Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực lao động hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực lao động và hôn nhân gia đình dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Thực trạng lao động trẻ em tại Việt Nam:
Theo Điều tra quốc gia về lao động trẻ em năm 2012, Việt Nam có hơn 2,8 triệu trẻ em tham gia hoạt động kinh tế, trong đó số lao động trẻ em lên đến 1,75 triệu trẻ, chiếm 9,6 phần trăm dân số trẻ em và khoảng 62% tổng số trẻ em hoạt động kinh tế ở Việt Nam. Tỷ lệ động trẻ em có thời giam làm việc dưới 42 giờ/tuần là 87,6 phần tram và tỷ lệ lao động trẻ em có thời giam làm việc trên 42 giờ/tuần là 32,4 phần trăm. Trong số đó:
- 14,9 phần trăm trẻ em từ 5 đến 11 tuổi tham gia các hoạt động kinh tế ít nhất 01 giờ
- 10,2 phần trăm trẻ em từ 12-14 tuổi tham gia các hoạt động kinh tế từ 14 giờ trở lên
- 6,8 phần trăm trẻ em từ 15-17 tuổi tham gia hoạt động kinh tế từ 43 giờ trở lên.
Có 16,4 phần trăm trẻ em từ 5-17 tuổi tham gia hoạt động kinh tế hoặc làm các công việc nhà vượt ngưỡng thời gian và được cho là lao động trẻ em. Đặc biệt trong đó có 7,8 phần trăm trẻ em trong độ tuổi này đang phải làm việc trong điều kiện nguy hiểm, độc hại. Lao động trẻ em có nguy cơ phải làm những công việc thuộc danh mục những công việc cấm lao động chưa thành niên và điều kiện lao động có hại là khoảng hơn 1.300 ngàn em, chiếm 75% tổng số lao động trẻ em trên cả nước. Thống kê MICS năm 2014 và Điều tra Quốc gia về Lao động trẻ em năm 2012 chỉ ra xu hướng tỷ lệ lao động trẻ em tăng từ 10% lên tới 12,1%. Trẻ em ở độ tuổi càng lớn thì tỷ lệ các em làm việc trong môi trường nguy hiểm càng cao, cụ thể từ độ tuổi 5-11, 12-14 và 15-17 lần lượt là 9,7% – 29,3% – 61% (Điều tra Quốc gia về Lao động trẻ em năm 2012) và 3,7% – 10,6% – 15,7% (MICS 2014) [4].
Bảng 2.1: Lao động trẻ em Khóa luận: Thực trạng bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực lao động.
(Phần trăm trẻ em từ 5-17 tuổi tham gia hoạt động kinh tế hoặc làm việc nhà, phần trăm làm việc trong môi trường nguy hiểm và phần trăm tham gia vào lao động trẻ em trong tuần trước điều tra, Việt Nam, 2014)
Theo Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ (MICS) ở Việt Nam 2014, lao động trẻ em là thực tế đang tồn tại ở nhiều ngành nghề, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, diễn ra chủ yếu ở các vùng nông thôn và trẻ em hầu hết phải làm việc không được trả lương. 12,1 phần trăm trẻ em từ 5-17 tuổi tham gia hoạt động kinh tế vượt quá ngưỡng thời gian tương ứng với tuổi. Tỷ lệ trẻ em 5-17 tuổi tham gia hoạt động kinh tế vượt quá ngưỡng số giờ tương ứng với tuổi không có sự khác biệt lớn giữa nam và nữ. Tuy nhiên, có sự khác biệt rất lớn giữa các vùng, trong khi vùng thấp nhất là Đồng bằng sông Hồng chỉ ở mức 3,0 phần trăm, thì tỷ lệ này vùng cao nhất là Trung du và miền núi phía Bắc lên tới 25,5 phần trăm; tỷ lệ này khu vực nông thôn cao hơn thành thị (14,0 phần trăm so với 7,5 phần trăm); nhóm dân tộc thiểu số cao hơn nhóm Kinh/Hoa (9,2 phần trăm so với 26,1 phần trăm); trẻ em không đi học (chiếm 32 phầm trăm) cao hơn gấp 3 lần tỷ lệ trẻ em đi học (10,4 phần trăm). [28]
Những con số trên tuy chưa thể phản ánh chính xác nhất tính hình lao động trẻ em hiện nay tại Việt Nam vì còn chưa có những tổng hợp thống nhất về những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất như: nô lệ, trẻ em trong thương mại tình dục hoặc trẻ em buôn bán ma túy … và những báo cáo này được tiến hành thu thập, điều tra từ năm 2012 – 2014. Tuy nhiên, những báo cáo trên cũng thể hiện tình trạng đáng lo ngại về lao động trẻ em hiện nay.
2.2. Quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực lao động:
Hệ thống văn bản chính sách, pháp luật của Việt Nam về phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em bao gồm Hiến pháp 2013 và một số luật chuyên ngành, trong đó tiêu biểu là Bộ luật Lao động 2012, Luật Trẻ em 2016 và Bộ luật Hình sự 2015. Ngoài ra, còn một số văn bản dưới luật như quan trọng như Thông tư số 10/2013/QĐ-BLĐTBXH ban hành Danh mục các công việc và nơi làm việc cấm sử dụng lao động là người chưa thành niên và Thông tư số 11/2013/TT-BLĐTBXH ban hành Danh mục công việc nhẹ được sử dụng người dưới 15 tuổi làm việc. Điều 37 Hiến pháp 2013 nêu rõ: “Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em”.
