Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về điều kiện mang thai hộ

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về điều kiện mang thai hộ hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về điều kiện mang thai hộ và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về mang thai hộ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Quá trình phát triển pháp luật về mang thai hộ

Mang thai hộ là một thành tựu y học vĩ đại đã mang đến hy vọng làm mẹ cho những phụ nữ kém may mắn khi sức khoẻ không đủ để mang thai và sinh con. Mang thai hộ với bản chất nhân văn là nhờ sự giúp đỡ từ một người phụ nữ này đối với người phụ nữ khác để sinh ra đứa trẻ. Tuy nhiên, vẫn có nhiều ý kiến trái chiều về vấn đề này như tính pháp lý, tính đạo đức. Chẳng hạn như người mang thai hộ có công sinh lao sinh thành ra đứa trẻ, đánh đổi về mặt thời gian, sức khoẻ nhưng về mặt y học lại không mang huyết thông của mình và sẽ là con ruột mang gen di truyền từ người nhờ mang thai hộ.

Hiện nay trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về việc quy định pháp luật về mang thai hộ. Có ba quan điểm lập pháp về về Mang thai hộ đó là: (i) nhóm các quốc gia tuyệt đối không cho phép Mang thai hộ, ví dụ như Pháp, Đức, Tây Ban Nha,…; (ii) nhóm các quốc gia cho phép Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo; (iii) nhóm ít các quốc gia ghi nhận Mang thai hộ cả vì mục đích nhân đạo lẫn mục đích thương mại như một dịch vụ hợp pháp.

Pháp luật Việt Nam chưa quy định Mang thai hộ trong Luật HN&GĐ năm 2000. Tuy nhiên, sau một thời gian pháp luật Việt Nam đã ban hành Nghị định 12/2003/NĐ-CP ngày 12 tháng 02 năm 2003 quy định “nghiêm cấm mang thai hộ”. Vì vậy, lúc đó chưa có văn bản nào quy định hậu quả pháp lý cũng như xác định nhân thân của đứa trẻ, cha mẹ và những người có liên quan cũng chưa được nhắc tới.

Thực tế, nhu cầu mang thai hộ lại rất phổ biến, khi số các cặp vợ chồng mắc các bệnh lý không thể sinh con lại ngày càng tăng. Cùng với sự phát triển y học mà nhiều cặp vợ chồng đã thực hiện việc Mang thai hộ và chấp nhận vi phạm pháp luật, nhu cầu nhiều dẫn đến các dịch vụ như chui hoặc ra nước ngoài Mang thai hộ rồi đưa con về Việt Nam cũng đã diễn ra. Pháp luật cấm hành vi Mang thai hộ đã không còn phù hợp với xu hướng chung của xã hội, gây mất kiểm soát trong quản lý nhà nước. Chính vì vậy mà việc ban hành một văn bản mới quy định đầy đủ về Mang thai hộ là điều cần thiết để đảm bảo trật tự xã hội.

Với tiến bộ của y khoa trong nước và số trường hợp người phụ nữ không có sức khoẻ mang thai nhưng có noãn và mong muốn đươc làm mẹ ngày càng lớn. Pháp luật Việt Nam đã ban hành Luật HN&GĐ năm 2014, đã chính thức thừa nhận và cho phép Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cụ thể được quy định từ Điều 93 đến Điều 100. Theo đó luật cũng quy định điều kiện cho các chủ thể đáp ứng đẩy đủ thực hiện Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo tại Điều 95 của Luật này. Điều kiện được quy định chi tiết từ Điều 13 đến Điều 19 tại Nghị đinh số 10/2015/NĐ-CP ngày 28 tháng 01 năm 2015. Trong khi thực hiện pháp luật vẫn còn xảy ra những trường hợp Mang thai hộ với mục đích thương mại do luật chưa quy định cụ thể điều kiện các trường hợp Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.  Nhằm hạn chế tình trạng trên Nghị định 98/2016/NĐ-CP ngày 01 thánh 07 năm 2016 được ban hành với nội dụng sửa đổi bổ sung điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

2.2. Pháp luật hiện hành về điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về điều kiện mang thai hộ.

2.2.1. Điều kiện chung

Sự phát triển của nền y học trong nước ngày càng mạnh mẽ và việc tiếp thu các tiến bộ của thế giới về kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ngày càng phổ biến trong nước, nhu cầu Mang thai hộ ngày càng nhiều bởi tỷ lệ vô sinh ngày càng tăng. Cùng với đó, các tổ chức thực hiện môi giới Mang thai hộ một cách bất hợp pháp xuất hiện gây ra nhiều hệ luỵ xấu trong nhận thức người dân và mất trật tự xã hội. Chính vì thế nhà nước cần có chế tài nhằm kiểm soát hoạt động trên bằng cách đưa ra văn bản pháp luật quy định cho phép thực hiện Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Đây là một trong những quy định mới hợp thời với xã hội hiện đại và mang đậm tính nhân văn trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Ban hành luật cho phép Mang thai hộ không chỉ nhằm giúp nhà nước kiểm soát đảm bảo trật tự xã hội mà còn giúp các cặp vợ chồng hiếm muộn có quyền được làm cha, mẹ.

Tuy nhiên, để các thực hiện Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo trên thực tế đúng với quy định pháp luật, đảm bảo tính nhân văn, phù hợp với các giá trị văn hoá thì bên cạnh việc nghiêm cấm hành vi Mang thai hộ vì mục đích thương mại, pháp luật cần có những quy định cụ thể, chi tiết liên quan đến điều kiện cần có khi thực hiện tham gia mối quan hệ mang thai hộ. Các bên tham gia vào mối quan hệ Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cần đáp ứng được điều kiện chung dành cho hai bên là thực hiện trên cơ sở tự nguyện. Tính tự nguyện ở đây có yếu tố bắt buộc và người tham gia đều phải đủ điều kiện tự nguyện. Để thể hiện tính tự nguyện có hiệu lực cần được lập thành văn bản. Điều kiện về tự nguyện được quy định tại khoản 1 Điều 95 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau: “Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các bên và được lập thành văn bản.”. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về điều kiện mang thai hộ.

Trước khi tham gia vào hoạt động Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo pháp luật quy định các chủ thể tham gia gồm có các bên là người nhờ Mang thai hộ và người được nhờ Mang thai hộ phải thực hiện hoạt động dựa trên cơ sở tự nguyện của các bên. Quá trình thực hiện luôn được xác định cơ sở tự nguyện. Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 tại khoản 1 Điều 20 quy định cụ thể “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo vệ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm, không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khoẻ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.” [4], với tinh thần đó người phụ nữ mang thai luôn được bảo vệ và có quyền thực hiện theo ý nguyện của bản thân. Để áp dụng được kỹ thuật công nghệ về sinh sản vào cơ thể người phụ nữ được yêu cầu Mang thai hộ khi có sự đồng ý trên cơ sở tự nguyện của người đó. Không ai được ngăn cản, ép buộc và đe doạ tinh thần của người mang thai hộ.

Người phụ nữ được nhờ Mang thai hộ thể hiện tính tự nguyện bằng bản cam kết tự nguyện Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo mẫu số 05 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 28 tháng 01 năm 2015.

