Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SCB hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Biện pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.2 Thực trạng hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng
2.2.1 Phân tích quy mô nguồn vốn huy động
Vốn huy động của ngân hàng là nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức trong nền kinh tế. Nguồn vốn của mỗi tổ chức, cá nhân thường rất nhỏ nhưng nếu xét trong toàn bộ nền kinh tế thì tổng số vốn đó là vô cùng lớn. Chính vì vậy, việc huy động các nguồn vốn này để đưa vào kinh doanh thông qua các ngân hàng thương mại không những mang lại lợi nhuận cao cho các ngân hàng mà còn góp phần sử dụng tối đa các nguồn lực sẵn cso trong nước. Ngân hàng TMCP Sài Gòn – chi nhánh Hồng Bàng cũng vậy. Trong giai đoạn 2010 – 2013 ngân hàng đã có sự tăng trưởng tổng nguồn vốn huy động. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SCB
Bảng 2.3: Biến động vốn huy động của SCB – chi nhánh Hồng Bàng 2010 – 2013
Qua bảng số liệu ta nhận thấy rõ năm 2010 tổng vốn huy động trên địa bàn là 732.717 triệu đồng. Năm 2011 tổng vốn huy động tăng lên 916.990 triệu đồng. So với năm 2010 năm 2011 tăng 184.273 triệu đồng tương ứng với 25,15%. Sang năm 2012 vốn huy động giảm xuống còn 903.732 triệu đồng. Đây là một kết quả của một năm kinh tế khủng hoảng, so với năm 2011 thì vốn huy động được của ngân hàng giảm 13.258 triệu đồng tương ứng với 1,45%. Tuy năm 2012 lượng tiền huy động của chi nhánh giảm nhưng tới năm 2013 lại có một kết quả đáng khích lệ. Năm 2013 tổng vốn huy động trên địa bàn là 987.155 triệu đồng.So với năm 2012, năm 2013 tăng 83.423 triệu đồng tương ứng với 9,23%. Đây là năm mà nguồn vốn tăng mạnh và rõ nét nhất. Tất cả nhờ những chính sách hợp lý và khả năng nhìn nhận nhạy bén với thị trường của chi nhánh ngân hàng đã giúp lượng tiền huy động được tăng lên so với giai đoạn 2010 – 2013
Kết luận : qua những số liệu phân tích trên ta thấy với quy mô vốn huy động là 987 tỷ đồng vẫn là con số còn thấp so với quy mô của SCB- chi nhánh Hồng Bàng và so với mặt bằng các chi nhánh ngân hàng khác trên địa bàn. Vì vậy SCB- chi nhánh Hồng Bàng cần sớm đưa ra những giải pháp nhanh chóng cho vấn đề huy động của mình.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng
2.2.2 Phân tích thực trạng huy động vốn của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SCB
Cơ cấu huy động vốn theo loại tiền tệ
Bảng 2.4a: Cơ cấu huy động vốn theo loại tiền tệ qua các năm 2010 – 2013
Dựa trên biểu số liệu bảng 2.4a ta đưa ra được biểu số tiền chênh lệch với tỷ trọng trong huy động vốn nội tệ, ngoại tệ qua các năm như sau:
Bảng 2.4b: Cơ cấu huy động theo tiền tệ qua các năm 2010 – 2013
Năm 2010, số nội tệ huy động được là 615.702 triệu đồng tương ứng với 84,03% so với tổng vốn huy động là 732.716 triệu đồng. Năm 2011 số nội tệ huy động được tăng thêm 186.389 triệu đồng ứng với 30,27%. Chính việc tăng thêm vào năm 2011 đã giúp cho tỷ trọng của số tiền nội tệ tăng 3,44% so với 2010. Đến năm 2012 thì nội tệ còn 771.245 triệu đồng, giảm 30.846 triệu đồng hay 3,85% so với 2011. Tỷ trọng nội tệ năm 2012 còn 85,34% trong tổng nguồn vốn huy động, giảm 2,13% so với năm 2011. Đây là năm kinh tế gặp nhiều khó khăn nên tổng nguồn vốn huy động năm 2012 là 903.732 triệu đồng, giảm 13.258 triệu đồng so với năm 2011 là 916.990 triệu đồng. Nhưng tới năm 2013 nội tệ tăng 57.077 triệu đồng so với 2012 hay 828.322 triệu đồng ứng với 7,4%. Đó là tín hiệu đáng mừng cho chi nhánh khi mà số nội tệ huy động đã tăng. Vì nội tệ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động nên nếu việc huy động nội tệ giảm sẽ ảnh hưởng tới lượng tiền mà ngân hàng huy động. Tuy năm 2013 tăng nội tệ nhưng tỷ trọng của nội tệ 2012 với tổng nguồn vốn huy động là 987.155 triệu đồng lại giảm 1,43% ứng với 83,91%.
