Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ABBANK

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ABBANK hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình – Chi nhánh Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.3. Thực trạng chất lượng tín dụng tại ABBANK – Chi nhánh Hải Phòng

Đối với các NHTM, cho vay có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh doanh của Ngân hàng. Nhận thức được tâm quan trọng của hoạt động tín dung, mỗi Ngân hàng phải tìm biện pháp nâng cao chất lượng đối với khoản vay của mình. Thực tế chất lượng tín dụng là một khái niệm tương đối và không có một chỉ tiêu tổng hợp nào có thể phản ánh một cách chính xác, thông thường để phản ánh chất lượng hoạt động tín dụng của một NHTM, người ta dùng một tập hợp các chỉ tiêu khác nhau, nhưng về cơ bản chất lượng tín dụng của một NHTM được đánh giá qua các chỉ tiêu sau: Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ABBANK

2.3.1. Chất lượng tín dụng qua chỉ tiêu định tính

Chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại thể hiện qua các chỉ tiêu định tính như: cảm giác an tâm của khách hàng khi đến giao dịch với Ngân hàng nếu Ngân hàng có bảo vệ, có bãi gửi xe, có nhân viên trông xe không thu lệ phí thì Ngân hàng sẽ tạo được một ấn tượng đầu tiên rất tốt đẹp trong lòng khách hàng. Nếu ngân hàng có sơ đồ làm việc của các phòng ban sẽ giúp khách hàng không bị bỡ ngỡ và đỡ tốn thời gian. Từ đó khách hàng sẽ có ấn tượng tốt về Ngân hàng.

Cách bố trí sắp sếp trong phòng làm việc của ngân hàng, trang phục của nhân viên, đặc biệt là thái độ của cán bộ tín dụng ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng tín dụng của ngân hàng. Nếu chất lượng tín dụng cao thì chắc chắn Ngân hàng sẽ có nhiều khách hàng mới.

Uy tín của ngân hàng cũng góp phần làm nên chất lượng tín dụng của Ngân hàng.

Như vậy, dựa vào các chỉ tiêu định tính có thể đánh giá được phần nào khả năng mở rộng qui mô tín dụng và chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại. ABBANK Hải Phòng cũng đã nỗ lực tạo điều kiện thuận lợi nhất cho khách hàng nhưng vẫn đảm bảo yếu tố an toàn trong kinh doanh.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

2.3.2. Chất lượng tín dụng qua chỉ tiêu định lượng Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ABBANK

2.3.2.1. Tổng dư nợ và kết cấu dư nợ

Bảng 2.6: Bảng dư nợ và kết cấu dư nợ theo kì hạn

Qua bảng số liệu 2.6 cho thấy dư nợ cho vay của Ngân hàng có xu hướng tăng qua các năm. Năm 2017 tăng 205.356 triệu đồng so với năm 2016 tương đương với 17,3%. Năm 2018 tăng 127.829 triệu đồng so với năm 2017, tương ứng với 9.2%. Trong đó tỷ lệ cho vay ngắn hạn chiếm ưu thế so với cho vay trung và dài hạn trong tổng dư nợ cho vay.

Bảng 2.7: Phân loại nợ của ABBANK Hải Phòng

Qua bảng 2.7, ta thấy dư nợ vay của Chi nhánh ABBANK Hải Phòng nợ đủ tiêu chuẩn chiếm tỉ trọng lớn trên 90% trong suốt giai đoạn. Tuy nhiên nợ dưới tiêu chuẩn có xu hướng tăng lên, xuất hiện các món nợ có khả năng mất vốn. Cụ thể là:

Năm 2016 tỉ lệ nợ xấu là 4,65%. Tỷ lệ nợ xấu đang có xu hướng giảm, năm 2017 là 3,86%, năm 2018 là 3,52%. Nguyên nhân là do chỉ tiêu nợ đủ tiêu chuẩn tăng, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn đều tăng. Chi nhánh ABBANK Hải Phòng luôn đặt vấn đề ngăn chặn và kiểm soát nợ quá hạn là một trong những mối quan tâm hàng đầu trước khi xử lí nợ quá hạn. Chi nhánh ABBANK Hải Phòng luôn có những giải pháp trong công tác xử lí nợ quá hạn, đảm bảo luôn bám sát, theo dõi chặt chẽ và từng bước khắc phục, thu hồi nợ vay hạn chế tối đa tổn thất cho Ngân hàng.

