Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng HĐ cho thuê tài chính tại NH VCB hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng và giải pháp phát triển hoạt động cho thuê tài chính tại các công ty cho thuê tài chính thuộc ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
Trong số 13 công ty CTTC ở Việt Nam hiện nay có 8 công ty thuộc NHTM, trong đó có 4 công ty thuộc NHTM cổ phần (công ty CTTC ngân hàng Công Thương, công ty CTTC ngân hàng Ngoại Thương, công ty CTTC ngân hàng Á Châu và công ty CTTC ngân hàng Sài Gòn Thương Tín), còn lại 4 công ty thuộc NHTM quốc doanh, ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam mỗi ngân hàng sở hữu 2 công ty. Với đặc thù là thuộc sở hữu của các NHTM cho nên các công ty CTTC này có những đặc điểm khác so với các công ty còn lại. Các công ty này thường cho thuê những tài sản theo yêu cầu của khách hàng và với kinh nghiệm tài trợ, khả năng nguồn vốn lớn,… giúp cho các công ty này có thể đáp ứng phần lớn nhu cầu của khách hàng về các loại tài sản có giá trị lớn, thời gian thuê kéo dài. Tuy nhiên, hoạt động của các công ty này cũng có nhiều điểm bất lợi do thiếu kiến thức chuyên môn về CTTC.
Tính từ năm 1998, khi có 5 công ty CTTC trực thuộc NHTM được thành lập, qua hơn 11 năm tồn tại và phát triển, hoạt động CTTC tại các công ty CTTC thuộc ngân hàng đã đạt được những thành quả nhất định. Nhìn chung các công ty CTTC đã ổn định về công tác tổ chức, hoạt động có hiệu quả và đang từng bước mở rộng phạm vi hoạt động. Bên cạnh đó cũng đang tồn tại một số vấn đề cần phải khắc phục. Việc nghiên cứu thực trạng để tìm ra nguyên nhân nhằm giải quyết những tồn tại và phát huy tính ưu việt để hoạt động CTTC ngày càng phát triển góp phần vào việc cung ứng vốn cho nền kinh tế.
2.1 Tình hình hoạt động của các công ty cho thuê tài chính ngân hàng thương mại Việt Nam Khóa luận: Thực trạng HĐ cho thuê tài chính tại NH VCB
2.1.1 Nguồn vốn
Do việc phát hành giấy tờ có giá chưa vẫn chưa được phổ biến, nên nguồn vốn hoạt động của các công ty CTTC vẫn chủ yếu là vốn tự có và các nguồn vốn tự huy động của công ty.
Vốn điều lệ: Theo quy định về mức vốn điều lệ của TCTD phi ngân hàng trong nước là 50 tỷ và các TCTD phi ngân hàng có vốn nước ngoài là 5 triệu USD. Đến nay các công ty CTTC đã có đủ và vượt số vốn điều lê theo quy định. Cụ thể:
Từ biểu đồ trên ta có thể thấy công ty CTTC ngân hàng Công thương hiện đang có số vốn điều lệ cao nhất. Công ty này vừa tăng vốn điều lệ từ tháng 12/2009 từ 300 tỷ VND lên 500 tỷ VND. Công ty CTTC ngân hàng Sài Gòn Thương Tín cũng vừa mới tăng mức vốn điều lệ từ 200 tỷ VND lên 300 tỷ VND. Tổng số vốn điều lệ của các công ty CTTC thuộc NHTM hiện tại là 2.200 tỷ, chiếm 76,8% tổng số vốn điều lệ của toàn ngành CTTC. So với lúc thành lập thì nguồn vốn điều lệ của các công ty CTTC thuộc NHTM hiện nay đã được cải thiện đáng kể nhưng so với quy mô phát triển công ty hoặc của hệ thống NHTM và tốc độ phát triển kinh tế thì số lượng vốn trên là không đáng kể. Điều này phần nào đã hạn chế hoạt động CTTC của các công ty này.
Vốn huy động: Tổng nguồn vốn huy động của các công ty CTTC thuộc NHTM trong năm 2009 là 9.642 tỷ đồng, trong đó hệ thống công ty CTTC Ngân hàng Nông nghiệp có nguồn vốn huy động rất lớn, lần lượt là 6.383 tỷ đồng và 1.586 tỷ đồng, chiếm 82,6% tổng nguồn vốn huy động của 8 công ty CTTC thuộc NHTM.
