Khóa luận: Quy định luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Quy định luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Quy định của luật cạnh tranh Việt Nam về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong bối cảnh hội nhập và giao lưu thương mại, kinh tế quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ và sôi động hơn bao giờ hết, các doanh nghiệp luôn cần đổi mới và phát triển để theo kịp cuộc chơi. Thực tế, việc cạnh tranh giữa các chủ thể tham gia đầu tư kinh tế đang nóng và trở lên khốc liệt qua từng giờ, từng ngày. Cạnh tranh là hiện tượng tất yếu của quá trình phát triển kinh tế ở mọi lĩnh vực, mọi vùng miền, mọi quốc gia trên toàn thế giới.

Cạnh tranh như đòn bẩy thúc đẩy các doanh nghiệp nỗ lực hơn nữa để có thể thu về lợi nhuận và độc quyền ra đỉnh cao của cạnh tranh. Những doanh nghiệp đủ mạnh sẽ dần dành được sức mạnh thị trường to lớn và cuối cùng có được vị trí độc quyền. Thực chất, độc quyền không hề xấu, tuy nhiên khi có được vị trí cao nhất, nhiều doanh nghiệp có những hành vi lạm dụng vị trí này để thao túng thị trường, hạn chế cạnh tranh lành mạnh nhằm mục đích thu lợi bất hợp lý. Lạm dụng vị trí độc quyền không còn là hiện tượng hiếm gặp trong nền kinh tế thị trường ngày nay ở Việt Nam và hành vi này gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho đời sống của người dân, hoạt động của các doanh nghiệp khác và ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế nói chung Khóa luận: Quy định luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

Nhận thức được tình trạng này ngày càng tăng cũng như hậu quả nặng nề của hành vi lạm dụng vị trí độc quyền. Sinh viên chọn đề tài: Quy định của luật  cạnh tranh Việt Nam về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền để nghiên cứu, từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm ngăn chặn hành vi này.

2. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

Ý nghĩa khoa học, Khóa luận sẽ đi sâu làm rõ và đồng thời phân tích kỹ lưỡng những kiến thức cơ bản nhất liên quan đến hành vi lạm dụng vị trí độc quyền như độc quyền, sức mạnh thị trường, doanh nghiệp có vị trí độc quyền để từ đó cung cấp cái nhìn chính xác và khách quan về hành vi lạm dụng vị trí độc quyền. Từ những phân tích ban đầu, khóa luận tiếp tục chỉ ra thực trạng về hành vi lạm dụng vị trí độc quyền tại Việt Nam hiện nay, cũng như những thành tựu và hạn chế trong công tác xử lý vi phạm. Cuối cùng đề xuất giải pháp mới có tính chất xây dựng góp phần cho khoa học pháp lý nói chung và cụ thể là quy định của Luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thị trường nói riêng.

Ý nghĩa thực tiễn, từ nền tảng nắm rõ kiến thức khoa học về hành vi lạm dụng vị trí độc quyền, Khóa Luận còn phân tích những hậu quả nặng nề và chỉ ra chế tài pháp luật áp dụng với hành vi này. Từ đó nâng cao nhận thức của các chủ thể tham gia đầu tư kinh tế nói chung và đặc biệt là những doanh nghiệp có vị trí độc quyền nói riêng. Góp phần hạn chế hành vi vi phạm trong thực tiễn và thúc đẩy môi trường cạnh tranh lành mạnh, công bằng và văn minh.

3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

  • Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận liên quan đến hành vi lạm dụng vị trí độc quyền và các quy định của Luật cạnh tranh về kiểm soát hành vi này
  • Phân tích thực trạng hành vi lạm dụng vị trí độc quyền tại Việt Nam hiện nay cũng như thực trạng xử lý vi phạm.
  • Nêu lên những vấn đề cần xem xét và đề xuất giải pháp nhằm hạn chế, đẩy lùi hành vi lạm dụng vị trí độc quyền và những kiến nghị về quy định của Luật cạnh tranh liên quan đến vấn đề này.

4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: là hành vi lạm dụng vị trí độc quyền và các quy định của Luật cạnh tranh Việt Nam về kiểm soát hành vi này Khóa luận: Quy định luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

Phạm vi nghiên cứu: Khòa luận tập trung nghiên cứu bản chất, đặc điểm của hành vi lạm dụng vị trí độc quyền, thực trạng cũng như diễn biến của hành vi này tại Việt Nam và đề xuất giải pháp để hạn chế hành vi lạm dụng vị trí độc quyền và các kiến nghị về quy định pháp luật với hiện tượng này.