Ta có thể thấy nợ đủ tiêu chuẩn (Nợ nhóm 1) luôn chiếm tỷ trọng cao nhất (trên 90%) trong tổng dư nợ. Cụ thể Nợ đủ tiêu chuẩn năm 2016 chiếm 90,87% (tương đương 1.077.875 triệu đồng), năm 2017 chiếm 91,36% (tương đương 1.271.279 triệu đồng), năm 2018 chiếm 92,5% (tương đương 1.405.422 triệu đồng). Mặc dù chiếm tỷ trọng cao nhất nhưng đây vẫn là con số hơi thấp, nó chứng tỏ các món vay có tiềm ẩn rủi ro cao hơn.

Tóm lại, ta thấy tổng dư nợ của ABBANK Hải Phòng giai đoạn từ năm 2016 – 2018 tăng dần qua các năm. Nhưng tổng dư nợ cao chưa chứng tỏ được hoạt động tín dụng của ABBANK Hải Phòng là tốt. Nguyên nhân là do trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nguồn vốn lưu động của các thành phần kinh tế thường xuyên bị thiếu hụt. Trong khi đó, nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu này cho DN chính là nguồn tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng. Hiện nay, nước ta đã và đang trong quá trình công nghiệp hóa, tốc độ phát triển kinh tế ở mức độ cao thì vốn lưu động lại cần thiết hơn bao giờ hết. Vì vậy, rủi ro tín dụng là cao, hơn nữa việc cho vay ngắn hạn chiếm ưu thế hơn cho vay trung và dài hạn.

2.5.2.2. Doanh số cho vay, doanh số thu nợ Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ABBANK

2.5.2.3. Tỷ lệ nợ quá hạn

Bảng 2.9: Tỷ lệ nợ quá hạn của ABBANK Hải Phòng

Nhìn vào bảng tỷ lệ nợ quá hạn trên ta có thể thấy rõ được tình hình nợ quá hạn tại ABBANK Hải Phòng trong 3 năm vừa qua. Nhìn chung, tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ xấu có xu hướng giảm. Nợ có nguy cơ mất vốn chiếm tỷ trọng nhỏ dưới 5,5% nhưng lại có xu hướng gia tăng từ năm 2016 đến năm 2018 với tổng mức tăng trưởng là 0,2%. Điều này cho thấy rủi ro trong những khoản tín dụng đã cấp đang có xu hướng tăng lên và Chi nhánh ABBank Hải Phòng cần có các biện pháp kiểm soát và xử lý khoản nợ này.

Bảng 2.10: Nợ quá hạn, tỷ lệ nợ quá hạn của ABBANK Hải Phòng

Qua bảng số liệu 2.10 cho thấy dư nợ quá hạn của ABBANK Hải Phòng thay đổi qua các năm. Năm 2016, nợ quá hạn ở mức 108.331 triệu đồng, tỷ lệ nợ quá hạn/tổng dư nợ là 9,13%. Năm 2017, nợ quá hạn đạt mức 120.283 triệu đồng (tăng 11.952 triệu đồng so với năm 2016) nhưng tỷ lệ nợ qua hạn/ tổng dư nợ lại giảm xuống còn 8,64%. Đến năm 2018, nợ qúa hạn giảm xuống còn 113.969 triệu đồng (giảm 6.314 triệu đồng so với năm 2017), tỷ lệ nợ quá hạn/tổng dư nợ tiếp tục giảm còn 7,50%. Nguyên nhân là do tổng dư nợ tăng mạnh. Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ABBANK

Ta xét nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu

Bảng 2.11: Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu của ABBANK Hải Phòng

Qua bảng số liệu cho thấy nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu của ABBANK Hải Phòng giai đoạn từ năm 2016 – 2018 giảm thấp nhất ở năm 2018 đạt 3,52%. Đây là những khoản nợ chủ yếu là nợ của những đơn vị đã ngừng hoạt động và nợ của những đơn vị kinh doanh yếu kém nhiều năm chưa được tổ chức, sắp xếp lại. Những khoản nợ này đã gây ảnh hưởng không tốt đến chất lượng tín dụng của Ngân hàng.

Tuy nhiên xét theo cơ cấu nhóm nợ thì ta có thể thấy một dấu hiệu là nợ xấu có chiều hướng tăng lên tập trung chủ yếu vẫn là nợ nhóm 3 và nhóm 5, trong đó nợ nhóm 5 tăng cả về giá trị và tỷ trọng, đây là khoản nợ rất dễ có nguy cơ mất vốn. Nắm bắt được tình hình này Ngân hàng đã khẩn trương đề ra những biện pháp để cải thiện tình hình thu hồi nợ trong năm 2018.

