Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietinbank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.2.1. Tổng quan về nguồn vốn Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Chi nhánh Hải Phòng trong thời gian qua
Cũng như những ngân hàng khác, trong cơ cấu nguồn vốn của NHCTVN Chi nhánh Hải Phòng, thì nguồn vốn huy động từ bên ngoài vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất. Ngân hàng chủ yếu huy động vốn qua tiền gửi, trong trường hợp đặc biệt ngân hàng huy động vốn bằng cách đi vay của các tổ chức tín dụng khác để đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietinbank
Trong những năm qua hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Công thương Việt Nam Chi nhánh Hải Phòng đã đạt được nhiều thành công xuất sắc.Nguồn vốn huy động của chi nhánh luôn dồi dào, năm nào cũng hoàn thành vượt mức kế hoạch đề ra. Để đạt được mục tiêu hoạt động kinh doanh, tối đa hóa giá trị tài sản chủ sở hữu, cũng như lợi nhuận, với các chỉ tiêu được xác định trên cơ sở nguồn thu nhập và chi phí, NHCTVN chi nhánh Hải Phòng đã khai thác triệt để, tối đa nguồn vốn huy động từ bên ngoài và không ngừng nâng cao hiệu suất sử dụng vốn nhằm tăng cường quy mô tài sản sinh lời. Điều này được thể hiện rõ qua sự biến động nguồn vốn của NHCTVN chi nhánh Hải Phòng trong thời gian qua:
Theo bảng số liệu trên, trong cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng Công thương chi nhánh Hải Phòng thì vốn huy động có qui mô lớn nhất và chiếm tỷ trọng cao nhất. Năm 2012, thị trường tài chính có diễn biến căng thằng, đặc biệt sự biến động lãi suất khiến các ngân hàng thương mại gặp nhiều khó khăn trong việc huy động vốn, nhiều ngân hàng nhỏ lẻ khốn khổ trong việc huy động vốn, lượng khách hàng mới đến gửi tiền hầu như không có. Mặc dù vậy, là một ngân hàng có uy tín và có kinh nghiệm hoạt động lâu năm trong lĩnh vực ngân hàng, do đó vốn huy động của ngân hàng trong năm 2012 vẫn có sự tăng trưởng rõ rệt: Năm 2012 vốn huy động của chi nhánh là 1598 tỷ đồng tăng 126 tỷ đồng so với năm 2011. Đến năm 2013, một năm đầy khó khăn với nền kinh tế nói chung và các ngân hàng thương mại nói riêng. Tuy nhiên nguồn vốn huy động của chi nhánh vẫn có sự tăng trưởng: năm 2013 vốn huy động của chi nhánh đạt 1607 tỷ đồng tăng 9 tỷ đồng so với năm 2012.Vốn của ngân hàng cũng tăng trường đều qua các năm, tuy nhiên vẫn chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong quy mô tổng nguồn vốn của ngân hàng, năm 2013 vốn của ngân hàng đạt 368 tỷ đồng chiếm 17.6 % tổng nguồn vốn
Trong cơ cấu vốn huy động, thì tiền gửi dân cư chiếm tỷ trọng cao nhất, sau đó đến tiền gửi từ các tổ chức kinh tế xã hội, rồi cuối cùng là vốn huy động từ các tổ chức tín dụng chiếm tỷ trọng nhỏ do chi nhánh đã đảm bảo được tính thanh khoản, thu hút vốn đạt hiệu quả cao từ dân cư và các tổ chức kinh tế xã hội. Trong cơ cấu nguồn vốn huy động, tiền gửi từ dân cư có xu hướng biến động tương tự với tổng nguồn vốn huy động, còn nguồn vốn huy động từ tổ chức kinh tế xã hội và các tổ chức tín dụng có sự tăng trưởng trong năm 2012 và giảm sút trong năm 2013.
Trên đây là tổng quan về nguồn vốn của Ngân hàng Công thương, để đạt được những kết quả như trên, Ngân hàng Công thương chi nhánh Hải Phòng trong thời gian qua đã áp dụng các biện pháp nhằm tăng cường công tác huy động vốn như sau:
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2.2.1.1. Một số biện pháp nghiệp vụ đã áp dụng để tăng cường công tác huy động vốn tại Ngân hàng Công thương chi nhánh Hải Phòng thời gian qua Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietinbank
Với kinh nghiệm lâu năm hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, chi nhánh ngân hàng luôn biết cách chủ động thu hút khách hàng đến với chính sách huy động vốn của mình. Để đảm bảo thị phần huy động vốn của mình, chi nhánh đã thường xuyên nghiên cứu thị trường, nhu cầu khách hàng, đồng thời nắm bắt tình hình phát triển các dịch vụ huy động vốn trên thị trường. Từ đó ngân hàng đề suất, bổ sung, đưa ra các sản phẩm dịch vụ có tính nổi trội, thu hút và giữ khách hàng ,đa dạng hóa các loại hình sản phẩm, dịch vụ huy động vốn nâng cao khả năng cạnh tranh của mình đối với các ngân hàng khác trên thị trường. Các sản phẩm tiền gửi huy động được áp dụng với một mức lãi suất hợp lý, cạnh tranh, tạo được chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay.Đồng thời việc đa dạng hóa danh mục sản phẩm dịch vụ huy động vốn cũng giúp ngân hàng giảm thiểu những rủi ro, nguy cơ bị mất hoặc giảm thị phần, ngăn ngừa tình trạng khách hàng rút tiền gửi ra khỏi chi nhánh NHCT Hải Phòng sang gửi tiền vào NHTM khác trên địa bàn.
Đối với khách hàng, NHCT chi nhánh Hải Phòng luôn tập trung tiếp thị sản phẩm, đặc biệt đối với những khách hàng tiềm năng. Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách khách hàng, mở rộng đối tượng khách hàng xem xét phân loại khách hàng để có những chính sách đặc biệt với những khach hàng có nguồn tiền gửi lớn.
Bên cạnh đó, NHCT chi nhánh Hải Phòng cũng biết cách tận dụng các mối quan hệ với khách hàng, đặc biệt là các tổ chức kinh tế xã hội để tạo điều kiện hợp tác với các doanh nghiệp trong việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu. Cụ thể là chi nhánh đã triển khai, bắt tay với các doanh nghiệp phát hành trái phiếu và cổ phiếu doanh nghiệp để thực hiện nghiệp vụ tư vấn bảo lãnh phát hành.
Việc hợp tác này đã đem lại cho ngân hàng những nguồn lợi không nhỏ, đồng thời giúp duy trì mối quan hệ với những khách hàng tiềm năng.
Cũng như những ngân hàng khác trong nền kinh tế, chi nhánh NHCT Hải Phòng đã phát triển các dịch vụ thanh toán hiện đại, liên kết với những nhà cung cấp dịch vụ (viễn thông, bảo hiểm…) để phát triển dịch vụ thu hộ. Qua các dịch vụ này, ngân hàng đã phát huy được lợi thế là ngân hàng có mạng lưới rộng, đẩy mạnh việc liên kết với các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông, bảo hiểm…. nhằm phát triển các dịch vụ thu hộ cước phí, dịch vụ thanh toán định kì qua hệ thống NHCTVN. Khi đó, NHCT Hải Phòng không những duy trì được nguồn tiền gửi không kỳ hạn của các nhà cung cấp dịch vụ, mà còn tăng được nguồn tiền gửi không kỳ hạn của các khách hàng cá nhân mở tài khoản thanh toán để sử dụng dịch vụ thanh toán định kỳ.
Các thủ tục hành chính trong công tác huy động vốn ngày càng được chi nhánh đơn giản hóa, tạo ra sự tiện lợi, nhanh chóng, giúp khách hàng cảm thấy thoải mái, và tiếp tục giữ mối quan hệ lâu dài với chi nhánh .
