn một trong 4 giờ này để thực hiện nghi lễ. Gia đình tôi chọn vào giờ Mão làm lễ nhập khẩu cho con trai tôi, đây là giờ tốt và cũng là lúc làm xong lễ vào nhà cho cô dâu, thực hiện nhập tịch cho cô dâu sẽ rút gắn được thời gian làm lễ”.
Trước khi thực hiện nghi lễ, gia đình sẽ chuẩn bị một mâm lễ đặt trước bàn thờ tổ tiên gồm 1 con lợn, 1 con gà trống, 6 chén rượu, 1 lít rượu và một bát gạo, hai hào bạc trắng bọc trong vải trắng và một tập tiền âm để thầy cúng dùng làm lễ [phụ lục 1; ảnh 14]. Ngoài ra, chủ nhà treo một vuông vải đỏ ở giữa tấm vải có gài một tấm bạc trắng có chữ “kết hôn” lên trên bàn thờ tổ tiên và treo một mảnh vải đỏ hình vuông lên trên cửa chính.
Chuẩn bị xong lễ vật, thầy cúng sẽ bắt tay vào làm lễ và cúng. Nội dung bài cúng là trình bày về quá trình vất vả đi tìm con dâu của gia đình chú rể.
“Gia đình đã phải đi các hướng Đông – Tây – Nam – Bắc, đến lắm nơi, nhiều chốn và cuối cùng đã tìm được cô con dâu ưng ý nhất về. Sau khi xin tuổi cô gái về đối chiếu cùng con trai không có gì vướng mắc, gia đình đã làm lễ ăn hỏi từ đầu năm. Bên gái cũng chuẩn bị trang phục từ đầu năm, bên trai đã chuẩn bị đón dâu đầy đủ, chủ gia đình đã nhờ được thầy tìm ngày tháng kết hôn tốt. Vậy mong tổ tiên chấp nhận và giúp thầy cúng nhập thêm khẩu vào gia đình, giúp hai người kết hôn và bảo vệ đám cưới, hai bên khỏe mạnh, không ốm đau bệnh tật, phù hộ cho đám cưới bình yên không gây mất đoàn kết, phù hộ cho hai vợ chồng trẻ sống hạnh phúc, sinh được nhiều con cái thông minh, tài giỏi, làm ăn giàu sang phú quý…”. Sau khi đọc bài cúng, thầy cúng đặt tập tiền âm phủ lên bàn thờ tổ tiên, rồi lấy một tờ giấy đỏ ra ghi tên tuổi cô dâu vào, từ nay cô dâu đã thành người trong nhà và được tổ tiên nhà chú rể bảo vệ.
Tiếp sau lễ nhập khẩu cho cô dâu là lễ đặt tên cho chú rể. Sở dĩ chú rể cũng phải làm lễ dặt tên bởi trong quan niệm cổ truyền của người Dao Đỏ ở Nậm Đét, một người đàn ông từ khi sinh ra cho đến khi lấy vợ phải có đủ 3 tên gọi gồm: tên khi còn trẻ con, tên khi lấy vợ và tên khi làm lễ cấp sắc.
Để đặt được tên, thầy cúng sẽ thống nhất với bố mẹ chú rể về tên gọi. Tên được đặt trong lễ cưới chỉ dùng khi cúng và chết mà không được dùng gọi hằng ngày. Khi các thành viên tham gia đã thống nhất được tên gọi, người chủ hôn dẫn chú rể ra quỳ trước bàn thờ tổ tiên. Thầy cúng làm lễ cúng và thông báo tên mới của chú rể cho tổ tiên biết và tiếp nhận.
- Lễ khấn vái tổ tiên
Cô dâu Bàn Dần mặc 3 đến 4 bộ quần áo mới để mong sung túc về sau, rồi đeo yếm ngực, quấn thắt lưng vào hông, đeo khăn địu vào lưng, vấn lại tóc rồi đội mũ gỗ, trùm một vuông vải đỏ che kín mặt, quàng chéo ngực một đôi băng vải đỏ, chính giữa ngực có điểm hoa bằng bạc trắng.