2.2.1. Quy định tại Bộ luật lao động: Khóa luận: Thực trạng bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực lao động.
Bộ luật lao động Việt Nam năm 2012 dành riêng 1 chương (Chương XI) quy định đối với lao động chưa thành niên. Theo điều 161 Bộ luật lao động năm 2012: “Người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi”. Việc quy định như vậy có ý nghĩa loại trừ tất cả các trường hợp khác nhau ở độ tuổi lao động đầy đủ, xác định ranh giới, phạm vi tham gia công việc, tạo điều kiện đảm bảo và có những phương hướng bảo vệ người lao động chưa thành niên trong quan hệ lao động và thị trường lao động. Theo Điểu 3 Bộ luật lao động năm 2012, người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. Như vậy, pháp luật Việt Nam quy định độ tuổi lao động tối thiểu là 15 tuổi, tương ứng với quy định của Công ước số 138 của ILO.
Về việc sử dụng lao động chưa thành niên, tại Điều 162, Bộ luật lao động năm 2012 quy định:
“1. Người sử dụng lao động chỉ được sử dụng người lao động chưa thành niên vào những công việc phù hợp với sức khoẻ để bảo đảm sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách và có trách nhiệm quan tâm chăm sóc người lao động chưa thành niên về các mặt lao động, tiền lương, sức khoẻ, học tập trong quá trình lao động.
2. Khi sử dụng người lao động chưa thành niên, người sử dụng lao động phải lập sổ theo dõi riêng, ghi đầy đủ họ tên, ngày tháng năm sinh, công việc đang làm, kết quả những lần kiểm tra sức khoẻ định kỳ và xuất trình khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu”
Người sử dụng lao động chỉ được sử dụng lao động chưa thành niên làm các công việc “phù hợp với sức khoẻ để bảo đảm sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách”. Người sử dụng lao động phải quan tâm đến 3 vấn đề mà người lao động dưới 18 tuổi dễ bị tổn hại như: thể lực, trí lực và nhân cách. Đồng thời người sử dụng lao động cũng cần quan tâm đến tiền lương, sức khỏe và học tập của người lao động trong trường hợp này. Ngoài ra, người sử dụng lao động còn phải lập sổ theo dõi đối với những lao động chưa thành niên. Điều này nhằm mục đích giúp người sử dụng lao động nắm bắt được những vấn đề mà người lao động dưới 18 tuổi đang hoặc có thể gặp phải, từ đó có những biện pháp phù hợp để điều chỉnh và bảo vệ lao động chưa thành niên.
Bộ luật lao động năm 2012 cũng quy định rõ về nguyên tắc sử dụng lao động chưa thành niên (Điều 163). Theo đó, do người lao động chưa thành niên nhạy cảm với các yếu tố nguy hiểm, độc hại, dễ sa đà và bị cám dỗ bởi các chất gây nghiện, lại chưa đủ nhận thức và thiếu kinh nghiệm trong việc phòng tránh, vậy nên pháp luật nghiêm cấm sử dụng lao động chưa thành niên trong những hoạt động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc có liên quan đến sản xuất và kinh doanh cồn, rượu, bia, thuốc lá, chất tác động đến tinh thần và các chất gây nghiện. Đối với những lao động còn trong độ tuổi đi học, chưa hoàn thành giáo dục phổ thông (dưới 15 tuổi) thì được tạo điều kiện để học văn hóa. Người sử dụng lao động trong trường hợp này không được phép cản trở hoặc có hành động làm ảnh hưởng đến việc đi học của lao động chưa thành niên. Ngoài ra, Điều 163 cũng đề cập đến thời giờ làm việc của những lao động chưa thành niên. Khóa luận: Thực trạng bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực lao động.
Bảng 2.2: Thời giờ làm việc của lao động chưa thành niên
Đối với người lao động từ 13 đến dưới 15 tuổi, pháp luật Việt Nam quy định những người này chỉ có thể làm các công việc nhẹ theo danh mục do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định (theo Điều 164 Bộ luật Lao động năm 2012). Đồng thời, người sử dụng lao động và người đại diện hợp pháp phải có hợp đồng lao động bằng văn bản với sự đồng ý của người lao động.
Bộ luật Lao động năm 2012 cũng quy định về các công việc và nơi làm việc cấm sử dụng lao động là người chưa thành niên (Điều 165).
Cấm sử dụng người chưa thành niên làm các công việc sau đây:
- a) Mang, vác, nâng các vật nặng vượt quá thể trạng của người chưa thành niên;
- Sản xuất, sử dụng hoặc vận chuyển hóa chất, khí gas, chất nổ;
- Bảo trì, bảo dưỡng thiết bị, máy móc;
- Phá dỡ các công trình xây dựng;
- đ) Nấu, thổi, đúc, cán, dập, hàn kim loại;
- e) Lặn biển, đánh bắt cá xa bờ;
- g) Công việc khác gây tổn hại cho sức khoẻ, an toàn hoặc đạo đức của người chưa thành niên.
