Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh tế tư nhân ở VN hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Phát triển tư nhân ở Việt Nam hiện nay – Thực trạng và giải pháp dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.3. Thực trạng phát triển khu vực kinh tế tư nhân qua các thời kỳ
2.3.1. Giai đoạn trước đổi mới năm 1986
Thực tế cho thấy sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung vẫn tồn tại và phát triển và thực sự đã có những đóng góp quan trọng về hàng hóa cho sản xuất tiêu dùng trong đời sống xã hội. Bởi vì, nhu cầu các loại hàng hóa, dịch vụ xã hội rất cần mà khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể không thỏa mãn được. Bởi vậy, kinh tế tư nhân ở đây vẫn còn nhu cầu khách quan để tồn tại và phát triển cho dù trình độ sản xuất hàng hóa còn rất sơ khai và phải tự điều chỉnh về hình thức tổ chức, quy mô và phương thức hoạt động trong môi trường không được pháp luật thừa nhận. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh tế tư nhân ở VN
Hoạt động sản xuất kinh doanh của kinh tế tư nhân thời kỳ này gặp không ít khó khăn trong việc giải quyết đầu vào, đầu ra của sản xuất. Họ không được cung ứng các yếu tố sản xuất như: máy móc, thiết bị, năng lượng, nguyên liệu, nhiên liệu, vốn… từ hệ thống cung ứng của nhà nước. Để khắc phục khó khăn đó, họ phải tự điều chỉnh và hình thành cho mình một hệ thống thị trường mà lúc đó được gọi là “thị trường tự do” hay “thị trường chợ đen” đối lập với thị trường nhà nước. Đối tượng giao dịch của “thị trường tự do” là các cơ sở sản xuất kinh doanh tư nhân. Quan hệ giao dịch dựa trên cơ sở giá cả thị trường “thuận mua vừa bán”. Các luồng luân chuyển hàng hóa, tiền tệ song song tồn tại với hệ thống thị trường có tổ chức của nhà nước. Nhờ hình thành hệ thống thị trường này, mặc dù phải hoạt động trong môi trường kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu, bao cấp, không có những điều kiện cơ bản để tồn tại, nhưng kinh tế tư nhân đã vượt qua được cơn lốc của giai đoạn “cải tạo xã hội chủ nghĩa” để tồn tại, phát triển đáp ứng được một phần quan trọng sản phẩm cho nhu cầu của xã hội.
Thực tiễn trong những năm cải tạo xã hội chủ nghĩa cho thấy: sản xuất ngày càng sa sút, tổng sản phẩm xã hội trong 5 năm 1976 – 1980 gần như dậm chân tại chỗ, nhưng tỷ trọng khu vực kinh tế tư nhân trong tổng sản phẩm xã hội là tăng lên từ 38,01% (1976) lên 42,77% (1980) và trong thời kỳ đó, tỷ trọng của “thị trường tự do” trong tổng mức bán lẻ của xã hội từ 50,9% (1976) lên 60,9% (1980). Trong công nghiệp, năm 1974, kinh tế tư nhân ở miền Bắc chỉ chiếm 7% lao động, 0,3% tài sản cố định nhưng lại đóng góp 12% thu nhập quốc dân. Trong lĩnh vực sản xuất tiểu thủ công nghiệp, bán lẻ hàng hóa, kinh tế tư nhân hoạt động có hiệu quả hơn doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã. Ở miền Nam sau khi có Nghị quyết 06 (khóa IV) năm 1979, kinh tế tư nhân được nhen nhóm trở lại, đến năm 1980, thành phố Hồ Chí Minh có 1.564 xí nghiệp tư nhân với số công nhân 16.178 người. Điều đó cho thấy kinh tế tư nhân tuy là đối tượng cải tạo, phải xóa bỏ bằng nhiều biện pháp, nhưng nó vẫn có sức sống mãnh liệt.
Do sai lầm nóng vội, chủ quan, duy ý chí muốn xác lập ngay quan hệ sản xuất dưới hai hình thức toàn dân và tập thể khi lực lượng sản xuất còn ở trình độ thấp kém, thêm vào đó việc áp dụng cơ chế quản lý nền kinh tế theo mô hình tập trung quan liêu, bao cấp, cho nên kinh tế của nước ta trong thời kỳ này gặp rất nhiều khó khăn, dẫn đến khủng hoảng trầm trọng.
Tình trạng nền kinh tế khủng hoảng bộc lộ rõ nhất vào giai đoạn 1975 – 1985 khi đất nước đã thống nhất, cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội lấy phát triển kinh tế làm nhiệm vụ trọng tâm, các nguồn viện trợ từ bên ngoài không còn, đất nước lại bị bao vây, cấm vận. Những sai lầm, khuyết điểm đó đã cho chúng ta những bài học quý giá để quyết tâm đi vào công cuộc đổi mới, chuyển nền kinh tế từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Kinh Tế
2.3.2. Giai đoạn từ năm 1986 – 1999 Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh tế tư nhân ở VN
Nhìn lại quá trình hơn 20 năm phát triển của kinh tế tư nhân, có thể thấy một số điểm mốc mang tính đột phá. Đột phá thứ nhất là chuyển từ “không” thành “có”, từ sự phủ nhận sự tồn tại chuyển sang thừa nhận sự tồn tại đặc biệt quan trọng của kinh tế tư nhân. Điều đó được ghi nhận trong Nghị quyết Đại hội lần thứ VI của Đảng. Sự đổi mới tư duy có tính đột phá đó đã mở đường cho phát triển của doanh nghiệp tư nhân nói riêng, và kinh tế nhiều thành phần nói chung, ở nước ta xuất phát từ yêu cầu bức bách của đời sống xã hội thực tế vào thời điểm đó. Mốc thay đổi có tính đột phá thứ 2 xảy ra vào năm 1990 – 1991 bằng việc ban hành Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân (1990) và Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 1991 – 2000. Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty đã đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc hình thành và phát triển các doanh nghiệp tư nhân chính quy và hiện đại với các loại hình pháp lý bao gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và doanh nghiệp tư nhân. Ngoài ra, hộ kinh doanh cá thể đã được xác định rõ hơn về địa vị pháp lý và cách thức tổ chức hoạt động.
Về quyền tự do và bình đẳng trong kinh doanh, Đại hội lần thứ VII của Đảng (tháng 6 năm 1991) đã chỉ rõ: “Mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo vệ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp”, “Mọi đơn vị kinh tế, không phân biệt quan hệ sở hữu đều được hoạt động theo cơ chế tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau bình đẳng trước pháp luật”, “Kinh tế tư bản tư nhân được phát triển không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm”, “Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, không phân biệt đối xử, không tước đoạt tài sản hợp pháp, không gò ép tập thể hóa tư liệu sản xuất, không áp đặt hình thức kinh doanh, khuyến khích các hoạt động có lợi cho quốc kế dân sinh”. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh tế tư nhân ở VN
Nhờ có Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân mà khu vực kinh tế tư nhân đã có bước phát triển khá mạnh, số lượng doanh nghiệp tăng lên nhanh chóng. Nếu như năm 1991 chỉ có 414 doanh nghiệp, thì sau một năm (1992) con số đó đã trở thành 5.189 doanh nghiệp, năm 1995 là 15.276 doanh nghiệp, năm 1998 có 39.180 doanh nghiệp và đến năm 1999 tổng số doanh nghiệp khu vực tư nhân lên đến 45.601.
Bảng 1: Tốc độ tăng các loại hình doanh nghiệp tư nhân từ năm 1994 – 1998
Trong nông nghiệp, tính đến đầu năm 2000, cả nước có 11,4 triệu hộ sản xuất nông nghiệp, chiếm 87,9% số hộ sống ở nông thôn, tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Hồng 27,1% và vùng đồng bằng sông Cửu Long 23,6%. Trong đó có 37,3% số hộ đã tham gia các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và 62,7% số hộ sản xuất cá thể có tham gia các hình thức tổ kinh tế hợp tác giản đơn.
Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các ngành nghề phi nông nghiệp có 2.137.713 hộ sản xuất kinh doanh cá thể, tăng 6,02% so với năm 1996 (bình quân mỗi năm tăng 30.000 hộ), tốc độ tăng 4,47%/năm. Theo Tổng cục Thuế, số hộ kinh doanh có môn bài là 1,5 triệu hộ (trong đó có 1,2 – 1,3 triệu hộ nộp thuế thường xuyên).
Giá trị tài sản cố định trung bình của một doanh nghiệp tư nhân (doanh nghiệp 1 chủ) năm 1991 là 0,1 tỷ đồng, mức thấp nhất, sau đó tăng lên và giữ ổn định ở mức 0,2 tỷ đồng trong giai đoạn 1992 – 1996. Giá trị này của công ty trách nhiệm hữu hạn cũng tăng nhưng không đều và có năm giảm: từ 0,6 tỷ đồng năm 1991 tăng lên 0,7 tỷ đồng năm 1992 và giảm xuống 0,5 tỷ đồng năm 1996. Số lượng lao động trong doanh nghiệp tư nhân, bình quân là 8 người năm 1991, tăng lên 9 người năm 1996, 17 người năm 1997 và 19 người năm 1998.
Tốc độ tăng trưởng và phát triển của khu vực kinh tế tư nhân năm 1994 tăng 60% so với năm 1993 nhưng các năm tiếp theo giảm dần: năm 1995 là 41%, năm 1996 là 24% và năm 1997 là 32%, đạt bình quân khoảng 37% thời kỳ 1994 =– 1997.
