Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng đối với VP Bank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại VP bank Giảng Võ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
II. THỰC TRẠNG MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TẠI VP BANK GIẢNG VÕ
1. Nguyên tắc và điều kiện vay vốn đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại VP Bank Giảng Võ
1.1. Nguyên tắc vay vốn
Cho vay có hiệu quả là điều kiện và biện pháp hàng đầu đảm bảo cho ngân hàng duy trì sự tồn tại và phát triển ổn định. Do đó, hoạt động cho vay của ngân hàng phải lành mạnh, hiệu quả. VP Bank Giảng Võ phải thực hiện tốt việc kiểm tra khả năng hoàn trả của khách hàng trước khi cho vay, đảm bảo tính độc lập trong quá trình kiểm tra, tuôn thủ quy trình cho vay….Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng đối với VP Bank
Ngân hàng chỉ cho vay đối với khách hàng khi khách hàng đảm bảo được các nguyên tắc sau:
- Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Đây là nguyên tắc cơ bản, vì có sử dụng vốn đúng mục đích thì khách hàng mới có thể thực hiện được dự án, phương án sản xuất kinh doanh theo lợi ích dự kiến và mới có thể thu hồi được vốn để hoàn trả nợ cho ngân hàng. Nguyên tắc này nhằm hạn chế rủi ro đạo đức và hạn chế khả năng khách hàng dùng vốn vay để thực hiện các hành vi mà pháp luật cấm.
- Phải hoàn trả gốc và lãi tiền vay đúng hạn đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Nguyên tắc này đảm bảo phương châm hoạt động của VP Bank Giảng Võ là “đi vay để cho vay”.
1.2. Điều kiện cho vay
Điều kiện vay vốn là những quy định cụ thể đối với khách hàng có nhu cầu vay vốn. Ngân hàng chỉ cho vay đối với khách hàng đáp ứng được các yêu cầu do ngân hàng đề ra. Ngân hàng VP Bank Giảng Võ cho khách hàng vay vốn khi khách hàng đáp ứng các điều kiện sau:
- Có tư cách pháp nhân (đối với công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh), có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự (đối với doanh nghiệp tư nhân) và hoạt động theo luật doanh nghiệp.
- Có khả năng tài chính và đảm bảo trả nợ đúng hạn theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Khả năng tài chính của khách hàng được thể hiện thông qua mức độ vốn chủ sở hữu của khách hàng tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, dịch vụ: tình hình tài chính lành mạnh, kinh doanh có lãi và cam kết mua bảo hiểm đối với tài sản là đối tượng vay vốn.
- Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp: khách hàng không được vay vốn để sử dụng cho các mục đích mà pháp luật cấm và phải sử dụng vốn vay đúng mục đích.
- Có kết quả sản xuất kinh doanh ổn định có lãi, có dự án, phương án đầu tư sản xuất kinh doanh khả thi.
- Có tài sản đảm bảo cho khoản vay, giá trị TSĐB lớn hơn giá trị khoản vay. Thông thường, ngân hàng cho khách hàng vay vốn không qua 70% giá trị TSĐB.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng
2. Thực trạng mở rộng cho vay dối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng đối với VP Bank
2.1. Tình hình cho vay đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Mở rộng cho vay có thể hiểu là việc ngân hàng thực hiện những biện pháp nhằm đáp ứng được nhu cầu vay vốn ngày càng gia tăng của khách hàng. Đó là sự tăng lên của tỷ trọng cho vay trong tổng tài sản của ngân hàng, tăng lên cả về qui mô cũng như chất lượng, cơ cấu của khoản mục cho vay
Số lượng DNNQD vay vốn tại ngân hàng đã tăng lên qua các năm. Năm 2006 là 1198 doanh nghiệp chiếm 47.2% tổng số khách hàng vay vốn, năm 2007 là 1756 doanh nghiệp chiếm 52.75%, năm 2008 là 3040 doanh nghiệp chiếm 65.5% tổng số khách hàng vay vốn. Do chính sách hỗ trợ cho các DNNQD nên VP Bank Giảng Võ đã quan tâm mở rộng đối tượng cho vay là các DNNQD. Đặc biệt khi thực hiện chương trình hỗ trợ lãi suất theo quyết định 131/QĐ –TTg từ ngày 01-02-2009 thì số lượng khách hàng sẽ tăng lên nhanh chóng. Với ngân hàng VP Bank Giảng Võ, các DNNQD là mục tiêu hàng đầu vì khách hàng là người mang lại nguồn thu chính cho ngân hàng. Việc mở rộng cho vay đối với DNNQD hiện nay là điều cần thiết, không những giải quyết tình trạng thiếu vốn của các doanh nghiệp mà còn giúp ngân hàng mở rộng phạm vi kinh doanh của mình.