Phù dâu, phù rể đưa cô dâu và chú rể đến đứng cạnh nhau trước bàn thờ, đứng lên chiếu đã được dải sẵn để làm lễ bái đường (pái ông thái). Thầy cúng làm phép thu vía đôi trẻ vào hai cái chén rồi rót rượu cho cô dâu chú rể, mỗi người phải uống cạn ba chén. Cô dâu chú rể đã chính thức thành vợ chồng trước sự chứng kiến của tổ tiên. Cô dâu chú rể cùng vái tổ tiên 2 lần, mỗi lần lạy 36 lại: lần thứ nhất chú rể cầm 2 mét vải đen vái; lần thứ hai chú rể bê 12 chén rượu vái Bàn Vương, lục tướng, ngũ kỳ binh mã và 12 ông tổ của 12 dòng họ người Dao đã dẫn dắt con cháu vượt biển xuôi về phương nam (chú rể vái gập lưng, đứng váy 2 vái, quỳ vái 3 vái, khi chú rể quỳ vái thì cô dâu chỉ nhún gối) [phụ lục 1; ảnh 15]. Cô dâu Bàn Dần cho biết “Tôi đứng làm lễ khá lâu, từ lúc ra khỏi nhà mẹ đẻ đến lúc làm xong lễ tôi phải đeo nhiều lễ phục và thêm cái đội đầu khá nặng nên bà mai luôn phải đứng sau tôi để giữ cái mũ đội cho tôi, nếu không có người giữ có thể tôi sẽ không chịu được cho đến khi làm xong lễ”. “Nghi thức khấn bái này riễn ra khá lâu, do phải đứng làm lễ lâu cùng với bộ trang phục nặng nề, kèm vào đó là mũ đội đầu của cô dâu khá nặng nên tôi cố gắng cúng nhanh và đảm bảo đủ các lễ nghĩa, giúp cô dâu, chú rể sớm hoàn thành nghi lễ. Tôi đã chủ trì rất nhiều hôn lễ và đã có trường hợp cô dâu bị ngất do phải mang trên mình bộ trang phục nặng và đứng làm lễ lâu.” ông Nhuần cho biết. Khóa luận: Thực trạng luật hôn nhân người dao đỏ ở Bắc Hà.
Sau khi vái lạy xong tổ tiên em của chú rể thu dọn chiếu, chăn vào buồng. Khi thu chiếu thầy cúng ném 100 nghìn xuống chiếu bảo em chú rể rũ cho ra và bắt lấy, 100 nghìn này tượng trưng cho con bọ mang ý nghĩa là giết bọ rồi sau này sẽ không còn có bọ, có giận trong buồng cô dâu chú rể nữa. Sau khi cô dâu chú rể khấn vái xong, thầy cúng tiếp tục bài cúng cảm tạ tổ tiên, thần linh đã phù hộ và chấp nhận buổi thành hôn của đôi bạn trẻ, sau đó xin quẻ rồi đốt tiền giấy cho tổ tiên [phu lục 1; ảnh 16]
Khi làm lễ khấn vái xong gia đình họ hàng hai bên cùng nâng chén rượu mời khách để chúc phúc cho cô dâu chú rể mỗi người uống để vào đĩa 10 đến 20 nghìn để cầu phúc cho đôi bạn trẻ. Chén rượu này gọi là “lành pái tíu” ý là chấp nhận sự thành hôn của đôi vợ chồng.
- Lễ dạy dâu dạy rể (záo sang miền)
Khi làm xong các nghi lễ nhập tịch và khấn vái tổ tiên, nhà trai sắp mâm bày tiệc rượu để quan khách hai họ cùng chung vui. Riêng gian nhà chính bầy 3 mâm to để đoàn đưa dâu trưởng đoàn nhà gái, bố mẹ, ông bà mai mối, ông bà nội ngoại của cô dâu chú rể và thầy cúng ngồi, vừa ăn vừa thực hiện lễ dạy dâu mới về. Dạy cách làm con, cách làm vợ, dạy cách làm người, làm ăn. Căn dặn làm con phải hiếu thuận với cha mẹ, làm vợ chồng phải biết yêu thương nhau đi đâu sớm tối có nhau, làm người phải biết đùm bọc chở che cho nhau, vợ chồng phải đồng thuận đồng lòng cùng nhau làm ăn nuôi dậy con cái thành người [phụ lục 1; ảnh 17].