Tính tự nguyện còn được thể hiện khi người phụ nữ mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ thoả thuận với nhau bằng văn bản. Nội dung văn bản cần bao gồm đầy đủ các nội dung quy định tại Điều 96 của Luật HN&GĐ về thoả thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Quy định cụ thể về nội dung cơ bản cần có trong thoả thuận như sau:

“a) Thông tin đầy đủ về bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ theo các điều kiện có liên quan đến quy định tại Điều 95 của Luật này;

b) Cam kết thực hiện các quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 97 và Điều 98 của Luật này;

Việc giải quyết hậu quả trong trường hợp có tai biến sản khoa; hỗ trợ để đảm bảo sức khoẻ sinh sản cho người mang thai hộ trong thời gian mang thai và sinh con, việc nhận con của bên nhờ mang thai hộ, quyền và nghĩa vụ của hai bên đối với con trong trường hợp con chưa được giao cho bên nhờ mang thai hộ và các quyền, nghĩa vụ khác có liên quan;

Trách nhiệm dân sự trong trường hợp một hoặc cả hai bên vi phạm cam kết theo thoả thuận.” [5]. 

Văn bản thoả thuận các bên tham gia Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo quy định cụ thể về nội dung theo mẫu số 06 tại Nghị định số 10/2015/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày tháng  năm 2015 quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

Pháp luật quy định về hình thức Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là văn bản được lập thành và có công chứng. Một trong hai bên muốn uỷ quyền cho nhau thì việc uỷ quyền cũng được lập thành văn bản và có công chứng. Hai bên chủ thể tham gia không có được uỷ quyền cho bên thứ ba. Việc các thoả thuận khi có các bên bao gồm là người nhờ Mang thai hộ, người được nhờ Mang thai hộ và cơ sở ý tế thực hiện sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, có thoả thuận chung giữa ba bên thì phải có xác nhận của người có thẩm quyền của cơ sở y tế này.

Nếu trường hợp uỷ quyền giữa vợ chồng bên nhờ Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và bên Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cho nhau thì việc uỷ quyền cũng được lập thành văn bản và có công chứng. Trong trường hợp thoả thuận được lập cùng với nhau giữa ba bên là bên nhờ Mang thai hộ, bên Mang thai hộ và cơ sở y tế thực hiện việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì thoả thuận này phải có xác nhận của người có thẩm quyền của cơ sở y tế này. Thực hiện một mối quan hệ đối với Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đều phải cần yếu tố bắt buộc là hình thức như vậy nội dung của thoả thuận giữa các bên thực hiện Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được công nhận tính pháp lý. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về điều kiện mang thai hộ.

Điều kiện tự nguyện theo pháp luật được quy định thể hiện tính tự nguyện ở đây thực hiện ở cả hai phía là người nhờ Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và người Mang thai hộ vì mục đích. Cả hai phía đều cần có sự tự nguyện bởi đây là một mối quan hệ có sự bảo vệ về quyền con người và thực hiện trên tính nhân văn. Người Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo có sự tự nguyện làm chủ được việc đồng ý giúp đỡ mang thai và sinh con cho cặp vợ chồng hiến muộn. Pháp luật quy định điều này là hoàn toàn phù hợp vì mối quan hệ được xây dựng trên tính nhân văn nếu trường hợp người nhờ Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đe doạ ép buộc đối với bên chủ thể người Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thì trường Mang thai hộ ở đây sẽ thay đổi thành hành vi Mang thai hộ vì mục đích thương mại. Chủ thể là người nhờ Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cũng cần có tính tự nguyện để làm cơ sở pháp lý cho việc chứng nhận mong muốn được thực hiện phương pháp này để có con.

So sánh với các nước trên thế giới thuộc nhóm các quốc gia công nhận Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo về chế định pháp lý của điều kiện Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Điều kiện tự nguyện ở một số các nước Châu Âu như Anh, Đan Mạch đều không có quy định cụ thể vào luật các bên là chủ thể trong mối quan hệ Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo có tính tự nguyện. Tuy nhiên, chế định tự nguyện vẫn được hiểu dựa trên các điều kiện khác có liên quan, như nước Anh tính tự nguyện có thể được thể hiện qua việc hai bên chủ thể được được phép thoả thuận khi tham gia Mang thai hộ và pháp luật cấm thoả thuận kinh phí giữa hai bên chủ thể. Ngược lại, nước Châu Âu như Úc lại có quy định về điều kiện tự nguyện và tính tự nguyện thể hiện khi hai bên có lập một văn bản thoả thuận thể hiện sự đồng ý của mình khi tham gia phương pháp này.

Nhìn chung, điều kiện tự nguyện ở pháp luật Việt Nam là cần thiết bởi đây là một chế định mới cần được kiểm soát chặt chẽ và hạn chế tình trạng mang thai hộ vì mục đích thương mại.

2.2.2. Điều kiện cụ thể Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về điều kiện mang thai hộ.

2.2.2.1. Đối với người nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo 

Quy định về điều kiện Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đối với các chủ thể tham gia là nội dung quan trọng. Bởi lẽ việc quy định chi tiết điều kiện các bên tham gia nhằm định hướng đúng mục đích nhân văn vốn có, tránh trường hợp lợi dụng thực hiện mục đích thương mại. Điều kiện đối với bên nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2014, bao gồm các vấn đề sau:

“a) Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;

  1. Vợ chồng đang không có con chung;
  2. Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.” [5].

Nguyên tắc chung để trở thành đối với đối tượng được phép nhờ Mang thai hộ phải là cặp chồng  đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp. Mặc dù Luật HN&GĐ năm 2014 không quy định cụ thể nhưng thông qua cụm từ “vợ chồng” và theo khoản 1 Điều 3 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP quy định “vợ chồng vô sinh có quyền nhờ mang thai hộ vì mục đích nhân đạo” có thể đưa kết luận như sau: Vợ chồng hợp pháp có nghĩa mối quan hệ vợ chồng được pháp luật thừa nhận và bảo hộ theo quy định Luật HN&GĐ năm 2014. Những trường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn hoặc không đủ điều kiện kết hôn không được pháp luật thừa nhận là vợ chồng hợp pháp thì sẽ không đủ điều kiện thực hiện mang thai hộ.

Tuy nhiên, sẽ có các trường hợp ngoại lệ cho những cặp vợ chồng không đáp ứng đủ điều kiện đăng ký kết hôn nhưng vẫn được pháp luật thừa nhận thì họ vẫn sẽ có quyền nhờ người Mang thai hộ, những trường hợp đó là:

Trường hợp thứ nhất: Những cặp nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn từ trước ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến nay vẫn còn sống chung với nhau. Căn cứ pháp lý đối với trường hợp trên tại Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ban hành ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật HN&GĐ năm 2014.

Trường hợp thứ hai: Những cặp đôi kết hôn trái pháp luật nhưng trong thời gian xét xử việc kết hôn trái pháp luật nhưng trong thời gian xét xử mà cả hai bên bổ sung và đáp ứng đủ điều kiện đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2014 thì Toà án sẽ công nhận đây là hôn nhân hợp pháp.Pháp luật quy định tại Điều 11 Luật HN&GĐ năm 2014 và khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/BTP-TANDTC-VKSNDTC-BTP ban hành ngày 06/01/2016. Khi được công nhận việc kết hôn hợp pháp vợ chồng được nhờ người Mang thai hộ.

(i) Tổ chức y tế có thẩm quyền thực hiện xác nhận việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản  Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về điều kiện mang thai hộ.

Điều kiện đặt ra về xác định y tế trước khi Mang thai hộ nhằm tránh việc nhờ người khác Mang thai hộ một cách bừa bãi, tránh các trường hợp lợi dụng phương pháp một cách thương mại khi người phụ nữ vẫn có thể mang thai nhưng vì những lý do cá nhân mà yêu cầu người khác mang thai hộ. Quy định đặt ra cũng cho thấy pháp luật không đặt Mang thai hộ là biện pháp được ưu tiên hàng đầu cho các cặp đôi vô sinh muốn có con, trước khi đến với Mang thai hộ cặp vợ chồng đều sẽ được hướng tới phương pháp khác như thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm trong việc điều trị vô sinh. Như vậy, các cặp vợ chồng nhờ Mang thai hộ đều phải trải qua kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trước đó nhưng không thể mang thai và sinh con.