Bảng 2.7: Doanh số cho vay, thu nợ, dư nợ đối với DNNQD tại VP Bank Giảng Võ
Nhìn vào bảng doanh số cho vay, thu nợ và dư nợ của VP Bank Giảng Võ ta thấy: Do số lượng các DNNQD tăng nên doanh số cho vay của ngân hàng tăng lên cụ thể: Năm 2006 doanh số cho vay là 85957 triệu đồng, năm 2007 đạt 141829 triệu đồng tăng 65% so với năm 2006, năm 2008 doanh số cho vay đạt 156012 triệu đồng tăng 10% so với năm 2007. Do năm 2008 có nhiều biến động, tình hình khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã tác động đến chính sách tín dụng của VP Bank nói chung và của VP Bank Giảng Võ nói riêng. Do đó doanh số cho vay không cao như năm 2007. Dư nợ tăng lên, năm 2006 là 70323 triệu đồng, năm 2007 là 107591 triệu đồng tăng 53 % so với năm 2006, đến năm 2008 giảm xuống 106515 triệu đồng giảm 1% so với năm 2007. Cũng như tình hình chung về cho vay của VP Bank Giảng Võ thì dư nợ năm 2008 đã giảm xuống theo chính sách chung của VP Bank, hoạt động tín dụng đối với DNNQD cũng gặp khó khăn. Về hoạt động thu nợ ngân hàng thực hiện tốt. Đặc biệt là năm 2007 tình hình thu nợ rất khả quan. Năm 2008 do tình kình kinh tế khó khăn nên các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn vì vậy việc thu hồi nợ chậm hơn. Theo dự báo đến năm 2009 tình hình kinh tế vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp và đến hoạt động của ngân hàng. Để hoạt động có hiệu quả thì ngân hàng cần tiếp tục mở rộng cho vay nhưng phải hạn chế tỉ lệ nợ xấu, nợ khó đòi.
2.2. Cơ cấu cho vay DNNQD theo thời hạn
Bảng 2.16: Tình hình cho vay đối với DNNQD theo thời hạn
Doanh số cho vay ngắn hạn luôn chiếm tỷ trọng cao trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Năm 2006 doanh số cho vay ngắn hạn là 46417 triệu đồng chiếm 54% doanh số cho vay đối với DNNQD, năm 2007 là 73751 triệu đồng chiếm 52%, năm 2008 là 32245 triệu đồng chiếm 41%. Tỷ trọng cho vay ngắn hạn giảm do cơ cấu đầu tư của các DNNQD hiện nay là đầu tư vào các dự án dài hạn nên nhu cầu vốn ngắn hạn giảm đi. Ngược lại doanh số cho vay dài hạn tăng lên rất nhanh, năm 2006 là 39540 triệu đồng chiếm 46%, năm 2007 là 68078 triệu đồng chiếm 48% doanh số cho vay DNNQD, đến năm 2006 tăng lên rất cao 92047 triệu đồng chiếm 59%. Nguyên nhân chủ yếu là do các DNNQD thay đổi cơ cấu hoạt động kinh doanh, các DNNQD hiện nay không chỉ tập trung vào các ngành thương mại dịch vụ mà còn tập trung vào các ngành trọng điểm của đất nước, những ngành công nghiệp…