- Cấm sử dụng người chưa thành niên làm việc ở các nơi sau đây: a) Dưới nước, dưới lòng đất, trong hang động, trong đường hầm;
- Công trường xây dựng;
- Cơ sở giết mổ gia súc;
- Sòng bạc, quán bar, vũ trường, phòng hát karaoke, khách sạn, nhà nghỉ, phòng tắm hơi, phòng xoa bóp;
- Nơi làm việc khác gây tổn hại đến sức khoẻ, sự an toàn và đạo đức của người chưa thành niên.
- Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định danh mục tại điểm g khoản 1 và điểm đ khoản 2 Điều này”
Việc ban hành quy định này là rất cần thiết. Một mặt có thể bảo vệ những lao động chưa đủ 18 tuổi, mặt khác có thể giúp xác định trách nhiệm của người sử dụng lao động cũng như những cơ quan chức năng có thẩm quyền trong việc bảo vệ trẻ em.
2.2.2. Quy định tại Bộ luật Hình sự: Khóa luận: Thực trạng bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực lao động.
So với Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 có sự thay đổi với chế tài nghiêm khắc hơn. Theo đó, người nào sử dụng người dưới 16 tuổi làm những công việc nặng nhọc, nguy hiểm hoặc tiếp xúc với các chất độc hại theo danh mục mà Nhà nước quy định thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Phạm tội với tình tiết tăng nặng bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm (Điều 296 quy định về “Tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi”).
Ngoài quy định trên, Bộ luật Hình sự 2015 còn bao gồm một số tội danh khác trừng trị những hành vi liên quan đến một số hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, cụ thể như Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147), Tội mua bán người dưới 16 tuổi (Điều 151), Tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người dưới 18 tuổi phạm pháp (Điều 325), Tội mua dâm người dưới 18 tuổi (Điều 329); một số hành vi sẽ bị coi là tình tiết tăng nặng nếu phạm tội với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi ví dụ như: Tội cưỡng bức lao động (Điều 297), Tội chứa mại dâm (Điều 327), Tội môi giới mại dâm (Điều 328).
2.2.3. Các văn bản dưới luật:
Để cụ thể hoá và hướng dẫn thực hiện những quy định về lao động chưa thành niên và lao động trẻ em trong một số luật nêu trên, Chính phủ đã ban hành một số Thông tư, Nghị định ví dụ như: Thông tư số 10/2013/QĐ-BLĐTBXH ban hành Danh mục các công việc và nơi làm việc cấm sử dụng lao động là người chưa thành niên và Thông tư số 11/2013/TT-BLĐTBXH ban hành Danh mục công việc nhẹ được sử dụng người dưới 15 tuổi làm việc; Nghị định số 56/NĐ-CP ngày 9/5/2017 quy định chi tiết một số điều về Luật trẻ em, Nghị định số 144/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo trợ, cứu trợ xã hội và bảo vệ, chăm sóc trẻ em Khóa luận: Thực trạng bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực lao động.
Theo Thông tư số 11/2013/TT-BLĐTBXH, các công việc được sử dụng người lao động dưới 15 tuổi bao gồm:
Các công việc được sử dụng người dưới 13 tuổi làm việc bao gồm: Diễn viên: múa; hát; xiếc; điện ảnh; sân khấu kịch, tuồng, chèo, cải lương, múa rối (trừ múa rối dưới nước); Vận động viên năng khiếu: thể dục dụng cụ, bơi lội, điền kinh (trừ tạ xích), bóng bàn, cầu lông, bóng rổ, bóng ném, bi-a, bóng đá, các môn võ, đá cầu, cầu mây, cờ vua, cờ tướng, bóng chuyền.
Các công việc được sử dụng người từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi làm việc bao gồm: (1) Những công việc được sử dụng người dưới 13 tuổi làm việc; (2) Các nghề truyền thống: chấm men gốm, cưa vỏ trai, vẽ tranh sơn mài, làm giấy dó, nón lá, se nhang, chẩm nón, dệt chiếu, làm trống, dệt thổ cẩm, làm bún gạo, làm giá đỗ, làm bánh đa (miến), làm bánh đa Kế; (3) Các nghề thủ công mỹ nghệ: thêu ren, mộc mỹ nghệ, làm lược sừng, đan lưới vó, làm tranh Đông Hồ, nặn tò he; (4) Đan lát, làm các đồ gia dụng, đồ thủ công mỹ nghệ từ nguyên liệu tự nhiên như: mây, tre, nứa, dừa, chuối, bèo lục bình; (5) Nuôi tằm; (6) Gói kẹo dừa.
