Khóa luận: Mở rộng hoạt động tín dụng tại VPbank

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Mở rộng hoạt động tín dụng tại VPbank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại VP bank Giảng Võ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam gồm hai khu vực kinh tế chủ yếu là khu vực kinh tế quốc doanh và khu vực kinh tế ngoài quốc doanh, hai khu vực này tồn tại và phát triển song song nhau, trong đó khu vực kinh tế ngoài quốc doanh ngày càng chiếm tỷ trọng cao và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của nước ta. Phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD) là một chiến lược quan trọng và cần thiết trong sự nghiệp đổi mới kinh tế hiện nay. Các DNNQD hằng năm đã thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, giải quyết được rất nhiều công ăn, việc làm cho người lao động và đóng góp vào GDP của đất nước. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đang thực sự quan tâm đến sự phát triển của các DNNQD. Việc hỗ trợ DNNQD phát triển là việc hết sức cần thiết đối với các ngành, các cấp đặc biệt đối với ngành ngân hàng. Mối quan hệ giữa hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp với hoạt động cho vay của ngân hàng rất chặt chẽ. Sự phát triển của DNNQD góp phần quan trọng trong việc mở rộng hoạt động cho vay của ngân hàng. Ngược lại, hoạt động cho vay của ngân hàng có tác động tích cực, tháo gỡ khó khăn cho DNNQD, giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNQD được cải thiện và đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường. Đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng hiện nay việc ngân hàng hỗ trợ cho các doanh nghiệp là điều cần thiết để giúp các doanh nghiệp ổn định phát triển sản xuất. Xuất phát từ thực tiễn trên, người viết mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài : “Giải pháp mở rộng hoạt động tín dụng đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại VP Bank Giảng Võ ” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>>  Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng

2. Mục đích nghiên cứu Khóa luận: Mở rộng hoạt động tín dụng tại VPbank

Một là: Hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung nhất về DNNQD và tín dụng ngân hàng đối với DNNQD.

Hai là: Phân tích thực trạng cho vay đối với DNNQD tại VP Bank Giảng Võ, từ đó rút ra những kết quả đạt được, tồn tại và những nguyên nhân của những tồn tại đó.

Ba là: Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng hoạt động tín dụng, góp phần phát triển DNNQD tại VP Bank Giảng Võ.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài chọn mở rộng hoạt động tín dụng đối với các DNNQD tại VP Bank Giảng Võ trong những năm gần đây, chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm đối tượng nghiên cứu.

Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào thực trạng hoạt động tín dụng đối với các DNNQD thông qua tìm hiểu những kết quả đã đạt được, những tồn tại trong hoạt động tín dụng và biện pháp để mở rộng hoạt động tín dụng đối với các DNNQD ở Việt Nam.

4. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận: Mở rộng hoạt động tín dụng tại VPbank

Trong quá trình nghiên cứu đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin để nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn.

Kết hợp với phương pháp điều tra khảo sát, phân tích – tổng hợp, thống kê để đánh giá tình hình thực tế.

5. Kết cấu của khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khóa luận gồm 75 trang được chia thành phần chính như sau:

Chương I : Khái quát về tín dụng ngân hàng và vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển DNNQD

Chương II : Thực trạng mở rộng hoạt động tín dụng đối với DNNQD tại VP Bank Giảng Võ

Chương III : Một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động tín dụng đối với các DNNQD tại VP Bank Giảng Võ.

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH

I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG Khóa luận: Mở rộng hoạt động tín dụng tại VPbank

1. Khái niệm và đặc trưng của tín dụng ngân hàng

Khi nghiên cứu về tín dụng ngân hàng, chúng ta cần tìm hiểu khái niệm về tín dụng ngân hàng, những đặc trưng của tín dụng ngân hàng và các hình thức tín dụng ngân hàng…

1.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng

Tín dụng ra đời cùng với sự xuất hiện của tiền tệ. Khi một chủ thể kinh tế cần một lượng hàng hóa cho nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất trong khi chưa có tiền hoặc số tiền hiện có chưa đủ họ có thể sử dụng hình thức vay mượn để đáp ứng nhu cầu. Quan hệ vay mượn như vậy gọi là quan hệ tín dụng.