2.2.1.2. Một số biện pháp khác đã áp dụng để tăng cường công tác huy động vốn tại Ngân hàng Công thương chi nhánh Hải Phòng thời gian qua Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietinbank
Chi nhánh đã từng bước hoàn thiện tác phong, lề lối làm việc, văn hóa giao dịch, quan tâm, chăm sóc khach hàng có số dư tiền gửi tại Chi nhánh, tích cực khai thác, tiếp thị khách hàng có nguồn tiền gửi lớn, nhằm tạo sự tăng trưởng ổn định các nguồn vốn huy động , góp phần hỗ trợ tích cực cho hoạt động kinh doanh.
Về công nghệ ngân hàng, thì thường xuyên được cập nhật, bổ sung, nâng cấp nhằm đáp ứng các nhu cầu của khách hàng, thị trường, giúp công tác huy động vốn diễn ra mau lẹ, hiệu quả.
Hoạt động marketing của ngân hàng bắt đầu được quan tâm một cách cần thiết. Chi nhánh luôn quan tâm đến việc xây dựng hình ảnh của ngân hàng trong mắt khách hàng; luôn tìm tòi nghiên cứu thị trường, tìm hiểu các nhu cầu của khách hàng để tiếp cận, tiếp thị khách hàng sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của mình. Hiện nay, ngân hàng đã và đang tổ chức công tác thông tin tuyên truyền, tạo hình ảnh tích cực và nổi bật của ngân hàng trên một số phương tiện thông tin đại chúng như: truyền hình, báo, tạp chí…..
Chi nhánh đã có những chính sách tuyển dụng, đào tạo cán bộ chuyên nghiệp về kỹ năng nghiệp vụ, đáp ứng điều kiện hoạt động kinh doanh của Chi nhánh .
2.2.2. Thực trạng huy động vốn của Ngân hàng Công thương chi nhánh Hải Phòng
Công tác huy động vốn của chi nhánh NHCT Hải Phòng luôn luôn đạt được những kết quả đáng mong đợi trong những năm vừa qua. Như bao chi nhánh ngân hàng khác trên địa bàn, hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động thường xuyên được chi nhánh quan tâm, bồi dưỡng một cách sâu sắc. Hiện nay, chi nhánh đang là một trong những ngân hàng có nguồn vốn huy động lớn nhất trên địa bàn thành phố Hải Phòng trong những năm qua. Sự tăng trưởng lớn về nguồn vốn đã khẳng định uy tín và vị thế của Ngân hàng trên thị trường tài chính. Ta có thể thấy rõ sự tăng trưởng trong huy động vốn của ngân hàng qua Bảng 2.1. Có thể nói trong điều kiện việc huy động vốn đang gặp rất nhiều bất cập, khó khăn, sự cạnh tranh lãi suất diễn ra quyết liệt, lãi suất huy động bị các ngân hàng đẩy tăng lên liên tục trong khi lãi suất cho vay không thể tăng lên với cùng tốc độ, thì đây là kết quả rất đáng hoan nghênh, khích lệ. Có được kết quả trên là vì ngay từ khi nguồn vốn còn dồi dào, dưới sự chỉ đạo của NHCTVN, chi nhánh đã xác định nhu cầu vốn đầu tư cho nền kinh tế là rất lớn, vốn không bao giờ thừa cho một địa bàn có nền kinh tế năng động như Hải Phòng, nên đã xác định một kế hoạch, chiến lược tăng trưởng vốn lâu dài.
Để hiểu rõ hơn về nguồn vốn huy động của chi nhánh NHCT Hải Phòng, ta sẽ phân tích nguồn vốn huy động của chi nhánh theo những góc độ sau:
2.2.2.1. Theo loại hình tiền gửi Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietinbank
Vì là một chi nhánh ngân hàng thương mại quốc doanh nên nguồn vốn huy động chủ yếu là vốn nội tệ.Vốn nội tệ chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu nguồn vốn huy động, là nguồn vốn chủ yếu mà ngân hàng sử dụng để cho vay, cung cấp vốn cho nền kinh tế, cho các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh như mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc, công nghệ để tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế và chất lượng sản phẩm cho xã hội. Cơ cấu huy động vốn theo loại tiền gửi được thể hiện trong bảng sau:
Vốn nội tệ Vốn ngoại tệ
Qua bảng số liệu trên, ta thấy về quy mô, vốn VNĐ có sự tăng trường đều qua các năm, trong khi vốn ngoại tệ có sự tăng trưởng không đều. Cụ thể vốn VNĐ năm 2012 là1387 tỷ đồng ,tăng 193tỷ đồng so với năm 2011,đến năm 2013 vốn VNĐ là 1411tỷ đồng tăng 24 tỷ đồng so với năm 2012. Ngược lại,vốn ngoại tệ trong 3 năm này lại có xu hướng giảm dần.Cụ thể,vốn ngoại tệ năm 2012 là 211 tỷ đồng giảm so với năm 2011:67 tỷ đồng,cao hơn so với năm 2013 :15 tỷ đồng.
Nguyên nhân của sự biến động không đều của ngoại tệ là do trong năm 2012 do để hạn chế “đôla hóa” trong nền kinh tế và kiểm soát tăng trưởng tín dụng ngoại tệ ở mức hợp lí,góp phần ổn định thị trường ngoại hối,NHNN đã ban hành thông tư số 3/TT-NHNN ngày 08/3/2012 thu hẹp các trường hợp được vay vốn bằng ngoại tệ. Theo đó, khách hàng chỉ được vay ngoại tệ nếu có đủ nguồn thu ngoại tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh để trả nợ vay, những trường hợp khác phải có sự chấp thuận bằng văn bản của NHNN.Đến năm 2013, thị trường tài chính có sự biến chuyển, sự ổn định của tỷ giá, cùng với chênh lệch lãi suất giữa tiền đồng và ngoại tệ ở mức cao, là yếu tố cơ bản để các ngân hàng thu hút nguồn vốn tiền gửi VND. Bên cạnh đó, việc giảm lãi vay ở khu vực tiền đồng đã kéo lãi vay hai đồng tiền này xích lại gần nhau, người vay không còn phải cân nhắc vay USD để tránh tiền đồng lãi suất cao.
Về tỷ trọng, tỷ trọng vốn VNĐ trong cơ cấu nguồn vốn huy động tăng dần từ năm 2011-2013 và ngược lại tỷ trọng vốn ngoại tệ giảm dần từ năm 2011-2013 là do như đã giải thích trên.
Qua cơ cấu nguồn vốn huy động của chi nhánh, ta thấy nguồn vốn huy động ngoại tệ vẫn còn hạn chế: năm 2013 tỷ trọng vốn ngoại tệ chỉ chiếm 12.2% tổng vốn huy động. Trong những năm qua, nhắm đáp ứng, thực hiện tiến trình mở cửa và hội nhập nền kinh tế quốc tế của đất nước, ngân hàng đã chủ động mở rộng hoạt động, dịch vụ kinh doanh ngoại hối, kết quả là ngân hàng đã thu hút được một khối lượng vốn ngoại tệ tương đối lớn. Đó là do ngân hàng đã tích cực huy động thêm được từ nguồn tiền gửi của dân cư và mở rộng mối quan hệ với nhiều khách hàng mới, đã biết tận dụng lợi thế địa bàn hoạt động là thành phố cảng Hải Phòng, nơi chung chuyển nhiều hàng hóa xuất nhập khẩu quốc tế, ngân hàng đã gây dựng được mối quan hệ lâu dài với nhiều doanh nghiệp xuất nhập khẩu nên đã giúp ngân hàng dễ dàng huy động được vốn ngoại tệ thông qua việc hỗ trợ các doanh nghiệp này thanh toán. Nhìn chung, nguồn vốn ngoại tệ vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động, đồng thời trong những năm gần đây có sự biến động không ổn định. Chính vì vậy, trong thời gian tới, chi nhánh cần tích cực tìm kiếm khai thác thêm các khách hàng. đặc biệt là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, người nước ngoài có nguồn ngoại tệ thanh toán nhằm tăng trưởng vốn ngoại tệ phục vụ cho nhu cầu tín dụng ngoại tệ và tạo thuận lợi cho việc kinh doanh của ngân hàng.