Nhìn vào biểu đồ ta nhận thấy sự chênh lệch khá rõ giữa cơ cấu nguồn vốn của các công ty CTTC thuộc NHTM cố phần và công ty CTTC thuộc NHTM quốc doanh. Các công ty CTTC thuộc NHTM quốc doanh có nguồn vốn huy động chiếm đa phần trong nguồn vốn hoạt động trong khi các công ty CTTC thuộc NHTM cổ phần thì đa phần là vốn tự có. Điều này cũng dễ hiểu bởi các công ty CTTC thuộc NHTM quốc doanh được tài trợ vốn từ ngân hàng mẹ. Theo quy định tại Luật các TCTD và nghị định 16/CP của Chính phủ, các công ty CTTC chỉ được nhận tiền gửi có kỳ hạn trên một năm và phát hành các loại giấy tờ có giá khác khi được NHNN cho phép. Điều này đã không tạo điều kiện cho các công ty CTTC chủ động trong việc tạo nguồn vốn. Nguồn vốn đi vay của các công ty CTTC chủ yếu bằng tiền đồng từ các NHTM và các tổ chức kinh tế khác như từ các công ty tài chính, công ty bảo hiểm.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng
2.1.2 Tình hình sử dụng vốn Khóa luận: Thực trạng HĐ cho thuê tài chính tại NH VCB
Về tình hình dư nợ cho thuê
Dư nợ cho thuê là khoản nợ của đơn vị vay đối với công ty cho thuê đến một thời điểm nhất định. Đối với các công ty CTTC thì khách hàng chính là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, cho nên tăng trưởng mức dư nợ cho thuê là một tín hiệu tốt bởi nó cho thấy kênh tín dụng này đã được doanh nghiệp sử dụng hiệu quả. Hơn nữa, đồng vốn chảy vào hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ tạo nên sự phát triển chắc chắn và hiệu quả, tạo ra giá trị cho nền kinh tế hơn là đổ vào bất động sản hoặc thị trường chứng khoán
Như vậy, nhìn vào biểu đồ ta có thể thấy dư nợ cho thuê qua các năm của các công ty đều tăng. Đây là một tín hiệu đáng mừng cho thấy hoạt động kinh doanh của các công ty vẫn đang phát triển tốt. Tính đến hết năm 2009, tổng dư nợ của các công ty CTTC thuộc NHTM Việt Nam là 17.259 tỷ đồng, tăng 24,14% so với năm 2008 và tăng 46,91% so với năm 2007. Trong đó dư nợ của công ty CTTC ngân hàng Nông nghiệp I và II là cao nhất, chiếm 55,3% so với tổng dư nợ của cả khối ngành các công ty CTTC thuộc NHTM.Tuy mới ra đời sau nhưng tốc độ tăng trưởng dư nợ cho thuê của công ty CTTC ngân hàng Sài Gòn Thương tín và công ty CTTC ngân hàng Á Châu cũng đã có những bước tăng trưởng vượt bậc; năm 2009 tăng lần lượt là 72,95% và 178,4% so với năm 2008.
Về nợ quá hạn
Chỉ tiêu nợ quá hạn phản ánh chất lượng CTTC. Chỉ tiêu này được sử dụng để đánh giá cùng với chỉ tiêu dư nợ để thấy rõ hơn tình hình hoạt động cho thuê. Dư nợ phản ánh quy mô, còn nợ quá thể hiện mặt chất lượng. Nếu dư nợ tăng đều và tăng nhanh qua các năm nhưng tỉ lệ nợ quá hạn cũng tăng không ngừng, thậm chí còn tăng cao hơn tốc độ tăng của dư nợ thì không thể cho rằng sự tăng trưởng đó là bền vững
Tính đến hết năm 2009, tổng dư nợ quá hạn của các công ty CTTC thuộc NHTM Việt Nam là 6.200 tỷ VNĐ, chiếm 41,4% tổng dư nợ cho thuê của toàn ngành CTTC. Nhìn chung, chất lượng hoạt động của các công ty CTTC thuộc NHTM chưa đồng đều, tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu đang có sự phân hóa rõ rệt giữa các công ty. Qua bảng trên ta thấy công ty CTTC I ngân hàng Nông nghiệp và công ty CTTC ngân hàng Ngoại Thương có tỷ lệ nợ quá hạn rất lớn và vẫn cao qua các năm. Mặc dù tổng dư nợ có tăng nhưng nợ quá hạn chiếm tỷ trọng cao thì hoạt động của các công ty cũng chưa thật sự hiệu quả. Trong khi đó công ty CTTC ngân hàng Công thương và ngân hàng Sài Gòn Thương tín có tỷ lệ nợ quá hạn thấp và được cải thiện qua các năm. Công ty CTTC ngân hàng Á Châu mới thành lập nên chưa phát sinh nợ xấu.