Tín dụng xuất phát từ chữ La tinh Creditium có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm. Tiếng anh gọi là Credit.

Theo ngôn ngữ dân gian Việt Nam, tín dụng có nghĩa là sự vay mượn. Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ, từ người sở hữu sang người sử dụng sau đó hoàn trả lại với một giá trị lớn hơn.

Như vậy, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu1

Sự phát triển của nền kinh tế đã, đang và sẽ thúc đẩy quan hệ  tín dụng phát triển thông qua các hình thức: tín dụng thương mại, tín dụng doanh nghiệp, tín dụng nhà nước, tín dụng ngân hàng. Chúng ta sẽ tìm hiểu về tín dụng ngân hàng. Khóa luận: Mở rộng hoạt động tín dụng tại VPbank

Ta có thể định nghĩa tín dụng ngân hàng như sau: Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng với một bên là các tổ chức kinh tế, cá nhân, hộ gia đình… trong xã hội, trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay, vừa là người cho vay.2

Cho vay là quyền của NHTM với tư cách là người cho vay (chủ nợ) bắt buộc người đi vay (con nợ) phải trả một số tiền hay một tài sản nhất định hay thực hiện một dịch vụ nào đó. Về phương diện này, với tư cách là người cho vay, các NHTM có quyền yêu cầu khách hàng của mình – người đi vay muốn vay được vốn phải tuôn thủ những điều kiện nhất định là cơ sở ràng buộc về mặt pháp lý đảm bảo cho người cho vay có thể thu hồi được vốn sau một thời gian nhất định.

Tín dụng ngân hàng ra đời có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế- xã hội, góp phần đẩy nhanh nhịp độ tích tụ, tập trung vốn và tăng cường khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Tín dụng ngân hàng là cầu nối, là trung gian giữa những người thừa vốn và những người cần vốn để mở rộng phát triển qui mô sản xuất kinh doanh của mình, đặc biệt là vai trò cung cấp vốn cho nhu cầu kinh doanh của các DNNQD…

1.2. Đặc trưng của tín dụng ngân hàng

Thứ nhất, tín dụng là quan hệ chuyển nhượng mang tính tạm chất thời. Tính chất tạm thời của sự chuyển nhượng chính là thời gian sử dụng lượng giá trị đó. Nó là kết quả của sự thoả thuận giữa các bên tham gia quá trình chuyển nhượng để đảm bảo thời gian nhàn rỗi và thời gian cần sử dụng lượng giá trị đó. Thực chất trong quan hệ tín dụng chỉ có sự chuyển nhượng quyền sử dụng lượng giá trị tạm thời nhàn rỗi trong một khoảng thời gian nhất định mà không có sự thay đổi quyền sở hữu đối với lượng giá trị đó.

Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, TS Nguyễn Thị Mùi, trang 19

Thứ hai, tín dụng là quan hệ vay mượn có tính hoàn trả. Lượng vốn được chuyển nhượng phải được hoàn trả đúng hạn cả thời gian và lượng giá trị bao gồm cả gốc và lãi. Phần lãi đảm bảo cho lượng giá trị hoàn trả lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Sự chênh lệch này là giá trả cho quyền sử dụng vốn tạm thời.

Thứ ba, tín dụng là quan hệ dựa trên cơ sở sự tin tưởng giữa người cho vay và người đi vay. Nếu không có sự tin tưởng quan hệ tín dụng sẽ không hình thành. Người cho vay tin tưởng rằng vốn sẽ được hoàn trả đầy đủ khi đến hạn. Người đi vay cũng tin tưởng vào khả năng phát huy hiệu quả vốn vay. Đây là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ tín dụng.

Ngoài ra tín dụng còn có đặc trưng sau: hoạt động tín dụng luôn bị chi phối bởi các quy luật kinh tế khách quan của nền kinh tế như quy luật dân số, quy luật chính trị, chính sách của NHNN… Hoạt động tín dụng luôn chứa đựng khả năng rủi ro. Vì vậy các NHTM nắm được đặc trưng này để có những biện pháp phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh.