Năm 2010 số ngoại tệ là 97.015 triệu đồng, tỷ trọng chiếm 15,97%. Năm 2011 số ngoại tệ là 114.899 triệu đồng. So với năm 2010 ngoại tệ tăng 17.884 triệu đồng ứng với 18,43%. Nhưng xét theo tỷ trọng giữa ngoại tệ với tổng nguồn vốn huy động thì ngoại tệ giảm 3,44% vì năm 2011 là 12,53%. Đến năm 2012 ngoại tệ là 132.487 triệu đồng tăng 17.588 triệu đồng ứng với 15,31%. Tỷ trọng ngoại tệ của năm 2012 tăng 2,13% ứng với 14,66% so với năm 2011. Năm 2013, ngoại tệ chiếm 16,09% ứng với 158.833 triệu đồng trên tổng nguồn vốn huy động 987.155 triệu đồng so với năm 2012 ngoại tệ tăng 26.346 triệu đồng tăng 19,89% giúp cho tỷ trọng tăng tương ứng với 1,43%.
Việc tăng nội tệ giúp ta thấy được công tác huy động vốn của ngân hàng với đối tượng khách hàng trong nước. Đây gần như là nhóm khách hàng quan trọng của ngân hàng. Còn xét về ngoại tệ chính là đối tượng khách hàng quốc tế hay các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu.
Cơ cấu huy động theo động vốn theo kì hạn huy động
Bảng 2.5a: Cơ cấu huy động vốn theo kì hạn huy động
Dựa trên số liệu bảng trên ta thấy cơ cấu huy động vốn theo kì hạn được biểu hiện với tỷ trọng trong huy động vốn không kì hạn, ngắn hạn, trung và dài hạn qua các năm như sau:
Bảng 2.5b: Cơ cấu huy động vốn theo kì hạn huy động
Nếu phân loại tiền theo thời gian ta sẽ có được 3 loại là: Tiền gửi không kỳ hạn, Tiền gửi kỳ hạn dưới 12 tháng và tiền gửi kỳ hạn trên 12 tháng.
Nhìn qua bảng số liệu ta thấy tiền gửi không kỳ hạn chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động của chi nhánh. Vì tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi có thể rút ra bất kỳ lúc nào và ngân hàng phải thỏa mãn các nhu cầu đó. Loại tiền gửi này có mục đích chính là để thanh toán. Do nhận định nguồn tiền gửi không kỳ hạn là nguồn tiền có tính chất kém ổn định nhưng chi phí hoạt động rất thấp, hưởng chênh lệch cao nên ngân hàng cần có nhiều biện pháp để đẩy mạnh nguồn tiền này.
Năm 2010 tiền gửi không kỳ hạn là 62.721 triệu đồng chiếm 8,56% tổng nguồn vốn 732.716 triệu đồng. Năm 2011 tiền gửi không kỳ hạn là 69.324 triệu đồng . So với năm 2010 thì năm 2011 tiền gửi không kỳ hạn tăng 6.603 triều đồng tương ứng 10.53%. Nhưng tỷ trọng lại giảm 1% vì 2011 tổng vốn huy động là 916.990 triệu đồng mà tiền gửi không kì hạn chỉ chiếm 7,56% trong số đó. Năm 2012 tiền gửi không kì hạn giảm 30.825 triệu đồng so với năm 2011. Năm 2012 còn 38.499 triệu đồng, tỷ trọng chiếm 4,26% vốn huy động. Tỷ lệ giảm 44,46% đây là năm mà tiền gửi ko kì hạn giảm mạnh nhất trong 4 năm 2010-2013. Sang năm 2013 tiền gửi ko kì hạn là 99.110 triệu đồng, tăng trở lại một cách mạnh chiếm tỷ trọng những 10,04% nguồn vốn huy động. So với năm 2012 năm 2013 tăng 60.611 triệu đồng ứng với 157,43% tăng 150% so với năm trước. Năm 2013 tiền gửi ko kì hạn tuy chiếm 10,04% nhưng vẫn còn thấp so với mặt bằng của các chi nhánh ngân hàng. Lãi suất của tiền gửi ko kì hạn thường rất thấp cho nên nguồn vốn này tăng nhiều sẽ giúp cho ngân hàng hạ thấp giá mua vốn, nâng cao khả năng cạnh tranh trong cho vay và đầu tư. Nên ngân hàng cần quan tâm tới đẩy mạnh nguồn tiền này hơn nữa.