Bảng 2: Đóng góp GDP của khu vực kinh tế tư nhân
2.3.3. Giai đoạn từ năm 2000 – nay Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh tế tư nhân ở VN
2.3.3.1. Số lượng doanh nghiệp
Sự tăng trưởng và phát triển của khu vực kinh tế tư nhân so với các khu vực kinh tế khác có thể thấy rõ qua các con số, dẫu rằng sự lớn mạnh của một thực thể đôi khi không chỉ là sự gia tăng về số lượng. Số liệu thống kê cho thấy, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tăng mạnh cả về số lượng và tỷ trọng của nó so với tổng số doanh nghiệp trong cả nước. Số doanh nghiệp nhà nước giảm dần từ 5.759 năm 2000 xuống còn 3.494 năm 2007, tức là giảm tỷ trọng từ 13,62% năm 2001 xuống còn 2,24% năm 2007. Trong khi đó, số doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng từ 35.004 năm 2000 đến 147.316 năm 2007, tức tăng tỷ trọng từ 82,78% năm 2000 lên 94,57% năm 2007. Xu hướng này sẽ còn rõ nét hơn nếu tính cả bộ phận doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Bảng 3: Số doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh tại thời điểm 31/12 hàng năm phân theo loại hình doanh nghiệp
Sau 10 năm thực hiện Luật Doanh nghiệp, đến hết năm 2009, số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh đã đạt con số 460.000 doanh nghiệp. Nếu chỉ tính về số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh thì khu vực này đã tăng tới 15 lần chỉ trong 9 năm (năm 2000 chỉ có khoảng 31.000 doanh nghiệp). Đây là một tốc độ tăng trưởng hết sức ấn tượng, thể hiện sức sống mãnh liệt trong tinh thần kinh doanh của người Việt cũng như những tác động lớn của cải cách về môi trường kinh doanh ở Việt Nam.
Tỷ lệ doanh nghiệp đang hoạt động đạt khoảng 50%. Con số thống kê mới nhất từ Tổng Điều tra doanh nghiệp năm 2009, tính đến thời điểm 31/12/2008 cả nước có 178.852 doanh nghiệp dân doanh đang hoạt động, đạt xấp xỉ 50%. Còn theo số liệu của Tổng Cục thuế thì tính đến hết tháng 3/2009, cả nước có 272.680 doanh nghiệp, đạt 73%. Nếu so với mức trung bình trên thế giới, tỷ lệ đó là hoàn toàn bình thường và không thể được coi là một chỉ số phản ánh chất lượng thấp của các doanh nghiệp được đăng ký.
Việt Nam nổi bật nhất vẫn là các hộ kinh doanh cá thể và hình thức này đang ngày càng tăng nhanh qua các thời kỳ. Từ năm 2000 đến năm 2006 có khoảng 800.000 hộ kinh doanh cá thể, tính chung trong cả nước lên khoảng hơn 2,5 triệu hộ. Trong số hộ kinh doanh cá thể thì số hộ kinh doanh thương mại, dịch vụ chiếm 51,89%, số hộ sản xuất công nghiệp chiếm 31,21%, giao thông vận tải chiếm 11,63%, xây dựng 0,81%, các hoạt động khác chiếm 5,46%. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh tế tư nhân ở VN
Trong những năm gần đây, Nhà nước ta với các chính sách hỗ trợ nông nghiệp đang ngày càng trở thành một chỗ dựa vững chắc để các hộ kinh doanh nông nghiệp yên tâm đầu tư vào sản xuất – kinh doanh. Các hộ kinh doanh cá thể ngày càng phát triển và mở rộng quy mô đã nảy sinh một mô hình mới, mô hình trang trại. Có thể nói, đây là một mô hình mới của kinh tế tư nhân trong nông nghiệp. Hiện nay, các trang trại hoạt động trên rất nhiều kĩnh vực như nông, lâm, ngư nghiệp và đã có bước phát triển nhanh. Theo số liệu thống kê của 45 tỉnh, thành phố cho biết, tính đến cuối năm 2007 cả nước có 116.062 trang trại, bình quân đạt 2.580 trang trại/ tỉnh, nếu so sánh với con số 55.852 trang trại của năm 2000 thì mỗi năm có khoảng 8.600 trang trại mới, đạt mức tăng trưởng 20%/năm. Trong các vùng kinh tế thì vùng đồng bằng sông Cửu Long có số lượng trang trại nhiều nhất, chiếm tỷ lệ trên 50% tổng trang trại trong cả nước. Năm 2007, tổng vốn đầu tư của kinh tế trang trại đạt 14.803 tỷ đồng (không kể giá trị đất), trong đó vốn chủ trang trại chiếm khoảng 60%. Hầu hết các chủ trang trại đều trực tiếp lao động và quản lý trang trại, đồng thời thuê thêm lao động thường xuyên hoặc thời vụ. Năm 2007, các chủ trang trại đã sử dụng hơn 500.000 lao động, bình quân đạt 5 lao động/ trang trại, trong đó đến 56% lao động thuê ở thị trường tự do, đem lại mức thu nhập trung bình từ 500-700 nghìn/lao động/tháng. Thực tế đã chứng minh sự ra đời của các trang trại đã làm cho kinh tế tư nhân trong lĩnh vực nông nghiệp ngày càng phát triển mạnh mẽ, góp phần rất lớn vào giải quyết việc làm cho người lao động và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn.
Như vậy, nếu đánh giá một cách tổng thể thì chúng ta đều thấy sự khởi sắc trong việc tăng trưởng đăng ký kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân, kể từ sau khi Luật Doanh nghiệp 1999 có hiệu lực thi hành. Chỉ trong vòng 10 năm, số lượng doanh nghiệp thành lập mới đã tăng gấp 8,5 lần so với tổng số doanh nghiệp được thành lập trong 10 năm thực hiện Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp (từ 1991-1999). Điều đặc biệt là số lượng doanh nghiệp đăng ký kinh doanh mới luôn có xu hướng năm sau cao hơn năm trước, kể cả trong hai năm khó khăn, khủng hoảng kinh tế toàn cầu thì số lượng doanh nghiệp đăng ký kinh doanh mới cũng không hề suy giảm, trong hai năm 2008-2009, ước tính vẫn có tổng cộng gần 150 ngàn doanh nghiệp đăng ký mới. Nếu so sánh với các loại hình doanh nghiệp khác thì khu vực doanh nghiệp tư nhân có số lượng tăng ấn tượng nhất. Chẳng hạn: trong dữ liệu của Tổng cục Thống kê, sau 9 năm thì số lượng doanh nghiệp dân doanh đã tăng gấp 5,63 lần (tổng số doanh nghiệp cả nước tăng 4,76 lần, khối các doanh nghiệp FDI tăng 3,69 lần, doanh nghiệp nhà nước giảm 1,69 lần). Có thể nói rằng, chính các doanh nghiệp tư nhân đã tạo nên sự tăng trưởng chính về mặt số lượng cho các doanh nghiệp Việt Nam. Cho tới nay, Việt Nam đã đạt được tỷ lệ 5 doanh nghiệp/1.000 dân và đang tiệp cận dần tới mức trung bình là 9-10 doanh nghiệp/1.000 dân của nhiều nước khác trong khu vực.
2.3.3.2. Quy mô vốn
Luật Doanh nghiệp được thực thi đã khuyến khích được sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân không chỉ về số lượng doanh nghiệp mà còn về số vốn huy động từ trong dân cư cho đầu tư phát triển sản xuất – kinh doanh của khu vực này.
Bảng 4: Tổng vốn đăng ký và vốn đăng ký bình quân của doanh nghiệp
Vốn đăng ký mới ở hầu hết các tỉnh, thành phố trong cả nước trong giai đoạn này đều cao hơn số vốn đăng ký thời kỳ 1991 – 1999. Trong đó có 33 tỉnh, thành phố đạt tốc độ tăng cao gấp hơn 4 lần, có 11 tỉnh đạt tốc độ tăng cao hơn 10 lần. Đặc biệt một số tỉnh như Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Hưng Yên… đạt tốc độ tăng gấp hơn 20 lần. Ở Hà nội, giai đoạn từ năm 2000 đến nay có 40.000 doanh nghiệp tư nhân đăng ký thành lập với số vốn xấp xỉ là 100.000 tỷ đồng. Trong giai đoạn 2000 – 2007 tổng vốn đầu tư xã hội trên địa bàn Hà Nội là 143.268,1 tỷ đồng, trong đó đầu tư của khu vực tư nhân là 35.817 tỷ đồng, chiếm 25%. Tại thành phố Hồ Chí Minh, đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân trong tổng vốn đầu tư xã hội cũng tăng từ 14,2% năm 2000 lên 26,5% vào năm 2007.
Bảng 5: Vốn sản xuất kinh doanh bình quân hàng năm của các doanh nghiệp phân theo địa phương
Quy mô vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp tư nhân đã tăng 17 lần, từ khoảng 38.700 tỷ đồng năm 2000 lên 657.000 tỷ đồng vào năm 2008. Tính trung bình, vốn chủ sở hữu bình quân một doanh nghiệp dân doanh hiện nay đạt 5,2 tỷ đồng so với 1,2 tỷ đồng của năm 2000. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh tế tư nhân ở VN
Tốc độ tăng vốn của từng loại hình doanh nghiệp trong khu vực kinh tế tư nhân diễn ra mạnh mẽ, đã làm thay đổi tỷ trọng vốn của khu vực kinh tế tư nhân trong tổng số vốn xã hội. Tỷ trọng đầu tư của doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nhà nước trong tổng đầu tư toàn xã hội tương ứng là 20% và 18,5% năm 2000, đến năm 2007 thì tỷ trọng này là 32,67% và 25%. Như vậy, tỷ trọng đầu tư của doanh nghiệp tư nhân trong nước liên tục tăng đã vượt lên hơn hẳn tỷ trọng đầu tư của doanh nghiệp nhà nước.