2.5.2.4. Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng

Bảng 2.12: Thu nhập từ hoạt động tín dụng

Qua bảng số liệu trên ta thấy vòng quay vốn tín dụng của ABBANK Hải Phòng diễn ra khá tốt. Cụ thể năm 2016 đạt 1,23 vòng, sang năm 2017 đồng vốn của NH quay vòng nhanh hơn so với năm 2017 đạt 1,26 vòng. Nguyên nhân là do tốc độ tăng của Doanh số thu nợ nhanh hơn so với tốc độ tăng của Dư nợ bình quân. Sang năm 2018, đồng vốn của ABBANK Hải Phòng có sự giảm nhẹ, đạt 1,24 vòng. Điều này bắt nguồn từ tín dụng ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh số cho vay và cả doanh số thu nợ. Trong định hướng sắp tới, Ngân hàng cần phải quan tâm thu hồi những món nợ đã đến hạn, cần có những giải pháp hữu hiệu để đôn đốc khách hàng trả nợ đúng hạn, giúp gia tăng doanh số thu nợ, đẩy nhanh tốc độ quay vòng vốn tín dụng, góp phần nâng cao hiệu quả huy động và chất lượng nghiệp vụ tín dụng của Ngân hàng.

2.5.2.5. Thu nhập từ hoạt động tín dụng Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ABBANK

Bảng 2.13: Thu nhập từ hoạt động tín dụng

Qua bảng trên ta có thể thấy thu nhập của ABBANK Hải Phòng thay đổi qua các năm. Năm 2016, tổng thu nhập ở mức 318.666 triệu đồng, tỷ lệ thu nhập từ hoạt động tín dụng là 86,54%. Năm 2017, thu nhập tăng đạt 331.418 triệu đồng, theo đó tỷ lệ thu nhập từ hoạt động tín dụng tăng lên đến 89,33%. Đến năm 2018, thu nhập tăng mạnh lên đến 399.880 triệu đồng nhưng tỷ lệ thu nhập từ hoạt động tín dụng lại giảm xuống còn 83,04% cho thấy Ngân hàng đang thực thi biện pháp chưa được hiệu quả, Ngân hàng cần xem xét và điều chỉnh các chỉ tiêu cho hợp lý hơn.

2.5.2.6. Hiệu suất sử dụng vốn

Bảng 2.14: Hiệu suất sử dụng vốn

Nhìn chung, trong thời gian qua ABBANK Hải Phòng có những chiến lược kinh doanh khá tốt đã khai thác triệt để nguồn vốn huy động của mình Năm 2016, chỉ tiêu này là 89,48% nghĩa là bình quân cứ 100 đồng vốn huy động thì ngân hàng đã cho vay được 89,48 đồng. Năm 2017, hiệu suất sử dụng vốn tín dụng có sự giảm nhẹ đến năm 2018 xuống còn 78,24%. Điều này cho thấy nhu cầu vốn vay của khách hàng là bị giảm sút và Ngân hàng cần điều chỉnh những chiến lược kinh doanh phù hợp để thu hút khách hàng hơn.

2.5.2.7. Thu hồi nợ

Bảng 2.15: Khả năng thu hồi nợ

Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả tín dụng trong việc thu nợ của Ngân hàng. Nó phản ánh trong 1 thời kì nào đó, với doanh số cho vay nhất định thì Ngân hàng sẽ thu về được bao nhiêu đồng vốn. Nhìn chung hệ số thu nợ của Ngân hàng có biến đổi nhưng theo hướng tích cực. Cụ thể là năm 2016, hệ số thu hồi nợ ở mức 0.94, nghĩa là cứ 100 đồng cho vay sẽ thu về được 94 đồng. Năm 2017, 2018 chỉ số này lần lượ là 0,89 và 0,93. Hệ số thu nợ của Chi nhánh về cơ bản vẫn đạt mục tiêu đề ra của Hội sở chính. Mặc dù năm 2017 hệ số này có giảm xuống là do trong năm 2017 Chi nhánh mở rộng hoạt động cho vay trong đó cho vay trung dài hạn có sự giá tăng khá nhanh nên làm cho vòng quay tín dụng và hệ số thu hồi nợ có giảm chút ít xong vẫn nằm trong khả năng quản lý của Chi nhánh.