Ngoài ra, việc sử dụng lao động trẻ em theo pháp luật Việt Nam ngoài xử phạt hình sự (như Bộ Luật Hình sự đã quy định) thì còn có chế tài xử phạt vi phạm hành chính. Các hành vi vi phạm và chế tài về vấn đề này được quy định trong Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 08 năm 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng có một điều riêng (Điều 19 về vi phạm quy định về lao động chưa thành niên: Trong đó có phạt cảnh cáo đối với người sử dụng lao động có hành vi không lập sổ theo dõi khi sử dụng lao động chưa thành niên hoặc không xuất trình sổ theo dõi khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu) và Nghị định 144/2013/NĐ-CP ngày 29/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo trợ, cứu trợ xã hội và bảo vệ, chăm sóc trẻ em (Điều 29 về hành vi của cha, mẹ, người giám hộ, người nuôi dưỡng trẻ em bắt trẻ em làm công việc gia đình quá sức, quá thời gian, ảnh hưởng đến việc học tập, vui chơi, giải trí, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của trẻ em và một số Điều khác), quy định chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với vi phạm về bảo vệ chăm sóc trẻ em, trong đó có cấm lạm dụng lao động trẻ em; cấm sử dụng trẻ em để mua, bán, vận chuyển hàng hóa, hàng giả, hàng trốn thuế, tiền tệ trái phép… Ngoài ra còn có Thông tư liên tịch số 21/2004/TTLT-BLĐTBXH-BYT quy định danh mục chỗ làm việc, công việc không được sử dụng người lao động dưới 18 tuổi trong các cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ bị lợi dụng để hoạt động mại dâm như khách sạn, nhà nghỉ, xoa bóp/ massage, hớt tóc, gội đầu, vận chuyển du lịch… Khóa luận: Thực trạng bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực lao động.
2.2.4. Một số chương trình, kế hoạch hành động cấp Quốc Gia:
Ngoài những văn bản quy phạm pháp luật đã nêu ở trên, Nhà nước còn lồng ghép vấn đề hạn chế lao động trẻ em vào những chương trình và kế hoạch hành động cấp Quốc gia. Trong số đó phải kể đến như: Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em (các giai đoạn 1991-2000, 2000-2010, 2012-2020); Chương trình hành động quốc gia về bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt giai đoạn 1999-2002, Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011-2015; Chương trình bảo vệ trẻ em giai đoạn 2016-2020; Chương trình ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm phạm tình dục và trẻ em phải lao động nặng nhọc, trong điều kiện độc hại, nguy hiểm giai đoạn 2004-2010; Chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em từ năm 2004 đến năm 2010; Chương trình phòng, chống mua bán người (các giai đoạn 2011 – 2015, 2016 – 2020); Chiến lược Phát triển Giáo dục 2011-2020…
2.2.5. Giám sát, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về lao động trẻ em:
Hoạt động giám sát bao gồm thu thập thông tin, dữ liệu, quản lý thông tin, trao đổi thông tin và sử dụng thông tin để ra quyết định ở các cấp độ khác nhau. Theo Điều 91 và 92 Luật Trẻ em năm 2016, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và Hội bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam có quyền và trách nhiệm giám sát các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng, thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật quyền của trẻ em. Ngoài ra hiện còn có nhiều chủ thể khác tham gia vào hoạt động giám sát lao động trẻ em, trong đó bao gồm cả cơ quan quản lý nhà nước, đặc biệt là hệ thống cơ quan chuyên trách về bảo vệ, chăm sóc trẻ em; HĐND, UBND các cấp; các cơ quan và cán bộ ngành giáo dục; hệ thống các tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động; Liên minh Hợp tác xã Việt Nam (VCA) và hệ thống các tổ chức đại diện cho người lao động; các Ban thanh tra nhân dân (được thành lập ở xã, phường, thị trấn và các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại Điều 12 Luật Thanh tra 2010)
Thanh tra là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. Thanh tra lao động (bao gồm thanh tra về lao động trẻ em) thuộc về thanh tra chuyên ngành, do thanh tra của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Thanh tra Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp và thanh tra của các Sở Lao động-Thương binh và Xã hội cấp tỉnh thực hiện. Trong cơ cấu tổ chức của Thanh tra Bộ, các bộ phận liên quan trực tiếp đến thanh tra về lao động trẻ em là các Phòng Thanh tra chính sách Lao động; Phòng Thanh tra an toàn lao động, vệ sinh lao động và Phòng Thanh tra chính sách về Trẻ em và xã hội.
2.3. Thực trạng vấn đề bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực Hôn nhân gia đình: Khóa luận: Thực trạng bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực lao động.
Chất lượng chăm sóc có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển của trẻ. Tại Việt Nam, một số lượng lớn trẻ em không nhận được sự chăm sóc và hỗ trợ đầy đủ từ cha mẹ. Đối tượng này bao gồm các em mất cha hoặc mẹ hoặc cả hai (trẻ mồ côi), trẻ em lang thang và trẻ em có cha mẹ làm việc xa nhà.[4] Theo MICS 2014, khoảng 5,2% trẻ em tuổi từ 0-17 không sống cùng cha mẹ ruột của mình; 3,5% cha mẹ ruột đã mất và 1,3% trẻ em có cha hoặc mẹ ruột đang sống ở nước ngoài. Số hoạt động trung bình mà người lớn tham gia với trẻ em là 4,5 hoạt động. Trong đó tỷ lệ bố đẻ tham gia từ 4 hoạt động trở lên chỉ đạt 14,9 phần trăm, 14,2 phần trăm trẻ em từ 36-59 tháng tuổi không có cha đẻ sống cùng. Tỷ lệ người mẹ tham gia vào các hoạt động nói trên của trẻ lên tới 45 phần trăm và chỉ 7,7 phần trăm trẻ em không sống cùng mẹ đẻ. Có 6 phần trăm trẻ em từ 0-59 tháng tuổi bị để cho trẻ khác trông, và 1,5 phần trăm trẻ bị để ở nhà một mình trong tuần trước thời điểm điều tra.