So với năm 2007, năm 2008 dư nợ cho thuê tăng 18,4%, nhưng nợ quá hạn lại tăng đến 77,9%. Điều này có thể được lý giải là do năm 2008 là năm khủng hoảng kinh tế toàn cầu, đa số các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm ăn sa sút, việc duy trì kinh doanh đã khó chứ chưa nói đến lợi nhuận. Trong hoàn cảnh khó khăn như vậy, các tổ chức tín dụng khác được phép hỗ trợ lãi suất để cải thiện tình hình hoạt động thì riêng đối với hệ thống các công ty CTTC đang hoạt động hiện nay lại không là đối tượng được hưởng chính sách này. Năm 2009 tổng dư nợ tăng 48,2% so với năm 2007 và nợ quá hạn tăng 57,2%; so với năm 2008 thì tổng dư nợ tăng 25,1% và nợ quá hạn giảm 11.6%. Qua các năm nợ quá hạn lần lượt chiếm 4,9% ; 7,3%; 5,2% trong tổng dư nợ toàn bộ hệ thống công ty CTTC thuộc NHTM. Đây là một tỉ lệ khá cao đối với mức an toàn cho phép (<5%). Nguyên nhân một phần là do sự suy giảm kinh tế kéo dài từ cuối năm 2007 và bây giờ mới dần dần hồi phục đã ảnh hưởng tiêu cực tới nhu cầu chung của nền kinh tế và việc kinh doanh của các doanh nghiệp. Bên cạnh đó một số quy định của cơ quan chức năng còn thiếu đồng bộ và chưa nhất quán nên việc thu hồi tài sản thuê phức tạp, lợi dụng tình trạng này người đi thuê không trả nợ hoặc chậm thanh toán, điều này khiến các công ty phải tăng trích quỹ dự phòng phải thu khó đòi làm chi phí hoạt động kinh doanh tăng, giảm lợi nhuận trước thuế kéo theo một số chỉ tiêu chất lượng khác cũng giảm xuống
2.1.3 Kết quả kinh doanh
Số lượng hợp đồng
Năm 2009 tổng số hợp đồng tăng 37% so với năm 2007 và tăng 38,8% so với năm 2008.Năm 2008 số lượng hợp đồng giảm so với năm 2007 một phần lớn là do suy thoái kinh tế đã ảnh hưởng tới hoạt động chung của tất cả các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp không có nhu cầu mở rộng sản xuất, mở rộng thị trường nên hoạt động CTTC của các ngân hàng này cũng ảm đảm hơn. Năm 2009 nền kinh tế nước ta dần hồi phục mang theo những tín hiệu tốt. Tuy nhiên tốc độ tăng của năm 2009 là không cao bởi các công ty CTTC không được hưởng chế độ hỗ trợ lãi suất kích thích cho vay sản xuất như các ngân hàng, bởi thế nên sự lựa chọn của các doanh nghiệp vẫn nghiêng về phía ngân hàng nhiều hơn. Khóa luận: Thực trạng HĐ cho thuê tài chính tại NH VCB
Dẫn đầu về số lượng hợp đồng CTTC qua các năm là công ty CTTC II ngân hàng Nông nghiệp và công ty CTTC I ngân hàng Đầu tư. Công ty CTTC ngân hàng Ngoại Thương và CTTC I ngân hàng Nông nghiệp có số lượng hợp đồng khá ổn định qua các năm. So với năm 2007 và 2008, năm 2009 số lượng hợp đồng CTTC của các công ty đều tăng; tăng nhiều nhất là công ty CTTC I ngân hàng Đầu tư, hơn 97% so với năm 2008. Số lượng hợp đồng CTTC tăng chứng tỏ dịch vụ này ngày càng được mở rộng hơn, được nhiều người biết đến hơn.
Tình hình lợi nhuận
Mặc dù thời gian hoạt động và quy mô hoạt động của các công ty CTTC thuộc NHTM chưa thực sự lớn, nhưng các công ty đã từng bước ổn định hoạt động của mình và có lãi.
Trong giai đoạn nghiên cứu, lợi nhuận trước thuế của các công ty tăng liên tục qua các năm và mức tăng trưởng là rất cao. Qua các năm, các công ty CTTC thuộc NHTM đầu có lãi, ngoại trừ công ty CTTC ngân hàng Ngoại thương Việt Nam báo cáo lỗ 9 tỷ đồng năm 2007. Năm 2009, tổng lợi nhuận trước thuế của các công ty CTTC thuộc NHTM đạt 371,56 tỷ đồng, tăng hơn 25,8% so với năm 2008 và tăng 88,3% so với năm 2007. Tuy nhiên sự tăng giảm lợi nhuận là không đều giữa các công ty. Những công ty có mức lợi nhuận liên tục tăng đó là công ty CTTC I ngân hàng Đầu tư, công ty CTTC ngân hàng Công thương, công ty CTTC ngân hàng Ngoại thương. Trong khi đó thì của công ty CTTC I ngân hàng Nông nghiệp năm 2008 và 2009 lại giảm so với 2007. Công ty CTTC ngân hàng Sài Gòn thương tín và Á Châu mới thành lập, lợi nhuận đang thấp nhưng khá ổn định.
Với kết quả kể trên, tổng lợi nhuận đều tăng qua các năm, có thể thấy hoạt động của các công ty CTTC thuộc NHTM hiện nay đang hoạt động khá tốt, đang từng bước khẳng định vị trí vai trò của CTTC trong thị trường tài chính tiền tệ. Thông qua loại hình tín dụng CTTC, các công ty đã tạo ra kênh tài trợ hữu hiệu cho các tổ chức và cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc tận dụng cơ hội kinh doanh, đẩy mạnh sản xuất, phát triển doanh nghiệp từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh.
2.2 Đánh giá chung về những tồn tại và nguyên nhân trong hoạt động cho thuê tài chính tại các công ty cho thuê tài chính ngân hàng thương mại tại Việt Nam Khóa luận: Thực trạng HĐ cho thuê tài chính tại NH VCB
Qua những phân tích ở trên về thực trạng hoạt động của các công ty CTTC thuộc NHTM ta có thể thấy các công ty đã thu được cho mình những thành tựu nhất định, góp phần vào sự phát triển chung của nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đã đạt được thì vẫn còn những tồn tại cần được khắc phục.