2.2.2.2. Theo kỳ hạn Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietinbank
Cũng như các ngân hàng thương mại khác trong nền kinh tế, chi nhánh NHCT Hải Phòng đặc biệt chú ý huy động nguồn vốn có kỳ hạn bởi đây là nguồn vốn an toàn, ổn định, đảm bảo khả năng thanh khoản cho ngân hàng, do đó ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn này với nhiều mục đích như cấp tín dụng, đầu tư, tài trợ cho các dự án phát triển trung và dài hạn, hoặc cho vay với kì hạn dài, ..đem lại nguồn lợi lớn cho ngân hàng.
Qua bảng số liệu, ta thấy mục tiêu của ngân hàng thể hiện rõ trong cơ cấu vốn theo kỳ hạn. Nguồn vốn có kỳ hạn của ngân hàng luôn chiếm tỷ trọng cao (xáp xỉ 80% tổng nguồn vốn huy động). Về qui mô, nguồn vốn huy động không kỳ hạn có sự tăng trưởng liên tục trong những năm gần đầy, còn vốn có kỳ hạn thì tăng trong năm 2012 những đến năm 2013 qui mô có xu hướng giảm. Cụ thể như sau: vốn không có kỳ hạn năm 2012 là 332 tỷ đồng, tăng 13 tỷ đồng so với năm 2011, đến năm 2013 vốn không kỳ hạn là 346 tỷ đồng , tăng 14 tỷ đồng so với năm 2012; vốn có kỳ hạn năm 2012 là 1266 tỷ đồng, tăng 113 tỷ đồng so với năm 2011, đến năm 2013 là 1261 tỷ đồng, giảm 5 tỷ đồng so với năm 2012.
Đứng trên góc độ chi nhánh, có thể nói chi nhánh NHCT Hải Phòng là một trong những chi nhánh ngân hàng hàng đầu trong việc quan hệ với các đối tượng khách hàng lớn. Đây không phải ngẫu nhiên, mà do kết quả của hoạt động kinh doanh chiến lược lâu dài của chi nhánh. Các khách hàng lớn như các tập đoàn, tổng công ty, tổ chức kinh tế có tiềm lực tài chính, quy mô làm ăn lớn. Ngoài ra chi nhánh còn có mối quan hệ với các tổ chức kinh tê, doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng rất nhiều. Những khách hàng tiềm năng này đã đóng góp rất lớn vào nguồn vốn huy động không kỳ hạn của chi nhánh Nhìn vào bảng số liệu ta có thể thấy, vốn không có kỳ hạn tuy có tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu vốn huy động của ngân hàng, nhưng về quy mô liên tục tăng trong những năm gần đấy.Nguồn huy động vốn không kỳ hạn chủ yếu từ dân cư và các tổ chức kinh tế xã hội. Mục đích của việc huy động vốn không kỳ hạn không nhằm sinh lời mà chủ yếu là nhằm phục vụ nhu cầu thanh toán. Vốn không kỳ hạn của chi nhánh có sự chuyển biến tích cực trong những năm vừa qua, liên tục tăng về tỷ trọng trong cơ cấu tổng nguồn vốn huy động là do nguồn vốn này đã đóng góp rất quan trọng, cần thiết vào hiệu quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh vì đây là nguồn có chi phí lãi thấp, ngân hàng gần như không mất chi phí huy động vốn, góp phần làm giảm lãi suất bình quân đầu vào, nguồn vốn tăng nhanh, an toàn và dồi dào, tạo điều kiện cho ngân hàng đa dạng hóa danh mục tài sản Có như: cho vay tổ chức tín dụng khác, đầu tư trên thị trường tiền gửi, đầu tư khác… Tuy nhiên, do là nguồn vốn không kỳ hạn nên tần suất biến động của nguồn vốn này khá cao nhưng do chi nhánh là một ngân hàng uy tín, hoạt động lâu năm trong lĩnh vực ngân hàng nên đã duy trì được lượng khách hàng tương đối ổn định thì sự rút gửi thường xuyên không gây quá nhiều lo ngại về sự thanh khoản của ngân hàng . Mặt khác, chi nhánh cũng đã có những biện pháp tích cực để phòng ngừa loại rủi ro này, đó là luôn duy trì, đảm bảo khả năng thanh khoản. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietinbank
Nguồn huy động vốn kỳ hạn chủ yếu của ngân hàng là tiền gửi của các tổ chức kinh tế xã hội và tiền gửi tiết kiệm của dân cư. Đây là nguồn vốn huy động chiếm tỷ trọng cao nhất và quan trọng bậc nhất trong cơ cấu vốn ngân hàng.Để huy động được nguồn vốn này, ngân hàng thường phải bỏ chi phí cao biểu hiện bằng lãi suất huy động vốn kì hạn. Lãi suất này cao hơn rất nhiều so với lãi suất tiền gửi thanh toán, nhưng bù lại nguồn vốn có tính ổn định cao, đồng thời ngân hàng có thể chủ động trong hoạt động kinh doanh, kế hoạch hóa việc sử dụng vốn một cách hợp lý, đem lại lợi nhuận cao cho ngân hàng.
Theo bảng số liệu trên, ta thấy nguồn vốn kì hạn dưới 12 tháng hay còn gọi là nguồn vốn huy động ngắn hạn có quy mô cũng như tỷ trọng tăng trưởng liên tục qua các năm. Cụ thể năm 2011 vốn kỳ hạn dưới 12 tháng có số dư là 839 tỷ đồng, đến năm 2012 tăng lên 938 tỷ động, và năm 2013 tăng lên 952 tỷ đồng. Nguồn vốn này luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu nguồn vốn có kì hạn, năm 2013 vốn có kì hạn dưới 12 tháng chiếm 75.5% trong cơ cấu vốn huy động có kì hạn. Nguồn vốn này cũng có mức biến động cao, mặc dù vẫn ổn định hơn so với nguồn vốn huy động không kì hạn. Do trong những năm gần đây, lãi suất trên thị trường thường xuyên có sự điều chỉnh của Ngân hàng nhà nước nên để đảm bảo an toàn, lại thu được lợi nhuận, thì tiền gửi ngắn hạn được nhiều cá nhân trong nền kinh tế lựa chọn, khiến cho nguồn vốn này trọng ngân hàng luôn chiếm tỷ trọng cao, liên tục. Chính vì vậy, đối tượng huy động chủ yếu của nguồn vốn này thường là từ dân cư, là các khách hàng có thu nhập ổn định, thường xuyên gửi tiền nhằm mục đích an toàn, sinh lợi. Việc nguồn vốn kì hạn ngắn luôn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu nguồn vốn ngân hàng khiến cho chi nhánh gặp nhiều khó khăn trong việc quản trị nguồn vốn, khó bảo đảm cân đối kỳ hạn. Kỳ hạn huy động vốn bình quân có xu hướng rút ngắn trong khi kỳ hạn cho vay bình quân dài, tạo nguy cơ rủi ro kỳ hạn và lãi suất.
Để huy động được vốn ở bất kỳ kì hạn nào, lãi suất luôn là tiêu chí quan trọng hàng đầu để lựa chọn, cân nhắc. Mặc dù trong những năm gần đây, thường xuyên có sự điều chỉnh lãi suất thị trường từ phía ngân hàng nhà nước, nhưng chi nhánh NHCT Hải Phòng luôn có những giải pháp điều chỉnh lãi suất sao cho phù hợp với nhu cầu khách hàng, tổ chức nhiều chương trình ưu đãi, sáng tạo, quảng bá thêm nhiều sản phẩm, dịch vụ mới nhằm thu hút thêm nhiều khách hàng.