5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương  pháp nghiên cứu được sử dụng trong khóa luận này là các phương pháp nghiên cứu truyền thống như phân tích, luận giải, so sánh, tổng hợp…

6. KẾT CẤU KHÓA LUẬN

Ngoài lời mở đầu, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, bố cục của khóa luận gồm có 3 chương:

  • Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN
  • Chương 2: THỰC TRẠNG XỬ LÝ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT CẠNH TRANH
  • Chương 3: ĐỀ XUẤT Ý KIẾN VỀ VIỆC XỬ LÝ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ ĐỘC QUYỀN

1.1 Khái quát chung về quyền lực thị trường của doanh nghiệp và doanh nghiệp có vị trí độc quyền

1.1.1 Quyền lực thị trường của doanh nghiệp

Mỗi doanh nghiệp khi tham gia vào thị trường đều có quy mô, đối tượng kinh doanh, phương thức hay chiến lược riêng trong từng khâu nhất định. Chính sự khác nhau, đa dạng trong rất nhiều yếu tố kể trên tạo nên một thị trường kinh tế ngày càng đa dạng và năng động. Trong đó, mỗi doanh nghiệp, mỗi công ty, mỗi cơ sở sản xuất đều có một tầm ảnh hưởng nhất định đối với thị trường liên quan và đó chính là quyền lực thị trường của doanh nghiệp.

Theo cuốn từ điển kinh tế học hiện đại “quyền lực thị trường là khả năng của một doanh nghiệp hoặc một nhóm các doanh nghiệp trong việc tác động đến giá cả thị trường của một loại hàng hoá hoặc dịch vụ mà họ bán hoặc mua”.

Pháp luật của Canađa coi “quyền lực thị trường là khả năng giữ giá cao hơn mức giá cạnh tranh mà vẫn có lợi nhuận trong một khoảng thời gian đáng kể, thông thường là một năm”. Khóa luận: Quy định luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

Quyền lực thị trường thể hiện ở việc các quyết định của doanh nghiệp sẽ ảnh hưởng tốt hoặc xấu không chỉ đến bản thân doanh nghiệp đó, mà còn có tác động đến những chủ thể nằm ngoài phạm vi doanh nghiệp. Khi một doanh nghiệp quyết định tăng hoặc giảm giá bán hàng hóa hay dịch vụ mình cung cấp, mở rộng hay thu hẹp quy mô sản xuất. Kéo theo đó là một chuỗi thay đổi của nhiều đối tượng khác nhau, đó là hành vi của người tiêu dùng, các đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan, các doanh nghiệp chuyên cung cấp nguyên liệu đầu vào và từ đó tạo ra các chuỗi thay đổi khác. Có thể khẳng định mỗi doanh nghiệp có một quyền lực thị trường nhất định phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như loại; giá thành; địa điểm bán hay phân phối; số lượng cửa hàng, chi nhánh, đại lý cung cấp hàng hóa hay dịch vụ mà doanh nghiệp đó sản xuất. Bên cạnh đó, thị trường là một sân chơi chung cho mọi doanh nghiệp, giữa các doanh nghiệp trên cùng một thị trường liên quan luôn tồn tại mối quan hệ hai chiều, quyền lực thị trường của doanh nghiệp này sẽ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến quyền lực thị trường của một hay nhiều doanh nghiệp khác nhau ở những mức độ khác nhau. Ngắn gọn, có thể hiểu quyền lực thị trường của doanh nghiệp là khả năng chi phối, sức ảnh hưởng của doanh nghiệp đó đến chủ thể liên quan.

1.1.2 Doanh nghiệp có vị trí độc quyền và nguyên nhân độc quyền

  • Khái niệm doanh nghiệp độc quyền

Doanh nghiệp có vị trí độc quyền là doanh nghiệp có quyền lực thị trường đủ lớn để có thể chi phối đến các chủ thể khác ở một mức độ mà chỉ có doanh nghiệp đó mới làm được. Theo Luật Cạnh tranh, doanh nghiệp được coi là có vị trí độc quyền nếu không có doanh nghiệp nào cạnh tranh về hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp đó kinh doanh trên thị trường liên quan. Dưới góc độ lý thuyết, vị trí độc quyền đã loại bỏ khả năng có sự tồn tại của cạnh tranh trên thị trường liên quan bởi tại đó chỉ có một doanh nghiệp duy nhất là doanh nghiệp đang được xem xét hoạt động. Do đó, khi xác định vị trí độc quyền, cơ quan cạnh tranh chỉ cần:

  • Xác định thị trường liên quan;
  • Xác định số lượng doanh nghiệp đang hoạt động trên thị trường. Nếu kết luận đưa ra là chỉ có một doanh nghiệp duy nhất thì doanh nghiệp đó có vị trí độc quyền.