Thầy cúng lấy đũa xiên 4 giò lợn để vào bát rồi đưa cho cô dâu chú rể, rồi căn dặn, thầy đưa cho đôi chân sắt thép cho các con làm ăn lên rừng xuống sông cũng không nản chí, 4 cái chân còn tượng trưng cho sự vững chắc như cái bàn cái ghế 4 chân đứng vững vàng, như cái nhà có 4 cạnh luôn hiên ngang trước gió bão, mong muốn cô dâu chú rể luôn kiên trì xây dựng gia đình hạnh phúc ấm no. Tiếp sau đó thầy chặt con gà cúng thành nhiều khúc rồi để vào mẹt đưa cho cô dâu và chú rể, mang ý ngày đưa đôi chân để đi, cho đôi cánh để bay, cho cái ô để che nắng che mưa, cho phúc cho lộc làm ăn. Tiếp đó là những lời căn dặn của bố mẹ cô dâu chú rể, ông bà nội ngoại, ông bà mai mối, và trao lễ vật thách cưới.
Đội nhạc tấu nhạc vui trong suốt thời gian tiệc rượu, mỗi lần nâng rượu đội nhạc trống lại thổi lên điệp khúc mời rượu làm cho không gian trong buổi lễ thêm phần não nhiệt, vui tươi hơn “Thổi kèn phải thổi theo nhịp và điệu khúc, mỗi một nghi lễ sẽ có một bài thổi riêng, có nhịp khúc đón khách, mời rượu, rước dâu, cảm tạ thần linh…” theo lời kể của ông Triệu A Cấu – người thổi kèn trong đám cưới. Tiếng kèn tiếng trống trong ngày vui của người Dao Đỏ là không thể thiếu, vì khác với các dân tộc khác là sinh ly từ biệt mới có tiếng kèn tiễn đưa thì người Dao Đỏ ở đây lại chỉ thổi khèn, đánh trống trong những ngày vui trọng đại. Người Dao Đỏ ở Nậm Đét cho rằng tiếng trống tiếng kèn vang lên báo hiệu một niềm vui mới vui nhà ấm cửa, ấm no hạnh phúc. Họ chỉ thổi kèn đánh trống vào những dịp tết, lễ, đầu năm mới để đón niềm vui và điều may mắn, cũng có nghĩa xua đuổi ma tà quỷ quái trong nhà. Đặc biệt trong lễ Cưới và lễ Cấp Sắc của người Dao Đỏ là không thể thiếu đi tiếng kèn, tiếng trống [phụ lục 1; ảnh 18]. Bởi vậy, người được mời thổi kèn đánh trống có vị trí rất quan trọng trong ngày cưới, lễ mời người thổi kèn cũng phải được chu đáo tỷ mỷ như lễ mời thầy cúng. Đội kèn trống có một mâm riêng, làm việc liên tục trong vòng hai ngày, đến khi nào tiệc tàn, người đưa dâu, khách khứa về hết thì mới ngừng không thổi. Khóa luận: Thực trạng luật hôn nhân người dao đỏ ở Bắc Hà.
Hòa vui với tiếng trống, tiếng kèn, tiếng nhạc sập sình, cô dâu và chú rể đến từng mâm chúc rượu cảm ơn khách khứa nhận rượu rồi trao quà mừng cùng những lời chúc tốt lành: phú quí giàu sang, sớm sinh quí tử cho đôi bạn trẻ [phụ lục 1; ảnh 19].