Trong khi vốn huy động ngắn hạn luôn có sự tăng trường trong giai đoạn 2011 – 2013 thì nguồn vốn huy động có kì hạn > 12 tháng về quy mô lẫn tỷ trọng thì đều có sự giảm sút trong năm 2012 và 2013. Cụ thể là năm 2012 số dư nguồn vốn có kì hạn trên 12 tháng là 328 tỷ đồng tăng 7 tỷ đồng so với năm 2011, nhưng đến năm 2013 số dư lại giảm 19 tỷ đồng xuống còn 309 tỷ đồng. Nguồn huy động vốn trung và dài hạn này bao gồm tiền gửi tiết kiệm của dân cư, phát hành công cụ nợ, và tiền gửi trung, dài hạn của các tổ chức kinh tế xã hội, tuy nhiên khoản tiền gửi trung dài hạn của các tổ chức kinh tế xã hội thường rất thấp do nguồn vốn của các doanh nghiệp dành đề kinh doanh chứ không đơn thuần là gửi ngân hàng lấy lãi. Nguyên nhân khiến nguồn vốn này liên tục giảm cả về tỷ trọng lẫn quy mô trong những năm qua là do mức lãi suất huy động của những khoản vốn này kém hấp dẫn hơn lãi suất huy động vốn có kì hạn dưới 12 tháng. Điều đáng nói ở đây là tỷ trọng vốn trung và dài hạn vẫn chiếm tỷ trọng thấp trong cơ cấu huy động vốn, đến năm 2013 nguồn vốn này chỉ chiếm 24.5 % tổng nguồn vốn huy động có kì hạn, như đã nói ở trên, điều này sẽ dẫn đến sự mất cân đối kỳ hạn vốn của ngân hàng, đó là một trong những nguyên nhân có thể khiến chi nhánh ngân hàng nếu không có một kế hoạch sử dụng vốn hợp lý sẽ có thể không đáp ứng được nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, do các doanh nghiệp này chủ yếu vay vốn trung và dài hạn để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh. Chính vì thế trong thời gian tới, ngân hàng cần có những giải pháp nhằm tăng cường huy động nguồn vốn này, từ đó sẽ giúp ngân hàng trước hết đảm bảo được khả năng thanh khoản, sau đó sẽ đem lại cho ngân hàng thêm nhiều cơ hội đầu tư sinh lời, chủ động hơn trong quá trình kinh doanh, đặc biệt là với những dự án đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn lâu thì ngân hàng phải có kế hoạch huy động nguồn vốn kỳ hạn trên 12 tháng với lãi suất cao hơn nguồn có kỳ hạn dưới 12 tháng.
Như vậy, có thể thấy, lợi nhuận mà nguồn vốn trung và dài hạn đem lại là rất cao. Vì vậy chi nhánh cần có những chính sách, biện pháp, mở rộng thêm nhiều hình thức huy động nguồn vốn trung và dài hạn khác nhau như mở loại hình dự thưởng, khuyến mại với các sản phẩm tiền gửi trung và dài hạn, tiết kiệm bậc thang, phát hành kỳ phiếu dự thưởng…nhằm thúc đẩy tăng trưởng lượng vốn trung và dài hạn trong thời gian tới.
2.2.2.3. Theo nguồn huy động Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietinbank
Để đạt được kết quả tốt trong nghiệp vụ huy động vốn, thì việc xác định một cách đầy đủ, chính xác và trọng tâm các nguồn hình thành nên nguồn vốn huy động là vô cùng quan trọng, cần thiết , bởi vì nó có ảnh hưởng, liên quan đến hàng loạt các yếu tố, chính vì vậy nó ảnh hưởng đến nội dung của việc hoạch định chính sách huy động vốn và kế hoạch hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong thời gian tới. Một trong những thế mạnh của chi nhánh NHCT Hải Phòng là sự đa dạng về các kênh huy động vốn bao gồm: tiền gửi từ dân cư, tiền gửi từ tổ chức kinh tế xã hôi, huy động vốn qua phát hành công cụ nợ, các nguồn đi vay, và nguồn khác. Việc xác định được những nguồn huy động vào là rất quan trọng, để từ đó chi nhánh sẽ có thể điều tiết được luồng tiền sao cho hợp lý, luôn duy trì, đảm bảo được tính thanh khoản của ngân hàng ở mức cao nhất. Cơ cấu nguồn vốn theo nguồn huy động được thể hiện dưới bảng sau:
Vốn huy động từ dân cư là nguồn huy động quan trọng, chủ yếu, thường xuyên đối với chi nhánh, tỷ trọng của nguồn vốn này luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu vốn huy động của chi nhánh ( luôn chiếm trên 50% tổng nguồn vốn huy động). Qua bảng số liệu trên ta thấy nguồn vốn huy động từ dân cư tương đối ổn đinh và luôn có sự tăng trưởng về quy mô, đồng thời về tỷ trọng cũng có xu hướng tăng dần trong những năm vừa qua. Cụ thể là năm 2011 số dư vốn huy động từ dân cư là 785 tỷ đồng, năm 2012 số dư tăng 66 tỷ đồng lên 851 tỷ đồng, đến năm 2013 số dư là 970 tỷ đồng tăng 119 tỷ đồng so với năm 2012. Việc qui mô huy động vốn từ dân cư liên tục tăng trưởng mạnh trong những năm gần đây chứng tỏ chi nhánh ngày càng khẳng đinh được vị thế, uy tín của mình trên thị trường, ngày càng có nhiều người dân tín nhiệm, và gửi tiền vào ngân hàng.
Trong cơ cấu tiền gửi từ dân cư bao gồm có tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm. Tiền gửi thanh toán thường chiếm tỷ trọng thấp và khá ổn định, không có nhiều biến động. Năm 2013 tiền gửi thanh toán chỉ chiếm khoảng 2.8% tiền gửi từ dân cư của chi nhánh. Nguồn tiền gửi thanh toán chủ yếu là huy động thông qua dịch vụ phát hành thẻ ATM cho các cá nhân có nhu cầu thanh toán không dùng tiền mặt hoặc khách hàng gửi vào tài khoản thẻ ATM một số tiền nhỏ rồi rút dần dần nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu. Nguồn tiền gửi thanh toán còn huy động thông qua các khách hàng mở tài khoản tiền gửi ngoại tệ để nhận tiền từ người thân ở nước ngoài gửi về. Trong cơ cấu tiền gửi từ dân cư, tiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ trọng cao nhất, trong những năm qua tỷ trọng nguồn tiền này đều chiếm trên 97 % vốn dân cư của chi nhánh. Vì độ an toàn, tính ổn định của nguồn tiền tiết kiệm từ dân cư này rất cao nên trong những năm qua, ngân hàng đã liên tục đưa ra các chính sách gia tăng lãi suất tiền gửi tiết kiệm và quảng cáo, đa dạng hóa các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm dưới nhiều hình thức phong phú, đồng thời tổ chức nhiều chương trình tiết kiệm dự thưởng nhằm khuyến khích dân cư gửi tiền vào ngân hàng. Các sản phẩm tiết kiệm mới, nhiều ưu đãi có thể kể đến như: tiết kiệm gửi góp, tiết kiệm bậc thang…
Nguồn huy động vốn lớn thứ hai sau tiền gửi từ dân cư là tiền gửi từ các tổ chức kinh tế.Trong năm 2012 nguồn vốn này vẫn có sự tăng trưởng về quy mô, cụ thể là năm 2012 số sư tiền gửi từ các tổ chức kinh tế là 488 tỷ đồng tăng 30 tỷ đồng so với năm 2011. Tuy nhiên đến 2013, nguồn huy động này lại giảm mạnh, cụ thể năm 2013 số dư là 416 tỷ đồng, giảm 72 tỷ đồng so với năm 2012. Về tỷ trọng của tiền gửi của các tổ chức kinh tế xã hội trong cơ cấu nguồn vốn huy động thì liên tục giảm trong giai đoạn 2011- 2013. Nguyên nhân chủ yếu là do tình hình khó khăn chung của nền kinh tế trong năm 2011 và 2012 khiến cho nhiều doanh nghiệp thiếu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, nên huy động vốn từ các tổ chức kinh tế xã hội trong giai đoạn này gặp nhiều bất cập, chi nhánh chủ yếu huy động vốn dựa trên những khách hàng tiềm năng có quan hệ lâu dài.