Cũng như doanh số cho vay ngắn hạn, dư nợ ngắn hạn cũng giảm xuống. Năm 2006 là 33755 triệu đồng chiếm 48%, năm 2007 chiếm 38% tổng dư nợ, năm 2008 là 46867 triệu đồng chiếm 44%. Dư nợ dài hạn tăng lên, năm 2006 là 36568 triệu đồng, chiếm 52 % tổng dư nợ, năm 2007 là 66706 triệu đồng chiếm 62%, năm 2006 dư nợ dài hạn giảm xuống là 59648 triệu đồng chiếm 56%. Ngân hàng đã có những bước phát triển tích cực, việc mở rộng đối tượng khách hàng đã thu được những kết quả rất cao. Đặc biệt là công tác thu nợ của ngân hàng rất tốt. Nguyên nhân do ngân hàng đã đưa ra các chính sách vừa đảm bảo mở rộng hoạt động tín dụng, tăng dư nợ nhưng vẫn đảm bảo chất lượng tín dụng, đồng thời do những cố gắng của cán bộ A/O luôn kiểm tra theo dõi các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
2.3. Tính các chỉ tiêu phản ánh mức độ mở rộng tín dụng đối với DNNQD tại VP Bank Giảng Võ. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng đối với VP Bank
Tính các chỉ tiêu về khách hàng:
Số lượng khách hàng vay
Tỷ trọng khách hàng vay = Tổng số khách hàng vay
Bảng 2.8: Tỷ trọng khách hàng qua các năm
Ngân hàng đã đẩy mạnh hoạt động thu hút khách hàng đặc biệt là các DNNQD. Kết quả đạt được là tỷ trọng DNNQD tăng lên qua các năm. Năm 2006 là 47.3%, năm 2007 là 52.7%, năm 2008 là 65.6%. Số lượng DNNQD là chỉ tiêu đánh giá mở rộng cho vay về qui mô, số lượng DNNQD càng nhiều nghĩa là ngân hàng đã đáp ứng được nhu cầu vốn của nhiều khách hàng hơn. Nếu số lượng khách hàng tăng lên thì ngân hàng có được sự mở rộng cho vay về qui mô của ngân hàng. Qui mô càng lớn thì chứng tỏ ngân hàng làm ăn có hiệu quả hơn. Có được kết quả này là do ngân hàng đã có nhiều biện pháp thu hút khách hàng mới và giữ được mối quan hệ tốt với khách hàng cũ. Ngân hàng có những biện pháp thu hút khách hàng mới và giữ quan hệ tốt với khách hàng cũ bằng cách ưu đãi về lãi suất, về thời hạn và phương thức thanh toán….
Mức tăng trưởng tuyệt đối về số lượng khách hàng
Bảng 2.9: Mức độ tăng trưởng tương đối và tuyệt đối về số lượng DNNQD
Ngân hàng vẫn đảm bảo được mức tăng trưởng về số lượng DNNQD. Đó là do sự điều hành, lãnh đạo của hội đồng quản trị, tổng giám đốc VP Bank nói chung, sự lãnh đạo của ban giám đốc VP Bank Giảng Võ nói riêng nhất là sự cố gắng của toàn thể CBNV. Năm 2007 tăng 558 doanh nghiệp, tăng 46.6% so với năm 2006, năm 2008 tăng 1284 doanh nghiệp, tăng 73.1 % so với năm 2007. Số lượng DNNQD tăng lên hằng năm do chính sách thu hút khách hàng của VP Bank Giảng Võ, mặt khác cũng do khách hàng tin tưởng và đến với ngân hàng. Chỉ tiêu này phản ánh mức độ mở rộng cho vay nhanh hay chậm về quy mô. Ở đây tốc độ tăng trưởng về số lượng DNNQD > 0: số DNNQD kỳ sau > số DNNQD kỳ trước ngân hàng đã mở rộng việc cho vay đối với các DNNQD.