2. Phân loại tín dụng ngân hàng Khóa luận: Mở rộng hoạt động tín dụng tại VPbank

Tín dụng ngân hàng được chia làm nhiều loại khác nhau, tuỳ vào từng căn cứ có các loại tín dụng khác nhau.

Căn cứ vào mục đích sử dụng:

  • Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh : là hình thức cho vay cấp cho các doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh tiến hành phục vụ sản xuất kinh doanh.
  • Cho vay tiêu dùng: là hình thức cho vay tài trợ cho nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình.

Căn cứ vào thời gian tín dụng:

  • Tín dụng ngắn hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn không quá 12 tháng nhằm đáp ứng các nhu cầu vốn ngắn hạn như bổ sung ngân quỹ, đảm bảo yêu cầu thanh toán đến hạn, bổ sung nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp hay đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân. Đây là loại tín dụng có mức rủi ro thấp vì thời gian hoàn vốn nhanh, tránh được các rủi ro về lãi suất, về lạm phát cũng như sự bất ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô. Vì thế lãi suất thường thấp hơn các loại tín dụng khác.
  • Tín dụng trung hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn từ 1-5 năm, chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
  • Tín dụng dài hạn: Là loại hình cho vay có thời hạn trên 5 năm, chủ yếu là để đáp ứng nhu cầu dài hạn như: xây dựng nhà ở, đầu tư các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới. Khóa luận: Mở rộng hoạt động tín dụng tại VPbank

Căn cứ vào tính chất bảo đảm:

  • Cho vay có bảo đảm: Loại hình cho vay này được ngân hàng cung ứng vốn phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc phải có sự bảo lãnh của bên thứ ba. Việc bảo đảm này sẽ là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thu nợ thứ hai bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn.
  • Cho vay không có bảo đảm: Đó là các khoản cho vay tín nhiệm, các khoản cho vay mà không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba, việc cho vay này chủ yếu dựa vào uy tín của khách hàng mà không cần có điều kiện bổ sung.

Căn cứ vào phương thức hoàn trả:

  • Cho vay trả góp: là hình thức cho vay trong đó người đi vay hoàn trả cho ngân hàng bao gồm cả gốc lẫn lãi làm nhiều kỳ.
  • Cho vay phi trả góp: là hình thức cho vay trong đó người đi vay hoàn trả cho ngân hàng khi đến hạn.
  • Cho vay tuần hoàn: theo phương thức này trong thời gian tín dụng đã thoả thuận căn cứ vào thu chi của khách hàng trong thời kỳ khách hàng được ngân hàng cho phép vay và trả nợ nhiều lần một cách tuần hoàn trong một hạn mức nhất định.

Căn cứ vào chủ thể tín dụng:

  • Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp được thể hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hoá hoặc ứng tiền trước khi nhận hàng.
  • Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng thể hiện quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với các doanh nghiệp và cá nhân.
  • Tín dụng nhà nước là hình thức tín dụng thể hiện mối quan hệ giữa nhà nước với nhân dân và các tổ chức khác theo đó nhà nước chủ động vay tiền để tăng nguồn thu ngân sách.
  • Tín dụng quốc tế là hình thức tín dụng thể hiện quan hệ giữa nước ta với các quốc gia hay các tổ chức tiền tệ tín dụng quốc tế.