Sau khi hoàn tất các thủ tục, các nghi lễ trong đám cưới bố mẹ người thân cô dâu xin phép gửi gắm con gái cho bên nhà chồng mong sao con cái được nên người rồi đi về. Khi bố mẹ và cô dâu về nhà cô dâu và chú rể phải đưa lễ tiến và cảm ơn bố mẹ. Thầy cúng, người thổi Kèn, ông bà mai mối, ông bà nội ngoại, phù dâu phù rể khi ra về thì cô dâu chú rể đều phải mang lễ đưa tiễn như đã chuẩn bị. Đồng thời nhà trai cử đội hát đối đáp giao duyên với nhà gái, thể hiện sự luyến tiếc không muốn cho nhà gái về, thể hiện lời cảm ơn đoàn nhà gái, cảm ơn cha mẹ cô gái, chúc đoàn nhà gái sức khỏe và thượng lộ bình an.
Qua theo dõi trình tự các nghi thức được tiến hành trong hôn nhân của Dảo Đỏ ở đây, tôi phỏng vấn một số nhân vật trong cùng nhóm Dao Đỏ nhưng đến từ xã khác trên địa bàn huyện. Anh Bàn A Ton đến từ xã Nậm Mòn cho biết “Lễ cưới của người Dao ở đây cũng không khác gì so với chỗ chúng tôi.
Tuy nhiên về các nghi lễ thì chỗ chúng tôi hiện nay nhiều nhà khi cưới đã bỏ lễ trói buộc đoàn đưa dâu, vì họ cho rằng đây không phải nghi thức bắt buộc nên có cũng được không có cũng không sao”. Hiểu thêm nghi lễ trong hôn nhân của người Dao Đỏ ở vùng khác, bà Triệu Mùi Phấy ở Cao nguyên đá Hà Giang cho biết “Sự khác biệt lớn nhất trong hôn nhân của Dao Đỏ ở đây với Dao Đỏ ở chỗ tôi là lúc cô dâu xuất giá là phải đi trước ngày cưới chính thức một ngày, tối hôm đó cô dâu phải ngủ lại lán ở đầu làng đến sáng hôm sau đoàn đưa dâu đến đón, nhưng Dao Đỏ ở đây lại làm trong cùng một ngày một khung giờ. Điểm khác biệt thứ 2 là ở các bài tiết tấu của đội kèn trống, mỗi nơi thổi các bài điệu khúc giao hưởng khác nhau. Cuối cùng là sự khác biệt về trang phục, người Dao Đỏ ở đây đã không còn mặc quần được thêu bằng vải chàm như chỗ chúng tôi, cách bài trí hoa văn họa tiết trên áo, yếm, cũng khác hoàn toàn”.
Thực tế cho thấy các nghi lễ trong hôn nhân của người Dao Đỏ ở các vùng khác nhau cũng có sự khác nhau, kể cả ở trong cùng một huyện. Chính vì sự khác biệt đó đã tạo nên những đặc trưng riêng về văn hóa hôn nhân của người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.
Những điều kiêng cữ trong lễ cưới của người Dao Đỏ ở Bắc Hà
- Điều kiên kị trong lễ cưới
Trong ngày cưới, có hàng chục điều kiêng cữ, tỉ mỉ và quan trọng đến mức mà các gia đình thường nhờ hẳn một người là chủ hôn để hướng dẫn và giám sát chuyện này. Khi ra khỏi nhà, em gái cô dâu cầm khăn mặt của cô dâu “dắt” đi, vào đến cửa nhà trai, khăn mặt này được trao cho em gái chú rể dắt vào nhà. Suốt cả quãng đường, bất kể chuyện gì cũng không được buông cái khăn ra.
Ngoài ra theo truyền thuyết của người Dao đỏ, trong ngày cưới, cô dâu là người đẹp nhất, rất dễ bị thần mặt trời bắt, nên dù mang trên người một bộ trang phục đồ sộ, kín mít từ đầu tới chân, nhưng vẫn có người cầm ô che trên đầu cô dâu để che giấu mặt trời. Đến trước khi vào nhà chồng, cô dâu phải rửa chân, rửa ở chậu nước đã được thầy cúng làm phép, rồi bước qua chậu than hồng để vào cửa chính của nhà trai.