Những nguyên nhân dẫn đến độc quyền bao gồm:

Thứ nhất là, độc quyền tự nhiên: Độc quyền từ quá trình cạnh tranh, được tạo ra bởi tích tụ dần theo cơ chế lợi nhuận và các nguồn lực trị trường cứ tích tụ dần hình thành nên độc quyền Khóa luận: Quy định luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

Thứ hai là, độc quyền hình thành từ yêu cầu của công nghệ sản xuất hoặc yêu cầu tối thiểu về quy mô của ngành kinh tế kỹ thuật. Trong những lĩnh vực nhất định chỉ có những doanh nghiệp nhất định đáp ứng được yêu cầu về mặt công nghệ hoặc số vốn đầu tư tối thiểu mới có thể đầu tư có hiệu quả. Từ đó, theo lẽ tự nhiên thị trường đã trao cho doanh nghiệp đáp ứng đủ khả năng trên vị trí độc quyền.

Thứ ba là, Độc quyền hình thành từ các rào cản trên thị trường; bao gồm sự bảo hộ của Nhà nước, sự trung thành của khách hàng, rào cản do lợi thế chi phí tuyệt đối của doanh nghiệp đang tồn tại đã làm cản trở sự gia nhập thị trường của doanh nghiệp đối thủ, đồng thời củng cố vị trí độc quyền của doanh nghiệp đang tồn tại.

Thứ tư là, Độc quyền do sự tích tụ tập trung kinh tế, tập trung kinh tế diễn ra thông qua việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại, liên doanh và những hình thức khác.

Từ đó hình thành nên doanh nghiệp độc quyền tự nhiên hay độc quyền Nhà nước. Vị trí độc quyền đem lại cho doanh nghiệp quyền lực thị trường và khả năng chi phối các quan hệ trên thị trường.

Cần khẳng định rõ, hiện tượng độc quyền là một tất yếu khách quan trong sự phát triển tự nhiên của bất kỳ một nền kinh tế nào. Trải qua một quãng thời gian sản xuất hàng hóa hay cung ứng dịch vụ, có những doanh nghiệp tự bị bật khỏi thị trường vì không có chiến lược kinh doanh đúng đắn, không có đủ tiềm lực về vốn hay những nguyên nhân khác; đây chính là quy luật đào thải tự nhiên. Trụ lại sau những lần chọn lọc tự nhiên đó, có những doanh nghiệp sẽ đạt được vị trí độc quyền trong thị trường liên quan.

Nói cách khác, bản thân hiện tượng độc quyền là một sản phẩm sinh ra từ quá trình phát triển kinh tế tự nhiên và chính bởi lẽ đó, độc quyền không hề xấu và không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật. Pháp luật nói chung và pháp luật canh tranh nói riêng chỉ vào cuộc khi những doanh nghiệp có vị trí độc quyền và có những hành vi lạm dụng vị trí độc quyền đó.

1.2 Khái niệm và đặc điểm hành vi lạm dụng vị trí độc quyền Khóa luận: Quy định luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

1.2.1 Khái niệm hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

Kiểm soát và xử lý các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền là một trong những nhiệm vụ quan trọng của pháp luật cạnh tranh nhằm bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh, không phân biệt đối xử. Đặc trưng cơ bản của chế định pháp này là đối tượng áp dụng là những doanh nghiệp có vị trí độc quyền trên thị trường. Luật Cạnh tranh năm 2004 không đưa ra định nghĩa mà liệt cụ thể các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh. Theo đó, chỉ khi doanh nghiệp có vị trí độc quyền thực hiện những hành vi được quy định tại Điều 13 và Điều 14 Luật Cạnh tranh mới bị coi là lạm dụng vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh.