Qua bảng số liệu trên, ta thấy trong cơ cấu tiền gửi từ tổ chức kinh tế xã hội thi tiền gửi thanh toán chiếm tỷ trọng cao nhất, luôn trên 64% tổng tiền gửi từ tổ chức kinh tế xã hội, đồng thời tỷ trọng nguồn vốn này luôn tăng qua các năm qua, đế năm 2013 tỷ trọng là 72.6%. Nguyên nhân nguồn tiền gửi thanh toán luôn chiếm tỷ trọng cao là do để tiết kiệm thời gian và chi phí trong thanh toán, các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ hầu hết đều có tài khoản mở tại ngân hàng nhằm đảm bảo nhu cầu thanh toán khi cần thiết. Do tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp là khác nhau nên chu kỳ thanh toán của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế – xã hội cũng không giống nhau. Chính vì thế, khi xác định được những chu kỳ này, ngân hàng luôn có thể sử dụng các khoản tiền gửi nhàn rỗi để thực hiện cấp tín dụng, cho vay, đầu tư, tài trợ vào các dự án bởi vì trong quá trình lưu chuyển vốn của ngân hàng thường có sự chênh lệch giữa các khoản tiền gửi vào và rút ra của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nguồn tiền gửi có kì hạn luôn chiếm tỷ trọng thấp trong cơ cấu tiền gửi từ tổ chức kinh tế xã hội là do mục đích chính của các doanh nghiệp là sử dụng vốn để hoạt động sản xuất, kinh doanh chứ không dùng để gửi ngân hàng lấy lãi, đồng thời mặc lãi suất huy động nguồn tiền gửi kì hạn cũng khá cao nhưng cũng không đủ để hấp dẫn doanh nghiệp gửi tiền. Tuy nhiên đối với các doanh nghiệp có một chu kì kinh doanh, thanh toán ổn định thì có thể gửi tiền nhàn rỗi với kì hạn ngắn ở ngân hàng nhằm sinh lời. Vì vậy trong cơ cấu tiền gửi kì hạn của các tổ chức kinh tế xã hội thì chủ yếu là nguồn tiền gửi có kì hạn ngắn. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietinbank
Nguồn huy động vốn tiếp theo là nguồn đi vay. Huy động vốn qua đi vay thường từ các tổ chức tín dụng và từ Ngân hàng Nhà nước.Trong giai đoạn 2011 -2013, nguồn vốn đi vay của chi nhánh luôn chiếm tỷ trọng thấp và liên tục giảm, cụ thể đến năm 2013 nguồn huy động từ đi vay của chi nhánh về quy mô chỉ đạt 103 tỷ đồng chiếm 6.4 % tổng nguồn vốn huy động. Nguyên nhân nguồn vốn này có xu hướng liên tục giảm trong những năm gần đây mặc dù chi nhánh có những mối quan hệ thân tín với nhiều ngân hàng, tổ chức tín dụng khác trên địa bàn, là do trong những năm qua chi nhánh đã đạt được nhiều thành công trong huy động vốn từ dân cư và các tổ chức kinh tế xã hội, vì vậy nguồn vốn luôn ở trạng thái dồi dào, đủ khả năng đáp ứng nhu cầu vay vốn của các tác nhân trong địa bàn, đồng thời chi phí của việc huy động vốn vay cũng tương đối cao, dẫn đến nguồn vốn đi vay cũng dần giảm bớt.
Việc phát hành công cụ nợ cũng là một hình thức huy động vốn hết sức quan trọng đối với chi nhánh. Phát hành công cụ nợ là chủ yếu phát hành các giấy tờ có giá như trái phiếu và chứng chỉ tiền gửi. Phát hành các công cụ nợ không chỉ đem lại cho chi nhánh một nguồn đáng kể có tính ổn định cao mà chi phí cũng thấp hơn hẳn so với việc phải đi vay từ các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên việc phát hành các công cụ nợ của chi nhánh trong những năm qua vẫn chưa được quan tâm đúng mức, bằng chứng là nguồn vốn huy động từ nguồn này vẫn có quy mô và tỷ trọng thấp, cụ thể năm 2013 số dư phát hành công cụ nợ đạt 38 tỷ đồng chiếm 2.4 % tổng nguồn vốn huy động. So với tiềm năng và vị thế của chi nhánh trên địa bàn thành phố Hải Phòng thì con số này vẫn còn rất khiêm tốn.
Nguồn huy động khác của chi nhánh hiện này là nguồn vốn ủy thác. Nguồn vốn uỷ thác là một trong những nguồn huy động đang ngày càng khẳng định được vai trò và liên tục gia tăng khi Ngân hàng hoạt động trong một nền kinh tế hiện đại. Chi nhánh NHCT Hải Phòng hiện nay là một trong những chi nhánh có tình hình hoạt động kinh doanh hiệu quả nhất trong hệ thống NHCT Việt Nam.Tại chi nhánh, với các hình thức dịch vụ có chất lượng cao, có nhiều hướng đầu tư có hiệu quả, nên có nhiều các chi nhánh khác, Ngân hàng khác chuyển vốn uỷ thác đầu tư đến. Ngân hàng trở thành một địa chỉ quen thuộc không chỉ đối với khách hàng mà còn đối với cả các chi nhánh khác. Điều này thể hiện ở nguốn vốn uỷ thác qua các năm của Ngân Hàng liên tục tăng, cụ thể năm 2012 nguồn vốn ủy thác là 68 tỷ đồng tăng 18 tỷ so với năm 2011, đến năm 2013 là 80 tỷ đồng tăng 12 tỷ so với năm 2012. Tuy nguồn vốn này vẫn chiếm tỷ trọng rất nhỏ( năm 2013 chiếm 5% tổng nguồn vốn huy động), nhưng về quy mô liên tục tăng trưởng. Trong thời gian tới, chi nhánh cần có những giải pháp phát triển nguồn vốn tiềm năng này.
Như vậy có thể thấy nguồn vốn huy động của chi nhánh NHCT Hải Phòng được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, có cơ cấu đa dạng và không ngừng tăng trưởng. Điều này đã cho thấy được chi nhánh đã có những chính sách và biện pháp hiệu quả trong việc huy động vốn của mình. Việc xác định cơ cấu nguồn vốn huy động của ngân hàng là rất quan trọng, nó vừa giúp chi nhánh ổn định hoạt động của mình, xây dựng được chính xác chiến lược phát triển lâu dài, đặc biệt là xác định được đúng đối tượng khách hàng, từ đó có những chính sách hợp lý, tạo điều kiện để nâng cao hoạt động kinh doanh, cũng như việc hoạch định chính sách huy động vốn sao cho có hiệu quả.
2.3. Sự cân đối giữa cơ cấu huy động vốn và sử dụng vốn của NHTM CP Công thương chi nhánh Hải Phòng.
Như ta đã biết, hoạt động chính của ngân hàng là huy động vốn để sử dụng nhằm thu lợi nhuận. Ngân hàng sẽ tìm cách chuyển hoá nguồn vốn – tiền gửi, tiền vay, vốn của chủ thành các loại tài sản như ngân quỹ, tín dụng, chứng khoán, các tài sản khác theo một phương thức thích hợp, nhằm đạt được lợi nhuận cao nhất.
Nếu ngân hàng huy động vốn nhiều mà sử dụng ít sẽ dẫn tới sự dư thừa, ứ đọng vốn. Ngược lại, nếu ngân hàng sử dụng vốn vượt quá khả năng huy động thì sẽ dẫn tới nguy cơ xảy ra rủi ro thanh khoản. Bởi vậy, sự phù hợp giữa cơ cấu huy động và sử dụng vốn là một yếu tố rất quan trọng trong công tác huy động vốn của ngân hàng Để phân tích sự phù hợp giữa cơ cấu huy động và sử dụng vốn của ngân hàng thì trước hết ta cần xem xét mối quan hệ giữa tổng vốn huy động với tổng doanh số cho vay. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietinbank
Sử dụng vốn:
Hoạt động cho vay là một hoạt động quan trọng đối với ngân hàng, tạo đối trọng cho các hoạt động khác, cho vay hiệu quả và hợp lý mới có thể duy trì tốt các hoạt động của ngân hàng. Bằng nguyên tắc thận trọng nhưng cũng không để mất đi cơ hội đầu tư, chi nhánh luôn cố gắng trong công tác thẩm định và sử dụng nguồn vốn một cách hợp lí, tổng khối lượng cho vay luôn tăng trưởng tốt, năm sau cao hơn năm trước, thể hiện sự tiến bộ của cán bộ ngân hàng trong hoạt động tiếp thị, quảng cáo các dịch vụ của ngân hàng ngày càng chuyên nghiệp.