Khái niệm về vô sinh được định nghĩa về mặt pháp lý là vợ chồng đã chung sống với nhau sau một năm có quan hệ về tình dục bình thường và không sử dụng biện pháp tránh thai đối với cả vợ lẫn chồng [2]. Việc xác minh được tình trạng hiến muộn của cặp vợ chồng đều phải thực hiện xác nhận tại cơ quan y tế có thẩm quyền khi đó mới có khả năng áp dụng biện pháp Mang thai hộ. Hiến muộn đều có thể xuất phát từ phía người chồng hoặc người vợ, nhưng để thực hiện phương pháp Mang thai hộ người chồng phải đảm bảo có tinh trùng và người vợ phải có noãn đảm bảo chất lượng để tạo thành phôi. Theo quy định việc xác nhận của cơ sở y tế về người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi đã áp dụng các biện pháp hỗ trợ sinh sản vẫn còn mang tính khái quát và dẫn đến hai cách hiểu khác nhau.

Cách hiểu thứ nhất cho rằng người phụ nữ đều phải trải qua hết tất cả các biện pháp hỗ trợ sinh sản, nhưng được kết luận là không thể mang thai và sinh con được. Nếu theo cách hiểu này chi phí để chuẩn bị cho quá trình Mang thai hộ sẽ rất lớn và chỉ phù hợp cho gia đình khá giả có điều kiện. Theo thông tin tại Bệnh viện Hùng Vương chi phí trả cho dịch vụ thụ tinh trong ống nghiệm được chia thành hai khoản. Khoản đầu tiên về chi phí cố định sẽ là 20 triệu đồng và khoản thứ hai cho tiền thuốc khoản 34 đến 45 triệu đồng. Ngoài các khoản như trên còn tuỳ thuộc vào điều kiện cá nhân sẽ phát sinh chi phí về đông phôi, lưu trữ phối, chu kỳ chuyển phôi [21].  

So với mức chi phí bình quân mỗi cá nhân thì phương pháp này đang có giá khá cao. Nếu thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm hoặc thụ tinh nhân tạo không thành công họ sẽ phải bỏ thêm chi phí cho việc sử dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cho Mang thai hộ. Vì vậy, cách hiểu điều kiện theo chiều hướng này sẽ chỉ tập trung vào gia đình có điều kiện kinh tế khá giả còn những hộ gia đình kém về kinh tế sẽ không có tính khả thi.

Đối với cách hiểu thứ hai là người vợ sẽ chỉ cần thông qua các thủ tục, kiểm tra, xét nghiệm cho thấy vợ không đủ khả năng mang thai và sinh con người vợ có tiến hành các biện pháp hỗ trợ sinh sản khác thì chỉ cần thông qua xác nhận của cơ quan y tế mà không cần phải trải qua quá trình dùng các biện pháp khác để điều trị vô sinh. Y học hiện đại sử dụng các loại thiết bị máy móc công nghệ cao có thể trực tiếp phát hiện các bệnh lý khiến người phụ nữ không thể mang thai con của mình hoàn toàn thông qua kiểm tra y tế mà không cần phải thực hiện các biện pháp kỹ thuật hỗ trợ sinh sản chẳng hạn như: không có tử cung, các bệnh lý về tim, u nang cổ tử cung,…

Cả hai cách hiểu đều có những ưu và nhược điểm riêng. Ưu điểm cách hiểu thứ nhất sẽ chặt chẽ sàng lọc có kết quả thông qua các kết quả của phương pháp trước tranh những trường hợp gian dối. Tuy nhiên, nhược điểm của cách này đó về chi phí thực hiện khá cao, đối tượng sẽ bị thu hẹp do không đủ khả năng chi trả. Việc tham gia quá nhiều vào các biện pháp hỗ trợ sinh sản có thể ảnh hướng đến tâm lý nặng nề của cặp vợ chồng vô sinh. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về điều kiện mang thai hộ.

Còn đối với cách hiểu thứ hai sẽ khắc phục được tình trạng này khi người phụ nữ không cần áp dụng phương pháp hỗ trợ sinh sản khác bằng cách tiến hành kiểm tra y học. Sự phát triển của nền y học hiện đại việc dễ dàng nhận ra khả năng không thể mang thai, sinh con cho dù áp dụng các biện pháp hỗ trợ sinh sản là hoàn toàn có thể. Nhưng đồng thời tiềm ẩn nguy cơ những cá nhân tổ chức lợi dụng quy định này để cấp giấy xác nhận giả cho các đối tượng không đáp ứng đủ điều kiện. Nhiều người vẫn đang hiểu lầm việc thực hiện Mang thai hộ tại Việt Nam dẫn đến mục đích mang thai hộ ban đầu về nhân đạo bị sai lệch. Hình thành tư tưởng nhờ người Mang thai hộ vì sợ đẻ, nhất là đối với phái nữ khi muốn giữ dáng hoặc không thể chịu đau, không muốn mất thời gian nghỉ đẻ ảnh hướng đến sự nghiệp thăng tiến. Những trường hợp này không ít, bác sĩ Hoàng Thị Diễm Tuyết đã phát biểu trong hội thảo vào ngày 31/3/2015 nói về việc nhiều người ngộ nhận việc Mang thai hộ nên đã đến bệnh viện để tư vấn phương pháp, các bác sĩ giải thích và làm rõ cho từng người đến xin tư vấn đã mất rất nhiều thời gian [28]. Điều này làm sai lệch mục đích Mang thai hộ ở Việt Nam.

Nhìn chung, cả hai cách hiểu đều phải hướng đến việc chứng minh cặp vợ chồng phải đang trong tình trạng vô sinh được thẩm quyền cho phép xác nhận để tiến tới Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Tuỳ vào thực tế sẽ áp dụng theo những cách hiểu phù hợp nhưng cần có hướng dẫn cụ thể về vấn đề này để việc áp dụng pháp luật được thực hiện một cách thống nhất, đảm bảo quyền bình đẳng cho công dân nói chung và quyền được làm cha mẹ nói riêng.

(ii) Vợ chồng đang không có con chung 

Điều kiện không có con chung được quy định trong Luật HN&GĐ năm 2014 xuất phát từ mục đích nhân đạo, mang nghĩa cử cao đẹp. Với mục đích tạo điều kiện cho các cặp vợ chồng khó có con dù đã thực hiện hỗ trợ sinh sản được có thêm hy vọng làm cha mẹ nhờ Mang thai hộ. Với nghĩa cử cao đẹp những người phụ nữ không thể mang thai có thể nhờ sự giúp đỡ của người phụ nữ khác giúp mình mang thai để có đứa con. Điều kiện này nhằm góp phần hạn chế việc nhờ mang thai hộ tràn lan, tránh những trường hợp cặp vợ chồng giàu có, có điều kiện kinh tế lợi dụng việc Mang thai hộ để thuê người phụ nữ giúp mình mang thai và sinh con để có thật nhiều con cái của mình.

Những trường hợp vợ chồng không có con chung được quy định tại điểm b khoản  Điều 95 Luật HN&GĐ năm 2014 có thể bao gồm những trường hợp sau:

  • Vợ chồng không có con vì lý do vô sinh;
  • Vợ chồng tuy đã có con chung trước đó những mất con và hiện nay người vợ không thể tiếp tục mang thai và sinh con;
  • Cả vợ và chồng đều đã có con riêng nhưng hiện nay vẫn chưa có con chung.