Loại tiền thứ 2 chính là tiền gửi có kì hạn dưới 12 tháng. Là loại tiền gửi có sự thỏa thuận về thời gian rút tiền, được xếp vào loại tiền gửi ngắn hạn của ngân hàng, lãi suất sẽ cao hơn tiền gửi không kì hạn. Nhìn vào bảng số kiệu ta thấy tỉ trọng của tiền gửi có kì hạn đưới 12 tháng tăng đều qua các năm 2010 – 2013, tuy năm 2013 có giảm so với năm 2012 nhưng vẫn chiếm tỉ trọng cao. Năm 2010 tiền gửi có kì hạn dưới 12 tháng là 452.819 triệu đồng chiếm 61,8% so với vốn huy động. Năm 2011 là 598.244 triệu đồng chiếm 65,24%. So với năm 2010 năm 2011 tăng 145.425 triệu đồng ứng với 32,12%. Trong năm 2010 thì tiền gửi có kì hạn dưới 12 tháng tăng mạnh trong 3 loại tiền gửi khiến cho tỉ trọng cũng tăng 3,44%. Sang năm 2012 loại tiền này là 710.333 triệu đồng tăng 112.089 triệu đồng ứng với 18,74%. Năm 2012 tỉ trọng của tiền gửi có kì hạn dưới 12 tháng chiếm 78,6% trong 903.732 triệu đồng vốn huy động, tỉ trọng tăng 13,36% so với năm 2011. Năm 2013 tiền gửi ngắn hạn là 689.429 triệu đồng chiếm 69,84%. So với năm 2012 tiền gửi ngắn hạn giảm 20.904 triệu đồng ứng với 2.94%. Đây là năm duy nhất trong 4 năm 2010 – 2013 loại tiền gửi này giảm tỉ trọng trong vốn huy động, giảm 8,76% tuy vậy với tỉ trọng là 69,84% thì con số này vẫn đứng chủ đạo trong 3 loại tiền gửi. Việc giảm tỷ trọng này là do loại tiền gửi không kỳ hạn tăng mạnh vào năm 2013 như ta đã phân tích ở trên. Qua phân tích số liệu các năm ta thấy ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng đã đạt kết quả tốt trong công tác thu hút nguồn vốn ngắn hạn do vậy chi nhánh cần phát huy những kết quả đạt được trong các năm tiếp theo.