Điều đó được thể hiện rõ qua bảng số liệu sau:
Qua bảng 2.2 trên ta nhận thấy:
- Tổng dư nợ của chi nhánh ngân hàng năm 2012 là 1993 tỷ đồng tăng 269 tỷ so với năm 2011 với tỷ lệ tăng 15.6%. Năm 2013 tổng dư nợ là 1467 tỷ đồng giảm 526 tỷ đồng so với năm 2012
- Nợ xấu năm 2012: 18 tỷ đồng, giảm 12 tỷ đồng, tỷ lệ giảm 40,0 % so với năm 2011; chiếm 0,9% tổng dư nợ. Nợ xấu năm 2013: 23 tỷ đồng, tỷ lệ giảm 27.7 % so với năm 2012; chiếm 0,88% tổng dư nợ.
Điều này thể hiện sự nỗ lực của CBTD trong việc thu nợ cũng như tìm ra giải pháp nhằm tránh chuyển dư nợ trong hạn sang nợ quá hạn thông qua công tác thẩm định, thay đổi món cho vay, lựa chọn khách hàng đã giảm được nợ quá hạn.
Bảng 2.11. Tổng dư nợ/tổng vốn huy động
Ta thấy rằng chi nhánh ngân hàng Công thương Hải Phòng,vào năm 2011,cứ 1,17 đồng dư nợ thì có sự đóng góp của một đồng vốn huy động.sang tới năm 2012,tỷ lệ này tăng lên,cứ 1,25 đồng dư nợ thì có một đồng vốn huy động.
Nhận xét:Qua hai năm trên ,ta thấy số dư nợ đã vượt quá số vốn huy động,như vậy,nhu cầu sử dụng vốn cho sản xuất và tiêu dung tăng đáng kể,đồng thời,nguồn vốn huy động của ngân hàng Công thương chi nhánh Hải Phòng chưa đủ để thỏa mãn nhu cầu sử dụng vốn,nhằm đặt lợi nhuận cao.Sang năm 2013,tỷ lệ này có phần giảm đi so với 2 năm trước,đây là tín hiệu đáng mừng bởi NH đã chủ động hơn trong việc quản lý và sử dụng vốn của mình.Tuy nhiên,bên cạnh việc đầu tư cho hoạt động tín dụng,thì ngân hàng cần chú trọng đa dạng hóa các hình thức huy động vốn nhằm đạt được số vốn huy động nhiều hơn nữa,nhằm đem lại lợi nhuận cao cho chi nhánh.
Nhìn chung,ta thấy,trong ba năm,ngân hàng tập chung cho vay ngắn hạn,chiếm khoảng 60%dư nợ cho vay,phù hợp với cơ cấu huy động vốn của chi nhánh.Tuy nhiên,cơ cấu huy động vốn và cho vay của ngân hàng vẫn chưa được hợp lí,ngân hàng thiếu vốn trong cả ngắn hạn và dài hạn,huy động khôn đáp ứng được nhu cầu cho vay,chi phí gia tăng nhiều,do phải sử dụng vốn đi vay và vốn điều chuyển từ hội sở chính.Để khắc phục điều này,chi nhánh cần phải đẩy mạnh các biện pháp huy động vốn hiệu quả hơn.
2.4. Đánh giá hiệu quả công tác huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam- Chi nhánh Hải Phòng Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietinbank
2.4.1. Đánh giá theo các chỉ tiêu
Công tác huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam- Chi nhánh Hải Phòng được đánh giá theo một số chỉ tiêu chủ yếu sau:
Nguồn vốn tăng trưởng hàng năm: Tại chi nhánh, nguồn vốn huy động trong 3 năm qua đã tăng lên rất nhiều so với giai đoạn trước.. Đây là thành quả đạt được rất khả quan của Chi nhánh trong tình hình kinh tế có nhiều khó khăn trong năm
Chi nhánh Hải Phòng đã đẩy mạnh hoạt động huy động vốn, tạo điều kiện tăng nguồn vốn kinh doanh, doanh số cho vay và lợi nhuận đạt được luôn ở mức cao.
Nguồn vốn có khả năng đáp ứng cho các hoạt động kinh doanh của NHTM:
- Việc quan tâm đến công tác sử dụng vốn cũng quan trọng như công tác huy dộng vốn trong một ngân hàng. Vấn đề đặt ra là nguồn vốn huy động tại Chi nhánh đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu tín dụng, thanh toán của Chi nhánh.
- Chi phí huy động vốn: Đây là chỉ tiêu mà các ngân hàng luôn quan tâm. Khi huy động được nhiều vốn với chi phí thấp thì hiệu quả công tác huy động vốn càng được nâng cao.
Lãi suất huy động vốn của NHTMCP Công thương Hải Phòng tháng 3/2014:
Từ bảng lãi suất huy động vốn ,ta thấy lãi suất của chi nhánh NHCT Hải Phòng đa dạng ,linh hoạt về kỳ hạn,áp dụng cho từng loại tiền và tương đối hợp lý đối với nhu cầu của người dân trên địa bàn.Đây có thể coi là một yếu tố đẩy nhanh mức độ tăng trưởn của nguồn vốn huy động của ngân hàng. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietinbank
Chi phí huy động/Tổng vốn huy động
Tỷ lệ giữa chi phí huy động và tổng nguồn vốn huy động giai đoạn 2011-2013 có sự thay đổi mặc dù không quá chêch lệch, điều này là do sự biến động của tổng nguồn vốn huy động, sự biến động không đều của các thành phần vốn trong tổng nguồn vốn huy động được của Chi nhánh và lãi suât huy động áp dụng cho từng thời kỳ.
Bên cạnh đó,việc xác định chi phí trả lãi là một điều cần thiết, giúp ngân hàng có các chiến lược và kế hoạch cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn, giúp ngân hàng huy động được nhiều vốn hơn với chi phí huy động vốn thấp nhất.Đông thời giảm các chi phí phi trả lãi cũng sẽ làm cho hiệu quả của hoạt động huy động vốn của ngân hàng có hiệu quả hơn.
Chênh lệch thu chi lãi /chi phí trả lãi của ngân hàng
Ta thấy,năm 2011, chỉ tiêu này cho thấy một đồng chi phí ngân hàng bỏ ra để huy động vốn sẽ thu được 64,7 đồng lợi nhuận từ đồng vốn đó. Tuy nhiên tỷ lệ này giảm dần trong năm 2012 và đặc biệt là năm 2013 là do chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và khủng hoảng nợ công Châu Âu, nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành ngân hàng nói riêng cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh. VietinBank Hải Phòng cũng chịu ảnh hưởng của những tác động này khiến cho lợi nhuận và tổng thu nhập của ngân hàng trong 3 năm gần đây có xu hướng giảm.Đồng thời,Ngân hàng cũng đã cố gắng thực hiện chính sách cắt giảm chi phí theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước trong điều kiện nền kinh tế vẫn khó khăn.Như vậy,để có thế sử dụng hiệu quả đồng vốn huy động của mình,NH cần phải có những biện pháp để tối thiểu hóa chi phí huy động cho đồng vốn đó.