Tuy nhiên, tốc độ tăng vốn trong khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế nhà nước vẫn có sự khác biệt. Điều này thể hiện rõ qua hai giai đoạn. Giai đoạn 1 từ năm 2000 tới năm 2003, đây là giai đoạn mà vốn đầu tư vẫn tập trung vào khu vực Nhà nước, khu vực ngoài quốc doanh chiếm tỷ lệ nhỏ. Năm 2000 vốn của khu vực nhà nước là 89.417 tỷ đồng, chiếm 59,1%, đến năm 2003 vốn thuộc khu vực kinh tế nhà nước vẫn là 126.558 tỷ đồng, chiếm 52,9%. Cả khu vực ngoài quốc doanh và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 112.688 tỷ đồng, cũng mới chỉ chiếm 47,1% tính đến năm 2003. Giai đoạn 2004 – 2007 đánh dấu bước phát triển về quy mô vốn đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân trong tổng vốn đầu tư. Năm 2004 vốn thuộc khu vực nhà nước là 1390831 tỷ đồng, chiếm 48,1% con số này năm 2007 là 208.100 tỷ, tương đương 39, 9%. Với khu vực kinh tế tư nhân và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài thì con số này lần lượt là 51,9% năm 2004 và 60,1% năm 2007.
Có một thực tế khá rõ nét là đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ diễn ra ở khoảng 15 tỉnh, thành phố lớn, có đặc thù riêng như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng… Trong khi đó, đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân được thực hiện và có xu hướng tăng nhanh trên tất cả các tỉnh, thành trên cả nước. Đầu tư của khu vực tư nhân trong nước cũng tăng nhanh hơn khu vực vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ngay ở các địa phương vốn tập trung chủ yếu từ đầu tư trực tiếp nước ngoài. Thực tế cũng cho thấy, thu hút vốn đầu tư tư nhân trong nước dễ được thực hiện và có tính khả thi cao hơn thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Vốn đầu tư của các doanh nghiệp dân doanh đã và đang đóng vai trò quan trọng, thậm chí là nguồn vốn đầu tư chủ yếu đối với phát triển kinh tế địa phương. Ví dụ, đầu tư của các doanh nghiệp dân doanh năm 2006 ở thành phố Hồ Chí Minh chiếm 48% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, cao hơn tỷ trọng vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà nước và ngân sách nhà nước gộp lại (42%).
Thông qua hoạt động của khu vực kinh tế tư nhân, nguồn vốn trong dân đã dần dần được sử dụng hiệu quả, thúc đẩy quy mô đầu tư của nền kinh tế. Năm 2000, tổng vốn đầu tư vào khu vực tư nhân là 31.542 tỷ đồng, chiếm 24,03% tổng vốn đầu tư xã hội, nhưng kết quả đóng góp của khu vực tư nhân vào GDP đạt 81.455 tỷ đồng, chiếm 31,7% GDP toàn quốc. Đến năm 2007, tổng vốn đầu tư vào khu vực tư nhân là 184.000 tỷ đồng, chiếm hơn 34,4% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Như vậy, trong giai đoạn 2000 – 2007, tỷ trọng vốn đầu tư vào khu vực tư nhân trong tổng vốn đầu tư xã hội liên tục tăng qua các năm và đóng góp nhiều hơn vào GDP toàn quốc, điều đó chứng tỏ kinh tế tư nhân ngày càng sử dụng vốn hiệu quả hơn.
2.3.3.3. Cơ cấu theo ngành, địa bàn Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh tế tư nhân ở VN
Không những lớn mạnh về số lượng và quy mô vốn, các doanh nghiệp còn có xu hướng đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh bằng việc đăng ký kinh doanh nhiều loại ngành nghề kinh doanh khác nhau.
Bảng 6: Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế phân theo thành phần kinh tế
Khu vực kinh tế tư nhân đặc biệt đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của lĩnh vực công nghiệp trên cả nước. Năm 2000, giá trị sản lượng công nghiệp của khu vực kinh tế tư nhân là 82.499,1 tỷ đồng, tương đương 24,5%.
Năm 2007 con số này là 519.622 tỷ đồng, tương đương 35,4%.
Bảng 7: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế
Đặc điểm nổi bật là quy mô vốn của các doanh nghiệp tư nhân thường rất nhỏ. Vì vậy, lĩnh vực thương mại và dịch vụ vốn đòi hỏi vốn đầu tư rất ít, hơn thế nữa lợi nhuận thường rất cao nên đã thu hút một lượng lớn các doanh nghiệp tư nhân tham gia. Trong những năm gần đây, số lượng doanh nghiệp tham gia lĩnh vực này ngày càng tăng. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng của cả nước. Số lượng thống kê cho thấy, nếu năm 2000 tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh mới đạt 177.743,9 tỷ đồng, chiếm 69,9% tổng mức bán lẻ hoàng hóa và dịch vụ tiêu dùng của toàn xã hội thì con số này năm 2008 đã là 853.809,7 tỷ đồng, chiếm 86,8%. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh tế tư nhân ở VN
Vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong việc cung ứng hàng hóa và doanh thu dịch vụ cho nền kinh tế ngày càng to lớn. Điều này cũng thể hiện thế mạnh của khu vực tư nhân trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ. Tuy nhiên, lĩnh vực dịch vụ thì phát triển mạnh ở những nơi tập trung đông dân cư nên đã dẫn tới sự mất cân bằng giữa các vùng trong quá trình phát triển.
Bảng 8: Số doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh hàng năm phân theo vùng kinh tế
Theo bảng số liệu trên, số lượng doanh nghiệp tập trung chủ yếu tại ba khu vực đó là đồng bằng sông Hồng (28,06%); Đông Nam Bộ (36,61%) và đồng bằng sông Cửu Long (11,33%). Đó là nơi tập trung của những thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Bình Dương… ở đó có môi trường kinh doanh thuận lợi.
Tốc độ tăng các doanh nghiệp tư nhân ở các địa phương rất khác nhau. Tại 18 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và miền Nam Trung Bộ, số doanh nghiệp đăng ký trong thời kỳ 2000 – 2005 thấp hơn nhiều so với thời kỳ 1991 – 1999, chẳng hạn, Trà Vinh bằng 21% so với thời kỳ 1991 – 1999, Bến Tre, Đồng Tháp bằng 36%, Kiên Giang bằng 41%. Trong khi đó, ở các tỉnh phía Bắc, đặc biệt các tỉnh miền núi phía Bắc như Hải Dương, Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Bắc Cạn, Lai Châu… số doanh nghiệp đăng ký tăng gấp 4 – 8 lần so với thời kỳ 1991 – 1999.
Trong số các doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm tỷ trọng lớn nhất: doanh nghiệp tư nhân chiếm 55,76%, công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm 33,68%, công ty cổ phần chiếm 2,55%, công ty hợp danh chiếm 0,01%.
Thành phố Hồ Chí Minh dẫn đầu cả nước về số doanh nghiệp đăng ký kinh doanh. Trong giai đoạn 2000 – 2006, thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thành lập gần 65.000 doanh nghiệp tư nhân với tổng số vốn đăng ký hơn 169.000 tỷ đồng và gần 100.000 chi nhánh, văn phòng đại diện. Thành phố Hà Nội cũng được coi là một trong những địa phương có số lượng doanh nghiệp đăng ký kinh doanh nhiều nhất. Nếu như giai đoạn 1992 – 1999 thực hiện Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty trên địa bàn Hà nội có khoảng 4.449 doanh nghiệp ra đời, thì trong 6 năm thực hiện Luật Doanh nghiệp, Hà Nội có thêm gần 40.000 doanh nghiệp đăng ký mới. Cũng trong thời gian này, có hơn 20.000 lượt doanh nghiệp đăng ký sửa đổi nội dung đăng ký kinh doanh, trong đó có 7.163 lượt doanh nghiệp đăng ký tăng vốn với tổng vốn đăng ký 26.400 tỷ đồng.
2.4. Đánh giá về sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh tế tư nhân ở VN
2.4.1. Thành tựu
2.4.1.1. Đóng góp vào GDP ngày càng lớn
Năm 2000, GDP cả nước là 441.646 tỷ đồng, trong đó khu vực kinh tế tư nhân (tính cả khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài) đóng góp 271.505 tỷ đồng, tương đương 61,48%, năm 2003 con số này đạt 605.586 tỷ đồng. Như vậy, đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP toàn quốc ngày càng đáng kể. Năm 2007 GDP cả nước là 1.477.717 tỷ đồng, trong đó khu vực ngoài quốc doanh đóng góp 970.097 tỷ đồng, tương đương 65,64%.
Bảng 9: Tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế phân theo thành phần kinh tế
Điều này thể hiện sự lớn mạnh của khu vực tư nhân trong hầu hết các lĩnh vực và ngày càng đóng góp vị trí quan trọng trong GDP cả nước. Trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam, rõ ràng không thể thiếu vai trò của khu vực kinh tế tư nhân.