Tính các chỉ tiêu về doanh số cho vay:
Doanh số cho vay DNNQD
Tỷ trọng doanh số cho vay = Tổng doanh số cho vay
Bảng 2.10: Tỷ trọng doanh số cho vay DNNQD
Qua ba năm ta thấy tỷ trọng doanh số cho vay DNNQD luôn ổn định. Năm 2006 chiếm 45.8% doanh số cho vay, năm 2007 chiếm 44.4% doanh số cho vay và năm 2008 là 45.0%. Doanh số thể hiện mức độ mở rộng tín dụng của ngân hàng. Thông qua tỉ trọng doanh số người ta sẽ thấy được tình hình kinh doanh của ngân hàng diễn ra như thế nào. Qua bảng trên ta thấy tình hình kinh doanh của ngân hàng luôn ổn định. Mặc dù năm 2008 ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nhưng ngân hàng vẫn duy trì mức tỉ trọng doanh số cho vay cao chứng tỏ ngân hàng có uy tín, được khách hàng coi trọng và hoạt động có hiệu quả.
Mức tăng trưởng tuyệt đối về doanh số cho vay:
Bảng 2.11: Mức độ tăng trưởng tương đối và tuyệt đối về doanh số cho vay
Năm 2007 tăng 55872 triệu đồng, tăng 65% so với năm 2006. Năm 2008 tăng lên là 14183 triệu đồng, tăng 10 % so với năm 2007. Năm 2007 mức tăng trưởng tuyệt đối về doanh số và tỉ lệ tăng trưởng tương đối đạt ở mức cao. Năm 2007 là một năm thành công của VP Bank Giảng Võ. Chính sách mở rộng hoạt động tín dụng cùng với tình hình kinh tế xã hội đã góp phần tạo lên thành công trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Năm 2008 do chính sách thu hẹp cho vay, tập trung vào thu hồi nợ xấu, nợ khó đòi nên tỉ lệ cho vay của ngân hàng giảm xuống đáng kể. Nhưng theo dự báo đến giữa năm 2009 khi tình hình khủng hoảng kinh tế được khắc phục thì tình hình cho vay sẽ được cải thiện.
Tính các chỉ tiêu về dư nợ
Dư nợ đối với DNNQD
Tỷ trọng dư nợ cho vay = Tổng dư nợ
Bảng 2.12: Tỷ trọng dư nợ cho vay DNNQD
Dư nợ cho vay là số tiền mà ngân hàng hiện đang cho vay tính đến một thời điểm cụ thể. Tỉ trọng dư nợ càng lớn chỉ tiêu phản ánh mức độ mở rộng cho vay càng cao. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng đối với VP Bank
Tỷ trọng dư nợ cho vay DNNQD qua các năm là cao, điều này cho thấy DNNQD là đối tượng khách hàng chính của ngân hàng. Năm 2006 là 47.7%, năm 2007 tuy có giảm đôi chút nhưng không đáng kể là 44.8% và năm 2008 tăng lên 45.7%. Dư nợ DNNQD ở mức cao đòi hỏi ngân hàng phải phân tích chất lượng tín dụng của đối tượng DNNQD rất chặt chẽ để tránh được rủi ro cho ngân hàng. Năm 2007 mặc dù doanh số cho vay đối với DNNQD tăng cao nhưng tỉ trọng dư nợ của ngân hàng giảm là do ngân hàng đã hoàn thành tốt hoạt động thu nợ.
Bảng 2.13 : Mức độ tăng trưởng tương đối và tuyệt đối về dư nợ
Mức dư nợ năm 2007 cao hơn năm 2006 do chính sách ngân hàng mở rộng hoạt động tín dụng đối với các DNNQD nhưng vẫn đảm bảo chất lượng tín dụng. Năm 2008 giảm là do chính sách thu hẹp tín dụng của ngân hàng phù hợp với điều kiện kinh tế suy thoái và tình hình hoạt động của VP Bank nói chung. Năm 2008 là một năm khó khăn không chỉ đối với VP Bank Giảng Võ mà đối với các NHTM nói chung. Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng toàn cầu cùng với tình hình kinh tế trong nước đã ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp trong nước làm cho hoạt động của ngân hàng cũng bị ảnh hưởng. Thể hiện năm 2008 các ngân hàng đã phải thu hẹp hoạt động tín dụng và thắt chặt điều kiện đối với các khoản vay.