2.4. Đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ABBANK

2.4.1. Kết quả đạt được

  • Doanh số cho vay của Ngân hàng luôn giữ ở mức ổn định, quy mô dư nợ tăng đều đặn qua các năm. Tín dụng ngắn hạn và trung dài hạn đều đáp ứng nhanh chóng nhu cầu vốn của các doanh nghiệp và cá nhân.
  • Công tác thu nợ quá hạn, nợ khó đòi được chú trọng đúng mức; phân loại nợ quá hạn, kiểm tra đối chiếu nợ được tiến hành thường xuyên. Tỷ lệ nợ quá hạn luôn được Ngân hàng chú trọng kiểm tra và điều chỉnh ở mức an toàn.
  • Ngân hàng đã triển khai công tác tiếp cận doanh nghiệp, hướng dẫn doanh nghiệp lập hồ sơ vay vốn hợp lý, đúng quy định nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoàn thành các thủ tục xin vay nhanh chóng và thuận lợi. Ngân hàng từng bước gắn mình với doanh nghiệp qua vai trò tư vấn.
  • Trong quá trình cho vay, Ngân hàng đã thực hiện việc kiểm tra khách hàng trước, trong và sau khi cho vay. Ngoài ra, Ngân hàng còn xem xét các vấn đề thị trường, sản phẩm tiêu thụ, thu nhập… của khách hàng trong phạm vi cho phép.
  • Ngân hàng đã lựa chọn những cán bộ có đủ chuyên môn nghiệp vụ, có trách nhiệm và nhiệt tình công tác và phòng tín dụng tạo điều kiện giúp đỡ các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả.

2.4.2. Khó khăn, hạn chế

Hoạt động tín dụng mới chỉ tập trung vào cho vay khách hàng và chiết khấu thương phiếu, GTCG. Các loại hình tín dụng chưa phát triển đồng bộ, đáng lưu ý là hoạt động bảo lãnh hết sức nhỏ bé còn hoạt động cho thuê tài chính thì chưa được triển khai.

Các khoản tín dụng còn tập trung vào các khoản cho vay ngắn hạn với mục đích bổ sung vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh vừa và nhỏ. Đối tượng nhận tín dụng chủ yếu là cá nhân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Do đó, các khoản cho vay thường có quy mô nhỏ và thường là cho vay theo món.

Tỷ lệ nợ quá hạn tuy còn thấp nhưng có xu hướng gia tăng là dấu hiệu rủi ro trong hoạt động tín dụng đang gia tăng.

Khả năng dự báo các biến động thị trường còn hạn chế, hoạt động tín dụng còn chịu ảnh hưởng lớn từ các yếu tố thị trường bên ngoài nên còn mang tính bị động.

2.4.3. Nguyên nhân hạn chế Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ABBANK

Do kinh tế suy thoái, các hoạt động ngân hàng bán buôn gặp khó khăn hơn, nhiều NHTM chủ động phát triển mạnh sang lĩnh vực kinh doanh bán lẻ, cuộc cạnh tranh giành miếng bánh thị phần của Chi nhánh ABBank Hải Phòng càng trở nên khốc liệt hơn.

Một số ngân hàng đi đầu trong hoạt động Ngân hàng bán lẻ như ACB, Sacombank và Techcombank đã có chiến lược và đường lối phát triển rõ ràng. Nay trong hoàn cảnh ngày càng có thêm nhiều đối thủ cạnh tranh, mà nhất là các đối thủ đến từ nước ngoài vốn có thế mạnh trong hoạt động ngân hàng bán lẻ nói chung và hoạt động tín dụng cá nhân nói riêng thì càng khó khăn hơn cho Chi nhánh ABBank Hải Phòng để có thể cạnh tranh phát triển.

Việc phát triển tín dụng cá nhân chưa đồng bộ từ Hội sở chính đến Chi nhánh và phòng giao dịch.

Cụ thể là công tác xây dựng sản phẩm tại Hội sở chính vẫn thực hiện theo phương pháp truyền thống, chưa đón được xu hướng nhu cầu của thị trường và chưa có các công cụ hỗ trợ bán hàng cho chi nhánh.

Trong công tác triển khai tại Chi nhánh ABBank Hải Phòng vẫn còn tâm lý “ngại” bán lẻ do thủ tục thực hiện còn rườm rà, tốn thời gian, chi phí và tốn nhiều nhân lực. Về phía chi nhánh thì chưa chủ động trong việc tìm kiếm cơ hội hợp tác, liên kết với các đối tác tại địa bàn như chủ đầu tư các dự án bất động sản, các sàn giao dịch bất động sản, các showroom ô tô… để bán các sản phẩm tín dụng cá nhân đã ban hành.

Các phòng giao dịch còn thụ động trong việc tiếp nhận và chấp hành các chỉ đạo của Hội sở chính và chi nhánh điều chỉnh chính sách tín dụng cho phù hợp với xu thế của thị trường trong từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể.