Đăng ký khai sinh cho trẻ được xem là một trong những điều kiện quan trọng đối với bảo vệ trẻ em nhằm bảo vệ trẻ em trong trường hợp vi phạm quyền. 96,1 phần trăm số trẻ em dưới 5 tuổi được đăng ký khai sinh (theo số liệu của MICS 2014). Trong số đó, tỷ lệ trẻ Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên là hai vùng có tỷ lệ đăng ký khai sinh thấp nhất lần lượt là 93,2 và 92,1 phần trăm. Đặc biệt có một thực trạng đáng báo động là trong số trẻ em dưới 5 tuổi chưa được đăng ký khai sinh có đến 36,1 phần trăm người mẹ nói rằng không biết thủ tục đăng ký khai sinh.
Một trong những vấn đề ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của trẻ là vấn đề kết hôn sớm. Mặc dù pháp luật Việt Nam có quy định rõ ràng về độ tuổi kết hôn (nữ từ đủ 18 tuổi, nam từ đủ 20 tuổi) tuy nhiên ở nhiều nơi kết hôn sớm vẫn là vấn đề nhức nhối. MICS 2014 chỉ ra rằng phụ nữ độ tuổi 15 – 49 có 0,9 phần trăm kết hôn trước 15 tuổi và khoảng 11,2 phụ nữ 20 – 49 tuổi đã từng kết hôn trước lần sinh nhật thứ 18, 1/10 phụ nữ từ 15-19 tuổi đã kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng. Trẻ em từ những hộ nghèo thường có xu hướng kết hôn sớm hơn các hộ giàu (tỷ lệ này lần lượt là 26 phần trăm và 2,3 phần trăm). Có khoảng 30 phần trăm phụ nữ không có bằng cấp đã kết hôn hoặc sống chung như vợ chồng, trong khi đó, tỷ lệ này ở những phụ nữ có trình độ trung cấp chuyên nghiệp trở lên chỉ chiếm 3 phần trăm. Khóa luận: Thực trạng bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực lao động.
Bảng 2.3 : Kết hôn sớm ở trẻ em
Ngoài ra, bạo lực gia đình cũng là vấn đề cần phải giải quyết tại Việt Nam. Rất nhiều ông bố bà mẹ coi việc đánh đập, chửi mắng con cái khi chúng mắc lỗi là cần thiết để chúng nhận ra sai lầm và sửa chữa; hay coi việc mạt sát, trách móc là động lực để chúng phấn đấu. Trên thực tế chúng ta đều có thể nhận thấy, cách làm này phần nào phù hợp với tâm lý của người Việt và đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên, trong xã hội ngày nay, khi những chuẩn mực tiến bộ về quyền con người đã và đang phổ biến trên thế giới thì những tư tưởng, cách làm này cần được sớm loại bỏ. Đặc biệt, là những trường hợp bạo lực với con cái vượt ra ngoài phạm giáo dục – một tình trạng ngày càng gia tăng thì cần phải bị trừng trị nghiêm khắc. Theo kết quả thống kê của Vụ Gia đình – Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, từ năm 2011 tới 2015, trung bình mỗi gia đình, như vậy mỗi ngày có 64 phụ lực năm, nước ta xảy ra hơn 31.500 vụ bạo lực nữ và 10 trẻ em là nạn nhân của hành vi bạo
2.4. Quy định của pháp luật hiện hành về vấn đề bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực hôn nhân gia đình: Khóa luận: Thực trạng bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực lao động.
2.4.1. Quy định về độ tuổi kết hôn:
Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 có quy định rõ ràng và cụ thể về vấn đề độ tuổi kết hôn. Khoản 1 điều 8 Luật hôn nhân gia đình quy định về độ tuổi kết hôn: “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên”. “Từ đủ” ở đây có thể hiểu là kể từ thời điểm đạt độ đủ tuổi luật định (tính tròn năm). Đây là một trong những điểm mới quan trọng của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Trong một thời gian dài từ Luật Hôn nhân và Gia đình 1959, Luật Hôn nhân và Gia đình 1986, Luật Hôn nhân và Gia đình 2000, độ tuổi kết hôn vẫn luôn được duy trì ở mức nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên mới được phép kết hôn. Ví dụ: một người (nữ) sinh ngày 10/05/2002 thì đến ngày 10/05/2020 mới đủ 18 tuổi và người đó có thể đăng ký kết hôn sớm nhất vào ngày 10/05/2020. (nếu theo luật cũ thì phải sớm nhất phải là ngày 11/05/2020). Theo điều 5 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, các hành vi “Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn” đều là những hành vi bị cấm. Trong đó, “tảo hôn” là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật. Việc quy định độ tuổi kết hôn như vậy phản ánh sự phù hợp với mức độ phát triển tâm sinh lý của con người, không những thế, việc quy định độ tuổi như vậy còn gắn liền với khả năng phát triển về tư duy nhận thức, gắn với mức độ độc lập, tự chủ của chủ thể để thực hiện các chức năng gia đình. Trên thực tế, có rất nhiều vấn đề có thể xảy ra nếu kết hôn quá sớm ví dụ như: vấn đề về sức khỏe khi sinh con, nhận thức chưa đủ chín chắn, trưởng thành. Thường thì đến độ tuổi này, nam và nữ mới đạt sự phát triển hoàn thiện về cả thể chất lẫn tinh thần.