Loại tiền gửi thứ 3 chính là tiền gửi trung và dài hạn. Đây là nhóm tiền gửi mà có tính ổn định cao, ngân hàng chủ động trong quá trình sử dụng, theo nguyên tắc kì hạn càng dài thì lãi suất càng cao. Nhìn chung ta thấy tiền gửi trung và dài hạn trong chi nhánh còn thấp luôn trong khoảng từ 20 – 29% trong tổng vốn huy động. Nhưng trong 4 năm 2010 – 2013 thì tỉ trọng của loại tiền này giảm đều qua các năm. Điều này có thể có thể hiểu được vì trong những năm kinh tế khó khăn, khủng hoảng tài chính kéo dài trên thế giới và không ngoại trừ thị trường Việt Nam, việc giữ ổn định những khoản tiền huy động với kì hạn dài là rất khó. Năm 2010 số tiền trung và dài hạn là 217.177 triệu đồng chiếm 29,64%. Năm 2011 tiền gửi trung và dài hạn là 249.422 triệu đồng chiếm 27,2%, so với năm 2010 tăng 32.245 triệu đồng ứng với 14,85%, tỷ trọng giảm 2,44%. Năm 2012 loại tiền này chiếm 17,14% trong 903.732 triệu đồng vốn huy động ứng với tương ứng với 154.900 triệu đồng. So với năm 2011 tiền gửi trung và dài hạn giảm 94.522 triệu đồng ứng với 37,89% , tỉ trọng giảm 10,06%. Nhưng tới năm 2013 khi tiền gửi trung và dài hạn tăng nhưng không tăng bằng năm 2011. Tiền gửi kì hạn trung và dài hạn là 198.616 triệu đồng vào năm 2013 ứng với tỉ trọng 20,12%. So với năm 2012 năm 2013 đã tăng 43.716 triệu đồng ứng với 28,22%. Qua đó ta thấy chi nhánh chủ yếu thu hút nguồn vốn ngắn hạn mà chưa chú trọng tới nguồn vốn trung và dài hạn. Do vậy, trong các năm tiếp theo, Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng cần phải tăng cường thu hút nguồn vốn trung và dài hạn thông qua các chính sách như lãi suất, marketing…
Cơ cấu huy động vốn theo thành phần kinh tế
Bảng 2.6a: Cơ cấu huy động vốn theo thành phần kinh tế
Dựa trên biểu số liệu bảng 2.6a ta đưa ra được biểu số tiền chênh lệch với tỷ trọng trong huy động vốn tiền gửi cá nhân, tiền gửi của tổ chức kinh tế và tiền gửi của tổ chức tín dụng qua các năm như sau:
Bảng 2.6b: Cơ cấu huy động vốn theo thành phần kinh tế
Năm 2010 tiền gửi cá nhân là 454.871 triệu đồng chiếm 62,08% trong tổng số vốn huy động được. Điều này chứng tỏ dịch vụ và những sản phẩm của chi nhánh ngân hàng đã thu hút tối đa nguồn tiền rảnh rỗi của dân cư, đó là tín hiệu tốt cho uy tín và tăng trưởng vị thế của chi nhánh Hồng Bàng trong thành phố Hải Phòng. Năm 2011, tiền gửi cá nhân là 652.072 triệu đồng chiếm 71,11% trong 916.990 triệu đồng số huy động. So với năm 2010, năm 2011 tăng 197.201 triệu đồng tương ứng với 43,35%, tỷ trọng tăng 9,03%. Sang năm 2012 loại tiền gửi này tăng 24.371 triệu đồng ứng với 3,74%. Tuy năm 2012 số tiền là 676.443 triệu đồng nhưng chỉ là mức tăng thấp so với năm 2010 – 2013. Trong năm 2012 tỷ trọng tiền gửi cá nhân chiếm 74,85% tăng 3,74% so với năm 2011. Năm 2013 tiền gửi cá nhân là 755.765 triệu đồng chiếm tỷ trọng là 76,56% so với vốn huy động. So với năm 2012, năm 2013 tăng 79.322 triệu đồng ứng với 11,73%, tỷ trọng tăng thêm 1,71%. Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, không giải ngân được nhiều do khách hàng không đáp ứng được các điều khoản tín dụng, mặt khác lãi suất tiền gửi dân cư thường cao hơn các thành phần kinh tế khác cho nên hoạt động huy động vốn của loại hình này đã không còn mang lại hiệu quả cao nữa. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SCB
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các tổ chức kinh tế thường có một bộ phận nhàn rỗi tạm thời như: Khấu hao đã trích nhưng chưa đến lúc sử dụng, tiền thu bán hàng chưa phải mua nguyên vật liệu, các quỹ đầu tư phát triển, phúc lợi, khan thưởng đã trích nhưng chưa sử dụng đến… Để đảm bảo đồng vốn an toàn và vẫn sinh lời, các tổ chức kinh tế có thể gửi số vốn đó vào ngân hàng.