Chiến lược phát triển tín dụng cá nhân của các NHTM có nhiều điểm tương đồng về sản phẩm, chính sách, quản trị điều hành…

Điều này phản ánh mặt bằng phát triển chung của các NHTM tại Việt Nam. Song cũng là điểm khó trong xây dựng chiến lược riêng của mỗi ngân hàng khi muốn tạo dựng cái riêng của mình trước công chúng. Đặc biệt là đối với Chi nhánh ABBank Hải Phòng, khi mà hình ảnh ngân hàng bán buôn đã đi sâu vào tiềm thức của khách hàng, việc phát triển bán lẻ muốn có chỗ đứng trên thị trường phải tạo được nét khác biệt tích cực so với các đối thủ cạnh tranh.

Các sản phẩm cho vay truyền thống tại Việt Nam chủ yếu là sản phẩm đơn lẻ đáp ứng cho từng nhu cầu riêng. Thị trường tài chính ngân hàng của Việt Nam phát triển sau khá xa so với các nền kinh tế phát triển trên thế giới. Trên cơ sở kế thừa và phát huy, thách thức đặt ra cho NHTMCP An Bình là nghiên cứu cho ra đời những sản phẩm tín dụng cá nhân theo hướng kết hợp thành gói dịch vụ tài chính cá nhân phù hợp với thói quen, tập quán của người Việt Nam. Đây là một hướng đi mới giúp Chi nhánh ABBank Hải Phòng có thể đón đầu nhu cầu thị trường tại Việt Nam.

Việc đào tạo cán bộ công nhân viên trong công tác quản lý, quan hệ khách hàng tuy đã triển khai nhưng thực sự chưa có tính hệ thống, thiếu bài bản, chưa bắt kịp nhu cầu phát triển.

Điển hình như lãnh đạo Chi nhánh ABBank Hải Phòng chưa nhận thức được tầm quan trọng cũng như sự cần thiết triển khai tín dụng cá nhân tại Chi nhánh. Lãnh đạo Chi nhánh chỉ có chuyên môn kế toán mà không có chuyên môn và thiếu kinh nghiệm trong công tác tín dụng nên không mạnh dạn xét duyệt hồ sơ tín dụng.

Lực lượng nhân sự làm việc tại bộ phận tín dụng cá nhân còn mỏng. Chi nhánh ABBank Hải Phòng chưa hoạch định được số lượng nhân sự cần thiết cho phát triển tín dụng cá nhân trong ngắn hạn và lâu dài. Từ đó dẫn đến việc tuyển dụng và đào tạo nhân sự lẻ tẻ gây tốn kém chi phí, đồng thời cũng không kịp thời đáp ứng nhu cầu phát triển, mở rộng công tác bán hàng.

Tín dụng cá nhân triển khai tại Chi nhánh ABBank Hải Phòng bị hạn chế sản phẩm cho vay có tài sản thế chấp hình thành trong tương lai

Các sản phẩm cho vay bị hạn chế tại phòng giao dịch bao gồm Cho vay mua nhà dự án và Cho vay mua ô tô. Do đó không thỏa mãn được nhu cầu khách hàng khi tìm đến vay vốn tại phòng giao dịch, đồng thời cũng hạn chế cơ hội cho CBTD của Chi nhánh ABBank Hải Phòng khi tiếp thị tìm kiếm khách hàng.

Để xử lý các nhu cầu vay mua nhà dự án và vay mua ô tô, phòng giao dịch sẽ tiếp nhận và chuyển hồ sơ vay lên cho chi nhánh. Điều này gây tốn kém thời gian cũng như công sức của khách hàng, từ đó dẫn đến tâm lý e ngại khi tiếp cận Chi nhánh ABBank Hải Phòng cho những lần sau, ngoài ra còn thể hiện sự thiếu chuyên nghiệp trong công tác bán hàng.

Tuy nhiên dù sao chiến lược phát triển bán lẻ song hành với bán buôn đã được đặt ra để Chi nhánh ABBank Hải Phòng có thể cạnh tranh và giữ vững vị thế trong thời kỳ hội nhập. Vì vậy để có thể nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, Chi nhánh ABBank Hải Phòng cần phải cân nhắc việc chấp nhận một mức độ rủi ro cao (tỷ lệ nợ xấu tín dụng cá nhân cao) để đạt được mức lợi nhuận lớn (thị phần tín dụng cá nhân lớn). Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ABBANK

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY   

===>>> Khóa luận: Giải pháp nâng cao tín dụng tại ngân hàng ABBANK

One thought on “Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng tại ABBANK

  1. Pingback: Khóa luận: Khái quát về Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464