2.4.2. Đánh giá chung Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietinbank
Trong giai đoạn 2011 – 2013, hoạt động huy động vốn ngân hàng NHCT VN chi nhánh Hải Phòng đã đạt được nhiều kết quả nổi bật:
Thứ nhất, nguồn vốn huy động được luôn có sự tăng trưởng về quy mô cũng như luôn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu nguồn vốn ngân hàng. Trong những năm vừa qua, chi nhánh NHCT Hải Phòng luôn tìm tòi, nghiên cứu tìm ra những giải pháp để gia tăng nguồn huy động vốn như đa dạng hóa sản phẩm tiền gửi với những kì hạn và hình thức trả lãi khác nhau đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng khách hàng, mở rộng các hình thức huy động tiết kiệm, tích cực tổ chức phát hành trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi…..Không chỉ thế chi nhánh luôn có dự trù một kế hoạch huy động vốn chi tiết, chu đáo cũng như kế hoạch quản lý nguồn vốn huy động một cách tỉ mỉ, cẩn thận khiến cho lượng vốn huy động vốn không ngừng tăng, trở thành một trong những chi nhánh ngân hàng thu hút vốn lớn nhất trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
Thứ hai, về cơ cấu của nguồn vốn huy động, tiền gửi từ dân cư và các tổ chức kinh tế xã hội là luôn là hai nguồn huy động chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu nguồn vốn huy động trong những năm qua của chi nhánh. Đặc biệt nguồn huy động từ dân cư tăng mạnh trong thời gian qua, chứng tỏ chi nhánh ngày càng được sự tín nhiệm, tin tưởng của người dân thành phố Hải Phòng. Đây là hai nguồn quan trọng, an toàn, giúp ngân hàng dễ dàng hoạch định các hoạt động kinh doanh, đầu tư vào các dự án lớn có kì hạn dài, thu được nguồn lợi nhuận lớn.
2.4.2.1. Những tồn tại
Bên cạnh những kết quả tích cực mà hoạt động huy động vốn của chi nhánh NHCT Hải Phòng đã đạt được trong thời gian qua, vẫn còn tồn tại những vấn đề bất cập như sau:
Mặc dù về quy mô nguồn vốn huy động đều có sự tăng trưởng trong giai đoạn 2011- 2013, tuy nhiên về tốc độ tăng trưởng thì vẫn chưa thực sự cao, đặc biệt là năm 2013 tổng nguồn vốn huy động là 1607 tỷ đổng chỉ tăng 9 tỷ so với năm 2012. Về cơ cấu nguồn vốn huy động thì chưa thực sự hợp lý.Trước hết phải nói đến nguồn vốn huy động ngoại tệ của chi nhánh trong những năm qua chưa có sự tăng trường, năm 2013 số dư vốn huy động ngoại tệ chỉ là 196 tỷ đồng chiếm 12.2% tổng nguồn vốn huy động, số liệu này thực sự chưa tương xứng với tiềm lực của ngân hàng với lợi thế địa bàn có cảng Hải Phòng là nơi thông thương, vận chuyển hàng hóa quốc tế, có nhiều mối quan hệ lâu năm với những đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng hóa xuất nhập khẩu. Hiện nay, nguồn huy động vốn của chi nhánh chủ yếu vẫn được hình thành từ thị trường trong nước mà chưa thực sự vươn tới các thị trường quốc tế để huy động vốn nhằm tài trợ, đầu tư cho sự phát triển của nền kinh tế nước nhà. Mặc dù thời gian qua, chi nhánh đã thiết lập được nhiều mối quan hệ với nhiều ngân hàng nước ngoài trong và ngoài địa bàn nhưng trong mối quan hệ này, chi nhánh mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp các dịch vụ bảo lãnh và thanh toán quốc tế cho đối tác mà vẫn chưa thể tận dụng nhằm mở rộng nguồn vốn của mình. Bên cạnh đó, nguồn vốn huy động trung và dài hạn trong thời gian qua vẫn còn có qui mô cũng như tỷ trọng trong cơ cấu nguồn vốn huy động thấp.Đây là nguồn vốn vô cùng quan trọng và tiềm năng, giúp chi nhánh dễ dàng xây dựng, hoạch định những hoạt động kinh doanh. Chính vì thế chi nhánh cần thực hiện cải thiện cơ cấu nguồn vốn huy động đảm bảo phát triển bền vững lâu dài.Đồng thời, cơ cấu huy động vốn và cho vay của ngân hàng vẫn chưa được hợp lí,ngân hàng thiếu vốn trong cả ngắn hạn và dài hạn,huy động không đáp ứng được triệt để nhu cầu cho vay,chi phí gia tăng nhiều.
Về nguồn vốn huy động qua phát hành công cụ nợ như trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và qua nguồn vốn ủy thác vẫn chiếm quy mô và tỷ trọng thấp trong cơ cấu nguồn vốn huy động.Đây là những nguồn huy động có chi phí thấp, có khả năng đem lại lợi nhuận cao cho chi nhánh, nhưng vẫn chưa được thực sự quan tâm phát triển đúng mức.
2.4.2.2. Nguyên nhân: Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietinbank
Nguyên nhân khách quan:
Năm 2011,năm 2012 và 2013 là 3 năm khó khăn chồng chất của nền kinh tế. Khó khăn hiển hiện ở mọi ngóc ngách cuả nền kinh tế, khiến hàng chục nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động, cả triệu người thất nghiệp, hàng trăm nghìn tỷ đồng nguy cơ mất trắng khi thị trường bất động sản đóng băng. Kinh tế không ổn định cộng thêm những diễn biến phức tạp trên thị trường vàng, thị trường ngoại tê, lãi suất trên thị trường có dự biến động liên miên…khiến cho các chủ thể trong nền kinh tế nhằm tránh rủi ro, không dám gửi tiền có kì hạn dài vào trong ngân hàng. Môi trường kinh tế xã hội có nhiều bất cập, không ổn đinh; các doanh nghiệp , tổ chức kinh tế xã hội gặp khó khăn do thiếu vốn đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn huy động của chi nhánh thực sự chưa cao, đặc biệt là trong năm 2012.
Môi trường kinh tế đã gặp nhiều khó khăn, chi nhánh lại thường xuyên phải đối mặt sự cạnh tranh quyết liệt về thị phần, đặc biệt là huy động vốn giữa các ngân hàng trên địa bàn. Hiện nay trên địa bàn Hải Phòng có hơn 80 chi nhánh các ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách xã hội, công ty tài chính, QTDND, phòng giao dịch, điểm giao dịch của NHCSXH & QTDND cơ sở. Trong quá trình cạnh tranh, chiếm dụng thị phần của nhau, các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng này đã đua nhau tăng lãi suất huy động mà không dựa trên cơ sở cung – cầu về vốn, những cuộc chạy đua lãi suất điển hình diễn ra liên tục trong năm 2012 và 2013 khiến cho lãi suất biến động bất thường, gây khó khăn cho công tác huy động vốn.
Thực tế hiện nay, môi trường pháp lý nước ta vẫn còn chưa đồng bộ và thống nhất, mặc dù Luật các tổ chức tín dụng đã ra đời song còn nhiều bất cập cần có sự điều chỉnh cho hợp lý hơn, ngoài ra các hệ thống luật, các văn bản pháp quy có liên quan hầu như chưa hoàn chỉnh do vậy gây rất nhiều khó khăn cho hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng của chi nhánh.
Một nguyên nhân khác là do tâm lý, thị hiếu của người dân trong địa bàn thành phố Hải Phòng. Thói quen sử dụng tiền mặt trong giao dịch thanh toán hàng ngày đã ăn sâu vào tư duy của người Việt và không dễ gì có thể thay đổi trong một sớm một chiều. Tâm lý không muốn thay đổi thói quen chi tiêu do trình độ dân trí của người dân còn thấp cộng thêm với sự lo ngại khi không được trực tiếp quản lý đồng tiền của mình mà chỉ nhìn thấy những con số trên chứng từ và trên máy khiến cho nhiều người dân chưa muốn tiếp cận với những dịch vụ mới. Mặt khác, nhu cầu sử dụng đối với các dịch vụ ngân hàng hiện đại trên thực tế đối với nhiều bộ phận dân cư không thực sự cấp bách, cần thiết, vì không làm “hiện đại hóa” được cuộc sống của họ. Thậm chí, nhiều người còn coi các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại thực chất chỉ dành cho những người nhiều tiền. Ngay như đối với dịch vụ thẻ, nhiều người còn cảm thấy rắc rối khi dùng thẻ bởi vì cho tới thời điểm hiện nay, các dịch vụ thanh toán bằng thẻ chưa nhiều, các tiện ích, tính năng của thẻ chưa được khai thác hết, trong khi đó nhiều người vẫn còn quan niệm rằng thẻ ATM là để rút tiền mặt. Một hạn chế nữa là do tâm lý người Việt rất lo ngại người khác biết thu nhập của mình. Chính vì vậy nhiều người không mặn mà trong mở tài khoản ở ngân hàng nếu mục tiêu chỉ phục vụ cho nhu cầu chi tiêu cá nhân.Vì thế, dù có rất nhiều phương thức thanh toán không dùng tiền mặt thay thế như thẻ, uỷ nhiệm chi, séc nhưng khách hàng vẫn rút ra thanh toán và người bán lại mang tiền đến nộp vào ngân hàng.