- Điều kiêng kị sau khi cưới
Con gái sau khi lấy chồng nếu chưa đầy tháng thì kiêng không được vào nhà hàng xóm, không được về nhà ngoại, không được đi qua sông. Vì người Dao quan niệm, nếu dâu mới về mà đi vào nhà người khác thì sẽ mang hết phúc lộc cho họ, sẽ bị người đời cười chê, sau này sẽ khó khăn trong việc làm ăn. Nếu chưa đầy tháng mà vào nhà ngoại thì bị tổ tiên bên ngoại cười chê, sau này làm gì cũng không nên. Mẹ chú rể cho biết “Con dâu sau khi cưới chưa đầy một tháng không được về nhà mẹ đẻ, không được vào nhà hàng xóm. Nếu chưa đủ 3 ngày thì không được đi làm, không được qua sông, qua suối, nếu không kiêng tốt thì sau này sẽ gặp nhiều điều không may”. Khóa luận: Thực trạng luật hôn nhân người dao đỏ ở Bắc Hà.
Trước đây khi mới về nhà chồng, con dâu phải dậy sớm chuẩn bị cơm nước mời bố mẹ chồng, sáng phải múc nước cho bố mẹ chồng rửa mặt và rửa chân; phải ngồi xổm lễ bố mẹ chồng, ông bà nội, bác và em trai chồng, không được ngồi ghế, không được ngồi ăn cùng mâm. Người Dao Đỏ cho rằng nếu ngồi trước mặt bố mẹ, ông bà, bác, chú của chồng thì giống như ngồi trên đầu của họ vậy. Ngày nay, nhận thức của người dân được nâng cao, nhiều gia đình người Dao Đỏ không còn tồn tại những nguyên tác lạc hậu này.
- Quy định về lễ lại mặt (zuấn ngòi cha)
Lại mặt là một nghi thức không thể thiếu trong hôn nhân của người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét. Lại mặt được diễn ra khi cô dâu chú rể cưới đầy tháng; có thể lại mặt sau 1 năm hoặc nhiều hơn, thường thì lễ lại mặt riễn ra sau 1 năm khi cô dâu và chú rể lấy nhau và sinh được một đứa con. Khi đó đôi trai gái đã cưới đưa đứa con cùng ông bà mối, bố mẹ và một đứa con của anh em họ hàng (nếu đứa con của đôi vợ chồng là trai thì đưa theo bé gái, nếu là con gái thì đưa theo bé trai). Mang theo lễ vật gồm một con lợn, một đôi gà, vài lít rượu sang nhà gái làm lễ lại mặt theo ngày đã định. Đến đúng ngày đã định, đôi vợ chồng cùng người thân mang lễ về lại mặt nhà ngoại. Nhà ngoại mời thầy cúng về trình báo tổ tiên bằng các lễ vật nhà bên nhà trai mang đến và làm mâm rượu đón tiếp nhà trai. Hai bên gia đình cùng vui vầy trong không khí xum họp gia đình. Hôm lại mặt đôi vợ chồng cùng con phải ngủ lại nhà ngoại một đêm, đến hôm sau khi về nhà nội, bố mẹ bên ngoại lễ đi đường cho cháu của mình một đôi gà, cho vào lồng gà mang về làm lễ phù hộ cho con của mình làm ăn phát tài phát đạt, con cháu chăm ngoan học giỏi. Đây là điểm khác biệt của người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét huyện Bắc Hà so với các nhóm Dao khác.
Đối với Dao Họ ở Bảo Thắng lễ lại mặt diễn ra ngay sau ngày cưới. Bố mẹ hoặc anh chị của chú rể cùng đôi vợ chồng trẻ và hai người nữa cùng đi sang nhà gái. Khi đi, họ mang theo lễ vật gồm 1 con gà sống, 1 chai rượu, 1 cặp bánh chưng hoặc bánh rán khoảng từ 1-3 kg để trao cho thông gia. Đến nơi, đôi vợ chồng trẻ cùng mọi người đi thịt gà, vào bếp nấu ăn, làm cơm cúng tổ tiên nhà gái. Cúng xong, họ cùng với nhà gái ăn uống vui vẻ.Theo tập quán người Dao Họ, cô dâu kể từ hôm cưới đến khi về nhà bố mẹ đẻ làm lễ lại mặt vẫn phải mặc bộ đồ cưới, sau lễ lại mặt, trở về nhà chồng mới mặc bộ trang phục ngày thường.