3. Các hình thức tín dụng ngân hàng đối với cho vay doanh nghiệp Khóa luận: Mở rộng hoạt động tín dụng tại VPbank

Các tổ chức tín dụng được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của ngân hàng nhà nước3

Để hạn chế rủi ro cũng như tăng lợi nhuận, các ngân hàng không ngừng hoàn thiện về quản lý, tổ chức cũng như đáp ứng một cách tốt nhất các đòi hỏi của thị trường và không ngừng đa dạng hoá các hình thức tín dụng. Hiện nay các NHTM cung cấp cho doanh nghiệp những hình thức tín dụng sau:

  • Tín dụng ngắn hạn: Tín dụng ngắn hạn là loại tín dụng có thời hạn đến 12 tháng. Đây là tín dụng chiếm tỷ trọng lớn nhất của NHTM chủ yếu đáp ứng nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp. Nhu cầu vốn lưu động của các doanh nghiệp xuất phát từ độ lệch các luồng lưu chuyển tiền tệ. Tức là luồng
  • Nghị định số 49/2000/NĐ-CP ngày 12/9/2000 của chính phủ về tổ chức và hoạt động của các ngân hàng thương mại tiền vào và luồng tiền ra của doanh nghiệp thường không khớp nhau về quy mô và thời gian. Doanh nghiệp vay ngắn hạn ngân hàng để đáp ứng nhu cầu vốn có tính thời vụ của mình. Ngân hàng có các hình thức tài trợ tín dụng ngắn hạn sau:
  • Chiết khấu thương phiếu: là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, trong đó khách hàng chuyển nhượng thương phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng đổi lấy một số tiền bằng mệnh giá của thương phiếu trừ lãi suất chiết khấu và hoa hồng phí (nếu có). Chiết khấu thương phiếu là một trong những nghiệp vụ cho vay cổ điển của các ngân hàng và ngày nay được áp dụng phổ biến trên thế giới. Đây là một hình thức cấp tín dụng gián tiếp giúp doanh nghiệp thoả mãn nhu cầu vốn lưu động không thường xuyên, nhanh, dễ dàng, góp phần đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn. Đồng thời đây cũng là nghiệp vụ tín dụng có mức độ bảo đảm cao, mức sinh lời chắc chắn, giúp ngân hàng nắm giữ tài sản tài chính có tính lỏng cao tránh tình trạng đóng băng vốn.
  • Cho vay thấu chi: Là hình thức cho vay mà ngân hàng cho phép khách hàng được rút quá số dư trên tài khoản vãng lai trong một thời hạn và hạn mức nhất định trên cơ sở hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng. Hình thức cho vay thấu chi có ưu điểm hơn so với các hình thức cho vay khác là: Doanh số cho vay có thể cao gấp nhiều lần so với hạn mức tín dụng, tính chủ động của khách hàng cao hơn khi sử dụng nguồn vốn này cho nên thường là ngân hàng áp dụng đối với khách hàng có tín nhiệm hoặc có sự đảm bảo bằng tài sản lớn hơn hạn mức tín dụng mà ngân hàng cung cấp.
  • Cho vay theo hình thức cầm cố hàng hóa: Người đi vay phải dùng hàng hóa hoặc các chứng từ sở hữu hàng hóa làm vật đảm bảo tiền vay. Giá trị hợp đồng tín dụng được tính theo giá trị vào thời điểm vay. Khóa luận: Mở rộng hoạt động tín dụng tại VPbank
  • Cho vay ứng trước: Cho vay theo hạn mức: là hình thức cho vay căn cứ vào sự thoả thuận về thời hạn cho vay khách hàng được ngân hàng cho phép vay trong hạn mức tín dụng đã thoả thuận.

Cho vay từng lần: là tiến trình cấp tín dụng dựa trên cơ sở nhu cầu tín dụng của từng đối tượng vay cụ thể. Đây là phương thức cho vay đơn giản, phù hợp với trình độ, năng lực quản lý và tổ chức của doanh nghiệp vừa và nhỏ và với khách hàng có nhu cầu vay vốn không thường xuyên, chỉ vay theo từng lần có nhu cầu.