Các ngành phi nông nghiệp năm 2007 đóng góp vào GDP được 119.337 tỷ đồng, chiếm 63,6% của khu vực tư nhân. Trong đó, hộ kinh doanh cá thể có tỷ lệ lớn hơn nhiều so với doanh nghiệp; lĩnh vực kinh doanh thương mại, dịch vụ có tỷ lệ lớn hơn nhiều so với sản xuất công nghiệp. Trong những năm gần đây, GDP của các ngành phi nông nghiệp tăng trưởng liên tục, xấp xỉ tốc độ tăng trưởng GDP toàn quốc. Năm 2007, GDP khu vực phi nông nghiệp của kinh tế tư nhân đạt 86.929 tỷ đồng, tăng 28,94% so với năm 2000, bình quân tăng hơn 7%/năm. Năm 2007, kinh tế tư nhân trong các ngành phi nông nghiệp chiếm 29,87% GDP toàn quốc (trong đó, tỷ trọng của hộ kinh doanh cá thể là 73,4%, chiếm 19,72% GDP toàn quốc; doanh nghiệp là 26,6% chiếm 7,15% GDP toàn quốc; lĩnh vực nông nghiệp là 20,22%; xây dựng là 9,36%; giao thông vận tải là 3,32%; thương mại, dịch vụ 33,34%; các hoạt động khác là 33,49%).
2.4.1.2. Tạo nguồn bổ sung vào ngân sách nhà nước Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh tế tư nhân ở VN
Giai đoạn 2000 – 2006, đóng góp của các doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp vào ngân sách Trung ương nhìn chung vẫn còn nhỏ nhưng đang có xu hướng tăng dần qua các năm. Nếu năm 2000, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong nước đóng góp 6,39% thu ngân sách nhà nước thì năm 2006 con số này là 7,9% (nếu tính cả các doanh nghiệp có vồn đầu tư nước ngoài thì con số này là 11,61% năm 2000 và năm 2006 là 17,15%) trong khi phần của doanh nghiệp nhà nước giảm từ 21,7% xuống còn 16,58% trong cùng thời kỳ.
Giai đoạn từ năm 2000, doanh thu từ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tư nhân ngày càng tăng. Tỷ trọng doanh thu từ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tư nhân trong tổng doanh thu của toàn bộ nền kinh tế ngày càng lớn, từ 29,02% năm 2001 đến 47,26% năm 2007. Điều này đã tạo khả năng đóng góp của khu vực kinh tế này vào ngân sách nhà nước.
Bảng 10: Doanh thu thuần của doanh nghiệp phân theo loại hình doanh nghiệp
Đóng góp của doanh nghiệp tư nhân vào ngân sách Trung ương vẫn còn nhỏ nhưng đang có xu hướng tăng lên. Thu từ thuế công thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh năm 2006 đạt 103,6% kế hoạch và tăng 13% so với năm 2005. So với ngân sách Trung ương thì đóng góp của các doanh nghiệp dân doanh trong nguồn thu của ngân sách địa phương lớn hơn nhiều. Ví dụ, ở thành phố Hồ Chí Minh đóng góp của doanh nghiệp dân doanh trong tổng thu ngân sách địa phương là khoảng 15%, Tiền Giang 24%, Đồng Tháp 16%, Gia Lai 22%, Ninh Bình 19%, Yên Bái 16%, Thái Nguyên 17%, Quảng Nam 22%, Bình Định 33% …
Ngoài đóng góp trực tiếp vào ngân sách, một phần không nhỏ các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp còn tích cực tham gia và có đóng góp đáng kể vào xây dựng các công trình văn hóa, trường học, đường giao thông nông thôn, nhà tình nghĩa và những đóng góp phúc lợi xã hội khác ở tất cả các địa phương trong cả nước.
Sự lớn mạnh của khu vực kinh tế tư nhân góp phần làm tăng hiệu quả của công tác thu thuế. Trước kia, khi nền kinh tế chỉ tồn tại các xí nghiệp quốc doanh, hiệu quả của các công tác thu thuế thấp, do nhà nước đã bao cấp toàn bộ đầu vào và đầu ra cho các xí nghiệp này. Khi chuyển sang cơ chế thị trường, khu vực kinh tế tư nhân đã phát triển mạnh trong nhiều lĩnh vực. Thêm vào đó, nhà nước không còn bao cấp cho các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp này phải bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác. Vì vậy, hiệu quả của công tác thu thuế được nâng lên đáng kể.
2.4.1.3. Tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh tế tư nhân ở VN
Việt Nam, hàng năm có thêm khoảng 1,2 – 1,4 triệu người đến tuổi lao động, ngoài ra số lao động nông nghiệp có nhu cầu chuyển sang làm việc trong các ngành phi nông nghiệp cũng tăng đáng kể. Yêu cầu mỗi năm phải tạo thêm hàng triệu việc làm đang là một áp lực xã hội lớn đối với nhà nước và các cấp chính quyền địa phương. Việc tạo thêm công ăn việc làm rõ ràng không chỉ giải quyết vấn đề xã hội, mà còn giải quyết vấn đề cơ bản của phát triển kinh tế hiện nay ở nước ta. Sự tăng lên nhanh chóng số lượng doanh nghiệp tư nhân cùng với các loại hình doanh nghiệp khác nhau, trên khắp các lĩnh vực đã tạo khả năng thu hút một lực lượng lớn lao động trong xã hội. Các hộ kinh doanh cá thể, các doanh nghiệp mới được thành lập và sự mở rộng quy mô, cũng như địa bàn kinh doanh của các doanh nghiệp hiện có đã, đang và sẽ thực sự là nguồn cung to lớn về chỗ làm việc mới cho lao động xã hội.
Năm 2000, khu vực kinh tế nhà nước thu hút được 2.088.531 lao động trong tổng số 3.536.998 lao động cả nước, chiếm 59,05%. Khu vực tư nhân trong nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thu hút 1.448.467 lao động, chiếm 40,95%. Năm 2007, khu vực kinh tế nhà nước thu hút được 1.763.117 lao động trong tổng số 7.382.160 lao động cả nước, chiếm 23,88%. Khu vực tư nhân trong nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thu hút 5.619.043 lao động, chiếm 76,12%.
Bảng 11: Tổng số lao động trong các doanh nghiệp hàng năm phân theo loại hình doanh nghiệp
Trong giai đoạn 2003 – 2007 đã có khoảng 700 – 750 nghìn chỗ làm việc mới được tạo ra nhờ doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng mới đăng ký tăng vốn, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, do đó tăng thêm việc làm mới khoảng 1,2 – 1,4 triệu lao động. Năm 2007, số lao động trong lĩnh vực nông nghiệp khoảng 1.345.790 lao động, trong đó, lao động trong các doanh nghiệp khoảng 1.257.144 lao động, hộ sản xuất kinh doanh cá thể khoảng 88.464 lao động.
Bên cạnh việc tạo công ăn việc làm cho người lao động, một đóng góp mang ý nghĩa không nhỏ cho các cơ sở dân doanh là đào tạo và bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho người lao động làm việc trong các doanh nghiệp. Một thực tế là, phần lớn lao động đến làm việc trong các doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp trong thời gian qua đều là lao động đơn giản hơn. Họ xuất thân từ nông thôn, trình độ văn hóa thấp, chưa quen với lối sống và làm việc theo tác phong công nghiệp. Vì vậy, không ít chủ các doanh nghiệp tư nhân phải thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng, đào tạo tay nghề cho người lao động, hướng họ về nếp sống mới, thay đổi thói quen tập quán của người nông dân, rèn cho họ tính kỷ luật trong lao động công nghiệp… Nhiều cơ sở đã tổ chức xưởng học việc, tổ chức cho người có tay nghề cao hơn kèm cặp và hướng dẫn người mới vào việc, hoặc gửi lao động đến các trung tâm hay trường dạy nghề… Hình thức đào tạo ở đây rất đa dạng, linh hoạt và mang lại hiệu quả cao.
2.4.1.4. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh tế tư nhân ở VN
Tỷ trọng tham gia của khu vực kinh tế tư nhân vào các lĩnh vực của nền kinh tế có sự thay đổi đáng kể qua các giai đoạn. Tỷ trọng khu vực kinh tế tư nhân trong ngành sản xuất công nghiệp giảm nhanh từ 35% giai đoạn từ 1991 – 1996 còn 15% giai đoạn 1998 – 2000 và 10% trong giai đoạn 2001 – 2007, trong ngành thương mại tăng nhanh từ 39% lên 54% và 59,4%. Chính sự thay đổi này của khu vực tư nhân đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả nước, đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ. Năm 2000, tỷ trọng dịch vụ trong cơ cấu kinh tế nước ta là 38,6% tăng lên 44,1% năm 2005 và sau đó năm 2007 là 49,1%. Như vậy, với sự đóng góp của khu vực tư nhân đã thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng dần tỷ trọng các ngành thương mại và dịch vụ.
Trình độ sản xuất kinh doanh của kinh tế tư nhân ngày càng tiến bộ, số lượng hàng hóa thay thế, hàng hóa nhập khẩu tăng lên. Chất lượng nhiều mặt hàng tăng đã góp phần đẩy lùi sự xâm nhập của hàng ngoại. Bên cạnh việc thực hiện sản xuất đồng bộ sản phẩm hàng hóa xuất khẩu, khu vực kinh tế tư nhân còn tham gia nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất sản phẩm xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu trực tiếp của khu vực phi nông nghiệp trong kinh tế tư nhân đến nay đã tăng khá nhanh, năm 2007 nhập khẩu đạt 7,336 tỷ USD, xuất khẩu đạt 6,851 tỷ USD.
Có một số doanh nghiệp dân doanh đã được xếp vào hạng 10 doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu cao nhất cả nước theo ngành hàng như công ty trách nhiệm hữu hạn Kim Anh (Sóc Trăng) có kim ngạch xuất khẩu hơn 100 triệu USD, đứng đầu cả nước.