Lễ lại mặt là cơ hội để đôi vợ chồng trẻ tỏ lòng cảm ơn các bậc sinh thành thông qua việc làm cơm cúng tổ tiên nhà gái. Sau lễ lại mặt hai vợ chồng về tiếp tục cuộc sống hôn nhân, chăm sóc bố mẹ chồng, nuôi dậy con cái, hiếu thảo với ông bà cha mẹ, cùng làm ăn sinh sống, tăng gia sản xuất, xây dựng gia đình theo chuẩn phong tục tập quán của dân tộc và nếp sống văn hóa, gia đình văn hóa theo quy định của đảng và nhà nước.
2.4. Nét đẹp trong hôn nhân của người Dao Đỏ
2.4.1. Hôn nhân của người Dao Đỏ mang tính giáo dục cao
Hôn nhân của người Dao Đỏ luôn liên quan chặt chẽ đến nề nếp trong gia đình, nhất là tính giáo dục con người biết yêu thương, biết chăm sóc lẫn nhau, biết thực hiện các nghi lễ cũng như phải am hiểu phong tục tập quán để rèn luyện mình theo một khuôn phép mà dân tộc mình đưa ra.
Bên cạnh đó việc thực hiện các nghi lễ hôn nhân còn phản ánh rõ nét cuộc sống thường ngày thông qua các mối quan hệ diễn ra trong cộng đồng và gia đình Người Dao Đỏ. Đó là mối quan hệ giữa các thành viên trong mỗi gia đình, mối quan hệ giữa gia đình với dòng họ và với cộng đồng thôn bản… Tính giáo dục trong hôn nhân còn được đề cao nhất trong hôn lễ tổ chức đám cưới, nằm trong phần dạy dâu dạy rể mới, phải biết yêu thương đùm bọc nhau, phải có hiếu với cha mẹ, phải biết giúp đỡ mọi nguời xung quanh…
Như vậy cũng như các dân tộc khác người Dao Đỏ luôn coi trọng giáo dục, đề cao đạo đức con người trong hôn nhân, phải biết tôn trọng các đấng sinh thành, sống vị tha, sống thủy chung, coi trọng tình nghĩa, đoàn kết xóm giềng. Sống phải tuân thủ theo quy chuẩn của gia đình, bản làng và xã hội.
2.4.2. Giá trị văn hóa truyền thống Khóa luận: Thực trạng luật hôn nhân người dao đỏ ở Bắc Hà.
Hôn nhân của người Dao Đỏ phản ánh rõ nét chế độ xã hội trong lịch sử, đó là hôn nhân phụ hệ. Người đàn ông nắm mọi quyền trong gia đình, làm chủ cột trong nhà và quyết định mọi việc, con cái sinh ra mang theo họ bố. Ngoài ra hôn nhân của người Dao Đỏ còn thể hiện nét đẹp truyền thống, những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp vẫn được người Dao Đỏ ở đây lưu giữa và thực hiện, ôn lại qua các hôn lễ.
Hôn nhân còn thể hiện được tính cộng đồng trong các mối quan hệ khác nhau, nhất là việc thăm gia của nhiều thành phần khi thực hiện các bước hôn lễ. Ngoài ra, việc thực hiện các nguyên tắc, nghi lễ, các thủ tục…liên quan đến hôn nhân còn biểu hiện sự giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của người Dao Đỏ nói riêng ở huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.
Giá trị văn hóa cũng được thể hiện rõ trong trang phục truyền thống của người Dao Đỏ. Người Dao Đỏ ở Bắc Hà vẫn còn lưu giữ những nét đẹp truyền thống trong trang phục dân tộc từ việc thêu thùa đến việc sử lễ phục và trang sức cổ truyền trong ngày cưới. Ngoài ra tính văn hóa truyền thống trong đám cưới cũng được thể hiện qua các tuyển tập chuyện, sách dạy đạo đức, sách cúng, dân ca giao duyên trong đám cưới của người Dao Đỏ ở xã Nậm Đét huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai.