Tiền gửi của tổ chức kinh tế chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động, năm 2010 tiền gửi của tổ chức kinh tế là 208.238 triệu đồng, năm 2011 giảm xuống chỉ còn 195.869 triệu đồng; tỷ lệ giảm là 12.369 triệu đồng ứng với 5,94%. Năm 2012 tiền gửi của tổ chức kinh tế là 167.371 triệu đồng, giảm so với năm 2011 là 28.498 triệu đồng ứng với 14,55%, tỷ trọng giảm 2,84%. Năm 2013 loại tiền này còn 184.894 triệu đồng ứng với tỷ trọng là 18,73%. Giai đoạn 2012 – 2013 tiền gửi của tổ chức kinh tế tăng 17.523 triệu đồng ứng với 10,47% làm cho tỷ trọng trong tổng huy động vốn tăng thêm 0,21%. Tiền gửi của các tổ chức kinh tế qua các năm 2010 – 2013 chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn huy động, ngân hàng ngày càng đánh mất nguồn vốn này trong dịch vụ huy động của mình vì vậy cần có những giải pháp để khắc phục lại nguồn vốn huy động này trong những năm tới.
Nhìn tổng quát giai đoạn 2010 – 2013 ta thấy nhóm tiền gửi của tổ chức tín dụng có xu hướng giảm đều qua các năm. Năm 2010 tiền gửi của tổ chức tín dụng là 69.608 triệu đồng chiếm tỷ trọng 9,5% trong tổng vốn huy động. Năm 2011 là 69.049 triệu đồng ứng với 7,53%. So với năm 2010 thì năm 2011 giảm 559 triệu đồng tương ứng với 0,8%, tỷ trọng cũng giảm 1,97%. Năm 2012, tiền gửi tổ chức tín dụng giảm mạnh, chỉ còn 59.558 triệu đồng chiếm tỷ trọng 6,63% trong tổng vốn huy động. Giai đoạn 2011 – 2012 loại tiền này giảm 9.491 triệu đồng ứng với 13,75%. So với tỷ trọng của năm 2011 thì năm 2012 giảm 0,9%. Đặc biệt năm 2013 tiền gửi của nhóm tổ chức tín dụng chỉ còn 46.496 triệu đồng chiếm 4,71%. So với năm 2012 thì năm 2013 giảm 13.062 triệu đồng ứng với 21,93%, tỷ trọng giảm 1,92%. Loại tiền gửi tổ chức tín dụng cũng là nguồn vốn huy động thiết yếu của ngân hàng. Nhưng giai đoạn 2010 – 2013 là những năm biến động kinh tế khó khăn nên toàn thế giới và các tổ chức tín dụng trong nước ta cũng nằm trong vòng khủng hoảng này. Đó chính là điều làm cho nguồn vốn huy động về dòng tiền của tổ chức tín dụng giảm dần.
Chi phí huy động vốn
Bảng 2.7: Chi phí huy động vốn Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng 2010 – 2013
Dựa vào bảng số liệu ta thấy, chi phí huy động vốn có sự biến động thất thường trong giai đoạn 2010 – 2013. Năm 2011, chi phí cho 1 đồng vốn huy động đạt 0,135 đồng, tăng so với năm 2010 là 0.015 đồng. Nguyên nhân là do năm 2011, chi nhánh chịu ảnh hưởng của cuộc chạy đua lãi suất huy động giữa các Ngân hàng thương mại nên chi phí huy động vốn đã tăng so với năm 2010. Nhưng sang năm 2012, chi phí cho 1 đồng vốn huy động của Ngân hàng giảm xuống còn 0,078 đồng, giảm 0,057 đồng so với năm 2011. Nguyên nhân là do Ngân hàng Nhà nước đã áp dụng chính sách trần lãi suất huy động đối với tất cả các Ngân hàng thương mại để giảm sự căng thẳng về thanh khoản, giảm sự bất ổn về lãi suất huy động sau cuộc chạy đua lãi suất giữa các Ngân hàng thương mại vào năm 2011. Sang năm 2013, để huy động 1 đồng vốn mất 0,073 đồng chi phí, giảm 0,005 đồng so với năm 2012. Việc giảm chi phí huy động vốn vào năm 2012 – 2013 có thể thấy là một dấu hiệu tốt cho Ngân hàng trong việc giảm chi phí, nâng cao lợi nhuận, hiệu quả kinh doanh.