Một số sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của nước ta hiện nay như hàng thủy sản, các sản phẩm nông nghiệp, thủ công mỹ nghệ… đều do khu vực kinh tế tư nhân sản xuất. Khu vực kinh tế tư nhân trong nước còn chiếm tỷ trọng đáng kể trong xuất khẩu hàng may mặc, đồ da… Tuy vậy, theo Báo cáo của các Sở Kế hoạch và Đầu tư, tỷ trọng của các doanh nghiệp dân doanh trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước cũng như của từng địa phương vẫn còn nhỏ và sự khác nhau giữa các vùng và các tỉnh còn khá lớn. Doanh nghiệp dân doanh ở các tỉnh phía Nam đóng góp nhiều hơn vào kim ngạch xuất khẩu ở địa phương, so với các doanh nghiệp tư nhân ở các tỉnh phía Bắc. Ở Hà Nội, các doanh nghiệp dân doanh chỉ chiếm 25% tổng kim ngạch xuất khẩu của địa phương và khoảng trên 7% toàn bộ xuất khẩu trên địa bàn. Tỷ lệ tương ứng với thành phố Hồ Chí Minh là 12,5%. Nhìn chung, tỷ lệ này ở các địa phương là dưới 10%. Tuy nhiên, cũng có một số cá biệt như Hà Giang chiếm 60% xuất khẩu của địa phương, Quảng Ngãi 34%, Bình Thuận 45%…
Trong số 474 doanh nghiệp hoạt động chủ yếu trong các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động, thì có tới 3/4 sản lượng sản xuất ra được xuất khẩu, trong đó hàng dệt may và giày da chiếm tỷ lệ xuất khẩu cao nhất 80,5% và 80%. Đây là hai ngành công nghiệp khá quan trong của nước ta có kim ngạch xuất khẩu lớn. Điều này thể hiện sự đóng góp to lớn của khu vực tư nhân vào xuất khẩu.
2.4.1.5. Tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh
Trước thời kỳ đổi mới, nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, thị trường hoạt động rất đơn điệu và chỉ mang tính hình thức. Yếu tố cạnh tranh gần như không tồn tại, do các doanh nghiệp không phải cạnh tranh với nhau để mua các yếu tố sản xuất và bán sản phẩm. Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đều do nhà nước chi phối. Quan hệ cung cầu, giá cả cũng mang tính mệnh lệnh chỉ huy, các thị trường không được thừa nhận.
Trong quá trình đổi mới nền kinh tế, quan hệ hàng hóa tiền tệ mới thực sự hình thành và phát triển. Các doanh nghiệp được tự do cạnh tranh trên thị trường, các loại thị trường dần dần được thừa nhận và mở rộng. Nhìn chung, thị trường hàng hóa và dịch vụ phát triển khá mạnh, ngày càng phong phú và đa dạng. Hàng hóa trên thị trường được tự do lưu thông đã có tác dụng tích cực trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển. Thị trường các yếu tố sản xuất như thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường công nghệ… dần dần được hình thành. Thị trường nước ngoài được mở rộng, các quan hệ thị trường từng bước được xác lập. Nguyên tắc tự do cạnh tranh về cơ bản được áp dụng, tín hiệu giá cả do cung cầu quy định. Những khó khăn do cơ chế kế hoạch hóa tập trung đã dần được tháo gỡ, tạo tiền đề để thị trường ngày càng được mở rộng. Chính sự ra đời của khu vực kinh tế tư nhân sau đổi mới đã tạo điều kiện cho việc hình thành và phát triển các loại thị trường trong nền kinh tế. Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau trên cả thị trường đầu vào và đầu ra. Với sự lớn mạnh của khu vực kinh tế tư nhân cùng với các thành phần kinh tế khác, hàng hóa tiêu dùng được tự do lưu thông trong nước, cung cầu giá cả hàng tiêu dùng được xác lập theo nguyên tắc của thị trường. Những chính sách có tính chất “ngăn sông, cấm chợ” đối với khu vực kinh tế tư nhân được xóa bỏ hoàn toàn. Thị trường hàng hóa, đặc biệt là ở các thành phố lớn ngày càng phát triển, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng.
Nhằm hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thị trường tài chính cũng bước đầu được hình thành. Hoạt động của ngân hàng góp phần cung cấp vốn cho các doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất. Như vậy, sự lớn mạnh của khu vực kinh tế tư nhân đã kích thích việc ra đời và phát triển các loại thị trường. Nền kinh tế thị trường bước đầu được xác lập đã trở thành môi trường tốt cho kinh tế tư nhân ở Việt Nam vận động và phát triển.
2.4.2. Hạn chế Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh tế tư nhân ở VN
2.4.2.1. Về nguồn vốn
Sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam trong thời gian qua đã góp phần sử dụng tốt hơn nguồn vốn đầu tư xã hội. Tuy nhiên, với tiềm năng phát triển của khu vực kinh tế này thì vốn là một vấn đề đang đặt ra cho kinh tế tư nhân.
Như đã phân tích ở trên, hầu hết các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân đều có quy mô vừa và nhỏ. Năm 2007, bình quân vốn sử dụng vào sản xuất – kinh doanh của một hộ phi nông nghiệp là 35 triệu đồng, một trang trại là 150 triệu đồng, vốn đầu tư phát triển của một hộ nông nghiệp khoảng 2,4 triệu đồng, một doanh nghiệp phi nông nghiệp là 5,7 tỷ đồng. Hầu hết các hộ kinh doanh cá thể đều có quy mô nhỏ, vốn ít, sử dụng lao động gia đình là chính. Trong các hộ kinh doanh phi nông nghiệp, trung bình mỗi hộ có 2,78 lao động, bình quân vốn sử dụng vào sản xuất – kinh doanh của mỗi hộ là 35 triệu đồng. Số hộ kinh doanh phi nông nghiệp sử dụng 1 – 10 lao động chiếm tỷ trọng lớn 98,7%. Số hộ sử dụn 10 – 15 lao động là 1,2%. Những hộ sử dụng nhiều lao động hơn, từ 51 – 100 lao động chỉ chiếm 0,1%. Các trang trại thường có quy mô lớn hơn, tuy nhiên vẫn nhỏ, trung bình mỗi trang trại sử dụng 6,5 lao động. Trong đó, một nửa là sử dụng lao động gia đình.
Các doanh nghiệp của khu vực tư nhân trong thời gian qua tăng lên nhanh chóng, các doanh nghiệp có quy mô nhỏ chiếm tỷ trọng 97,71%. Các doanh nghiệp của khu vực tư nhân chiếm số lượng và có tỷ trọng lớn đối với loại doanh nghiệp có quy mô nhỏ từ 300 đến dưới 500 lao động. Đối với loại doanh nghiệp có quy mô lao động lớn hơn thì doanh nghiệp tư nhân chiếm vị trí khiêm tốn dần, đặc biệt là loại doanh nghiệp có sử dụng từ 5000 lao động trở lên (11/81 doanh nghiệp, chiếm tỷ trọng 13,59%). Tình trạng vốn nhỏ, thiếu vốn đã làm cho các doanh nghiệp tư nhân gặp khó khăn trong việc quay vòng vốn để đầu tư cho sản xuất – kinh doanh.
Quy mô vừa và nhỏ không đem lại cho doanh nghiệp những ưu thế nhất định. Chính nó tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực kinh tế tư nhân trong việc dễ dàng thích ứng với sự thay đổi của thị trường… Tuy nhiên, vốn ít lại trở thành rào cản cho chính doanh nghiệp khi mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ. Quy mô nhỏ của doanh nghiệp thực sự là một điểm yếu của các doanh nghiệp Việt Nam, vì doanh nghiệp nhỏ ở Việt Nam rất khó tiếp cận được các nguồn vốn vay từ các ngân hàng thương mại. Tuy vậy, với tính năng động vốn có, khu vực kinh tế tư nhân có thể dễ dàng tiếp cận với thị trường tín dụng không chính thức, nơi diễn ra các hoạt động tín dụng nằm ngoài khuôn khổ pháp luật, hoặc không chịu sự quản lý, giám sát của chính quyền các cấp. Trên thực tế, thị trường không chính thức đã trở thành nguồn huy động vốn chủ yếu của doanh nghiệp. Theo kết quả điều tra, tỷ trọng vốn huy động từ thị trường tín dụng không chính thức của công ty cố phần là 43%, công ty trách nhiệm hữu hạn là 37%, doanh nghiệp tư nhân 29%, hộ kinh doanh 29%. Tuy nhiên, chi phí cho những khoản vay này rất lớn, lãi suất của thị trường này do cung cầu điều tiết, thường cao hơn lãi suất của ngân hàng 2,3 lần, thậm chí lên tới 6 lần. Lãi suất đi vay của thị trường không chính thức rất cao đẩy chi phí đầu vào và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp tăng lên, làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, đồng thời làm cho hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp giảm xuống. Điều này thực sự gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nói chung.
Trong tiến trình phát triển chung, với sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ có lợi thế trên thương trường so với các tập đoàn và các công ty quy mô lớn. Đặc biệt là trong các thời điểm chuyển đổi công nghệ hoặc đối phó với khủng hoảng kinh tế. Tuy nhiên, để có thể tồn tại và không bị sức ép, khống chế dưới áp lực của các công cụ tài chính và các dòng lưu chuyển tư bản hiện đại, các doanh nghiệp phải cập nhật các thành tựu khoa học cả trên lĩnh vực công nghệ sản xuất, quản lý lẫn thương mại, dịch vụ. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải cần đến vốn lớn.