Pháp luật của một số nước (điển hình là Canađa cũng có cách tiếp cận như pháp luật Việt Nam là không đưa ra khái niệm chung mà liệt kê các hành vi bị coi là vi phạm pháp luật chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền. Điều 78 Luật Cạnh tranh Canađa liệt kê 11 hành vi bị coi là lạm dụng (ngoài ra còn cho phép cơ quan có thẩm quyền xử lý những hành vi chưa được pháp luật liệt kê nhưng thỏa mãn cấu thành pháp lý của hành vi lạm dụng theo Điều 79). Điều 79 quy định Tòa Cạnh tranh chỉ đưa ra phán quyết xử lý doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp khi chứng minh đủ ba nội dung sau đây:

  • Thứ nhất, một hoặc nhiều doanh nghiệp về cơ bãn hoặc hoàn toàn kiểm soát một loại hình, một phân đoạn kinh doanh, trên toàn lãnh thổ Canađa hay tại bất kỳ khu vực nào của nó;
  • Thứ hai, đã hoặc đang thực hiện hành vi phản cạnh tranh được quy định trong luật cạnh tranh;
  • Thứ ba, hành vi đó đã, đang hoặc có thể làm cản trở, làm giảm cạnh tranh trên thị trường một cách đáng kể.

Theo Bộ quy tắc về cạnh tranh của Liên Hợp Quốc được thông qua ngày 22/4/1980 và Luật mẫu về cạnh tranh của UNCTAD, “hành vi lạm dụng vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh là hành vi hạn chế cạnh tranh mà doanh nghiệp có vị trí độc quyền sử dụng để duy trì hay tăng cường vị trí của nó trên thị trường bằng cách hạn chế khả năng gia nhập thị trường hoặc hạn chế quá mức cạnh tranh”i. Bên cạnh khái niệm, hai văn bản này cũng liệt kê cụ thể các hành vi bị coi là lạm dụng vị trí vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh. Như vậy, giống như các chế định khác trong pháp luật cạnh tranh, các quy định trong pháp luật của các nước và các tổ chức quốc tế về hành vi lạm dụng đều liệt kê và mô tả dấu hiệu pháp lý của các hành vi cụ thể; đặt ra các điều kiện để xử lý doanh nghiệp có hành vi vi phạm. Việc đưa ra khái niệm chỉ có ý nghĩa lý luận, phục vụ cho công tác nghiên cứu và cho việc nhận thức về bản chất của nhóm hành vi này. Các quy định liệt kê các hành vi lạm dụng nhằm đảm bảo cho công tác áp dụng pháp luật được thực hiện một cách công bằng và hiệu quả.

Với những hành vi được liệt kê trong Luật Cạnh tranh, có thể khái quát thành khái niệm sau: hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền những hành vi do doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, doanh nghiệp có vị trí độc quyền thực hiện nhằm củng cố vị trí thống lĩnh, duy trì vị trí độc quyền bằng cách loại bỏ doanh nghiệp khác ra khỏi thị trường; ngăn cản, kìm hãm doanh nghiệp khác không cho gia nhập thị trường, phát triển kinh doanh hoặc nhằm thu lợi nhuận độc quyền bằng cách bóc lột khách hàng.

1.2.2 Đặc điểm của hành vi lạm dụng vị trí độc quyền Khóa luận: Quy định luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

Dù có những khác biệt nhất định trong các quy định về hành vi lạm dụng, song pháp luật của các nước đều thống nhất rằng nhóm hành vi này có ba đặc trưng sau đây:

Đặc điểm thứ nhất là, chủ thể thực hiện hành vị là doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp có vị trí độc quyền trên thị trường liên quan.