2.2.3 Sự cân đối giữa nguồn vốn huy động và cho vay
Bảng 2.8: Hiệu suất sử dụng vốn
Qua số liệu các năm 2010 – 2013 ta thấy trong những năm vừa qua ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng đã huy động đủ vốn để đáp ứng nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp và cá nhân trên địa bàn mà không phải sử dụng vốn điều chuyển từ hội sở. Năm 2010 số vốn huy động là 732.717 triệu đồng trong đó cho vay là 589.608 triệu đồng tức là cứ 0,8047 đồng dư nợ thì có sự đóng góp của 1 đồng vốn huy động. Sang năm 2011, hiệu suất sử dụng vốn là 69,78% chi nhánh vẫn đáp ứng đủ nguồn vốn huy động để phục vụ cho vay. Song trong 2 năm 2010 – 2011, chi nhánh chưa sử dụng hiệu quả nguồn vốn huy động để cho vay do vậy nguồn vốn huy động được vẫn còn dư thừa. Sang năm 2012, hiệu suất sử dụng vốn là 103,61% vốn huy động không đủ để đáp ứng nhu cầu cho vay, chi nhánh cần điều chuyển vốn từ hội sở song không đáng kể nên đây vẫn là năm chi nhánh sử dụng tốt nguồn vốn huy động, không để vốn ứ đọng, tạo lợi nhuận cho chi nhánh. Nhìn chung hiệu suất sử dụng vốn mà ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng có được là tương đối tốt cho thấy chi nhánh đã chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn của mình. Do vậy trong những năm tiếp theo, bên cạnh việc đầu tư vào hoạt động tín dụng thì chi nhánh Hồng Bàng cần chú trọng đa dạng hóa các hình thức huy động vốn nhằm đạt được số vốn huy động nhiều hơn nữa để đem lại lợi nhuận ngày càng cao. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SCB
Bảng 2.9: Huy động vốn và cho vay ngắn hạn
Biểu đồ 2: Sự biến động giữa huy động vốn và cho vay ngắn hạn
Qua số liệu các năm 2010 – 2013 ta thấy chủ yếu nguồn vốn huy động ngắn hạn được sử dụng để cho vay ngắn hạn. Năm 2010, chi nhánh huy động được 452.819 triệu đồng nguồn vốn ngắn hạn và cho vay ngắn hạn là 403.288 triệu đồng. Như vậy hầu hết nguồn vốn huy động ngắn hạn được trong năm đều dùng để cho vay ngắn hạn. Trong 3 năm 2011 – 2013, chi nhánh cũng thực hiện tốt chính sách dùng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay ngắn hạn, đảm bảo chất lượng tín dụng. Điều đó chứng tỏ trong giai đoạn 2010 – 2013 chi nhánh Hồng
Bàng đã thực hiện rất hiệu quả công tác huy động vốn ngắn hạn đáp ứng đầy đủ nhu cầu vay vốn ngắn hạn của tổ chức, cá nhân trên địa bàn.
Bảng 2.10: Huy động vốn và cho vay trung và dài hạn
Biểu đồ 3: Sự biến động giữa huy động vốn và cho vay trung và dài hạn
Nguồn vốn dài hạn của chi nhánh trong các năm 2010 – 2013 chiếm tỉ trọng nhỏ và giảm đều qua các năm. Nguyên nhân là do nền kinh tế Việt Nam đang trải qua thời kì biến động không ngừng và gặp nhiều khó khăn. Lãi suất huy động thấp không đủ sức hấp dẫn nên khách hàng chủ yếu chuyển sang kì gửi ngắn hạn. Điều này đã ảnh hưởng đến việc cho vay trung và dài hạn của chi nhánh. Năm 2010, vốn huy động trung và dài hạn là 217.177 triệu đồng đáp ứng đủ nhu cầu cho vay trung và dài hạn là 201.929 triệu đồng. Năm 2011 là năm vốn huy động trung và dài hạn chiếm tỉ trọng cao nhất trong 4 năm 2010 – 2013 đáp ứng đủ nhu cầu cho vay trung dài hạn là 148.875 triệu đồng nhưng chưa hiệu quả. Vì trong năm 2011, nguồn vốn huy động trung và dài hạn tăng so với năm 2010 nhưng dư nợ cho vay trung và dài hạn lại giảm khiến cho vốn huy động được bị ứ đọng không luân chuyển được để tạo lợi nhuận cho chi nhánh. Sang năm 2012, vốn huy động trung và dài hạn là 154.900 triệu đồng trong khi cho vay lên tới 212.372 triệu đồng như vậy chi nhánh đã không đủ nguồn vốn trung và dài hạn để cho vay. Năm 2013, chi nhánh đã tiến hành công tác huy động vốn trung và dài hạn để cho vay trung và dài hạn khá tốt. Hầu hết nguồn vốn trung và dài hạn huy động được đều được dùng để cho vay trung và dài hạn đảm bảo chất lượng tín dụng. Nhìn chung, trong giai đoạn 2010 – 2013 chi nhành Hồng Bàng đã huy động đủ vốn trung và dài hạn để đáp ứng nhu cầu cho vay trung và dài hạn.