Nhưng khi thực hiện Nghị định số 10/2015/NĐ-CP tại điểm d Điều 14 về hồ sơ đề nghị thực hiện kỹ thuật mang thai vì mục đích nhân đạo thì quy định về con chung lại là “tình trạng chưa có con chung của vợ chồng” [2]. Tức theo Nghị định điều kiện để thực hiện Mang thai hộ là vợ chồng chưa từng có con chung như vậy so với Luật HN&GĐ sẽ có sự mâu thuẫn. Vô hình chung áp dụng theo Nghị định chủ thể thực hiện tham gia nhờ mang thai hộ sẽ bị thu hẹp, những cặp vợ chồng từng có con chung nhưng con chung bị mất thì sẽ không thể nhờ người mang thai. Do vậy pháp luật cần có những hướng dẫn chi tiết hơn để thực hiện pháp luật trên thực tế được thống nhất, thuận tiện cho các chủ thế.

Đối tượng chủ thể về người nhờ Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo ở Việt Nam đang được thu hẹp và cố định là các cặp vợ chồng so với pháp luật các nước trên thế như Anh. Chế định về điều kiện người được nhờ Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được xem là rộng mở khi cho các cặp đôi không quy định là vợ chồng đều được thực hiện nhờ Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Cũng bởi vì văn hoá khác nhau giữa phương Đông và phương Tây giữa Việt Nam và Anh nên phạm vi về đối tượng được nhờ Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cũng trở nên khác nhau. Việt Nam đến hiện nay pháp luật vẫn chưa có quy định về cặp đôi đồng giới và không thừa nhận quan hệ vợ chồng đối với các cặp đôi sống cùng nha như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn.vì vậy đối tượng nhờ Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cũng thu hẹp hơn so với Anh.

Các nước có có văn hoá tương đồng Việt Nam hơn như Ấn Độ thì điều kiện đối với chủ thể nhờ Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cũng đặt ra việc bên chủ thể nhờ Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là vợ chồng. Có sự tương đồng cũng bởi bắt nguồn từ văn hoá Á Đông chưa có nhiều cởi mở đối với các đối tượng khác muốn có con bằng phương pháp này.

Cũng là điều kiện vợ chồng mới là chủ thể nhờ Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo nhưng Thái Lan còn quy định chi tiết về trường hợp có vợ hoặc chồng là người ngoại quốc. Điều này cho thấy pháp luật Thái Lan đẩy mạnh thực hiện pháp luật để đầy lùi tình trạng người nước ngoài qua đây thực hiện Mang thai hộ vì mục đích thương mại bị pháp luật Thái Lan cấm.

(iii) Đã được tư vấn y tế, pháp lý, tâm lý Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về điều kiện mang thai hộ.

Điều kiện cuối cùng trước khi bên nhờ mang thai hộ phải trải qua là quá trình tư vấn y tế, pháp lý, tâm lý. Mang thai hộ là một biện pháp phức tạp về mọi mặt việc đáp ứng điều kiện về tư vấn sẽ giúp họ hiểu đúng quy trình mang thai hộ, quyền và nghĩa vụ của bản thân trong mối quan hệ. Quá trình tư vấn và nội dung tư vấn đều được quy định tại Nghị định số 10/2015/NĐ-CP từ Điều 15 đến Điều 18.

Thứ nhất, nội dung tư vấn về y tế được quy định tại khoản 1 Điều 15 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP, bao gồm các phương pháp khác ngoài mang thai hộ hoặc xin con nuôi; tư vấn về quá trình thực hiện kỹ thuật thụ tinh ống nghiệm và Mang thai hộ; các khó khăn sẽ có khi thực hiện Mang thai hộ; tỷ lệ thành công thấp đối với người vợ trên 35 tuổi hoặc dự trữ buồng trứng của người vợ; đối mặt với chi phí điều trị cao; có khả năng đa thai; khả năng em bé dị tật và có thể đối mặt với bỏ thai; các nội dung khác liên quan. Nội dung là các vấn đề y tế tổng quát xoay quanh Mang thai hộ và những rủi ro đối mặt để vợ chồng chuẩn bị tâm lý tốt nhất và quyết định liệu có tiến hành quy trình hay không. Bởi biện pháp Mang thai hộ cần có sự can thiệp của y tế nhiều và rất phức tạp.

Thứ hai, tư vấn về pháp lý là cung cấp và giải đáp thông tin để người nhờ MTH đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của mình quy định chi tiết tại Điều 16 của Nghị định số 10/2015/NĐ-CP. Quy định về việc xác định cha mẹ con trong trường hợp này, được nghe tư vấn về quyền lợi cũng như nghĩa vụ trong tương lại cặp vợ chồng sẽ thực hiện với đứa trẻ. Mục đích thực hiện tư vấn nhằm hạn chế các trường hợp tranh chấp có thể phát sinh trong tương lai.

Thứ ba, tư vấn tâm lý cũng là điều cần thiết trước khi thực hiện Mang thai hộ đối với bên nhờ Mang thai hộ. Về văn hoá truyền thống ở nước ta vẫn quan niệm người sinh ra đứa trẻ sẽ có tình mẫu tử thiêng liêng, có sự gắn kết vô hình giữa đứa trẻ và người mang thai. Tuy nhiên, người nhờ Mang thai hộ sẽ không thể cảm nhận được cảm giác đó nên cần chuẩn bị tâm lý trước đó để đón nhận đứa trẻ. Sau khi sinh con người Mang thai hộ có thể sẽ có ý định giữ đứa trẻ vì vậy vợ chồng cũng cần được tư vấn tâm lý nhằm chuẩn bị đón nhận những tình huống có thể xảy ra. Nội dung về tư vấn tâm lý đều thể hiện tại khoản 1 Điều 17 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP.

2.2.2.3. Điều kiện đối với người mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Người Mang thai hộ cũng cần được đảm bảo đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật trước khi tiến hành mang thai hộ. Bởi pháp luật nước ta chỉ cho pháp Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo nên các điều kiện đặt ra đối với người Mang thai hộ cũng hướng đến mục đích nhân đạo, bảo vệ quyền lợi người phụ nữ khi thực hiện mang thai. Các điều kiện được quy định tại khoản 3 Điều 95 tại Luật HN&GĐ năm 2014 quy định như sau:

“a) Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ; 

  1. Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần;
  2. Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ; d) Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng; đ) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý.” [5]. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về điều kiện mang thai hộ.
  3. Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ

Yêu cầu người mang thai hộ phải là người thân thích có họ hàng với bên vợ hoặc bên chồng. Những người được xác định là người thân thích được nhờ mang thai hộ quy định chi tiết tại khoản 7 Điều 2 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP. Theo đó, người được nhờ mang thai hộ trong quy định pháp luật là: những người có cùng cha nhưng khác mẹ hoặc những người cùng mẹ nhưng khác cha có mối quan hệ anh, chị, em; người con của họ hàng có vai vế chú, bác, cô, cậu, dì; anh, chị, em rễ trong gia đình có cùng cha mẹ, kể cả những người có cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ nhưng khác mẹ với họ. Điều kiện này đưa ra nhằm đảm bảo quá trình Mang thai hộ đều thực hiện trên cơ sở lòng vị tha, hạn chế tình trạng thương mại hoá mang thai hộ.