2.2.1 Những tồn tại trong thời gian qua
a. Các công ty cho thuê tài chính phân bổ không đều giữa các vùng miền
Trong 8 công ty CTTC thuộc NHTM thì có 4 công ty đặt trụ sở tại Hà Nội, là các công ty của ngân hàng Ngoại thương, Công thương, công ty CTTC I ngân hàng Đầu tư, công ty CTTC I ngân hàng Nông nghiệp; còn lại 4 công ty kia có trụ sở ở thành phố Hồ Chí Minh. Hiện tại thì công ty CTTC II ngân hàng Nông Nghiệp có mạng lưới chi nhánh nhiều nhất, 6 chi nhánh tại các tỉnh Cần Thơ, Bình Dương, Đà Nẵng, Khánh Hòa. Ngoài ra công ty CTTC I ngân hàng Nông nghiệp còn có chi nhánh ở Hải Phòng. Như vậy trụ sở chính và các chi nhánh của các công ty này đều được đạt ở các thành phố lớn, chủ yếu tập trung ở miền Nam. Cơ cấu này được xem là phù hợp với quy mô và mục tiêu kinh doanh của các công ty, nhưng xét trên khía cạnh tổng thể thì điều này lại làm cho thị trường CTTC bị bó hẹp lại, bên cạnh đó là các công ty cũng sẽ khó để tiếp cận khách hàng ở các vùng miền khác.
Dư nợ và tỷ trọng dư nợ cho thuê tài chính trong ngành còn thấp
Với chức năng chính của các công ty này là CTTC và khách hàng chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên các công ty đã triệt để sử dụng mọi nguồn vốn để triển khai hoạt động cho thuê. Tuy nhiên, dư nợ cho thuê và thị phần của thị trường CTTC ở các công ty này còn ở mức thấp.
Mặc dù có tốc độ phát triển nhanh trong những năm vừa qua nhưng xét trong tổng thể hoạt động toàn hệ thống ngân hàng thì tỷ trọng dư nợ cho thuê vẫn còn quá nhỏ. Khóa luận: Thực trạng HĐ cho thuê tài chính tại NH VCB
Phân tích trên cho chúng ta có cái nhìn tổng quan về hoạt động CTTC ở Việt Nam hiện này là nhỏ so với thị trường tài chính nói chung. Hoạt động CTTC chưa được mở rộng và phát huy trong khi đó hoạt động CTTC ở Hàn Quốc chiếm khoảng 10% tổng dư nợ cho vay. Đi sâu vào kết quả huy động vốn và dư nợ của các công ty CTTC thuộc NHTM Việt Nam thì tất cả các công ty này đều huy động vốn thông qua việc vay vốn ngân hàng mẹ. Tình hình dư nợ công ty CTTC I và II ngân hàng Nông nghiệp và công ty CTTC II ngân hàng Đầu tư là lớn nhất vì 3 công ty này có lượng khách hàng và sự hỗ trợ về vốn lớn từ ngân hàng mẹ là các ngân hàng quốc doanh.
Năng lực cạnh tranh chưa cao
Có thể nói việc trực thuộc các NHTM đối với các công ty CTTC này vừa là thuận lợi nhưng cũng là bất lợi. Bởi lẽ vì vẫn nằm trong sự quản lý của ngân hàng mẹ cho nên cơ cấu tổ chức cũng như chiến lược kinh doanh của các công ty này còn có phần phụ thuộc vào chiến lược kinh doanh của ngân hàng mẹ và chưa chủ động trong việc tìm kiếm thị trường và chưa thực sự cạnh tranh lẫn nhau. Do đó, chưa tạo ra cho thị trường những sản phẩm thuê có giá rẻ và chất lượng dịch vụ tốt để phục vụ khách hàng. Ngoài ra, hoạt động CTTC chưa thực sự hấp dẫn và chưa có động lực phát triển nhằm đáp ứng yêu cầu vốn đầu tư cho các thành phần kinh tế, các vùng miền trong cả nước. Đồng thời, do bị lệ thuộc về sở hữu nên các công ty này cũng chưa có một chiến lược tổng thể nên hoạt động CTTC của các công ty vẫn còn manh mún, giống như chỉ là một chi nhánh của các ngân hàng mẹ trong hoạt động cho vay trung và dài hạn.
Chưa đa dạng các hình thức cho thuê và tài sản cho thuê
Hầu hết các giao dịch cho thuê hiện nay chỉ diễn ra dưới một hình thức là cho thuê hoàn trả toàn bộ mà chưa sử dụng cho thuê hoàn trả từng phần. Bên cạnh đó, các công ty chỉ mới sử dụng một hình thức cho thuê có sự tham gia của ba bên còn các hình thức khác như cho thuê hợp tác, mua rồi cho thuê lại, cho thuê giáp lưng, cho thuê trả góp,… chưa được sử dụng.
Ngoài ra, tài sản cho thuê trong những năm qua chủ yếu là các máy móc thiết bị lẻ đơn chiếc, có hàm lượng công nghệ ở mức trung bình khá còn các dây chuyền công nghệ cao hay các thiết bị hiện đại chiếm tỷ trọng thấp và chưa được bên thuê khai thác nhiều. Chính vì vậy mà giá trị tài trợ cho khách hàng còn thấp, có thể kí được nhiều hợp đồng nhưng giá trị các hợp đồng chỉ khoảng một tỷ đồng, ít có hợp đồng có giả trị cao do bị khống chế về hạn mức tài trợ trên vốn tự có của công ty CTTC.