Tính các chỉ tiêu về doanh số thu nợ
Thu nợ đối với DNNQD
Tỷ trọng thu nợ cho vay = Tổng thu nợ
Bảng 2.14: Tỷ trọng thu nợ cho vay
Trong ba năm qua ngân hàng đã thực hiện rất tốt việc thu nợ. Năm 2006 tỷ trọng thu nợ là 38.7%, năm 2007 là 43.3%, năm 2008 là 44.3 %. Trong năm 2007, 2008 ngân hàng đã thực hiện tốt việc thu nợ nhất là các khoản nợ xấu, nợ khó đòi. Đó là do sự cố gắng của các cán bộ A/O trong công tác thu hồi nợ cho ngân hàng. Ngân hàng phải kiểm soát các khoản nợ xấu, nợ khó đòi thông qua việc kiểm soát các điều kiện vay vốn. Nếu làm tốt việc này không những ngân hàng sẽ mở rộng hoạt động tín dụng mà còn quản lý tốt các khoản nợ xấu, nợ khó đòi giúp cho ngân hàng hoạt động hiệu quả hơn.
Mức độ tăng trưởng thu nợ của ngân hàng là rất tích cực. Năm 2007 tăng 18604 triệu đồng, tăng 119% so với năm 2006, năm 2008 tăng 15259 triệu đồng, tăng 44.5% so với năm 2007. Năm 2007 là năm ngân hàng hoàn thành vượt chỉ tiêu đề ra. Thành công này là do sự cố gắng của nhân viên A/O doanh nghiệp trong công tác thu hồi nợ. Năm 2008 tăng chậm là do các doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn, có doanh nghiệp còn bị phá sản đã làm việc thu nợ gặp nhiều khó khăn. Đến năm 2009 ngân hàng vẫn phải đối mặt với tình trạng nợ khó đòi, nợ xấu.
3. Đánh giá hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh VP Bank Giảng Võ Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng đối với VP Bank
3.1. Một số kết quả đã đạt được đối với hoạt động cho vay của VP Bank Giảng Võ
Qua nghiên cứu, phân tích tình hình cho vay, thu nợ…đối với DNNQD
- VP Bank Giảng Võ, ta thấy VP Bank Giảng Võ đã đạt được những kết quả đáng khích lệ cụ thể như sau :
- Trong quan hệ tín dụng với các DNNQD, chi nhánh đã vừa giải quyết và cho vay nhanh chóng, kịp thời đối với các khách hàng, nhưng vẫn tôn trọng đầy đủ các nguyên tắc tín dụng. Vì vậy, “ khách hàng đến với VP Bank là đến với sự thành công và thịnh vượng”, ngân hàng luôn là người bạn đồng hành của khách hàng, cán bộ A/O luôn luôn tạo điều kiện và sẵn sàng chủ động cùng khách hàng đưa ra biện pháp tháo gỡ, giải quyết những khó khăn hiện tại để có phương án khắc phục khó khăn, tạo không khí thân thiện, gần gũi với khách hàng cùng với mục tiêu an toàn, hiệu quả, đôi bên cùng có lợi.
- Đối với khách hàng có quan hệ tín dụng với chi nhánh có uy tín và nhu cầu vay với khối lượng lớn thì ngân hàng có những chính sách ưu đãi, đặc biệt là ưu đãi về lãi suất, thời hạn khoản vay để tăng sức cạnh tranh với các TCTD khác, nhằm thu hút khách hàng.
- Ngân hàng luôn có những biện pháp để tiếp cận với các DNNQD có uy tín, làm ăn có hiệu quả nhằm giới thiệu về khả năng đáp ứng các nguồn vốn nội tệ, ngoại tệ và khả năng cung ứng các dịch vụ với các tiện ích có thể mang lại cho doanh nghiệp những lợi thế trong kinh doanh như nhập hàng thuận lợi và nhanh chóng, thủ tục đơn giản không có nhiều trở ngại, từ đó làm tăng vòng quay vốn của doanh nghiệp, tăng nhanh các khoản đầu tư cho doanh nghiệp. Thường xuyên chủ động làm tốt công tác tiếp thị trên địa bàn thủ đô, nắm bắt được yêu cầu của thị trường, nhu cầu vốn của các ngành kinh tế, các doanh nghiệp và của các TCTD khác. Trên cơ sở đó ngân hàng đã xây dựng và đưa ra các đối sách đúng đắn, kịp thời nhằm mở rộng và phát triển quan hệ tín dụng lâu dài với các DNNQD.