Tín dụng trung và dài hạn: Là hình thức tín dụng có thời hạn cho vay từ 1-5 năm và trên 5 năm, chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm TSCĐ, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh… Ngân hàng có các hình thức tín dụng trung và dài hạn là:

Cho vay theo dự án: đây là khoản tín dụng đầu tư tài trợ mua sắm cho TSCĐ hay xây dựng các công trình được dự tính sẽ mang lại thu nhập ròng trong tương lai. Thông thường các doanh nghiệp yêu cầu được vay một khoản dựa trên chi phí dự tính của dự án và cam kết khoản vay làm nhiều lần

Đối tượng cho vay là toàn bộ tập hợp chi phí cả dự án như: chi phí xây lắp, chi phí thiết bị và chi phí xây dựng cơ bản khác…

Cho vay đồng tài trợ: Là hình thức cho vay trong đó một nhóm các tổ chức tài chính cùng liên kết lại tập hợp vốn vay cho một khách hàng. Đối với các dự án lớn, ngân hàng sẽ sử dụng hình thức này nhằm phân chia lợi nhuận, phân tán rủi ro, đồng thời phù hợp với khả năng cân đối nguồn vốn sẵn có của ngân hàng đó.

Các hình thức tài trợ tín dụng chuyên biệt:

  • Cho thuê tài chính: là một hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn trong đó bên cho thuê chuyển giao quyền sử dụng tài sản cho bên đi thuê đổi lại định kỳ bên đi thuê sẽ phải thanh toán tiền thuê cho bên cho thuê, vào thời điểm kết thúc hợp đồng cho thuê tài chính thông thường bên đi thuê được quyền mua lại tài sản.4
  • Bảo lãnh ngân hàng: Là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bão lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh, khách hàng phải nhận nợ và trả cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay5. Thường ngân hàng đứng ra bảo lãnh khi quan hệ của người mua và người bán chưa tin cậy lẫn nhau và thường trong lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hoá. Hình thức bảo lãnh của ngân hàng rất phong phú và đa dạng: Bảo lãnh tín dụng, bảo lãnh cung cấp hàng hoá, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng… tín dụng bảo lãnh phát triển đã đáp ứng được nhu cầu giao lưu và trao đổi hàng hoá, thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển.

II. VAI TRÒ CỦA TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH Khóa luận: Mở rộng hoạt động tín dụng tại VPbank

1. Tổng quan về doanh nghiệp ngoài quốc doanh

1.1. Khái niệm về doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh.6 DNNQD là một bộ phận của nền kinh tế, lấy sở hữu tư nhân làm nền tảng, được tồn tại lâu dài, được bình

Nghị định số 16/2001/NĐ- CP ngày 02/5/2001 và Nghị định số 65/2005/NĐ- CP ngày 19/5/2005 của Chính phủ về cho thuê tài chính

Theo Quyết định số 283/2000/NĐ- NHNN14 về việc ban hành quy chế bảo lãnh ngân hàng

Theo Điều 4 § 1 Luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29/11/2005 đẳng trước pháp luật và có tính sinh lợi hợp pháp chủ động trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ của pháp luật. Xuất phát từ hình thức sở hữu của DNNQD, nhà nước không cấp vốn hoạt động cũng như không tái cấp vốn mà vốn hoạt động của DNNQD là vốn do tư nhân bỏ ra hay một nhóm các thành viên là các tổ chức, cá nhân góp lại. Số tiền này nhiều hay ít phụ thuộc vào qui mô ngành nghề, lĩnh vực sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật (được quy định trong luật doanh nghiệp). Mặt khác, trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, DNNQD phải chịu trách nhiệm hữu hạn, vô hạn hay hỗn hợp cả vô hạn và hữu hạn. Điều đó tuỳ thuộc vào đặc trưng của từng loại hình sản xuất kinh doanh của DNNQD mà các cá nhân, tổ chức tham gia trong đó.

1.2. Các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh Khóa luận: Mở rộng hoạt động tín dụng tại VPbank

Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8, thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực ngày 1/7/2006 có các loại hình doanh nghiệp sau:

  • Công ty cổ phần: Công ty cổ phần là công ty hình thành từ nhiều phần vốn góp bằng nhau gọi là cổ phần do các cổ đông là tổ chức, cá nhân đóng góp (số cổ đông tối thiểu là ba thành viên và số lượng tối đa không hạn chế). Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Cổ phần được thể hiện trên giấy tờ được gọi là cổ phiếu. Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp một hoặc một số cổ phần của người nắm giữ. Cổ đông có thể sở hữu một hay nhiều cổ phiếu. Trong trường hợp công ty cổ phần cần thêm vốn sản xuất kinh doanh, công ty có thể phát hành thêm các công cụ nợ (trái phiếu, giấy nhận nợ…) hay các công cụ vốn (cổ phiếu) hoặc các công cụ khác để huy động vốn trong khuôn khổ pháp luật cho phép.