Những người thân thích cùng hàng với vợ hoặc chồng khi mang thai hộ còn đảm bảo được tốt nhất quyền lợi của đứa trẻ khi sinh ra bằng phương pháp này. Theo phong tục tập quán gia đình Việt Nam việc đứa trẻ sinh ra nhờ người mang thai hộ cùng hàng với vợ chồng đảm bảo trật tự thứ bậc trong gia đình không gây xáo trộn. Giả sử người được nhờ Mang thai hộ là mẹ của vợ chồng nhờ Mang thai hộ thì lúc này đứa trẻ sinh ra theo thứ bậc sẽ là anh chị em với vợ chồng gây rối loạn thứ bậc giữa các thành viên trong gia đình. Mặt khác, người mang thai hộ là người thân thích nên khi đứa trẻ sinh ra thì đứa trẻ thì họ sẽ trở thành cô, dì, mợ, thím vẫn có mối quan hệ ràng buộc nên tâm lý sẽ dễ dàng thoải mái. Trường hợp đứa trẻ cần người giám thì người thân thích sẽ là người ưu tiên nhận được nhận đứa trẻ là con nuôi theo khoản 1 Điều 5 Luật Nuôi con nuôi năm 2020. Người mang thai đứa trẻ khi nhận nuôi đứa trẻ sẽ có mối liên kết tình cảm chặt chẽ hơn từ đó việc chăm sóc nuôi dưỡng và bảo vệ đứa trẻ sẽ là tốt nhất.

  • Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần

Tránh những rủi ro có thể xảy ra đối với người phụ nữ khi mang thai hộ pháp luật quy định người mang thai hộ phải là người đã từng sinh con. Người phụ nữ khi đã từng trải nghiệm quá trình mang thai, sinh con sẽ có tâm lý ổn định, vững vàng hơn, khi mang thai hộ họ đã có kinh nghiệm hiểu biết, kinh nghiệm thực tế vấn đề chăm sóc sức khoẻ sinh sản trong thời gian mang thai và sinh con. Đồng thời người đã từng có con họ là người hiểu được cảm giác hạnh phúc khi được làm cha, làm mẹ có một gia đình trọn vẹn vì vậy sẽ đảm bảo tính nhân văn không vì mục đích vụ lợi.

Người mang thai hộ chỉ được phép mang thai hộ một lần. Quy định này đưa ra mục đích đảm bảo cho sức khoẻ của người phụ nữ Mang thai hộ và để phòng ngừa đây sẽ trở thành một “nghề” đối với những người phụ nữ đang khó khăn về kinh tế hoặc muốn lợi dụng việc này để kiếm tiền. Tuy nhiên, chưa có hướng dẫn cụ thể về mang thai hộ một lần nghĩa là như nào nên sẽ có hai cách hiểu. Cách hiểu thức nhất cho rằng Mang thai hộ một lần là phải sinh ra đứa trẻ và đứa trẻ còn sống. Cách hiểu thứ hai là người mang thai hộ đã mang thai đứa trẻ tuy nhiên trong quá trình đứa trẻ không may mất hoặc vừa đẻ vừa ra đời đã mất. Theo cách hiểu thứ hai việc mang thai hộ chưa đi đến được kết quả cần đạt được nhưng theo quy định người mang thai hộ sẽ không được tiếp tục giúp vợ chồng nhờ Mang thai hộ thêm lần thứ hai. Lúc này bên phía nhờ mang thai hộ phải tìm người khác đủ các điều kiện theo quy định để tiếp tục thực hiện Mang thai hộ. Trong trường hợp mà vợ chồng chỉ có một người thân thích đủ điều kiện đáp ứng Mang thai hộ thì sẽ rất khó để tìm người thay thế. Do vậy pháp luật cần đưa ra quy định cụ thể để hướng dẫn việc mang thai hộ một lần. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về điều kiện mang thai hộ.

  • Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ

Luật HN&GĐ năm 2014 quy định người được nhờ mang thai hộ phải trong độ tuổi phù hợp nhằm đảm bảo sức khoẻ cho sinh sản. Tuy nhiên, pháp luật chưa quy định cụ thể về độ tuổi phù hợp trong sinh sản. Những con số thống kê về sảy thai tăng theo tuổi tác đó là gần 15% phụ nữ bị sảy thai dưới 35%, tỷ lệ sảy thai tăng lên 20% ở độ tuổi 35 đến 37, độ tuổi lớn hơn từ 38 đến 40 tuổi có tỷ lệ sảy thai là 25%, và lớn nhất là 40% đối với độ tuổi sau 40 [25]. Không những vậy khả năng đẻ con khi đã lớn tuổi có nhiều khó khăn như tăng nguy cơ sảy thai, mẹ càng nhiều tuổi thì càng tăng nguy cơ con kém phát triển trí tuệ, tỷ lệ biến chứng thai sản cao. Các nghiên cứu về độ tuổi mang thai cũng đưa ra kết quả người phụ nữ dưới 35 tuổi cho tỷ lệ mang thai cao gấp 2.4 lần so với trên 35 tuổi [11]. Độ tuổi càng lớn cơ thể sẽ dần suy giảm nhất từ độ tuổi là 30 và đến sau 35 tuổi sẽ suy giảm trở nên nhanh hơn, cơ thể suy giảm dẫn đến khả năng sinh sản cũng sẽ ảnh hưởng. Trung bình đối với một người phụ nữ độ tuổi mãn kinh sẽ vào khoảng 51 tuổi tuy nhiên ở độ tuổi 45 người phụ nữ sẽ không còn khả năng mang thai.

Trên đây là những kết quả dưới góc độ y khoa, còn góc độ pháp lý cho phép người từ đủ 18 tuổi sẽ có quyền đăng ký kết hôn theo Luật HN&GĐ năm 214. Việc vợ chồng có con khi người phụ nữ 18 tuổi sẽ nằm trong khả năng và là quyền tự quyết của cả hai vợ chồng. Nhìn chung, xét độ tuổi phù hợp là một khái niệm mang tính định tính khá cao  và có tính linh hoạt đối với với xét duyệt.

Pháp luật các nước như Ấn Độ và các bang của nước Úc đều quy định cụ thể về độ tuổi người phụ nữ Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo dựa vào sức khoẻ của người phụ nữ ở các quốc gia đó. Quy định chi tiết hơn về độ tuổi có thể giúp cho người phụ nữ khi mang thai bằng phương pháp này đủ đảm bảo về mặt sức khoẻ và cũng như đứa trẻ sinh ra không nhiễm các bệnh.

Việc có giấy xác nhận của tổ chức ý tế có thẩm quyền giúp các bên tiết kiệm được thời gian, tiền bạc của cả hai trong quá trình thực hiện mang thai hộ. Sức khoẻ của người mang thai hộ có ảnh hưởng đến sự thành công của một quá trình thực hiện. Chúng ta đều hiểu việc mang thai rất khó khăn đối với phụ nữ về sức khoẻ lẫn tinh thân, vì vậy sức khoẻ cần được đảm bảo để thụ thai, mang thai.  Xác nhận của ý tế chắc chắn người phụ nữ không nhiễm các bệnh có thể lây truyền sang cho đứa trẻ như bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS, bệnh viêm gan B, bệnh tâm thần, bệnh di truyền,…

  • Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng

Quá trình thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và mang thai hộ ảnh hưởng lớn đến bản thân cũng như cuộc sống gia đình người được nhờ mang thai hộ. Đảm bảo được tính tự nguyện của các chủ thể khi tiến hành Mang thai hộ thì nếu người phụ nữ được nhờ Mang thai hộ đã có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng. Sự đồng ý của người chồng nhằm thể hiện sự tôn trọng của người vợ với người chồng, hạnh phúc gia đình sẽ không bị ảnh hưởng và tránh những mâu thuẫn không đáng có. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về điều kiện mang thai hộ.