2.2.2 Nguyên nhân của những tồn tại trong hoạt động cho thuê tài chính Khóa luận: Thực trạng HĐ cho thuê tài chính tại NH VCB
Thực trạng hoạt động CTTC ở Việt Nam nói chung và tại các NHTM nói riêng vẫn còn nhiều tồn tại và chậm phát triển, chưa tương xứng với nhu cầu về vốn đầu tư trung và dài hạn cho nền kinh tế do nhiều nguyên nhân khác nhau. Việc tìm hiểu nguyên nhân là tiền đề để đề ra các giải pháp thúc đẩy hoạt động này hơn nữa. Sau đây là những nguyên nhân chính dẫn đến những tồn tại của hoạt động CTTC tại các NHTM trong thời gian qua ở Việt Nam.
Môi trường pháp lý chưa hoàn thiện
Hoạt động CTTC ở Việt Nam từ khi ra đời được sự điều chỉnh của Nghị định 64/CP ngày 09/10/1995 của Chính phủ về việc ban hành quy chế tạm thời và hoạt động của các công ty CTTC tại Việt Nam. Thông tư số 03/TT- NH ngày 9/2/1996 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam về việc hướng dẫn thi hành Nghị định 64/CP. Sau một thời gian áp dụng Nghị định 64/CP đã bộc lộ nhiều bất cập cản trở cho hoạt động CTTC phát triển. Những bất cập này đã được điều chỉnh phần nào bằng việc ban hành Nghị định 16/CP của Chính phủ về tổ chức hoạt động của các công ty CTTC được ban hành ngày 2/5/2001. Từ năm 2001 đến nay, nghị định 16/CP đã được sửa đổi bổ sung hai lần qua các năm 2005 và 2008. Tuy nhiên, Nghị định 16/CP cũng chỉ tháo gỡ được phần nào những khó khăn về hoạt động CTTC hiện nay nhưng tính pháp lý cũng chỉ dừng lại ở mức Nghị định chứ chưa phải là luật, do đó việc triển khai thực hiện gặp không ít khó khăn, thiếu sự đồng bộ giữa các ban ngành liên quan 12. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, theo quy định của khoản 3 Điều 1 Nghị định 16/2001/NĐ-CP: “Hoạt động CTTC trên lãnh thổ Việt Nam phải được thực hiện qua các công ty CTTC được thành lập và hoạt động tại Việt Nam”, đồng thời khẳng định: Công ty CTTC là TCTD phi ngân hàng (tại Điều 2). Quy định như vậy là không công bằng đối với loại hình TCTD là ngân hàng, đồng thời không phù hợp với Luật các TCTD (văn bản pháp lý có hiệu lực cao hơn nghị định trên) trong điều chỉnh về hoạt động của TCTD nói chung cũng như hoạt động CTTC nói riêng. Theo quy định tại khoản 3 Điều 20 Luật Các TCTD thì: “Ngân hàng là loại hình TCTD được thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”. Như vậy có nghĩa rằng, ngân hàng hoàn toàn có thể được thực hiện hoạt động CTTC vì đây là một hình thức cấp tín dụng, chứ hoạt động này không chỉ dành riêng cho công ty CTTC như quy định tại Nghị định 16/2001/NĐ-CP. Để “lách” qua quy định mâu thuẫn này, các ngân hàng trên thực tế đã thành lập các công ty CTTC trực thuộc để tiến hành kinh doanh trong lĩnh vực này, nhưng xét dưới khía cạnh pháp lý, rõ ràng hoạt động kinh doanh này không phải do chính ngân hàng trực tiếp tiến hành. Thực tế này cũng được ghi nhận tại Điều 2 Nghị định 16/2001/NĐ-CP và đã tạo thành một cách thức phân loại không thống nhất về tiêu chí: Khi đang phân loại công ty CTTC theo nguồn gốc vốn sở hữu, lại ghi nhận có loại hình công ty CTTC trực thuộc TCTD (tiêu chí về cơ cấu tổ chức). Khóa luận: Thực trạng HĐ cho thuê tài chính tại NH VCB
Thứ hai, hiện nay pháp luật chỉ cho phép TCTD tiến hành CTTC với đối tượng là động sản. Sở dĩ bất động sản không thể là đối tượng của hoạt động CTTC là do quy định tại Điều 73 Luật các TCTD mà theo đó, TCTD không được trực tiếp kinh doanh bất động sản. Nhưng dưới khía cạnh thực tế, việc cho thuê bất động sản rõ ràng an toàn hơn nhiều so với cho thuê động sản vì đặc tính không thể di dời của nó cũng như khả năng đảm bảo quyền sở hữu thông qua việc đăng ký chứng nhận quyền sở hữu và đăng ký giao dịch bảo đảm với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Bên cạnh đó, hiện nay, thị trường cho thuê bất động sản mà chủ yếu là cho thuê văn phòng đang có nhu cầu rất lớn, việc để cho TCTD với sức mạnh tài chính vượt trội là người đứng ngoài cuộc sẽ không có lợi cho bất kỳ ai.