2.4.2.2. Chất lượng lao động thấp Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh tế tư nhân ở VN
Mặc dù lao động làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lao động xã hội và gia tăng nhanh chóng trong những năm gần đây, nhưng chất lượng của nguồn nhân lực còn thấp và chưa được cải thiện đáng kể. Nhìn chung, khu vực kinh tế tư nhân còn thiếu những lao động có trình độ chuyên môn cao, thiếu đội ngũ công nhân lành nghề.
Theo kết quả điều tra của Viện Khoa học xã hội, trình độ học vấn của lao động trong khu vực tư nhân rất thấp, phần lớn lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân là lao động phổ thông. Những lao động này hầu như chưa qua đào tạo, trình độ kỹ năng lao động còn thiếu. Trong 1.475.716 lao động được điều tra thì có 1.097.598 (chiếm 74,4%) là lao động không có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Số lao động có chuyên môn là 369.118, chiếm 25,3%, trong đó chỉ có 90.042 lao động có trình độ cao đẳng, đại học, chiếm 6,18%. Do quy mô của các doanh nghiệp tư nhân còn nhỏ nên nguồn vốn để bồi dưỡng, đào tạo chuyên môn cho người lao động còn thấp. Hầu hết các doanh nghiệp tư nhân không đủ kinh phí để đầu tư nâng cao trình độ chuyên môn người lao động. Hơn nữa, đầu tư cho nguồn nhân lực là đầu tư dài hạn, không phải ngay tức khắc mang lại lợi ích một cách trực tiếp cho doanh nghiệp trong thời gian ngắn. Điều này không khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân đầu tư cho đào tạo nguồn nhân lực. Hơn nữa, bản thân các chủ doanh nghiệp cũng hạn chế về trình độ, kiến thức, thiếu kinh nghiệm về nhiều mặt, từ kỹ năng quản lý, đến hiểu biết về công nghệ và thị trường. Thêm vào đó, vấn đề đạo đức kinh doanh của nhiều doanh nghiệp tư nhân vẫn còn ở mức rất thấp. Có thể nói, ở Việt Nam vẫn còn thiếu đội ngũ doanh nhân có đủ phẩm chất của một nhà kinh doanh.
Sự lớn mạnh của kinh tế tư nhân gắn liền với quá trình hình thành nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Đây là môi trường tốt để sản sinh, nuôi dưỡng đội ngũ doanh nhân Việt Nam. Đội ngũ doanh nhân có tri thức, bản lĩnh hoạt động kinh doanh trong môi trường kinh tế đầy cạnh tranh và biến động không thể xuất hiện trong nền kinh tế tự cung tự cấp, với sự thống trị của các quan điểm phong kiến, lạc hậu. Chủ doanh nghiệp trong điều kiện nền kinh tế thị trường phải là những người thực sự có phẩm chất tốt, giỏi về chuyên môn nghề nghiệp, có năng lực kinh doanh và trình độ quản lý giỏi. Đây là điều mà đại bộ phận giới chủ doanh nghiệp Việt Nam còn phải phấn đấu nhiều.
Những hạn chế của chủ doanh nghiệp thể hiện ở một số điểm sau:
Ý thức chấp hành pháp luật kém
Nhiều đơn vị kinh tế tư nhân chưa thực hiện tốt những quy định của pháp luật về lao động, hợp đồng lao động, chế độ bảo hiểm, tiền lương, tiền công, bảo hộ lao động, giờ làm việc… đối với người lao động. Có không ít đơn vị kinh doanh vi phạm pháp luật, trốn thuế, gian lận thương mại, kinh doanh trái phép. Theo số liệu thống kê của 48 địa phương, tính đến 30/5/2007, có 25% số doanh nghiệp tư nhân không kê khai nộp thuế, có một bộ phận không nhỏ hộ kinh doanh không xin cấp mã số thuế, không đăng ký nộp thuế. Theo Tổng Cục thuế, nợ tồn đọng của kinh tế tư nhân năm 2006 là 618 tỷ đồng, chiếm 5% số thuế nộp. Năm 2007 khoảng 803 tỷ đồng, chiếm 7% số thuế đã nộp. Một hiện tượng khá phổ biến là ghi hóa đơn không trung thực, ghi giá bán thấp hơn giá thực, dẫn tới thất thu thuế của Nhà nước. Nhiều doanh nghiệp đã lợi dụng việc hoàn thuế giá trị gia tăng để rút tiền của ngân sách. Năm 2007 tại thành phố Hồ Chí Minh trong 215 doanh nghiệp được hoàn thuế có 107 doanh nghiệp có biểu hiện vi phạm.
Trốn thuế là hiện tượng khá phổ biến của khu vực kinh tế tư nhân. Năm 2005 kiểm tra 363 doanh nghiệp phát hiện số thuế kê khai bị giảm đi 11,969 tỷ đồng; năm 2006 kiểm tra 480 doanh nghiệp, số thuế kê khai bị giảm đi 22,9 tỷ đồng; năm 2007 kiểm tra 390 doanh nghiệp, số thuế bị giảm đi 9,15 tỷ đồng. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh tế tư nhân ở VN
Một số chủ cơ sở sản xuất – kinh doanh đã vi phạm quy định của pháp luật như: khai man tên địa chỉ để thành lập doanh nghiệp, đăng ký thành lập doanh nghiệp nhằm buôn bán hóa đơn kiếm lời, tiến hành sản xuất hàng hóa có chất độc hại trong khu dân cư, vi phạm kiểu dáng sở hữu công nghiệp, chế độ bản quyền, vệ sinh an toàn thực phẩm…
Cá biệt có những chủ doanh nghiệp bất chấp pháp luật, tham gia các hoạt động phi pháp như kinh doanh văn hóa độc hại, rửa tiền, lừa đảo, mua chuộc cán bộ thoái hóa, biến chất trong cơ quan công quyền và doanh nghiệp nhà nước để chuộc lợi…
Tình trạng buôn lậu, buôn bán hàng cấm, làm hàng giả còn khá phổ biến. Hàng giả bao gồm nhiều mặt hàng tiêu dùng, thuốc tây… các đối tượng sản xuất hàng giả thường chế biến với quy mô nhỏ, không có cửa hàng, không có đăng ký kinh doanh. Số vụ bị xử lý về buôn bán hàng cấm, hàng nhập lậu, kinh doanh trái phép vẫn gia tăng qua các năm.
Trình độ và khả năng đổi mới kỹ thuật, công nghệ thấp
Nhìn chung, máy móc, thiết bị, công nghệ của khu vực kinh tế tư nhân còn rất lạc hậu, chắp vá và chậm đổi mới. Nhiều doanh nghiệp mới thành lập vẫn còn sử dụng công nghệ lạc hậu từ nước ngoài hay của doanh nghiệp nhà nước. Thiết bị trong hầu hết các doanh nghiệp tư nhân đều lạc hậu từ 10 – 30 năm so với khu vực và thế giới. Số doanh nghiệp được trang bị máy móc hiện đại không nhiều, khoảng 24% doanh nghiệp tư nhân và 25% công ty trách nhiệm hữu hạn. Còn lại, khoảng 37,2% số doanh nghiệp tư nhân và 20% công ty trách nhiệm hữu hạn sử dụng công nghệ truyền thống do thời gian hình thành và phát triển của khu vực kinh tế này chưa lâu, tiềm lực về vốn còn yếu nên khu vực kinh tế tư nhân có ít khả năng đổi mới công nghệ. Mặt khác, trong thời gian qua, khu vực kinh tế tư nhân chỉ chú trọng đầu tư vào thương mại, dịch vụ nên nhu cầu đổi mới công nghệ là chưa cần thiết. Mỗi doanh nghiệp chỉ đầu tư khoảng 0,2% doanh thu cho khoa học công nghệ (ở Hàn Quốc con số này là 7 – 10%). Do trình độ của chủ doanh nghiệp còn thấp, thiếu thông tin kinh tế, kinh nghiệm quản lý, thêm vào đó họ chưa thực sự tin tưởng vào chính sách phát triển của Nhà nước. Vì vậy, họ không dám mạnh dạn đầu tư để mở rộng quy mô theo chiến lược phát triển ổn định lâu dài.
2.4.2.3. Thiếu các doanh nghiệp tư nhân trong lĩnh vực kinh tế quan trọng
Như phân tích ở trên, tỷ trọng các doanh nghiệp tư nhân kinh doanh trong lĩnh vực thương mại dịch vụ ngày càng tăng, trong khi đó, tỷ trọng trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp giảm dần (tỷ trọng các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân tham gia vào lĩnh vực dịch vụ gia tăng qua các giai đoạn, giai đoạn 1991 – 1996 là 39%, giai đoạn 1997 – 2000 là 49% và 2001 – 2007 là 59,4%. Trong khi đó, lĩnh vực công nghiệp thì tỷ trọng lại giảm qua các giai đoạn, giai đoạn 91 – 95 là 35%, giai đoạn 97 – 99 là 22%, giai đoạn 1999 – 2000 là 15%); giai đoạn 2001 – 2007 là 10%. Sở dĩ như vậy là do hầu hết các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, vốn đầu tư ít, khả năng huy động vốn thấp. Trong khi đó, lĩnh vực thương mại dịch vụ cần lượng vốn đầu tư không lớn, thời gian thu hồi vốn nhanh và lợi nhuận cao nên đã thu hút được các doanh nghiệp tham gia đầu tư.