Văn bản xác nhận có sự đồng ý của người chồng về việc vợ mang thai hộ để thực xuất trình cho bên Cơ sở khám chữa bệnh thực hiện kỹ thuật mang thai hộ lưu hồ sơ mang thai.

Thái Lan để giảm tính trạng Mang thai hộ vì mục đích thương mại và đáp ứng được tính tự nguyện của các bên mà pháp luật nước này cũng quy định điều kiện cần có sự đồng ý của chồng hợp pháp thể hiện bằng văn bản. Đối với nước Anh hoặc Úc thì điều kiện này không được quy định. Pháp luật Việt Nam quy định về điều kiện này cũng bởi vì đây là một chế định mới vì vậy đặt ra tiêu chí tránh các xung đột gia đình không đáng có của người phụ nữ mang thai hộ. Văn hoá và nhận thức về người mẹ là người mang thai và sinh ra đứa trẻ lâu nay đã có trong suy nghĩ hầu hết những những người trong nước. Vì vậy, nếu người vợ mang thai hộ cho các cặp vợ chồng mà người chồng không được biết hoặc có sự phản đối điều này làm xảy ra những xung đột gia đình. Trong quá trình mang thai người phụ nữ không được ổn định về tâm lý rất ảnh hướng đến quá trình mang thai.

  • Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý

Cũng như người nhờ Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, người được nhờ Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cũng trải qua quá trình tư vấn y tế, pháp lý, tâm lý nhằm đem lại nguồn thông tin tổng quan nhất về vấn đề Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Pháp luật quy định nội dung tư vấn tại Nghị định số 10/2015/NĐ-CP cụ thể khoản 2 Điều 15 quy định về nội dung y tế. Nội dung được tư vấn về y tế bao gồm: những bệnh lý có thể gặp phải trong quá trình mang thai, nguy cơ về việc sảy thai, thai phụ bị tai biến hoặc băng huyết sau sinh và nếu khó sinh phải mổ để lấy thai, nếu em bé bị khuyết tất phải đưa ra quyết định bỏ thai. còn những nội dung khác liên quan.

Đối với tư vấn pháp lý, người được nhờ mang thai hộ được tư vấn những nội dung quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 16. Tư vấn cho người Mang thai hộ về quyền và nghĩa vụ của bản thân khi tham gia thực hiện phương pháp này.

Khoản 2 Điều 17 của Nghị định này quy định về nội dung tư vấn tâm lý. Nội dung bao gồm tâm lý, tình cảm của người trong gia đình, bạn bè trong thời gian mang thai hộ; tâm lý trách nhiệm đối với vợ chồng nhờ mang thai hộ nếu để sảy thai; tác động tâm lý đối với con ruột của mình; cảm giác mất mát, mặc cảm sau khi trao lại con cho cặp vợ chồng nhờ mình mang thai hộ; thực hiện mang thai hộ chỉ với mục đích muốn giúp đỡ cho cặp vợ chồng nhờ Mang thai hộ, không có mục đích thương mại và các nội dung khác liên quan. Việc tư vấn tâm lý là rất cần thiết, đặc biệt vấn đề mang thai hộ còn gặp nhiều ý kiến và khá mới lạ, mọi người chưa hoàn toàn nắm bắt được những quy định của pháp luật. Thực hiện tư vấn nhằm giúp ổn định tâm lý của các bên giúp quá trình mang thai không gặp những khó khăn.

Pháp luật quy định riêng từng nội dung tư vấn đối với từng đối tượng thể hiện tính nhân văn của pháp luật mà còn thể hiện sự thấu hiểu những tâm tư, nguyện vọng của mỗi chủ thể với quá trình mang thai hộ.

2.2.2.3. Đối với cơ sở y thế thực hiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Cơ sở y tế là nơi thực hiện chuyên môn y tế nhằm giúp hoạt động Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thành công vì vậy đóng góp vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện. Cơ sở y tế phải đủ chuyên môn được lựa chọn chặt chẽ, kỹ lưỡng thông qua các điều kiện được nhà nước ban hành. Trong giai đoạn đầu, cả nước có ba cơ sở y tế đủ điều kiện và được quy định tại khoản 2 Điều 13 Nghị định số 10/2015 quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Ba cơ sở ở ba miền đất nước Bắc, Trung, Nam cụ thể đó là: Miền Bắc có Bệnh viện Phụ sản Trung Ương; miền Trung có Bệnh Viện Đa khoa Trung ương Huế; miền Nam có Bệnh viện Từ Dũ Thành phố Hồ Chí Minh. Quy định cho phép ba cơ sở y tế được phép thực hiện bởi đây là một quy định mới trong pháp luật và là một vấn đề phức tạp liên quan đến quyền và nghĩa vụ của nhiều người. Bên cạnh đó, mới đầu việc mang thai hộ không nhiều nên chỉ cho phép một số cơ sở y tế của nhà nước thực hiện nhằm tránh tình trạng mang thai hộ tràn lan, biến tướng thành ngành dịch vụ, ảnh hưởng đến mục đích ban đầu về nhân đạo. Ba bệnh viên trong giai đoạn đầu cũng có nhiệm vụ là để cơ quan quản lý tổng kết, rút ra kinh nghiệm để hoàn thiện tốt hơn cho vấn đề này. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về điều kiện mang thai hộ.

Nhu cầu về việc mang thai hộ tăng nhanh chóng cùng với việc đáp ứng đủ điều kiện pháp luật quy định hai bệnh viện là Bệnh viện Mỹ Đức và Bệnh viện Hùng Vương được Bộ Y tế cấp phép đủ điều kiện Mang thai hộ vào ngày 06 tháng 07 năm 2017 và ngày 14 tháng 06 năm 2019. Hiện nay, cả nước có 5 cơ sở y tế trên cả nước được phép thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, đáp ứng nhu cầu Mang thai hộ của các cặp đôi ngày càng cao.

Điều kiện để trở thành cơ sở y tế được phép thực hiện Mang thai hộ như sau:

  • “a) Có ít nhất 02 năm kinh nghiệm thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, kể từ ngày được Bộ Y tế cho phép thực hiện kỹ thuật này;
  • b) Tổng số chu kỳ thụ tinh trong ống nghiệm tối thiểu là 1.000 chu kỳ mỗi năm trong 02 năm.” [3].

Cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế của bệnh viện phải đảm bảo theo quy định pháp luật. Cụ thể về cơ sở vật chất, có phòng hồi sức cấp cứu, có phòng xét nghiệm nội tiết sinh sản có thể cung cấp trong ngày; diện tích tối thiểu là 500 m2 đối với đơn nguyên riêng cho việc thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm. Đáp ứng đủ tiêu chuẩn theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới cho các phòng: Tiếp đón bệnh nhân; khám bệnh cho nam, nữ; chọc hút noãn và lấy tinh trùng; lab nuôi cấy; siêu âm; xét nghiệm và rửa lọc rửa tinh trùng. Đối với trang thiết bị của bệnh viện đảm bảo dụng cụ sau: 2 tủ cấy CO2; 3 tủ ấm; 1 bình trữ tinh trùng; 1 máy 1 ly tâm; 1 tủ sấy; 1 bình trữ phôi đông lạnh; 2 máy siêu âm có đầu dò âm đạo; 1 kính hiển vi đảo ngược; 2 kính hiển vi soi nổi; 2 bộ tủ thao tác [3].