Nguyên nhân chủ quan:
Thứ nhất, chi nhánh chưa thực sự có một kế hoạch, chiến lược kinh doanh phù hợp với đặc điểm hoạt động của ngân hàng trong điều kiện cơ chế thị trường cạnh tranh tại địa bàn hoạt động. Cho đến nay chi nhánh vẫn chưa một chiến lược kinh doanh tổng thể thích hợp, trong đó bao gồm các chiến lược cụ thể như: chiến lược phát triển sản phẩm, dịch vụ; chiến lược marketing; chiến lược quản lý rủi ro;… nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng khả năng chiếm lĩnh thị trường cho ngân hàng của riêng mình. Chi nhánh vẫn còn phụ thuộc khá nhiều vào những chỉ đạo, chính sách điều hành từ phía Hội sở chính Ngân hàng Công thương Việt Nam, mà chưa có những kế hoạch, chiến lược phải triển phù hợp với hoàn cảnh, tình hình nội tại của chi nhánh. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietinbank
Thứ hai, Chất lượng và số lượng các sản phẩm, dịch vụ tuy ngày càng được nâng cao, cải thiện những vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Các sản phẩm dịch vụ ưu đãi tuy ngày càng đa dạng, được tổ chức dưới có nhiều hình thức, tuy nhiên giải thưởng ưu đãi có giá trị còn thấp, hoặc khả năng trúng thưởng rất thấp nên chưa đủ hấp dẫn khách hàng tham gia sử dụng sản phẩm. Các chương trình ưu đãi với giải thưởng lớn hiện này chi nhánh vẫn chỉ ưu tiên áp dụng với những đối tượng khách hàng tiềm năng, có mối quan hệ lâu dài, nên sẽ không thu hút được lượng khách hàng mới vào ngân hàng. Đối với dịch vụ phát hành thẻ – một lĩnh vực mà chi nhánh được đánh giá là có bước phát triển vượt bậc thời gian qua nhưng thực tế vẫn mang tính rời rạc. Quy mô, mạng lưới phát hành và sử dụng thẻ của chi nhánh mới chỉ chủ yếu tập trung vào tầng lớp, các cá nhân đang làm việc trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, trong các khu chế xuất, khu công nghiệp, các đối tượng hưởng lương từ Ngân sách Nhà nước, cho thấy dịch vụ phát hành thẻ vẫn chưa được mở rộng, hướng tới toàn bộ các chủ thể trong địa bàn thành phố. Các dịch vụ khách hàng của ngân hàng còn thiếu tính cạnh tranh, chưa tích cực đầu tư phát triển các kênh cung cấp dịch vụ khách hàng, do vậy dẫn đến nảy sinh nhiều vấn đề khó khắn, hạn chế trong công tác phát triển và cung cấp các sản phẩm và dịch vụ mới. Đồng thời các dịch vụ thanh toán vẫn chưa thực sự hoàn thiện, chưa có được sự hài lòng từ phía khách hàng đặc biệt là các dịch vụ thanh toán chuyển tiền quốc tế và chuyển tiền kiều hối, đây là dịch vụ quan trọng giúp thu hút một lượng vốn huy động dồi dào cả về nội tệ lân ngoại tê nhưng lại chưa được quan tâm triêt để.
Thứ ba, chi nhánh vẫn chưa có sự linh hoạt, năng động trong việc tìm tòi khám phá thêm các kênh huy động vốn mới, đặc biệt là đối với các nguồn vốn bằng ngoại tệ. Với điều kiện địa bàn tốt, Hải Phòng là một trong những trung tâm kinh tế phát triển nhất, nơi có rất nhiều các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, nơi có rất nhiều người nước ngoài đang sinh sống, làm việc và đang đi du lịch. Chi nhánh vẫn chưa thực tận dụng, thu hút được các nguồn vốn nhàn rỗi từ những đối tượng khách hàng này. Đây là một nguồn vốn ngoại tệ vô cùng lớn và tiềm năng đối với chi nhánh.
Thứ tư, ứng dụng công nghệ ngân hàng chưa cao, công nghệ chưa được đổi mới kịp thời với nhu cầu kinh doanh hiện đại trong cơ chế thị trường. Hiện nay, tuy chi nhánh đã có các phần mềm ứng dụng trong công tác huy động vốn, quản lý luồng tiền vào – ra hàng ngày, các phần mềm hỗ trợ hoạt động giao dịch, thanh toán nhưng vẫn đang trong quá trình hoàn thiện để phần mềm vận hành tốt nên đôi lúc vẫn xảy ra lỗi hệ thống, mạng bị treo gây ảnh hưởng đến các nghiệp vụ đang thao tác, khiến khách hàng phải chờ đợi…Trình độ quản lý công nghệ của các kĩ thuật viên trong chi nhánh vẫn chưa cao, khả năng tiếp thu, vận hành, sửa chữa khi nâng cấp cập nhập những công nghệ mới vẫn còn hạn chế. Tại một số phòng giao dịch vẫn còn tồn tại tình trạng, kĩ thuật viên xử lý chậm, hoặc không xử lý được những sự cố về máy móc, phần mềm trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh cũng như huy động vốn của chi nhánh.
Thứ năm, Nghiệp vụ Marketing của chi nhánh được tiến hành chưa đạt hiệu quả cao. Các công tác quảng cáo, tiếp thị giới thiệu sản phẩm, dịch vụ mới cũng như nghiên cứu thị trường, tìm hiểu tâm lý, thị hiếu của khách hàng chưa được chú trọng, đầu tư. Công tác Marketing đã được đặt ra nhưng chưa được quan tâm đúng mực nhất là quảng bá sản phẩm tại các địa phương ở ngoại thành, những vùng chưa có điều kiện được tiếp cận nhiều với các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng.
Thứ sáu, năng lực và trình độ nghiệp vụ của đội ngũ nhân sự còn bất cập. Khả năng tiếp thị, tư vấn cho khách hàng về sử dụng các sản phẩm tiền gửi, tiết kiệm của các giao dịch vẫn chưa thực sự rõ ràng, cụ thể về công dụng của sản phẩm, khiến cho khách hàng e dè, do dự chấp nhận sử dụng sản phẩm.
Thứ bảy, do tình hình hoạt động tín dụng của ngân hàng trong thời gian qua gặp nhiều bất cập. Qua số liệu từ Báo cáo KQHĐ kinh doanh của chi nhánh ta thấy hoạt động tín dụng trong những năm qua không đạt hiệu quả cao, đặc biệt trong năm 2013 dư nợ cho vay nền kinh tế giảm sút chỉ đạt 1467 tỷ đồng. Nguyên nhân chủ yếu là do tình hính kinh tế suy thoái, mở tín dụng ưu đãi tiềm ẩn nhiều rủi ro nhưng bên cạnh đó bất động sản giảm giá khiến cho tài sản đảm bảo bằng nhà đất không đủ để đảm bảo các khoản vay khi quá hạn và rất khó bán. Điều này khiến cho hoạt động tín dụng không đạt hiệu quả cao khiến cho nỗ lực huy động vốn của ngân hàng cũng phần nào bị giảm sút. Bên cạnh đó, doanh nghiệp, tổ chức kinh tế không vay được vốn từ ngân hàng dẫn đến thiếu vốn, không tiến hành được các hoạt động kinh doanh, làm giảm một lượng vốn huy động qua dịch vụ tiền gửi thanh toán của chi nhánh. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietinbank
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp nâng cao huy động vốn tại NH Vietinbank

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Tổng quan huy động vốn tại Ngân hàng Vietinbank