2.4.2. Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con: Khóa luận: Thực trạng bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực lao động.
Ngoài việc quy định độ tuổi kết hôn, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 còn đặt ra các quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái trong đó bao gồm nhóm các quyền về nhân thân và nhóm các quyền liên quan đến tài sản.
- Các quyền và nghĩa vụ về nhân thần:
Quyền và nghĩa vụ khai sinh, đặt họ tên cho con:
Việc khai sinh có ý nghĩa vô cùng lớn đối với một người, vì qua đó người đó sẽ được Nhà nước công nhận về mặt pháp lý. Từ đó mà các quyền khác mới được đảm bảo thức hiện. Tuy luật Hôn nhân gia đình năm 2014 không quy định về vấn đề này nhưng đây cũng là trách nhiệm của cha mẹ. Điều 15 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định về đăng ký khai sinh cho con: “Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con; trường hợp cha, mẹ không thể đăng ký khai sinh cho con thì ông hoặc bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho trẻ em”.
Trong trường hợp cha mẹ có hôn nhân hợp pháp, họ tên của hai người sẽ được điền vào phần cha và mẹ trong giấy khai sinh của con. Trong trường hợp chưa xác định được cha, mẹ: “Trường hợp chưa xác định được cha thì khi đăng ký khai sinh họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của con được xác định theo họ, dân tộc, quê quán, quốc tịch của mẹ; phần ghi về cha trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ để trống”. “Trường hợp trẻ chưa xác định được mẹ mà khi đăng ký khai sinh cha yêu cầu làm thủ tục nhận con thì giải quyết theo quy định tại Khoản 3 Điều 15; phần khai về mẹ trong Sổ hộ tịch và Giấy khai sinh của trẻ em để trống”. (theo Điều 15 Nghị định 123/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật hộ tịch năm 2014). Phần họ tên cha sẽ được bổ sung khi người cha tự nguyện nhận con hoặc Tòa án ra quyết định người này là cha của đứa trẻ.
- Quyền và nghĩa vụ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và bảo vệ con:
Quyền và nghĩa vụ này được quy định đầy đủ tại Điều 69 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ
- Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội.
- Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
- Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự. Khóa luận: Thực trạng bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực lao động.
- Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.”
Có thể thấy, yêu thương, chăm lo, nuôi dưỡng và bảo về con cái không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của cha mẹ đối với con. “Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”. Đây là một trong những quyền bắt buộc và quan trọng nhất của cha mẹ đối với con cái. Không ai có thể ngăn cản hoặc tước đi quyền yêu thương, chăm lo và nuôi dưỡng con cái của cha mẹ, trừ một số trường hợp đặc biệt khi cha mẹ bị hạn chế quyền đối với con bằng một quyết định hoặc bản án của Tòa án để bảo đảm lợi ích của đứa trẻ. Nếu vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ yêu thương, chăm sóc và bảo vệ con cái, cha mẹ có thể sẽ bị giới hạn quyền đối với con của mình. Trong trường hợp bị Tòa án quyết định hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên thì trong thời gian thi hành quyết định của Tòa án, trẻ em được giúp đỡ, bảo vệ lợi ích. Nếu xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật Dân sự. Vấn đề này được quy định tại Điều 85 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:
“Cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên trong các trường hợp sau đây:
- Bị kết án về một trong các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con với lỗi cố ý hoặc có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con;
- Phá tán tài sản của con; Khóa luận: Thực trạng bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực lao động.
- Có lối sống đồi trụy;
- Xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.
Ngoài ra, pháp luật cũng quy định cha mẹ cũng không được phân biệt đối xử giữa các con (khoản 4 Điều 69 luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014). Điều này nhằm đảm bảo quyền bình đẳng giữa trẻ em trai và trẻ em gái, giữa con riêng của vợ (hoặc chồng) với con chung của hai vợ chồng, giữa con đẻ và con nuôi,… đảm bảo trẻ em được nuôi dạy và chăm sóc một cách bình đẳng tránh những tổn thương về mặt tình cảm và tinh thần có thể tạo nên những lỗ hổng về nhân cách hoặc sự phát triển sau này.
So với Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 bổ sung thêm: “Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình” và “Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự”. Các nhà làm luật đã quy định rõ hơn về đối tượng mà cha mẹ cần chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ đó là “con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”.
- Quyền và nghĩa vụ giáo dục con:
Giáo dục là vấn đề cha mẹ cần chú trọng trong việc nuôi dạy con cái. Trẻ em có quyền được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân. Cha mẹ có nghĩa vụ phải giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội. Đây là nghĩa vụ bắt buộc được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Điều 72. Nghĩa vụ và quyền giáo dục con Khóa luận: Thực trạng bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực lao động.
- Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập. Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hòa thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường, cơ quan, tổ chức trong việc giáo dục con.
- Cha mẹ hướng dẫn con chọn nghề; tôn trọng quyền chọn nghề, quyền tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của con.
- Cha mẹ có thể đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện việc giáo dục con khi gặp khó khăn không thể tự giải quyết được.