Công ty TNHH:

  • Công ty TNHH hai thành viên trở lên: Khác với công ty cổ phần, công ty TNHH là công ty được thành lập do ít nhất hai thành viên, không quá năm mươi thành viên góp vốn và chịu trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp. Để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, công ty không được phép huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu, cổ phiếu và chỉ được tăng vốn bằng cách kêu gọi các thành viên của công ty đóng góp thêm vốn hoặc kết nạp thêm thành viên mới hay sử dụng quỹ dự trữ không bắt buộc. Các thành viên trong công ty được phép tự do chuyển nhượng phần vốn góp cho nhau. Khi chuyển nhượng cho thành viên ngoài công ty phải được sự đồng ý của nhóm thành viên đại diện cho ít nhất ba phần tư vốn điều lệ. Khóa luận: Mở rộng hoạt động tín dụng tại VPbank
  • Công ty TNHH một thành viên: Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ, chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Cũng giống như công ty TNHH hai thành viên công ty TNHH một thành viên tăng vốn điều lệ để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh bằng cách: tăng vốn điều lệ của chủ sở hữu công ty hoặc huy động thêm vốn góp của người khác. Trường hợp tăng vốn điều lệ công ty bằng cách nhận thêm vốn góp của người khác công ty phải đăng ký chuyển đổi thành công ty TNHH hai thành viên trở lên kể từ ngày thành viên mới cam kết góp vốn vào công ty.
  • Công ty hợp danh: Công ty hợp danh là công ty có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung, ngoài các thành viên hợp doanh còn có các thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh phải là cá nhân chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Trường hợp công ty hợp danh muốn tăng vốn điều lệ để mở rộng hoạt động kinh doanh của mình thì các thành viên hợp danh có thể đóng góp thêm, tiếp nhận thêm thành viên hợp danh hoặc có thể nhận vốn góp thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh mới phải cùng liên đới chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản đối với công ty (trừ trường hợp thành viên đó hoặc các thành viên còn lại có thoả thuận khác). Thành viên góp vốn chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn cam kết góp.
  • Doanh nghiệp tư nhân: Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật. Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người điều hành hoạt động kinh doanh. Trong quá trình hoạt động, chủ doanh nghiệp tư nhân có thể tăng hoặc giảm vốn đầu tư của mình vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Việc tăng hoặc giảm vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán. Trường hợp giảm vốn đầu tư xuống thấp hơn vốn đầu tư đã đăng ký thì chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ được giảm vốn sau khi đã đăng ký với cơ quan kinh doanh. Doanh nghiệp tư nhân không được phép phát hành bất kỳ một loại chứng khoán nào để tăng vốn .
  • Hợp tác xã: Hợp tác xã7 là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Hợp tác xã hoạt động như một loại hình
  • Theo luật số: 18/2003/QH11 về hợp tác xã doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật.

1.3. Các nguồn vốn của doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Vốn tự có: Vốn tự có là điều kiện đầu tiên để hình thành lên một doanh nghiệp. Theo pháp luật quy định khi đăng ký thành lập công ty chủ doanh nghiệp ngoài đăng ký ngành nghề kinh doanh, loại hình doanh nghiệp… thì còn phải đăng ký số vốn góp ban đầu. Trong quá trình hoạt động kinh doanh doanh nghiệp có thể tăng thêm vốn tự có. Vốn tự có tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp mà được hình thành lên là khác nhau. Đối với các doanh nghiệp tư nhân vốn tự có là số vốn mà chủ doanh nghiệp bỏ ra để kinh doanh. Đối với các công ty cổ phần vốn tự có được hình thành bởi vốn góp của các cổ đông thành lập công ty dưới dạng các cổ phần. Đối với các công ty TNHH, công ty hợp danh, nguồn vốn ban đầu được hình thành do các thành viên thành lập công ty đóng góp.