Thực hiện phân công nhân sự đảm nhận trách nhiệm thực hiện phương pháp cần có đủ các tiêu chuẩn như đã được cấp chứng chỉ hành nghề theo quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh; kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm phải được đào tạo và có giấy chứng nhận hoặc có văn bằng, chứng chỉ về lĩnh vực này do cơ sở đào tạo trong nước hoặc nước ngoài cấp; đã từng thực hành ít nhất 20 chu kỳ điều trị vô sinh bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm có xác nhận của cơ sở đã được Bộ Y tế công nhận đủ điều kiện thực hiện kỹ thuật thụ tinh ống nghiệm [3].

Thực hiện nghiêm ngặt về điều kiện cơ sở y tế được phép sử dụng kỹ thuật Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo nhằm đảm bảo an toàn về sức khoẻ cho người phụ nữ được nhờ Mang thai hộ và thai nhi. Tuân thủ quy định về điều kiện cơ sở y tế góp phần giúp cho quản lý nhà nước hoạt động trong vấn đề Mang thai hộ được hiệu quả hơn, tránh được những rủi ro khi thực hiện tại các cơ sở không đảm bảo kỹ thuật y khoa, gây tổn hại sức khoẻ, có nguy cơ đến tính mạng người Mang thai hộ.

2.3. Đánh giá về điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo pháp luật Việt Nam Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về điều kiện mang thai hộ.

2.3.1. Những ưu điểm 

Pháp luật Việt Nam đã có những thay đổi kịp thời để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người dân và để hội nhập hoá với các nước trên thế giới.

Phương pháp Mang thai hộ là phương pháp gặp phải nhiều ý kiến trái chiều từ nhiều nước và đây là một phương pháp hỗ trợ có liên quan đến vấn đề nhân thân vì vậy nhà nước ta cũng phải có sự nghiên cứu kĩ lưỡng trong khi ban hành. Để có thể cho phép thực hiện Mang thai hộ một cách hiệu quả và không ảnh hưởng đến các quyền nhân thân và quyền con người các nhà làm luật đã đưa ra chế định được phép Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và cấm thực hiện Mang thai hộ vì mục đích thương mại. Để thực hiện được pháp luật quy định cần có những điều kiện cụ thể để ra soát và kiểm soát quá trình thực hiện. Việc ban hành điều kiện vì mục đích nhân đao theo pháp luật Việt Nam đã mang lại những kết quả tốt.

Thứ nhất, điều kiện mang thai hộ theo pháp luật Việt Nam là cơ sở pháp lý cho nhà nước kiểm tra, ra soát quá trình thực hiện quá trình Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Khi thực hiện Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cần đáp ứng đủ điều kiện theo pháp luật như vậy đã loại bỏ đi nhiều đối tượng có hành vi thực hiện Mang thai hộ vì mục đích thương mại. Là cơ sở pháp lý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định những trường hợp nào là Mang thai hộ vì mục đích thương mại từ đó có những giải quyết kịp thời hiệu quả tránh gây những hậu quả tiêu cực.

Thứ hai, điều kiện đã giúp người dân hiểu rõ hơn về quá trình cần có để thực hiện Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Người dân nhắm rõ được những điều kiện mà họ cần chuẩn bị cho việc thực hiện Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo đúng pháp luật. Nếu đưa ra việc cho phép Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo nhưng không đưa ra điều kiện cụ thể rất khó để người dân tiếp cận đúng với phương pháp. Điều kiện là một sự gắn kết để người dân nắm bắt đúng thông tin về Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và có thể tự mình xem xét việc mình đã đủ kiều kiện để thực hiện Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Chẳng hạn, nếu không có điều kiện Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo những đối tượng như phụ nữ không muốn mang thai bởi cần giữ vóng dáng hay sự nghiệp họ sẽ có nhu cầu muốn thực hiện phương pháp Mang thai hộ. Điều này làm mất đi tính nhân văn khi ban hành pháp luật và làm mất thời gian của các bên là cơ sở y tế và các đối tượng.

2.3.2. Những hạn chế Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về điều kiện mang thai hộ.

2.3.2.1. Đối với chủ thể là người nhờ mang thai hộ 

Quy định về điều kiện để cặp vợ chồng vô sinh có quyền được nhờ Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đã tạo thêm hy vọng cho những cặp vợ chồng có thể thực hiện được quyền làm cha, mẹ của mình và có đứa con về mặt huyết thống. Tuy nhiên còn tồn tại một số vướng mắc, bất cập trong việc áp dụng quy định này trong thực tế, cụ thể:

Thứ nhất, điều kiện về vợ chồng nhờ mang thai hộ đang không có con chung tại điểm b khoản 2 Điều 95 của Luật HN&GĐ năm 2014. Điều này có nghĩa là những cặp đôi tuy có con chung nhưng đứa trẻ sinh ra bị tật nguyền, tàn tật do quá trình sinh nở phải can thiệp sản khoa chứ không phải tật nguyền do bệnh lý di truyền sẽ không được phép thực hiện Mang thai hộ. Trường hợp này cần được cho phép sinh thêm con thứ hai bằng phương pháp Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo bởi đứa trẻ sinh thứ hai được sinh ra sẽ là niềm vui và hy vọng cho cuộc sống cặp vợ chồng đồng thời cũng là chỗ dựa chăm sóc cho bố mẹ và người anh hoặc chị đang mắc bệnh. Trong trường hợp cặp vợ chồng nhận con nuôi như vậy họ sẽ không được thực hiện phương pháp Mang thai hộ được gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cặp vợ chồng vô sinh bởi nguyện vọng có con chung huyết thống của mình. Đây là điều kiện không phù hợp với tính nhân đạo của mục đích ban hành quy định Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Có thể nói đây là một bất cập trong pháp luật, không phù hợp với thực tiễn.

Thứ hai, điều kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 95 của Luật HN&GĐ năm 2014 quy định đối với người vợ phải có xác nhận của tổ chức y tế về việc không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Quy định này đang là rào cản đến những trường hợp gia đình không có nhiều tài chính. Những trường hợp người phụ nữ không thể mang thai có thể chứng minh ngay lập tức với những kết quả xét nghiệm, kết quả kiểm tra bằng y học là rất khó khăn, chẳng hạn trường hợp như tử cung hoàn toàn bình thường nhưng khả năng lưu giữ thai lại không có hoặc rất ít. Như vậy, đối với những người phụ nữ này, bắt buộc trước đó họ phải thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản như thụ tinh ống nghiệm, thụ tinh nhân tạo và nếu không thành công mới đủ điều kiện thực hiện phương pháp mang thai hộ. Việc thực hiện các phương pháp sinh sản trước chi phí thực hiện là rất lớn  đối với những gia đình bình thường của người dân. Theo Tạp chí phụ sản thống kê tại Việt Nam chi phí tuỳ thuộc vào vùng miền qua các năm phát triển kỹ thuật điều trị, gói điều trị bệnh nhân. Ước tính hiện nay IVF cho một chu kỳ dao động trong khoảng 60 triệu đến 100 triệu. Đây là một con số lớn đếu với thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam. Lấy số liệu từ báo cáo kinh tế toàn cầu của Quỹ tiền tệ quốc tế – IMF vào tháng 03 năm 2017 thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam vào khoảng 50,5 triệu đồng. Như vậy, số chi phí chi trả cho thực hiện IVF là vượt quá thu nhập đầu người [15].  

Chi phí thực hiện kỹ thuật so với mức thu nhập trung bình của người Việt Nam là rất cao. Theo bác sĩ Nguyễn Việt Quang, Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ sinh sản Quốc gia, Bệnh viện phụ sản Trung ương cho biết thực hiện được thành công một chu kỳ IVF có thể tốn tới hàng trăm triệu đồng, nhiều người phải bán cả nhà đi chữa hiếm muộn.