Cha mẹ có quyền và nghĩa vụ lựa chọn nơi học tập cho con cái phù hợp với điều kiện gia đình và năng lực của con. Cha mẹ cũng cần phải tạo được một môi trường sống lành mạnh, môi trường gia đình lành mạnh để con có thể phát huy khả năng học tập. Khi gặp khó khăn không thể giải quyết được, cha mẹ có thể nhờ đến sự giúp đỡ của các cơ quan chức năng, các tổ chức hữu quan trong việc giáo dục con cái. Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có bổ sung thêm quy định cha mẹ cần tôn trọng “quyền tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của con”.
Cha mẹ cần phân tích, đánh giá những tác động tích cực và tiêu cực của những hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đối với con và từ đó có những hành động để giúp con hiểu được những hoạt động nào tốt cho con, cha mẹ có thể định hướng cho con tham gia những hoạt động phù hợp với bản thân và thông qua đó có thể giáo dục con cái về những điều có ích.
- Quyền và nghĩa vụ đại diện cho con:
Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên. Điều 73 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo pháp luật”. Quy định này có thể được hiểu là nếu con chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì cha mẹ sẽ là người đại diện theo pháp luật cho con trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền đối với con. Con chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự thường bị hạn chế trong nhiều giao dịch dân sự, ngoài ra, còn chưa đủ nhận thức để có thể đưa ra những quyết định đúng đắn. Vì vậy, việc quy định người đại diện hợp pháp cho con là rất cần thiết nhằm đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự. So với Luật hôn nhân gia đình năm 2000, Điều 73 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định rõ ràng hơn về quyền và nghĩa vụ đại diện của cha mẹ, bao gồm thêm các quy định: “Cha hoặc mẹ có quyền tự mình thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình” và “Đối với giao dịch liên quan đến tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, tài sản đưa vào kinh doanh của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì phải có sự thỏa thuận của cha mẹ”. Việc thỏa thuận này sẽ giúp cha mẹ có thể biết được những tài sản lớn như vậy của con sẽ được sử dụng vào mục đích gì, mặt khác vì lợi ích của con, sự thỏa thuận này sẽ đảm bảo những tài sản này được sử dụng một cách hiệu quả nhất và cũng đồng thời gắn trách nhiệm của cha mẹ vào những giao dịch này.
- Các quyền và nghĩa vụ về tài sản: Khóa luận: Thực trạng bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực lao động.
Ngoài những quyền về nhân thân, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 còn quy định thêm những quyền và nghĩa vụ về tài sản của cha mẹ đối với con.
- Quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng:
Nuôi dưỡng là việc một người đảm bảo nhu cầu vật chất cho người khác để người này tồn tại và phát triển. Nghĩa vụ nuôi dưỡng sẽ bao gồm cả yếu tố không gian, có thể hiểu đó là người có nghĩa vụ nuôi dưỡng và người được nuôi dưỡng sống cùng nhau. “Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình”. Về nguyên tắc, cha mẹ có nghĩa vụ phải nuôi dưỡng con từ khi con mới sinh ra cho đến khi thành niên. Nếu con đã thành niên nhưng bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi sống bản thân thì cha mẹ vẫn có nghĩa vụ phải cấp dưỡng. Nghĩa vụ nuôi dưỡng giữa cha mẹ và con là nghĩa vụ có đi có lại nhưng không mang tính chất đồng thời và tính chất đền bù, ngang giá. Cha mẹ thực hiện việc nuôi dưỡng thông qua việc quan tâm, chăm lo cho đời sống vật chất của con, đồng thời cung cấp chất dinh dưỡng để cần thiết để con phát triển. Trẻ em là đối tượng chưa thể tự nuôi dưỡng bản thân, vì vậy, cần có những người đứng ra nuôi dưỡng và cha mẹ sẽ là những người dành thời gian chăm lo, chăm sóc cho trẻ.
Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu. Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác. Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con”. Trong một số trường hợp, nghĩa vụ cấp dưỡng sẽ phát sinh khi cha mẹ không thể ở bên cạnh chăm sóc co (do đi làm xa, không có điều kiện chăm sóc con nên phải nhờ người chăm sóc) thì cha mẹ cần phải gửi tiền cấp dưỡng để lo cho con. Ngoài ra, nghĩa vụ cấp dưỡng còn phát sinh khi cha mẹ ly hôn. Nuôi con là trách nhiệm của cả cha và mẹ, không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của hai người. Do sự kiện pháp lý ly hôn mà con sẽ sống cùng cha hoặc mẹ, bên còn lại phải có nghĩa vụ cấp dưỡng để đảm bảo cuộc sống của con không gặp quá nhiều khó khăn. Khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi”. Theo nguyên tắc này, nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con sẽ không phụ thuộc vào kinh tế của bên trực tiếp nuôi con. Trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không yêu cầu bên còn lại cấp dưỡng, Tòa án cần phải giải thích với họ việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là quyền và lợi ích hợp pháp của con. Khóa luận: Thực trạng bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực lao động.