2.3 Đánh giá thực trạng tình hình huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SCB
2.3.1 Những kết quả đạt được
Sau 5 năm hoạt động Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng đã đẩy mạnh kinh doanh đúng hướng, xác định công tác huy động vốn là trọng tâm, mở rộng tín dụng đi đôi với việc điều chỉnh cơ cấu đầu tư hợp và có bước tăng trưởng khá trên cơ sở định hướng của ngành và các mục tiêu phát triển kinh tế của địa phương. Thông qua vốn tín dụng ngân hàng giải quyết được nhu cầu về vốn và việc làm cho người lao động, chất lượng tín dụng không ngừng được nâng cao. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo năng động sáng tạo đổi mới trong chỉ đạo điều hành, xây dựng đơn vị kỉ cương nề nếp có sự đoàn kết thống nhất cao. Được sự quan tâm đồng tình ủng hộ của cấp ủy, chính quyền và các ban ngành từ huyện đến cơ sở, đời sống vật chất tinh thần, phương tiện làm việc, phúc lợi tập thể từng bước được cải thiện đáp ứng được yêu cầu trong hoạt động kinh doanh.
Ngân hàng đã tăng cường mọi biện pháp hữu hiệu để khai thác nguồn vốn tiền gửi của tổ chức kinh tế vì nguồn vốn này sẽ mang lại lợi ích trong hoạt động kinh doanh, qua đó cũng giúp các tổ chức kinh tế thuận lợi trong hoạt động thanh toán và chu chuyển vốn. Cụ thể Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng đã tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị, cá nhân nhanh chóng hoàn tất thủ tục mở tài khoản, chuyển tiền gửi vào ngân hàng. Chính vì vậy, mà nguồn vốn huy động từ các tổ chức kinh tế và cá nhân thông qua việc thanh toán qua ngân hàng ngày càng tăng trưởng một cách ổn định, tạo lợi thế cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Các hình thức tiết kiệm ngày càng phong phú, đa dạng cả về thời gian, lãi suất và loại tiền. Bên cạnh đó, công nghệ ngày càng tiên tiến, hiện đại nên đã khai thác được tối đa nguồn vốn huy động cả về nội tệ và ngoại tệ, không kì hạn và có kì hạn. Thực hiện tốt các biện pháp huy động sử dụng đồng bộ các công cụ điều hành như: kế hoạch tổ chức, lãi suất, kiểm tra, thi đua nhờ đó mà quy mô tăng trưởng nhanh hình thức đa dạng hơn. Cơ cấu nguồn vốn được điều chỉnh và phát triển dần, việc khai thác tiền gửi của các đơn vị tổ chức kinh tế, cá nhân cũng tăng nhanh góp phần làm giảm lãi suất đầu vào bình quân thấp tạo lợi thế về tài chính cho chi nhánh. Quy mô hoạt động không ngừng tăng nhanh qua các năm, từng bước thực hiện đa dạng các sản phẩm huy động, vừa tăng cường huy động vốn nội tệ, vừa đẩy mạnh huy động vốn ngoại tệ cơ bản đáp ứng được nhu cầu vốn đầu tư trên địa bàn.
Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng thường xuyên theo dõi, phân tích nhằm nắm bắt tình hình biến động lãi suất cũng như dự báo biến động nguồn vốn trên thị trường, nhằm có kế hoạch cụ thể điều chỉnh linh hoạt lãi suất cho phù hợp, làm cơ sở cho việc xây dựng các chính sách và chiến lược trong công tác huy động vốn cũng như kế hoạch và mục tiêu hoạt động của chi nhánh.