Trên phạm vi một địa phương, số lượng doanh nghiệp thường tập trung chủ yếu ở thị xã hay thành phố trực thuộc tỉnh. Trong khi số lượng doanh nghiệp các huyện, vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa thực sự không đáng kể. Nhiều huyện mới chỉ có một vài doanh nghiệp. Trên phạm vi cả nước, số doanh nghiệp tập trung chủ yếu tại đồng bằng sông Hồng, Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long… rõ ràng việc tập trung phát triển tại một số vùng như vậy sẽ tạo ra khoảng cách giữa các vùng, phá vỡ cơ cấu kinh tế vùng.
2.4.2.4. Khả năng tiếp cận thị trường yếu Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh tế tư nhân ở VN
Việt Nam có một thị trường rộng lớn với khoảng 85,8 triệu dân. Song, nhu cầu thị trường về chất lượng hàng hóa, dịch vụ còn ở mức thấp, nhất là ở thị trường nông thôn, nơi cư trú của hơn 80% dân số cả nước. Hiện tại thị trường nước ta đang bị ảnh hưởng rất lớn của hàng hóa nhập lậu qua biên giới. Điều này có tác động trực tiếp đến khu vực kinh tế tư nhân. Các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân hầu hết chưa đủ năng lực cạnh tranh với hàng lậu. Trên phạm vi thị trường nội địa. Khu vực kinh tế tư nhân này thường gặp khó khăn trong khâu tiếp thị, chủ yếu là do chất lượng sản phẩm và dịch vụ còn hạn chế, kỹ năng tiếp thị quảng cáo chưa tốt. Trên phạm vi thị trường quốc tế, khu vực tư nhân lại càng gặp khó khăn hơn. Có thể nói, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung, đặc biệt của các doanh nghiệp tư nhân ở thị trường trong nước và thị trường nước ngoài là rất thấp.
2.4.2.5. Hiệu quả kinh doanh nhìn chung còn thấp
Trong những năm qua, tuy số lượng các doanh nghiệp và hộ đăng ký kinh doanh tăng nhiều, nhưng hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp còn yếu. Hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp nhìn chung thấp, tỷ suất lợi nhuận/vốn và tỷ suất lợi nhuận/doanh thu của các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân đều thấp hơn so với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác và thấp hơn nhiều so với chỉ tiêu chung của toàn bộ các doanh nghiệp trong cả nước. Điều này phản ánh hiệu quả sử dụng vốn đầu tư vào sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp còn rất thấp.
Bảng 12: Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam
Theo Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ nợ xấu tính chung cho cả khu vực tư nhân năm 2006 tuy có suy giảm so với các năm trước nhưng vẫn cao hơn tỷ lệ chung của ngân hàng và chiếm tỷ trọng lớn trên tổng nợ xấu của ngân hàng. Tỷ lệ nợ xấu của khu vực tư nhân chiếm 50,8% và 43,3% tổng nợ xấu của ngân hàng.
2.4.3. Những nguyên nhân hạn chế sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh tế tư nhân ở VN
2.4.3.1. Về nhận thức chung
Quan điểm của Đảng trên một số vấn đề cụ thể về phát triển kinh tế tư nhân chưa được làm rõ để tạo sự thống nhất cao. Tuy có những chuyển biến căn bản trong nhận thức về khu vực kinh tế tư nhân trong quá trình phát triển kinh tế Việt Nam, song vẫn còn nhiều vấn đề quan trọng vẫn chưa được làm rõ ở mức cần thiết để có thể triển khai trong thực tiễn như: đặc điểm và vai trò cụ thể của khu vực kinh tế tư nhân nước ta, cũng như quan hệ giữa khu vực kinh tế nhà nước với khu vực kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay và trong suốt quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng chủ nghĩa xã hội; về quy mô, trình độ phát triển kinh tế tư nhân cho từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể; về quan hệ nhà nước và doanh nghiệp tư nhân về vai trò của chủ doanh nghiệp tư nhân… vẫn còn dừng lại ở quan điểm lớn, mang tính chung chung, chưa được cụ thể để tạo sự thống nhất cao trong chỉ đạo thực hiện.
Về vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân trong quan hệ với kinh tế nhà nước hiện nay có một số vấn đề chưa thống nhất. Cụ thể:
Quan điểm về bóc lột
“Bóc lột” là vấn đề cơ bản trong lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về kinh tế sản xuất hàng hóa trong chế độ tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, thực tiễn trong gần 20 năm qua đặt ra hàng loạt các câu hỏi cần có giải đáp hợp lý. Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế; đồng thời phân phối theo đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội”.
Như vậy, quá trình phân phối sản phẩm hướng tới sự công bằng hợp lý phải căn cứ vào các yếu tố như: lao động, hiệu quả kinh tế, mức độ góp vốn và một số yếu tố khác như quyền sử dụng đất, tri thức và kinh nghiệm, công nghệ và bí quyết kỹ thuật… Có thể nói, nhận định trên là một bước tiến về tư duy so với quan niệm truyền thống về chế độ phân phối theo quan điểm Mác – Lênin. Trong nền kinh tế thị trường, lao động, vốn và các nguồn lực khác trong sản xuất đều là hàng hoá. Chủ doanh nghiệp phải mua các yếu tố đó trên thị trường. Giá cả của hàng hóa do quan hệ cung – cầu quy định và hàng hóa nào khan hiếm hơn so với nhu cầu thì giá của hàng hóa đó phải cao hơn. Tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh không chỉ có người lao động trực tiếp, mà cả những người chủ doanh nghiệp. Những người lao động có thể chỉ trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất khoảng 8 giờ/ngày (trừ trường hợp làm thêm giờ). Nhưng đóng góp lao động của chủ sở hữu doanh nghiệp thì khó có thể tính theo giờ cụ thể như vậy được. Họ luôn nghĩ đến công việc không phải chỉ trong “thời gian lao động”. Đây là một loại đặc biệt và không thể thay thế được bởi các lao động cụ thể trong những hoàn cảnh nhất định.
Với những thay đổi trong cách nhìn về chế độ phân phối như trên, quan niệm về “bóc lột” trong nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa cung cần có thay đổi. Bóc lột chỉ xảy ra khi người phải làm việc trong môi trường lao động không có đủ điều kiện tối thiểu về vệ sinh và an toàn như quy định của pháp luật và không được trả lương tương xứng với sức lao động bỏ ra. Hiện tượng bóc lột theo quan niệm như vậy rõ ràng vẫn có thể xảy ra ngay trong doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chứ không chỉ ở các doanh nghiệp của khu vực kinh tế tư nhân. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh tế tư nhân ở VN
Nhận thức về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước
Hiện nay, khái niệm “vai trò chủ đạo” vẫn chưa được lý giải một cách khoa học, nhất quán và rõ ràng. Việc xác định kinh tế nhà nước có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế cần phải được cụ thể hơn. Chính sự không rõ ràng, thiếu cụ thể về nội dung “vai trò chủ đạo” của thành phần kinh tế này trong nền kinh tế thị trường đã là một trong những nguyên nhân dẫn đến những hiện tượng đối xử thiếu bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, tính thiếu ổn định và nhất quán trong chính sách của Đảng về thành phần kinh tế. Hơn nữa, thực tế cho thấy, mặc dù Đảng ta vẫn luôn khẳng định kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng, nhưng uy tín của doanh nghiệp nhà nước lại đang ngày càng giảm trong đánh giá của nhân dân và dư luận xã hội. Nói cách khác, vai trò và tác động thực tế của doanh nghiệp nhà nước đã không thể hiện đúng, thậm chí còn rất xa so với kỳ vọng của xã hội và vai trò chính trị của nó, như đường lối phát triển kinh tế của Đảng đã chỉ ra. Vì vậy, cần phải xác định rõ, nhất quán và phù hợp với thực tế nội hàm của “vai trò chủ đạo” của kinh tế nhà nước. Vai trò chủ đạo nên giải thích và phát triển theo hướng phát huy tối đa địa vị và lợi thế của doanh nghiệp nhà nước đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đồng thời, không làm giảm vai trò hoặc hạn chế quyền kinh doanh của các thành phần kinh tế khác.
“Vai trò chủ đạo” có thể hiểu bao gồm các nội dung sau:
Một là, chủ đạo không phải là chiếm tỷ trọng lớn và ngày càng lớn hơn trong GDP, tính chất chủ đạo thể hiện ở sự tiên phong đi đầu. Tính chủ đạo phải gắn với năng suất, chất lượng, khả năng thúc đẩy phát triển và chuyển giao công nghệ.
Hai là, vai trò chủ đạo cũng bao hàm chức năng hỗ trợ và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển.
Ba là, việc tập trung phát triển doanh nghiệp nhà nước trong các lĩnh vực kể trên hoàn toàn không có nghĩa hạn chế hay ngăn cản sự tham gia của các thành phần kinh tế khác, trái lại, cùng hỗ trợ, giúp đỡ và tạo điều kiện để kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tham gia ngày càng nhiều vào các lĩnh vực dịch vụ kết cấu hạ tầng, các ngành công nghệ cao, không hạn chế cạnh tranh của các thành phần kinh tế khác đối với doanh nghiệp nhà nước bằng các biện pháp hành chính.