Thứ ba, quy định pháp luật hiện hành về phương thức xử lý tài sản thuê để thu hồi vốn trong trường hợp bên thuê không thanh toán đủ tiền thuê khi hợp đồng chấm dứt trước hạn theo cũng là không hợp lý. Theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Nghị định 16/2001/NĐ-CP, công ty CTTC có thể chấm dứt hợp đồng CTTC trước hạn trong những trường hợp sau đây:
- Bên thuê không trả tiền thuê theo quy định trong hợp đồng CTTC;
- Bên thuê vi phạm các điều khoản của hợp đồng CTTC;
- Bên thuê bị phá sản, giải thể;
- Người bảo lãnh bị phá sản, giải thể và bên cho thuê không chấp thuận đề nghị chấm dứt bảo lãnh hoặc đề nghị người bảo lãnh khác thay thế của bên thuê.
Trong những trường hợp trên, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định 16/2001/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 65/2005/NĐ-CP), nếu bên thuê không thanh toán đầy đủ tiền thuê thì:
- Công ty CTTC có quyền thu hồi ngay lập tức tài sản cho thuê mà không chờ có phán quyết của Toà án và yêu cầu bên thuê phải thanh toán ngay toàn bộ số tiền thuê chưa trả theo hợp đồng;
- Sau khi thu hồi tài sản cho thuê, trong thời gian tối đa là 60 ngày, bên cho thuê phải xử lý xong tài sản cho thuê. Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản cho thuê dùng để thanh toán khoản tiền còn thiếu của bên thuê và các chi phí phát sinh trong quá trình thu hồi tài sản cho thuê. Nếu số tiền thu được không đủ thanh toán, bên thuê có trách nhiệm thanh toán số tiền còn thiếu đó cho bên cho thuê;
- Trường hợp bên thuê đã hoàn trả một phần số tiền thuê phải trả và công ty CTTC đã xử lý xong tài sản cho thuê, nếu số tiền thu được vượt quá số tiền thuê phải trả theo hợp đồng và các chi phí phát sinh trong quá trình thu hồi tài sản cho thuê thì công ty CTTC phải hoàn trả cho bên thuê số tiền chênh lệch đó;
- Trong thời gian bên cho thuê xử lý tài sản thuê, nếu bên thuê hoàn trả được toàn bộ số tiền thuê theo hợp đồng thì bên cho thuê chuyển quyền sở hữu tài sản thuê cho bên thuê như trường hợp đã hoàn thành hợp đồng thuê.
Từ quy định của khoản 1 Điều 27 cho thấy, các trường hợp xử lý tài sản thuê tại khoản 1 Điều 28 được áp dụng cho tất cả các dạng CTTC, bao gồm cả CTTC không hoàn trả lại tài sản và CTTC có hoàn trả lại tài sản. Tuy nhiên, nội dung quy định tại khoản 1 Điều 28 thực chất chỉ phù hợp với dạng CTTC mà tổng số tiền thuê ít nhất tương đương với giá trị của tài sản tại thời điểm ký kết hợp đồng (trong trường hợp này, thông thường bên thuê không phải hoàn trả lại tài sản thuê khi chấm dứt hợp đồng thuê). Nếu quy định này được áp dụng trong trường hợp tổng số tiền thuê thấp hơn giá trị của tài sản tại thời điểm ký kết hợp đồng thì rõ ràng, pháp luật chỉ bảo đảm cho khả năng thu hồi tiền thuê của bên cho thuê chứ không bảo đảm khả năng thu hồi nguồn vốn cấp tín dụng, không phù hợp với nguyên tắc cấp tín dụng và do đó, không bảo đảm được quyền lợi chính đáng của bên cho thuê.
Nguyên nhân của sự bất cập này được lý giải phần nào khi xem xét quá trình hoàn thiện pháp luật về CTTC. Trước khi ban hành Nghị định 65/2005/NĐ-CP, theo Nghị định 16/2001/NĐ-CP, chỉ có một trường hợp CTTC mà theo đó, tổng số tiền thuê phải tương đương với giá trị tài sản tại thời điểm ký kết hợp đồng. Cũng tại Điều 28 Nghị định này, trong những trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 27, bên cho thuê có quyền thu hồi tài sản cho thuê và đòi bồi thường nếu bên thuê không trả đầy đủ tiền thuê. Quy định này có sự bất cập ở chỗ, trong trường hợp tổng số tiền thuê lớn hơn giá trị của tài sản hoặc bên thuê được chuyển giao quyền sở hữu sau khi chấm dứt hợp đồng thuê, rõ ràng rất bất lợi cho bên thuê vì họ phải thanh toán toàn bộ tiền thuê (nghĩa là đã đảm bảo quyền lợi cho bên cho thuê), nhưng vẫn không được sở hữu tài sản thuê. Có thể nói, Điều 28 được sửa đổi theo Nghị định 65/2005/NĐ-CP đã khắc phục được bất cập này nhưng lại vướng vào một bất cập khác do một nguyên nhân là: Khái niệm CTTC cũng được chính văn bản này sửa đổi theo hướng mở rộng hơn rất nhiều.