Vị trí độc quyền có thể được hình thành từ sự tích tụ trong quá trình cạnh tranh; từ những điều kiện tự nhiên của thị trường như: yêu cầu về quy mô hiệu quả tối thiểu, sự biến dị của sản phẩm, sự tồn tại của các rào cản gia nhập thị trường; hoặc sự bảo hộ của quyền lực Nhà nước…. Vị trí độc quyền đem lại cho doanh nghiệp quyền lực thị trường và khả năng chi phối các quan hệ trên thị trường. Theo cuốn từ điển kinh tế học hiện đại “quyền lực thị trường là khả năng của một doanh nghiệp hoặc một nhóm các doanh nghiệp trong việc tác động đến giá cả thị trường của một loại hàng hoá hoặc dịch vụ mà họ bán hoặc mua”. Tiếp thu những giá trị truyền thống trong lý thuyết cạnh tranh và các học thuyết kinh tế, Pháp luật của Canađa coi “quyền lực thị trường là khả năng giữ giá cao hơn mức giá cạnh tranh mà vẫn có lợi nhuận trong một khoảng thời gian đáng kể, thông thường là một năm”. Trong khi đó, pháp luật của Cộng hòa Pháp sử dụng đồng thời hai cách tiếp cận về quyền lực thị trường là cách tiếp cận mang tính học thuyết và cách tiếp cận mang tính thực tiễn. Cách tiếp cận thứ nhất đã áp dụng định nghĩa trừu tượng mà các án lệ đã đưa ra: “doanh nghiệp chiếm vị trí thống lĩnh là doanh nghiệp có khả năng thoát khỏi cạnh tranh thực chất, không chịu ràng buộc của thị trường và đóng vai trò chủ đạo trên thị trường đó”. Thế nên, thay vì phải tuân theo quy luật của thị trường, doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền có thể tự làm luật trên thị trường đó. Cách tiếp cận thực tiễn được hình thành từ triết lý cho rằng “người lạm dụng không hẳn là người muốn lạm dụng, nhưng người lạm dụng chắc chắn phải là người có khả năng lạm dụng”. Thế nên, người ta thừa nhận sự tồn tại của sự thống lĩnh trên một thị trường khi trên thị trường đó xuất hiện những hành vi mà nếu có cạnh tranh thực chất thì những hành vi đó đã không thể thực hiện được. Sự khác nhau nói trên đã đưa đến những khác biệt về căn cứ pháp lý được sử dụng để xác định vị trí thống lĩnh của doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp trong pháp luật của các nước. Khóa luận: Quy định luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

Pháp luật Canađa chủ yếu sử dụng thị phần và các rào cản gia nhập thị trường, trong khi Pháp luật của Pháp lại sử dụng đa tiêu chí để xác định vị trí thống lĩnh, bao gồm: thị phần của doanh nghiệp, sự mất cân đối giữa các lực lượng thị trường như quy mô của doanh nghiệp, doanh nghiệp có trực thuộc hay không trực thuộc vào một tập đoàn, khả năng tài chính, sự yếu kém của đối thủ cạnh tranh.., diễn biến về sự thay đổi thị phần của doanh nghiệp, việc nắm giữ một số lợi thế về công nghệ, hiệu quả quản lý, ưu thế nhãn hiệu và các yếu tố bên ngoài có thể cho phép doanh nghiệp tránh được sự cạnh tranh thực chất. Dù có sự khác nhau trong quan niệm về quyền lực thị trường, song pháp luật của các nước đều thống nhất rằng vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền đem lại cho doanh nghiệp lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp khác và đem lại khả năng chi phối các quan hệ với khách hàng. Những lợi thế cạnh tranh có thể là khả năng kiểm soát các yếu tố của thị trường (như nguồn nguyên liệu, giá cả, số lượng sản phẩm đáp ứng cho người tiêu dùng; khả năng tài chính; thói quen tiêu dùng của khách hàng .v.v.) và các yếu tố tạo ra địa vị không ngang bằng trong cạnh tranh giữa doanh nghiệp thống lĩnh trên thị trường và các đối thủ của nó (bao gồm cả đối thủ tiềm năng). Trong quan hệ ấy, doanh nghiệp có điều kiện tận dụng những ưu thế trên nhằm gây khó khăn cho đối thủ trong quá trình kinh doanh hoặc ngăn cản việc gia nhập thị trường. Đối với khách hàng, vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền đã khẳng định địa vị quan trọng của doanh nghiệp trong cung ứng hoặc tiêu thụ sản phẩm trên thị trường liên quan bởi họ là nguồn cung hoặc nguồn cầu chủ yếu của thị trường. Vì thế, quyền lựa chọn của khách hàng đã bị hạn chế, nhu cầu của khách hàng bị lệ thuộc vào khả năng đáp ứng của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có cơ hội để bóc lột khách hàng bằng cách đặt ra những điều kiện giao dịch không công bằng.