Do đó việc thực hiện trước các phương pháp sinh sản là điều kiện bắt buộc sau đó mới thực hiện mang thai hộ việc này đã tốn một khoản chi phí cao dẫn đến khó khăn với cặp vợ chồng vô sinh có mức thu nhập không cao. Điều này làm mất thời gian, vừa tốn kém về mặt kinh phí và trở nên vô nghĩa đối với những vợ chồng vô sinh mong muốn có con bằng phương pháp mang thai hộ.

Trường hợp thực tế trong đời sống cụ thể: Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về điều kiện mang thai hộ.

Qua các số liệu thống kê trên thực tế có thể thấy việc điều trị bằng kỹ thuật sinh sản đã mất nhiều tiền bạc và sức khoẻ của người thực hiện. Không những vậy còn ảnh hưởng về mặt tâm lý đối với gia đình thực hiện nhiều lần nhưng không thành công.

2.3.2.2. Đối với chủ thể là người  mang thai hộ vì mục đích nhân đạo 

Thứ nhất, người được nhờ mang thai hộ phải là họ hàng thân thích của vợ hoặc chồng và cùng hàng với vợ chồng. Điều kiện trên làm hạn chế quyền được làm cha, làm mẹ của các cặp đôi khi trên thực tế xã hội phát triển việc kế hoạch hoá cũng được đẩy mạnh nên nhiều cặp vợ chồng là con một trong gia đình. Với văn hoá lâu đời của Việt Nam là “trọng nam khinh nữ” dẫn đến nhiều gia đình chỉ có con trai. Mặt khác, điều kiện còn bao gồm người mang thai hộ phải cùng hàng với vợ chồng cũng là vấn đề khó khăn khiến các cặp đôi rơi vào hoàn cảnh khó tìm được người Mang thai hộ. Một số trường hợp thực tế có tại Bệnh viện Từ Dũ cụ thể:

Trường hợp về gia đình hiếm muộn sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh. Sau quá trình điều trị bệnh không thành, các bác sĩ đã đưa ra chỉ định việc vợ chồng thực hiện phương pháp Mang thai hộ. Khi tìm người Mang thai hộ vợ chồng đã tìm người bà con bên chồng và có sự đồng ý giúp Mang thai hộ. Tuy nhiên, khi làm thủ thủ tục không được chấp nhận do người mang thai hộ không cùng hàng với vợ chồng, xét theo vai vế người Mang thai hộ là cháu của mình [39]. Anh chị đã không thực hiện được việc Mang thai hộ với lý do không tìm được người Mang thai hộ đủ điều kiện quy định của pháp luật.

Trường hợp tiếp theo từ bệnh nhân ở Quảng Ngãi vào Thành phố Hồ Chí Minh để thực hiện thủ tục Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Thế nhưng hồ sơ của chị bị từ chối vì người được nhờ Mang thai hộ là cô của chị, cũng không cùng hàng với vợ chồng [39].

Trên thực tế có nhiều gia đình đã không tìm được người mang thai hộ cùng hàng nên đã tìm đến những môi giới mang thai hộ trái phép với hy vọng có con. Nhiều rủi ro khi tìm mô giới Mang thai hộ theo bác sĩ Nguyễn Thị Diễm Tuyết nói: “Họ làm chui, về sức khoẻ cơ sở chui không đảm bảo về khoa học, vô trùng, không đảm bảo về sức khoẻ. Về phương diện xã hội và huyết thống có thể không đảm bảo.” [39]. Khi liều mình tham gia những dịch mang thai hộ trái pháp luật sẽ không thể tránh khỏi những trường hợp đặc biệt như tranh chấp đứa bé hoặc vợ chồng không nhận con vậy đứa trẻ có nguy cơ bị bỏ rơi.

Phương pháp Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo liên quan đến tính nhân thân và đối với con cái nhiều người sẽ không muốn con cái của mình biết được bản thân mình không phải do mẹ sinh ra. Pháp luật đưa điều kiện người mang thai hộ phải là họ hàng để phòng ngừa những rủi ro không may bố mẹ bỏ rơi đứa trẻ hoặc các tình huống thương mại chui mà cơ quan nhà nước không thể kiểm soát hết được. Tuy nhiên, cũng cần nên loại bỏ điều kiện người mang thai hộ phải là người họ hàng với vợ hoặc chồng. Như các nước Anh pháp luật không mở rộng chọn người Mang thai hộ chỉ cần đáp ứng điều kiện về tuổi tác, tính tự nguyện và không vì mục đích thương mại. Quy định họ hàng vừa làm khó khăn trong quá trình thuyết phục được người nhà giúp đỡ mình mang thai và đây là vẫn đề nhân thân nhiều người không muốn để con cái của mình biết mình không phải là người sinh ra mình.

Bất cập còn về giấy tờ chứng minh quan hệ thân thích giữa người Mang thai hộ và người nhờ Mang thai hộ trong hồ sơ đăng ký thực hiện Mang thai hộ. Các đối tượng làm giả giấy tờ khiến cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng khó chứng thực được vì nhiều lý do khác nhau. Tổ chức y khoa như bệnh viện không đủ chức năng và điều kiện để xác thực về quan hệ của hai bên tham gia. Điều này có nguy cơ biến tường thành hình thức thương mại khi hiện tượng đẻ thuê được hợp pháp hoá dưới mọi hình thức. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về điều kiện mang thai hộ.

Thứ hai, điều kiện người mang thai hộ đã từng sinh con nhưng không có quy định cụ thể căn cứ để cơ sở y tế tiếp nhận hồ sơ đề nghị mang thai hộ kiểm tra điều kiện này. Như vậy, dẫn đến các bên có thể dối trá trong khi nộp bản cam đoan về việc đã từng sinh con.

Thứ ba, điều kiện chưa quy định cụ thể về độ tuổi phù hợp cho mang thai hộ. Các chuyên gia về y khoa đưa ra nhiều lời khuyên về độ tuổi người phụ nữ mang thai tốt nhất từ 20 đến 35 tuổi.

Thứ tư, điều kiện có sự đồng ý của người chồng. Đây là điều kiện có thể gây ra nhiều khó khăn không những cho các bên tham gia mà đối với cả cơ sở y tế thực hiện Mang thai hộ trong quá trình xét duyệt hồ sơ. Khó khăn khi thực tế có nhiều gia đình vợ chồng đang ở giai đoạn ly thân, sống ở hai nơi khác nhau. Mặc dù đã ly thân nhưng trên pháp luật hiện nay vẫn chưa quy định việc ly thân được chấp nhận và vẫn là chồng. Nếu người chồng trong trường hợp muốn trục lợi tự việc này bằng cách yêu cầu một khoản tiền mới chấp nhận đồng ý trên văn bản cho người vợ mang thai hộ. Trong trường hợp này yếu tố nhân văn của pháp luật và mục đích nhân đạo của phương pháp đã không còn. Bên cạnh đó có nhiều người giấu chồng giả chữ ký vào văn bản để tiến hành mang thai hộ khi cả hai đang cách xa nhau về mặt địa lý. Sự việc nếu được phát hiện sau khi tiến hành quy trình mang thai hộ thì giải quyết hậu quả pháp lý là rất khó. Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về điều kiện mang thai hộ.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật điều kiện mang thai hộ

One thought on “Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về điều kiện mang thai hộ

  1. Pingback: Khóa luận: Điều kiện pháp luật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464