- Tín dụng DNNQD là đối tượng đầu tư trọng điểm của chi nhánh, các dự án vay vốn của đối tượng này có tính hiệu quả cao và an toàn vốn, đồng thời đáp ứng đủ các điều kiện vay vốn của ngành. Ngân hàng luôn chú trọng công tác thẩm định trước khi cho vay và làm tốt công tác kiểm tra sau khi cho vay, từ đó phân loại khách hàng nhằm có những chính sách phù hợp, đáp ứng hiệu quả kinh doanh. Mặt khác, thông qua hội nghị khách hàng được tổ chức thường xuyên, chi nhánh nắm bắt được các thông tin cập nhật từ các doanh nghiệp và có thể trực tiếp trao đổi các biện pháp nhằm đem lại hiệu quả cao cho cả ngân hàng và doanh nghiệp.
Trên đây là một số thành tựu mà VP Bank Giảng Võ đã đạt được trong những năm qua đối với cho vay DNNQD. Để có được kết quả đó VP Bank Giảng Võ cũng trải qua nhiều thăng trầm nhưng do những điều kiện thuận lợi và sự nỗ lực của tập thể cán bộ ngân hàng nên việc cho vay có hiệu quả cao. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng đối với VP Bank
Một số nguyên nhân chủ yếu đưa VP Bank Giảng Võ đạt được những thành quả trên:
Thứ nhất: Từ phía môi trường kinh tế, Nhà nước có những chính sách khuyến khích DNNQD phát triển, đồng thời đưa ra những cơ chế hợp lý có lợi cho các DNNQD cũng như ngân hàng. Cụ thể là quy chế đảm bảo tiền vay, quy chế cho vay. Và mới đây là chính sách hỗ trợ lãi suất 4% cho các daonh nghiệp vay ngắn hạn đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng việc kinh doanh. Những quy chế chỉ rõ sự bình đẳng trong cho vay đối mọi thành phần kinh tế. Từ đó các DNNQD đã mạnh dạn hơn khi đến ngân hàng vay vốn, cũng như các lĩnh vực đầu tư. Mặt khác, Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới nên các doanh nghiệp có cơ hội phát triển, từ đó các dịch vụ ngân hàng cũng đa dạng, phong phú để phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế.
Thứ hai: Từ phía ngân hàng đây cũng là nguyên nhân chính dẫn đến thành công của VP Bank Giảng Võ trong khi cho vay đối với DNNQD.
Trong quan hệ tín dụng với các DNNQD, ngân hàng đã đưa những quy chế cho vay rõ ràng, đồng thời giải quyết nhanh chóng, kịp thời mọi nhu cầu của khách hàng nhưng vẫn tôn trọng nguyên tắc tín dụng. Ngân hàng đặc biệt chú trọng đến việc an toàn và hiệu quả vốn tín dụng như: làm công tác thẩm định trước, trong và sau khi cho vay. Đề cao công tác kiểm tra, giám sát công tác sử dụng vốn của khách hàng do đó đã giảm được nợ quá hạn.
Ban lãnh đạo của VP Bank Giảng Võ là những người không những giỏi chuyên môn, tâm huyết với nghề, khả năng lãnh đạo tốt mà còn là những người dễ gần luôn có những động viên, khuyến khích các CBNV hoàn thành công việc, cũng như phê bình một cách thẳng thắn nhằm giúp, chỉ ra những sai lầm giúp các CBNV tiến bộ hơn. Qua đó, không những không khí làm việc tại ngân hàng luôn sôi động, mà giữa các CBNV luôn có sự thi đua cũng như giúp đỡ nhau hoàn thành tốt nhiệm vụ.
Các cán bộ trong ngân hàng nói chung và cán bộ tín dụng nói riêng, rất nhiệt tình tâm huyết với nghề nghiệp. Từ đó chất lượng phục vụ ngân hàng ngày càng tốt hơn, khách hàng đến với ngân hàng được đón tiếp nhiệt tình, lịch sự. Mặt khác hầu hết các cán bộ trong ngân hàng đều có chuyên môn, nghiệp vụ cao. Cán bộ tín dụng không ngại khó khăn vất vả luôn xuống tận địa bàn để tiếp cận với khách hàng.