- Các quyền và nghĩa vụ về những tài sản khác giữa cha mẹ và các con:
Luật hôn nhân và gia đình quy định con còn ở chung với bố mẹ, dù đã thành niên hay chưa đều có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng này sẽ bao gồm tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của con và thu nhập hợp pháp khác, tài sản được hình thành từ tài sản riêng của con (Điều 75 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014). Tuy có tài sản riêng nhưng con dưới 15 tuổi hoặc con mất hành vi năng lực dân sự vì lợi ích của con, tài sản này sẽ do cha mẹ quản lý.
Việc cha mẹ quản lý tài sản của con khi con chưa đủ 15 tuổi hoặc con mất hành vi năng lực dân sự trước hết là nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của con. Trẻ dưới 15 tuổi chỉ được phép thực hiện một số giao dịch nhất định. Ở độ tuổi này, trẻ còn chưa phát triển hoàn thiện về nhận thức và hành vi, vì vậy chưa đủ khả năng để quản lý, sử dụng tài sản của mình sao cho hợp lý nhất. Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bổ sung thêm một số quy định về việc cha mẹ quản lý tài sản của con: “Tài sản riêng của con do cha mẹ hoặc người khác quản lý được giao lại cho con khi con từ đủ 15 tuổi trở lên hoặc khi con khôi phục năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp cha mẹ và con có thỏa thuận khác” và “Trong trường hợp cha mẹ đang quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự mà con được giao cho người khác giám hộ thì tài sản riêng của con được giao lại cho người giám hộ quản lý theo quy định của Bộ luật dân sự”. Như vậy, khi con đủ 15 tuổi hoặc con khôi phục năng lực hành vi dân sự đầy đủ, cha mẹ cần phải giao lại cho con tài sản của con cho con nếu không có thỏa thuận khác giữa hai bên. Quy định này là cần thiết nhằm đảm bảo quyền quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản riêng của con. Trường hợp cha mẹ hoặc người giám hộ quản lý tài sản riêng của con dưới 15 tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, nếu con từ đủ 09 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
Ngoài ra, cha mẹ còn có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra trong trường hợp con chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự. “Cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự gây ra theo quy định của Bộ luật dân sự” (Điều 74 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014). Đây là trách nhiệm bổ sung của cha và mẹ dựa vào lỗi của cha mẹ khi thiếu trách nhiệm trong việc trông nom, chăm sóc và giáo dục con chưa thành niên hoặc con mất năng lực hành vi dân sự. Khóa luận: Thực trạng bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực lao động.
- Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ với con sau khi ly hôn:
Nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 ghi nhận nguyên tắc giao con dưới 36 tháng tuổi cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, trẻ em từ đủ 7 tuổi có quyền được bày tỏ ý kiến mong muốn được sống chung với cha hoặc mẹ trong trường hợp cha mẹ ly hôn hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con (Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014): “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”; “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Khóa luận: Thực trạng bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực lao động.
Ngoài ra, sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ phải trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình. Trường hợp cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng với con mình. Không ai có quyền ngăn cản bên không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của mình.
2.4.3. Quyền của trẻ em trong vấn đề nuôi con nuôi:
Luật Nuôi con nuôi 2010 khẳng định việc cho làm con nuôi quốc tế phải là giải pháp cuối cùng khi mà đứa trẻ không thể được chăm sóc ở quốc gia nguyên quán của trẻ em. Điều 5 Luật Nuôi con nuôi có ghi nhận thứ tự ưu tiên lựa chọn gia đình thay thế cho trẻ ở trong nước trước so với gia đình thay thế ở nước ngoài. Việc quy định ưu tiên nuôi con nuôi trong nước của Luật nuôi con nuôi sẽ tạo cơ sở pháp lý nhằm thực hiện tốt quy trình giải quyết nuôi con nuôi trong nước, đảm bảo trẻ em được sống trong môi trường gốc, gần gũi với đặc điểm và nhu cầu của trẻ.
Luật nuôi con nuôi năm 2010 ghi nhận quyền đưa ra ý kiến về việc làm con nuôi vào thời điểm nuôi con nuôi tại khoản 1 Điều 21 Luật nuôi con nuôi “Việc nhận nuôi con nuôi phải được sự đồng ý của cha mẹ đẻ của người được nhận làm con nuôi; nếu cha đẻ hoặc mẹ đẻ đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người còn lại; nếu cả cha mẹ đẻ đều đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự hoặc không xác định được thì phải được sự đồng ý của người giám hộ; trường hợp nhận trẻ em từ đủ 09 tuổi trở lên làm con nuôi thì còn phải được sự đồng ý của trẻ em đó”. Điều này phù hợp với nguyên tắc “Trẻ em có quyền được xác lập và thể hiện ý kiến riêng của mình” theo Công ước quyền trẻ em. Pháp luật Việt Nam cũng đề ra vấn đề bảo đảm cho trẻ quyền đảm bảo được biết về nguồn gốc của mình, Điều 11 Luật nuôi con nuôi quy định con nuôi có quyền được biết về nguồn gốc của mình “Con nuôi có quyền được biết về nguồn gốc của mình. Không ai được cản trở con nuôi được biết về nguồn gốc của mình”. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho con nuôi là người Việt Nam ở nước ngoài về thăm quê hương, đất nước. Khóa luận: Thực trạng bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực lao động.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực lao động

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Pháp luật về bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực lao động