2.4.3. Giá trị tín ngưỡng
Hôn nhân của người Dao Đỏ ở Bắc Hà, tỉnh Lào Cai phản ánh quan niệm về tín ngưỡng đa thần, vạn vật hữu linh tức mọi vật đều có linh hồn, xung quanh con người đều có ma lành, ma ác. Giá trị tâm linh cũng thể hiện ở việc thờ cũng thần Hoàng Làng, thần Lửa xin các thầy phù hộ và về tham dự, vui cùng trong ngày thành hôn. Việc cúng tam đại và tổ tiên trong lễ cưới thể hiện “uống nước nhớ nguồn”. Qua các nghi lễ hôn nhân của người Dao Đỏ ở xã nậm Đét huyện Bắc Hà, có giá trị củng cố mối quan hệ trong gia đình, dòng họ và cộng đồng. Người Dao Đỏ ở Nậm Đét rất chú trọng đến cội nguồn của dân tộc mình vì vậy các nghi thức cúng tế được chuẩn bị kỹ lưỡng và tiến hành trọng thể nhằm thể hiện sự tôn kính đối với Bàn Hồ, thủy tổ của người Dao và đối với tổ tiên của mình. Giá trị tín ngưỡng còn được thể hiện trong bộ trang phục truyền thống của người Dao Đỏ, đó là các hoa văn họa tiết, cách trang trí, hình thù trên bộ áo cưới của cô dâu và chú rể. Bên cạnh đó giá trị tín ngưỡng còn thể hiện ở những điều kiêng kị trong hôn nhân của người Dao Đỏ. Khóa luận: Thực trạng luật hôn nhân người dao đỏ ở Bắc Hà.
2.4.4. Tinh thần cố kết cộng đồng
Trong các ngày hội, ngày lễ của người Dao Đỏ thường diễn ra với sự tham gia của nhiều người, họ là những người con cháu trong dòng họ, họ là những người anh em họ hàng gần xa và cũng là cộng đồng anh em cùng chung sống tại địa bàn, khi có việc gì họ thường chung tay giúp đỡ nhau, “một nhà có đám cưới, cả làng có hội vui”. Do vậy, tinh thần cộng đồng làng bản của người
Dao Đỏ ở xã Nậm Đét huyện Bắc Hà thể hiện khá rõ. Mỗi khi gia đình nào làm lễ, hay làm ruộng nương đều được sự giúp đỡ từ việc đổi công cày cấy cho đến nấu nướng hay các công việc khác. Không chỉ đến giúp đỡ mà họ còn đến chia vui với gia chủ. Mỗi khi gia đình có việc lớn đều được sự giúp đỡ, sẻ chia này có tính luân chuyển, tự giác thành thông lệ làm cho mọi người trong dòng họ, trong làng bản gần gũi với nhau, gắn kết với nhau hơn. Nhờ có các ngày lễ mà tính cố kết cộng đồng làng bản trở lên chặt chẽ và bền vững hơn.
Tiểu kết
Trong chương 2, là sự khái quát một số quan niệm, nguyên tắc cơ bản được quy định trong hôn nhân của người Dao Đỏ. Trong đó khóa luận tập trung vào nghiên cứu những quy định trong lễ cưới đó là quy định về trình tự thực hiện các nghi lễ trong lễ cưới qua quá trình thực địa, phỏng vấn một hôn lễ cụ thể tại xã Nậm Đét, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai. Từ kết quả nghiên cứu cho thấy được, những giá trị trong hôn nhân của người Dao Đỏ, đặc biệt là các giá trị văn hóa truyền thống cần phải được giữ gìn và phát huy. Đồng thời cũng cho thấy được sự biến đổi trong hôn nhân của người Dao Đỏ thông qua các nghi lễ và thách cưới, để tôi làm cơ sở nghiên cứu về những biến đổi trong hôn nhân người Dao Đỏ ở Bắc Hà trong chương 3. Khóa luận: Thực trạng luật hôn nhân người dao đỏ ở Bắc Hà.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp luật hôn nhân của người dao đỏ ở Bắc Hà

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Luật tục hôn nhân của người Dao Đỏ ở huyện Bắc Hà