Thứ tư, pháp luật còn có quy định bất cập về quản lý, sử dụng và trích khấu hao đối với tài sản cố định thuê tài chính. Theo Quyết định 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ tài chính ban hành Chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định thì về nguyên tắc, doanh nghiệp đi thuê tài chính tài sản cố định phải quản lý, sử dụng và trích khấu hao như đối với tài sản thuộc sở hữu của mình. Đối với việc thuê tài sản cố định không thoả mãn điều kiện CTTC thì được coi là thuê hoạt động (thuê vận hành) và trong trường hợp này, bên cho thuê có nghĩa vụ trích khấu hao chứ không phải bên thuê. Vấn đề là ở chỗ, trong Quyết định 206/2003/QĐ-BTC lại định nghĩa một cách rõ ràng về CTTC y hệt như Nghị định 16/2001/NĐ-CP trước khi sửa đổi, nên rất nhiều trường hợp là thuê tài chính theo sự sửa đổi của Nghị định 65/2005/NĐ-CP không được coi là CTTC theo Quyết định này. Trong những trường hợp như vậy, vướng mắc đặt ra là, bên nào (bên cho thuê hay bên thuê) sẽ phải thực hiện nghĩa vụ trích khấu hao đối với tài sản thuê tài chính? Trong khi đó, theo Quyết định 731/2004/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ngày 15/6/2004 ban hành Quy chế tạm thời về hoạt động cho thuê vận hành của các công ty CTTC thì đối với hoạt động cho thuê vận hành, nghĩa vụ thuế (có liên quan đến nghĩa vụ trích khấu hao tài sản cố định) của công ty CTTC được thực hiện theo quy định của Bộ tài chính. Vì thế, cần thiết phải sửa đổi Quyết định 206/2003/QĐ-BTC theo hướng bỏ việc định nghĩa thế nào là CTTC, để việc áp dụng được thuận lợi và rõ ràng hơn. Khóa luận: Thực trạng HĐ cho thuê tài chính tại NH VCB
Như vậy, pháp luật về CTTC vẫn đang còn những điều hạn chế và bất hợp lý. Để hình thức cấp tín dụng này ngày càng thể hiện được vai trò của nó trong việc khuyến khích đầu tư, phát triển công nghệ, nâng cao hiệu quả kinh doanh, cần thiết phải có những sửa đổi pháp luật cho phù hợp.
b. Vốn huy động cho thuê tài chính còn ít và chưa đa dạng
Hầu hết các công ty CTTC hiện nay chủ yếu sử dụng các nguồn vốn chủ sở hữu, mà nguồn vốn này hiện nay là rất ít ỏi. Trong khi đó, khả năng thu hút vốn của các công ty CTTC chưa đa dạng, chỉ được phát hành trái phiếu và huy động nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng trong nước. Việc phát hành trái phiếu đến nay cũng mới chỉ có duy nhất công ty CTTC Quốc tế Việt Nam, còn lại các CTTC thuộc NHTM thì thu hút vốn bằng cách vay từ ngân hàng mẹ. Ngoài ra, các công ty CTTC chưa nhận được sự hỗ trợ nào về nguồn vốn từ phía Chính phủ hay của Ngân hàng nhà nước. Thực tế chỉ có các công ty sở hữu bởi 2 NHTM quốc doanh là hoạt động dựa trên vốn duy động, còn lại các công ty khác đều hoạt động dựa trên số vốn tự có. Điều này không những hạn chế khả năng tài trợ, mở rộng thị trường mà còn làm giá cho thuê cao vì chi phí sử dụng vốn cao so với các nguồn vốn huy động khác. Bên cạnh hạn chế về vốn thì các công ty CTTC cũng đang bị hạn chế về mức tài trợ cho một khách hành không vượt quá 30% vốn tự có của mình. Chính vì vốn kinh doanh nhỏ cũng như bị hạn chế bởi các điều kiện huy động vốn, hạn chế mức tín dụng cộng với đặc thù hoạt động của CTTC là hoạt động tín dụng trung và dài hạn có số dư khách hàng cao dẫn tới thực trạng các công ty CTTC chưa thực hiện được các hợp đồng cho thuê có giá trị lớn mà chỉ dừng lại cho thuê các thiết bị lẻ, giá trị hợp đồng thấp thường dưới 10 tỷ đồng, lượng khách hành thuê trong một kì hạn cũng hạn chế. Nguyên nhân trên đã làm cho dư nợ cho thuê hàng năm của các công ty CTTC trong thời gian qua không lớn, chỉ đạt mức 1% so với dư nợ cho vay toàn hệ thống.