Xác định rõ nội hàm của “vai trò chủ đạo” với đặc điểm trên đây có thể tạo ra tác động tích cực đối với môi trường kinh doanh cho khu vực kinh tế tư nhân. Môi trường kinh doanh thực sự bình đẳng sẽ dần được xác lập. Xác định đúng vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước sẽ góp phần tăng thêm tính cương quyết, nhất quán trong chỉ đạo và thực hiện cổ phần hóa, bán, khoán và cho thuê doanh nghiệp nhà nước. Đồng thời, giảm được nguy cơ sử dụng quyền lực nhà nước nhằm hạn chế quyền kinh doanh của các thành phần kinh tế khác, bảo hộ cho các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả. Xác định đúng “vai trò chủ đạo” của doanh nghiệp nhà nước sẽ góp phần tạo ra nhận thức xã hội đúng đắn về vai trò của các doanh nghiệp trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thu hút sự ủng hộ mạnh mẽ, thống nhất của dư luận xã hội đối với các biện pháp cải cách doanh nghiệp nhà nước, cũng như có thái độ tôn vinh đúng đắn đối với các doanh nghiệp tư nhân.
2.4.3.2. Về cơ chế chính sách của nhà nước Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh tế tư nhân ở VN
Các cơ chế, chính sách của nhà nước chưa thực sự giải quyết được các khó khăn mà các doanh nghiệp tư nhân đang gặp phải như:
2.4.3.2.1. Trong việc huy động và sử dụng các nguồn lực
Cụ thể:
Khó khăn trong việc tiếp cận với đất đai
Đất đai là một trong những yếu tố cơ bản, không thể thiếu của quá trình sản xuất, thế nhưng tình trạng thiếu đất để sử dụng làm mặt bằng sả xuất của khu vực kinh tế tư nhân hiện nay đang rất cấp bách. Trong khi đó, các doanh nghiệp nhà nước được ưu đãi về đất đai hơn. Năm 2006 đất giao cho doanh nghiệp nhà nước là 58,6 triệu m2 đất với 52 dự án còn khu vực tư nhân là 2,4 triệu m2 đất cho 35 dự án. Hầu hết các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân không đủ vốn lớn để đầu tư vào đất đai nên phải đi thuê đất của các doanh nghiệp nhà nước hoặc các tổ chức với giá cao hơn nhiều, 51% số doanh nghiệp sử dụng đất tự có để tiến hành sản xuất kinh doanh, 49% là thuê của doanh nghiệp nhà nước hoặc các tổ chức khác và tình trạng này vẫn tiếp tục kéo dài trong những năm gần đây.
Hiện tượng trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng có một số nguyên nhân chủ yếu sau:
Thứ nhất, do thủ tục thuê và chuyển nhượng đất phức tạp, có những quy định không rõ ràng gây khó khăn cho các nhà đầu tư, làm mất nhiều thời gian, chi phí.
Thứ hai, do quy hoạch đất không rõ ràng, nhiều nơi diện tích đất không sử dụng, đất hoang hóa, đất sử dụng sai mục đích còn lớn, trong khi khu vực tư nhân lại thiếu mặt bằng sản xuất – kinh doanh.
Thứ ba, do quy mô vốn của doanh nghiệp còn nhỏ, không đủ khả năng để thuê đất ở những địa điểm có lợi thế vì ở những địa điểm đó giá đất cho thuê cao, làm tăng chi phí đầu vào. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh tế tư nhân ở VN
Khó khăn trong thu hút và đào tạo nguồn nhân lực
Khu vực tư nhân hiện nay đang thiếu lao động có trình độ, kỹ năng, tay nghề chuyên môn thành thạo. Điều này do khu vực kinh tế tư nhân chưa thực sự tạo được lòng tin để xóa bỏ những định kiến trong xã hội. Do vậy, chỉ có những lao động có trình độ thấp, cần công việc, ít có cơ hội lựa chọn nơi làm việc mới chấp nhận làm việc trong khu vực này.
Một nguyên nhân nữa là trong khi các doanh nghiệp nhà nước đều được hưởng các chính sách của nhà nước về đào tạo nguồn nhân lực miễn phí thì khu vực tư nhân khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ này.
Hiện tại, nền giáo dục của ta chưa quan tâm nhiều đến việc đào tạo theo nhu cầu của xã hội. Có những ngành, những lĩnh vực còn thiếu quá nhiều cán bộ, công nhân có tay nghề, trình độ chuyên môn, trong khi đó có một số ngành đào tạo tràn lan. Chương trình đào tạo còn nặng về lý thuyết, ít thực hành, nội dung đào tạo chậm, không bắt kịp sự thay đổi trong thực tế cho nên hiệu quả đào tạo không cao.
Khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn
Đối với nguồn vốn của ngân hàng:
Hiện tại các doanh nghiệp mới đăng ký thành lập nguồn vốn chủ yếu huy động từ bản thân chủ doanh nghiệp, người thân, bạn bè… Nguồn vốn huy động được từ các tổ chức tín dụng là rất khó khăn. Thực tế cho thấy, 69% doanh nghiệp sử dụng vốn tự tích lũy, 45% doanh nghiệp là vay vốn từ người thân, bạn bè. Và chỉ có 21% doanh nghiệp vay vốn được từ các ngân hàng thương mại quốc doanh, 11% vay từ ngân hàng thương mại cổ phần.
Hiện tại khu vực kinh tế tư nhân chưa thực sự tạo được lòng tin nên rất khó vay vốn từ ngân hàng, đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn. Thêm vào đó, khu vực tư nhân có quy mô nhỏ nên lượng vốn vay thường ít trong khi đó chi phí giao dịch, điều tra, giám sát lại cao.
Đối với nguồn từ quỹ hỗ trợ phát triển:
Hiện nay các doanh nghiệp tư nhân đã được tiếp cận nguồn vốn từ quỹ hộ trợ phát triển. Tuy nhiên, số vốn mà khu vực tư nhân vay được từ quỹ này chỉ chiếm 8% tổng số vốn cho vay của quỹ. Nguyên nhân là do thủ tục và các điều kiện cho vay còn quá chặt chẽ, các thủ tục pháp lý về điều kiện cho vay của Quỹ còn bất bình đẳng giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân làm cho khu vực kinh tế tư nhân khó vay được vốn từ nguồn vốn ưu đãi của nhà nước.
2.4.3.2.2. Thiếu sự hỗ trợ từ phía nhà nước Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh tế tư nhân ở VN
Thiếu cơ chế cung cấp dịch vụ hỗ trợ kinh doanh
Ngày nay, sự phát triển các ngành dịch vụ đang thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ kinh tế – xã hội, trong đó có dịch vụ hỗ trợ kinh doanh. Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh có tác dụng làm tăng tính cạnh tranh của các doanh nghiệp thông qua ủy nhiệm những công việc chuyên biết cho các chuyên gia chuyên ngành. Ở các nước phát triển, dịch vụ hỗ trợ kinh doanh chiếm tỷ lệ ít nhất là 1/3 giá trị đầu vào của doanh nghiệp. Các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh rất đa dạng và thực hiện những chức năng khác nhau. Chất lượng cung ứng các dịch vụ sẽ tác động lớn đến khả năng phát triển và cạnh tranh của nền kinh tế khi sử dụng dịch vụ này. Theo các nghiên cứu của Ngân hàng phát triển châu Á, dịch vụ hỗ trợ kinh doanh và dịch vụ nghề nghiệp là bộ phận đầu vào mang tính cạnh tranh nhất, tiếp theo mới đến truyền thông, giáo dục thương mại và đào tạo. Thực tế cũng cho thấy, các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu thường phải phụ thuộc nhiều vào các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh nhập khẩu nhằm tăng tính cạnh tranh trên thị trường thế giới, khi ở trong nước những dịch vụ này không đáp ứng được yêu cầu chất lượng.
Thiếu cơ chế tạo sự ủng hộ của xã hội đối với kinh tế tư nhân
Nhìn chung, môi trường thể chế chưa tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển. Môi trường thể chế được hiểu là tổng hợp toàn bộ các nhân tố mang tính chính trị, nhà nước, pháp luật có tác động ảnh hưởng ở mức độ nhất định lên quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Trong đó, thể chế chính trị giữ vai trò quan trọng nhất, nó định hướng, chi phối toàn bộ hoạt động trong xã hội, trong đó có hoạt động kinh doanh. Hệ thống pháp luật được xây dựng trên nền tảng định hướng chính trị nhằm chi phối những quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ.
Hiện nay, môi trường kinh doanh còn thiếu lành mạnh, cạnh tranh thiếu bình đẳng, tồn tại nhiều hoạt động gian lận thương mại cũng như tiêu cực do bộ máy quản lý yếu kém gây ra đã đẩy khu vực tư nhân vào tình thế bất lợi. Nguyên nhân do việc xác định vị trí, vai trò quan trọng của khu vực tư nhân mới chỉ chung chung mà chưa có những chính sách, chiến lược phát triển cụ thể, tạo điều kiện cho khu vực kinh tế này. Bên cạnh đó, tư tưởng kỳ thị, phân biệt khu vực tư nhân trong bộ máy quản lý vẫn tồn tại. Hiện nay, chưa có một bộ phận quản lý nhà nước chính thức đối với hoạt động của các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân để theo dõi, điều chỉnh, hỗ trợ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của họ. Ngoài ra, cơ chế chính sách phát triển kinh tế tư nhân còn thiếu đồng bộ và chưa nhất quán.
Trên thực tế, hệ thống pháp luật vẫn còn nhiều hạn chế trong việc điều chỉnh nền kinh tế. Tình trạng văn bản pháp luật còn thiếu đồng bộ, không nhất quán đã làm cho các doanh nghiệp có tâm lý không tốt, luôn luôn lo sợ sự thay đổi của cơ chế, chính sách nên không dám đầu tư, phát triển sản xuất – kinh doanh. Ngoài ra, những quy định còn phức tạp, chồng chéo gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong sản xuất – kinh doanh. Khóa luận: Thực trạng hoạt động kinh tế tư nhân ở VN
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Hoạt động phát triển tư nhân ở Việt Nam