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SCB
Hạn chế
Mặc dù hoạt động kinh doanh của Chi nhánh nói chung, hoạt động huy động vốn của Chi nhánh nói riêng trong những năm qua đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, tuy nhiên bên cạnh đó hoạt động của Chi nhánh vẫn còn có những hạn chế cần được khắc phục:
- Trong tổng nguồn vốn huy động, tiền gửi của các tổ chức kinh tế chiếm tỉ trọng nhỏ và có xu hướng ngày càng giảm năm 2010 là 28,42% xuống còn 18,73% vào năm 2013. Đây là một trong những bất lợi lớn của ngân hàng và nguồn tiền gửi của các tổ chức kinh tế là nguồn vốn có chi phí thấp giúp ngân hàng giảm chi phí huy động vốn và tăng thu nhập từ hoạt động dịch vụ như: thanh toán, chuyển tiền…
- Những năm gần đây nền kinh tế trong giai đoạn này chứa đựng những yếu tố biến động khó dự đoán về lạm phát, tỉ giá, lãi suất… Vì vậy, việc gửi các khoản tiền tiết kiệm có kì hạn ngắn thường được khách hàng lựa chọn để họ dễ dàng chuyển đổi mục đích sử dụng vốn sang mua vàng, ngoại tệ… hơn là gửi tiết kiệm trung và dài hạn. Điều này gây tính thiếu ổn định trong nguồn vốn huy động của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng.
- Mặt khác, trong huy động vốn VNĐ có nhiều kênh huy động với lãi suất hấp dẫn như: trái phiếu Chính phủ, kì phiếu của công ty dầu khí… nên công tác huy động vốn của các ngân hàng thương mại nói chung và của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh Hồng Bàng nói riêng gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong việc huy động vốn trung và dài hạn.
Nguyên nhân
Nguồn vốn huy động tuy lớn nhưng cơ cấu chưa hợp lý, thiếu tính ổn định. Nguồn tiền gửi thanh thanh toán của các tổ chức kinh tế chiếm tỉ trọng lớn nhưng luôn biến động, tiền gửi không kì hạn chiếm tỉ trọng cao. Nguyên nhân của tình trạng này là do sự cạnh tranh gay gắt về nguồn tiền gửi dân cư giữa các ngân hàng trên địa bàn, lãi suất huy động của chi nhánh thường thấp hơn lãi suất huy động của các ngân hàng TMCP do vậy chưa thu hút được người dân. Bên cạnh đó, các hình thức huy động tiền gửi dân cư vẫn còn đơn điệu, chưa hấp dẫn được người dân.
Cơ cấu dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp tư nhân, cho vay tiêu dùng… đã được dịch chuyển theo hướng tích cực, nhưng tốc độ còn chậm, tỷ trọng dư nợ còn thấp, vốn tín dụng vẫn còn tập trung vào một số khách hàng công ty nhà nước, tỉ trọng cho vay có đảm bảo chưa đạt kế hoạch.
Các sản phẩm dịch vụ mới (sản phẩm thẻ) triển khai chậm, thiếu đồng bộ. Các dịch vụ đang khai thác chủ yếu vẫn là sản phẩm truyền thống, không có sự khác biệt trên thị trường. Tỷ trọng thu phí dịch vụ tuy có tăng song còn thấp so với tổng thu nhập, nguồn thu chủ yếu vẫn là khoản thu từ lãi điều hòa vốn, đầu tư và cho vay.
Chương trình hiện đại hóa ngân hàng chưa hoàn thiện và ổn định. Các sự cố kĩ thuật chưa được khắc phục kịp thời, nhiều lúc giao dịch bị gián đoạn kéo dài, khách hàng than phiền nhiều.
Trình độ, năng lực đa số cán bộ tuy đã được nâng lên song vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Số cán bộ có trình độ ngoại ngữ, giỏi vi tính còn ít, do đó khả năng tiếp cận khai thác chương trình công nghệ mới phục vụ khách hàng còn hạn chế, công tác tiếp thị chưa có hiệu quả. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng SCB
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY
===>>> Khóa luận: Biện pháp NC huy động vốn tại Ngân hàng SCB

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Khái quát chung về Ngân hàng TMCP Sài Gòn