Lãi suất tài trợ còn cao
Một trong những vấn đề mà doanh nghiệp quan tâm khi tiếp cận đến một loại hình tài trợ là lãi suất tài trợ tức là quan tâm đến giá cả của việc sử dụng vốn. Do lãi suất tài trợ của loại hình CTTC cao là một trong những nguyên nhân làm cho hoạt động CTTC không phát triển, các doanh nghiệp không mặn mà với loại hình tài trợ này. Lãi suất tài trợ CTTC còn cao so với vay vốn tín dụng trung và dài hạn. Lãi suất tính cho thuê cao hơn từ 20 – 25%, còn so với việc mua sắm trực tiếp từ nhà cung cấp thì CTTC thường có giá cao hơn khoảng 10% sau khi loại trừ chi phí lãi suất tài trợ. Giá CTTC cao là vì ngoài lãi suất tài trợ bằng hoặc cao hơn lãi suất cho vay trung và dài hạn của ngân hàng, tại thời điểm khi lãi suất cho vay ở mức 0,95 – 1% / tháng thì các công ty CTTC phải tính thêm vào giá cho thuê nhiều loại chi phí, lệ phí và các khoản thuế khác đã làm cho lãi suất tài trợ lớn hơn 1%/ tháng. Mặt khác, hầu hết máy móc đều phải nhập khẩu nên lại cộng thêm những yếu tố khiến chi phí CTTC đội lên là do lệ phí trước bạ, phí kiểm định, đăng ký tài sản, công chứng hợp đồng,… Một vấn đề nữa là việc khấu trừ thuế giá trị gia tăng (VAT) theo cách tính hiện nay của ngành thuế cũng làm tăng đáng kể giá CTTC, với một loại thiết bị nếu bên thuê tự mua sắm làm tài sản cố định thì được khấu trừ thuế VAT ngay trong vòng 3 tháng đầu kể từ khi mua sắm, nhưng đối vối tài sản đi thuê thì thuế giá trị gia tăng được khấu trừ phải chia thành nhiều đợt theo tỷ lệ tương ứng với giá trị thanh toán tiền thuê của mỗi đợt, việc kéo dài thời gian khấu trừ thuế đã làm phát sinh tiền lãi trên số tiền thuế VAT chậm được khấu trừ, do đó làm tăng giá thuê tài chính. Ngoài ra, giá CTTC cao hơn ngân hàng là do ngân hàng với nhiều chức năng, nhiều loại hình dịch vụ làm đa dạng hóa nguồn thu nhập. Ngân hàng được sử dụng một tỷ lệ vốn huy động tiền gửi ngắn hạn của công chúng với lãi suất thấp vào cho vay trung và dài hạn do đó làm giảm chi phí sử dụng vốn trên góc độ tổng thể và giảm được lãi suất cho vay. Trong khi đó công ty CTTC là tổ chức tín dụng phi ngân hàng hoạt động kinh doanh hầu như chỉ chuyên một lĩnh vực là CTTC thông qua cho thuê động sản do vậy chi phí sử dụng vốn của các công ty CTTC cao hơn so với NHTM làm tăng áp lực lên giá CTTC và làm giảm lợi nhuận.
d. Trình độ nghiệp vụ và năng lực quản lý của cán bộ còn nhiều hạn chế
Trong 8 công ty CTTC thuộc NHTM thì có 4 công ty thuộc NHTM cổ phần và 4 công ty thuộc NHTM quốc doanh. Trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, phương tiện hoạt động của các công ty chưa đầy đủ, song vấn đề có ảnh hưởng lớn nhất đến hiệu quả hoạt động kinh doanh đó là đội ngũ cán bộ, nhân viên nghiệp vụ cả các công ty CTTC. Hầy hết các cán bộ này đều được thuyên chuyển từ ngân hàng mẹ sang. Năng lực quản lý, trình độ nghiệp vụ của các cán bộ công ty CTTC thuộc NHTM chưa bắt kịp với nền kinh tế thị trường. Ngoài ra, nghiệp vụ CTTC cũng mới chỉ được các ngân hàng áp dụng hơn 10 năm, do đó những cán bộ nhân viên ở các công ty CTTC chưa được đào tạo căn bản, thiếu kinh nghiệm trong hoạt động cho nên hầu hết các công ty vừa triển khai hoạt động vừa tiến hành đào tạo và đào tạo lại, vừa làm vừa học hỏi và đó cũng là lý do làm cho hoạt động CTTC chưa có bước đột phá. Hầu hết các công ty đều thiếu cán bộ có năng lực, tinh thông về nghiệp vụ cho thuê, nghiệp vụ xuất nhập khẩu, nghiệp vụ thẩm định máy móc, nghiệp vụ phát triển thị trường,…
Trên đây là một số nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong hoạt động kinh doanh của các công ty CTTC thuộc NHTM Việt Nam. Để hoạt động kinh doanh của các công ty được thuận lợi và phát triển mạnh, thực sự trở thành một kênh dẫn vốn mới, có tiện ích riêng góp phần giúp các doanh nghiệp (đặc biệt vừa và nhỏ) thực hiện đổi mới công nghệ, áp dụng thành tựu kĩ thuật mới trong sản xuất tạo ra sản phẩm có tính cạnh tranh cao hơn đáp ứng được yêu cầu sản xuất kinh doanh và đời sống thì các công ty cần phải khắc phục những hạn chế này. Chương 3 của khóa luận này xin được đưa ra một số giải pháp và một số điều kiện thực thi giải pháp để góp phần vào việc phát triển hoạt động kinh doanh tại các công ty CTTC thuộc NHTM Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng HĐ cho thuê tài chính tại NH VCB
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp phát triển cho thuê tài chính tại NH VCB

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Khái quát cho thuê tài chính tại Ngân hàng VCB