  • Về mặt học thuật, có hai vấn đề cần phải làm rõ như sau:

Một là, mục đích của pháp luật về chống hành vi lạm dụng là nhằm tạo ra một khuôn khổ thị trường trong đó mọi doanh nghiệp đều có cơ hội thành công hay thất bại tùy thuộc vào năng lực cạnh tranh. Các quy định của pháp luật được áp dụng nhằm thúc đẩy cạnh tranh hiệu quả và không ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của bất kỳ đối thủ cạnh tranh hay nhóm đối thủ cạnh tranh nào. Mặt khác, các chính sách cạnh tranh được xây dựng và được áp dụng để khuyến khích cạnh tranh mà không phải để trừng phạt các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, vị trí độc quyền. Nếu vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền của doanh nghiệp được tạo lập hợp pháp và doanh nghiệp thực hiện các chiến lược cạnh tranh lành mạnh (cho dù kết quả của chiến lược đó có loại bỏ đối thủ cạnh tranh) thì pháp luật cạnh tranh chưa thể xử lý doanh nghiệp. Nói cách khác, việc áp dụng pháp luật chống lạm dụng không nhằm xoá bỏ vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền của doanh nghiệp mà chỉ loại bỏ hành vi lạm dụng vị trí thống trị thị trường để trục lợi hoặc để bóp méo cạnh tranh. Một khi doanh nghiệp có quyền lực thị trường chưa có các biểu hiện của sự lạm dụng thì chúng vẫn là chủ thể được pháp luật bảo vệ. Khóa luận: Quy định luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

Hai là, chủ thể thực hiện việc lạm dụng có thể là một doanh nghiệp đơn lẻ hoặc một nhóm doanh nghiệp (tối đa là 4) có vị trí thống lĩnh hoặc vị trí độc quyền trên thị trường liên quan. Đối với vụ việc điều tra về hành vi lạm dụng của nhóm doanh nghiệp có quyền lực thị trường, cơ quan có thẩm quyền cần phải phân biệt được hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh với các thoả thuận hạn chế cạnh tranh. Bởi trong pháp luật về hạn chế cạnh tranh, những thỏa thuận hạn chế cạnh tranh do một nhóm doanh nghiệp thực hiện, mặt khác, nội dung của một số thỏa thuận có biểu hiện giống với các hành vi lạm dụng như: phân chia thị trường, hạn chế sản sản xuất, phân phối sản phẩm, hạn chế phát triển khoa học kỹ thuật…. Khi một nhóm doanh nghiệp (với tổng thị phần kết hợp đủ để thống lĩnh thị trường) thực hiện hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để hạn chế cạnh tranh thì giữa họ không có sự thoả thuận trước. Nếu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có đủ chứng cứ chứng minh rằng đã tồn tại một thoả thuận trong nhóm doanh nghiệp đó để thực hiện những hành vi nói trên thì hành động của họ sẽ được điều chỉnh bởi pháp luật chống thỏa thuận hạn chế cạnh tranh.

Đặc điểm thứ hai là, doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh, doanh nghiệp độc quyền đã hoặc đang thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh được quy định trong Luật Cạnh tranh Điều 13 Luật Cạnh tranh nghiêm cấm doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thực hiện những hành vi hạn chế cạnh tranh sau:

  • Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh;
  • Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý hoặc ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho khách hàng;
  • Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ gây thiệt hại cho khách hàng;
  • Áp đặt điều kiện thương mại khác nhau trong giao dịch như nhau nhằm tạo bất bình đẳng trong cạnh tranh;
  • Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng;
  • Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới. Với các doanh nghiệp độc quyền, ngoài những hành vi trên, Điều 14 Luật Cạnh tranh còn cấm thực hiện hai hành vi sau:
  • Áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng; Khóa luận: Quy định luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng. Với các quy định tại Điều 13 và Điều 14 Luật Cạnh tranh, có thể kết luận rằng cơ quan có thẩm quyền chỉ có thể xử lý doanh nghiệp về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh khi chứng minh đủ hai điều kiện sau:

Một, doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp bị điều tra có vị trí thống lĩnh thị trường hoặc doanh nghiệp có vị trí độc quyền;

Hai, doanh nghiệp đó đã, đang thực hiện một trong những hành vi hạn chế cạnh tranh kể trên. Do đó, nếu hành vi trên do doanh nghiệp bình thường thực hiện thì không thể kết luận đó là hành vi lạm dụng. Tương tự, doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền thực hiện những chiến lược, những hành vi cạnh tranh không thuộc các trường hợp trên cũng không làm xuất hiện hành vi lạm dụng. Như vậy, các quy định về lạm dụng đã đưa ra một ranh giới ứng xử về cạnh tranh cho các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường hoặc độc quyền. Các cơ quan có thẩm quyền không thể áp dụng các biện pháp xử lý nếu các doanh nghiệp chưa vượt quá giới hạn cho phép và ngược lại.