Thứ ba: Nếu chỉ có sự cố gắng của ngân hàng thì chưa đủ. Một yếu tố dẫn tới thành công của ngân hàng là từ phía khách hàng. Hiện nay nhiều DNNQD làm ăn rất hiệu quả, họ tạo được chữ tín và chỗ đứng trên thị trường. Họ luôn tìm cách làm ăn có hiệu quả, tránh những mất vốn, kể cả vốn tự có và vốn vay của ngân hàng. Mặc dù năm 2008 là năm khó khăn đối với các doanh nghiệp do phải đối mặt với tình hình khủng hoảng kinh tế toàn cầu nhưng các doanh nghiệp luôn cố gắng đảm bảo khoản vay của mình để nâng cao uy tín đối với ngân hàng. Do đó ngân hàng luôn gia tăng các khoản vay cũng như các dịch vụ kèm theo. Những kết quả đạt được về cho vay đối với DNNQD của chi nhánh trong thời gian gần đây là cơ sở vững chắc khẳng định rằng, việc đẩy mạnh cho vay đối với các DNNQD là một quan điểm đúng đắn và là nhu cầu cần thiết khách quan.
Trong những năm qua mặc dù ngân hàng đã đạt được những thành tựu, kết quả kinh doanh rất tốt, hoàn thành suất xắc nhiệm vụ được giao, góp phần thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp đặc biệt là các DNNQD vào thành tựu chung của ngành ngân hàng, cũng như thành tựu của VP Bank.
3.2. Một số khó khăn của VP Bank Giảng Võ Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng đối với VP Bank
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được đã đề cập ở trên, là một chi nhánh với chỉ 5 năm hoạt động nên VPBank Giang Võ không thể tránh khỏi một số hạn chế cần khắc phục đó là:
- Quy mô của ngân hàng còn nhỏ do đó gặp nhiều khó khăn khi khách hàng xin vay vốn với hạn mức tín dụng lớn vượt quá thẩm quyền quy định vì khi đó ngân hàng phải trình VP Bank Thăng Long nên không chủ động được. Vì vậy thời gian vay vốn lâu hơn sẽ gây khó khăn không chỉ với ngân hàng mà còn khó khăn cho cả các doanh nghiệp.
- Các quyết định cho vay chưa thực sự bảo đảm tính khách quan. Trong quá trình xét duyệt và phán quyết cho vay cũng như quá trình kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay còn sao nhãng, chưa thực sự đi sâu, đi sát vào tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nên nhiều khi có dấu hiệu rủi ro, những dấu hiệu khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải chưa được phát hiện kịp thời. Hạn mức và thời hạn cho vay nhiều khoản tín dụng chưa phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp. Các thủ tục cho vay còn quá cứng nhắc, nhất là các thủ tục về cầm cố, thế chấp tài sản đảm bảo, thời gian xét duyệt cho vay còn kéo dài làm lỡ kế hoạch, cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp.
- VP Bank Giảng Võ đã chú trọng tới hoạt động cho vay DNNQD và coi đây là mục tiêu hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên các hình thức tín dụng doanh nghiệp của ngân hàng chưa phong phú, đa dạng, làm giảm tốc độ tăng trưởng số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Một mặt là do quy mô của ngân hàng còn nhỏ, vốn chưa nhiều, mặt khác là do chính sách tín dụng của chi nhánh nên ngân hàng VP Bank Giảng Võ hoạt động chưa phong phú. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng đối với VP Bank
- Về năng lực, phẩm chất cán bộ tín dụng ngân hàng có ưu điểm là trẻ, giàu nhiệt huyết và có tri thức. Tuy nhiên cán bộ tín dụng của ngân hàng nhìn chung là còn thiếu kinh nghiệm, kiến thức tổng hợp về mọi mặt còn hạn chế do vậy khi xem xét xử lý các dự án lớn, phức tạp còn lúng túng và kết quả giải quyết chưa cao.
- Cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin của ngân hàng vẫn còn nhiều bất cập. Tuy phần mềm quản lý đã đáp ứng được phần nào nhu cầu quản lý các khoản vay của ngân hàng, tuy nhiên trên thực tế vẫn còn cần nâng cấp và khắc phục hơn nữa để hoàn thiện quy trình nghiệp vụ tín dụng.
- Năm 2008 có nhiều biến động về tình hình kinh tế thế giới và nó đã ảnh hưởng đến Việt Nam, khủng hoảng kinh tế đã làm cho ngân hàng phải thu hẹp tình hình hoạt động của mình. Mặt khác do tỉ lệ lãi suất quá cao cũng là nguyên nhân dẫn đến hoạt động của ngân hàng bị đình trệ. Tuy nhiên, VP Bank Giảng Võ đã từng bước khắc phục những khó khăn đó và ngày càng khẳng định vị thế, uy tín của mình không những trong hệ thống VP Bank mà còn trên thị trường liên ngân hàng.
Một số nguyên nhân dẫn đến những khó khăn trên là:
Thứ nhất là nguyên nhân khách quan:
Xuất phát từ môi trường kinh tế vĩ mô, hành lang pháp lý cho hoạt động tín dụng chưa đầy đủ, các cơ quan chịu trách nhiệm cấp giấy tờ sở hữu tài sản, bất động sản còn chưa rõ ràng. Do đó việc thế chấp và xử lý tài sản thế chấp vay vốn ngân hàng còn gặp nhiều khó khăn, phức tạp nhiều khi bị ách tắc do giấy tờ không hợp pháp, hợp lệ. Việc thực hiện pháp lệnh kế toán, thống kê chưa nghiêm túc, đa số các số liệu quyết toán và báo cáo tài chính chưa thực hiện chế độ kiểm toán bắt buộc, nên số liệu phản ánh không trung thực tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì thế việc thẩm định khách hàng của ngân hàng gặp nhiều khó khăn hơn, mất nhiều thời gian hơn và giảm bớt tính chính chính xác.
Xuất phát điểm chung của ngành ngân hàng Việt Nam còn thấp. Do đó hoạt động của các ngân hàng chưa có tính chuyên nghiệp cao dẫn đến những hạn chế như: thủ tục vay cứng nhắc, quy trình thẩm định, xét duyệt cho vay chưa có chuẩn mực rõ ràng, danh mục sản phẩm tín dụng còn nghèo nàn….
Tình hình khủng hoảng tài chính thế giới trong năm 2008 vừa qua và tình hình kinh tế trong nước đang gặp nhiều khó khăn, lạm phát cao, thị trường chứng khoán suy giảm dẫn tới khó khăn trong việc huy động vốn và cho vay.
Thứ hai là nguyên nhân chủ quan: Quy trình tín dụng của ngân hàng còn chặt chẽ và cứng nhắc, khiến cho DNNQD gặp khó khăn khi tiếp cận với ngân hàng. Những khó khăn trong thời kỳ 1997 – 2001 đã ảnh hưởng không tốt đến thương hiệu và hình ảnh ngân hàng, làm gián đoạn thời gian VPBank để khôi phục hoạt động trong khi các ngân hàng khác vẫn tiếp tục xây dựng và phát triển. Do vậy khi doanh nghiệp đứng trước sự lựa chọn quan hệ tín dụng với rất nhiều ngân hàng có uy tín, có thể của VP Bank bị mất cơ hội.
Về quản lý tín dụng, VPBank Giảng Võ chưa có tiêu thức chuẩn mực đánh giá khách quan năng lực hoạt động kinh doanh của khách hàng cũng như hiệu quả các dự án đầu tư. Do chính sách thu hẹp hoạt động tín dụng trong giai đoạn khủng hoảng hiện nay để đảm bảo lợi nhuận cho ngân hàng cũng như thận trọng trong các khoản cho vay để tránh tình trạng các doanh nghiệp không có khả năng hoàn trả khoản nợ……. Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng đối với VP Bank
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY
===>>> Khóa luận: Giải pháp mở rộng tín dụng đối với VP bank

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Khái quát về hoạt động kinh doanh của VP Bank