Căn cứ vào các quy định hiện hành, doanh nghiệp thống lĩnh hoặc độc quyền không thể bị quy kết là đã có hành vi lạm dụng nếu thực hiện những hành vi không thuộc những trường hợp được liệt kê tại Điều 13 và Điều 14 Luật Cạnh tranh. Về vấn đề này, pháp luật của các nước có những cách tiếp cận rộng hơn. Điều 78 Luật Cạnh tranh Canađa liệt kê những hành vi lạm dụng, song thực tiễn áp dụng lại cho thấy, Cục Cạnh tranh và Tòa Cạnh tranh Canađa còn chấp nhận một số hành vi không được liệt kê trong Điều 78 là hành vi phản cạnh tranh nếu thỏa mãn ba điều kiện theo quy định tại Điều 79 đã được đề cập ở phần trên. Tương tự, Hội đồng Cạnh tranh của Cộng hòa Pháp đã thừa nhận rằng một số hành vi dù không thuộc diện bị cấm nhưng vẫn có thể bị coi là cản trở đối với sự vận hành bình thường của thị trường vì những hành vi đó do một doanh nghiệp chiếm vị trí thống lĩnh thực hiện với động cơ phản cạnh tranh rõ rệt. Như vậy, với cách giải quyết này, chế định về hành vi lạm dụng trong pháp luật của các nước có thể được mở rộng bằng quyền của cơ quan cạnh tranh trong việc đánh giá mục đích và khả năng phản cạnh tranh của những hành vi không được pháp luật liệt kê.

Về bản chất, lạm dụng vị trí độc quyền để hạn chế cạnh tranh là việc các doanh nghiệp đã khai thác lợi thế mà quyền lực thị trường đem lại trong quan hệ với khách hàng để áp đặt những điều kiện giao dịch bất lợi cho khách hàng như áp đặt giá bán cao, áp đặt giá mua thấp, áp đặt các điều kiện mua bán bất hợp lý…. Với những hành vi bóc lột khách hàng, doanh nghiệp có quyền lực thị trường đã thâu tóm toàn bộ thặng dư xã hội (bao gồm toàn bộ thặng dư sản kinh doanh và toàn bộ thặng dư tiêu dùng). Do đó, cạnh tranh đã không có cơ hội phát huy tác dụng đối với thị trường nói chung và đối với khách hàng, người tiêu dùng nói riêng. Trong quan hệ cạnh tranh với đối thủ, các doanh nghiệp đã sử dụng lợi thế mà quyền lực thị trường đem lại để thực hiện các chiến lược cạnh tranh nhằm chèn ép; ngăn cản việc gia nhập thị trường của đối thủ cạnh tranh tiềm năng. Trong những trường hợp này, doanh nghiệp đã làm giảm, làm cản trở sự phát triển của tình trạng cạnh tranh trên thị trường.

Dưới góc độ kinh tế, các doanh nghiệp thực hiện hành vi đã khai thác sự yếu thế của khách hàng; của đối thủ để củng cố, duy trì vị trí hiện tại của mình trên thị trường. Môi trường cạnh tranh không vận hành theo đúng quy luật hoặc bị cản trở, bị tiêu diệt nên pháp luật cần can thiệp để tái thiết lập các điều kiện thuận lợi cho cạnh tranh hoạt động trở lại.

Dưới góc độ pháp lý, khi thực hiện hành vi lạm dụng, doanh nghiệp đã vi phạm nghĩa vụ đặc thù của doanh nghiệp có vị trí độc quyền là “ không được làm giảm mức độ cạnh tranh hiện có trên thị trường”. Khóa luận: Quy định luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

  • Hậu quả của hành vi lạm dụng là làm sai lệch, cản trở hoặc giảm cạnh tranh trên thị trường liên quan 

Đặc trưng này cho thấy tác hại của hành vi lạm dụng đối với thị trường. Doanh nghiệp thực hiện hành vi lạm dụng nhằm duy trì, củng cố vị trí hiện có hoặc nhằm thu lợi ích độc quyền từ việc bóc lột khách hàng. Do đó, việc thực hiện hành vi có thể gây ra những thiệt hại cho một số đối tượng cụ thể, song nghiêm trọng hơn là làm suy giảm, cản trở tình trạng cạnh tranh của thị trường. Vì vậy, pháp luật của các nước đều buộc cơ quan có thẩm quyền phải chứng minh hành vi lạm dụng đã, đang hoặc có thể sẽ gây hậu quả ngăn cản hay hạn chế cạnh tranh đáng kể trên thị trường.

OECD cũng đưa ra khuyến nghị về việc xác định hành vi lạm dụng, trong đó họ cảnh báo rằng chỉ có thể chống lại có kết quả sự lạm dụng quyền lực thị trường, khi pháp luật và người thi hành nó xác định được “những hành vi cụ thể có thể gây hại cho cạnh tranh và đánh giá được những tác động toàn diện của chúng trên thị trường có liên quan”.

Điều 79 Luật Cạnh tranh Canada quy định một trong những điều kiện để xứ lý doanh nghiệp có quyền lực thị trường đã thực hiện hành vi làm dụng là hành vi đã, đang hoặc có thể gây ra hậu quả ngăn cản hay hạn chế cạnh tranh đáng kể trên thị trường. Pháp luật của Cộng hòa Pháp cũng có những quy định tương tự.

Theo pháp luật của những quốc gia trên thì hậu quả không phải là yếu tố cấu thành của hành vi lạm dụng mà là điều kiện để xử lý doanh nghiệp có hành vi lạm dụng. Với cách tiếp cận này, trong vụ việc về hành vi lạm dụng, cơ quan có thẩm quyền của các nước sẽ xác định ba nội dung sau đây:

  • Một, doanh nghiệp bị điều tra có hay không vị trí độc quyền;
  • Hai, doanh nghiệp bị điều tra có thực hiện hành vi lạm dụng không;
  • Ba, hành vi lạm dụng có gây ra hoặc có thể gây ra hậu quả phản cạnh tranh hay không.

Luật Cạnh tranh của Việt Nam không đi theo xu hướng này. Theo đó, Luật Cạnh tranh coi hậu quả hạn chế cạnh tranh là một trong những yếu tố cấu thành nên hành vi lạm dụng. Do đó, khi điều tra vụ việc về hành vi lạm dụng, cơ quan có thẩm quyền chỉ cần chứng minh hai nội dung là: Khóa luận: Quy định luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

  • Một, doanh nghiệp bị điều tra có vị trí độc quyền;

Hai, doanh nghiệp bị điều tra đã hoặc đang thực hiện hành vi lạm dụng được quy định tại Điều 13, Điều 14 Luật Cạnh tranh. Hậu quả hạn chế cạnh tranh đã được chuyển hóa trong những dấu hiệu pháp lý của từng hành vi lạm dụng. Dấu hiệu về hậu quả của hành vi là căn cứ để phân biệt hành vi lạm dụng với hiện tượng tập trung kinh tế (cũng là một dạng hạn chế cạnh tranh). Tập trung kinh tế được Luật Cạnh tranh quy định bao gồm bốn hành vi (sáp nhập, hợp nhất, mua lại và liên doanh). Thực chất, bốn hành vi này tạo thành những chiến lược của các doanh nghiệp tập trung các nguồn lực hiện có bằng cách tập trung hoặc liên kết những yếu tố về vốn, thị trường, lao động… từ các doanh nghiệp tham gia nhằm nâng cao khả năng kinh doanh và cạnh tranh, hình thành nên các thế lực độc quyền mà không thông qua sự tích tụ tư bản (tích tụ dần từ hiệu quả kinh tế). Từ đó, khả năng làm giảm, sai lệch hoặc hạn chế cạnh tranh của tập trung kinh tế được chứng minh trên cơ sở những suy đoán về việc các doanh nghiệp sáp nhập, hợp nhất, mua lại hay liên doanh có thể tạo ra doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp có quyền lực thị trường làm thay đổi cấu trúc và tương quan cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trường. Trong khi đó, hành vi lạm dụng gây ra hậu quả là những thiệt hại về lợi ích mà các doanh nghiệp khác, hoặc khách hàng phải gánh chịu.

Nói cách khác, pháp luật chống lạm dụng hướng đến việc cấm đoán hành vi, còn pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế có nhiệm vụ ngăn chặn khả năng hình thành các thế lực có quyền lực trên thị trường bằng việc tiến hành tập trung kinh tế. Khóa luận: Quy định luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Thực trạng xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

One thought on “Khóa luận: Quy định luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

  1. Pingback: Khóa luận: Pháp luật về xử lý hành vi lạm dụng vị trí độc quyền

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464