Nguồn vốn đi vay: Doanh nghiệp có thể vay qua hình thức tín dụng thương mại hay tín dụng ngân hàng. Khóa luận: Mở rộng hoạt động tín dụng tại VPbank

Tín dụng thương mại: Tín dụng thương mại8 là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp được thực hiện thông qua hình thức mua bán hàng hoá trả chậm, trong đó người cho vay là người bán chịu hàng hoá vì đã chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng lượng giá trị hàng hoá bán chịu cho người mua. Ngược lại, thay vì phải trả tiền ngay, người mua được quyền sử dụng số tiền đó trong một thời gian nhất định phụ thuộc vào thời gian bán chịu. Nguồn vốn tín dụng thương mại có ảnh hưởng hết sức to lớn không chỉ đối với các doanh nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế. Tín dụng thương mại là một phương thức tài trợ tiện lợi và linh hoạt trong kinh doanh đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn và góp đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm của các doanh

Giáo trình lý thuyết tiền tệ-ngân hàng, học viện ngân hàng, trang 20 nghiệp. Mặt khác nó còn tạo ra khả năng mở rộng các quan hệ hợp tác kinh doanh, thúc đẩy sự lưu thông của hàng hoá.

Tín dụng ngân hàng: Tín dụng ngân hàng9 là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa ngân hàng với các chủ thể kinh tế khác trong xã hội trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay. Thông qua vai trò trung gian của ngân hàng, nguồn vốn sẽ được chuyển nhượng tạm thời từ người thừa vốn sang người có nhu cầu về vốn. Nguồn vốn này huy động của xã hội với khối lượng lớn và thời hạn khác nhau, do đó có thể thoả mãn các nhu cầu vốn đa dạng về khối lượng cũng như về thời hạn và mục đích sử dụng. Doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn (dưới 1 năm), vay trung hạn (từ 1- 5 năm), vay dài hạn (trên 5 năm) với những mức lãi suất ngân hàng và những điều kiện ràng buộc khác nhau… Nó có những đặc điểm tiến bộ và có vai trò thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp nói chung và các DNNQD nói riêng. Việc sử dụng tín dụng ngân hàng sẽ giúp doanh nghiệp chia sẻ bớt rủi ro cho ngân hàng. Các doanh nghiệp sẽ huy động được số vốn cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Sử dụng tín dụng ngân hàng không làm chia sẻ quyền lực của người chủ doanh nghiệp. Tiền lãi vay được tính trong chi phí hợp lý do vậy sẽ giảm được thuế cho doanh nghiệp.

1.4. Thực trạng doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam hiện nay Khóa luận: Mở rộng hoạt động tín dụng tại VPbank

Trong những năm gần đây, khi Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới đất nước đã mở ra nhiều hướng đi mới cho các DNNQD. Các doanh nghiệp đã phát triển cả chất và lượng. Số lượng các DNNQD không ngừng tăng và tăng với tốc độ rất nhanh. Theo tổng cục thống kê tính đến năm 2007 cả nước có khoảng 260.000 DNNQD với tổng số vốn khoảng 600 tỷ đồng. Loại hình công ty TNHH chiếm gần 47% số DNNQD, doanh nghiệp tư nhân chiếm 36,4% và công ty cổ phần chiếm hơn 15%. Hiện nay, các DNNQD được chia thành nhiều ngành nghề kinh doanh khác nhau, các doanh nghiệp này đang là Giáo trình lý thuyết tài chính- tiền tệ, học viện ngân hàng, trang 23 một lực lượng góp phần vào quá trình phát triển đất nước. Sự phát triển của DNNQD trên các lĩnh vực phát triển kinh tế, đặc biệt ở khu vực chế biến, bán lẻ và dịch vụ thời gian qua đã góp phần không nhỏ trong GDP của cả nước. DNNQD hiện đang chiếm 50% giá trị công nghiệp chế biến thủy sản, 30% giá trị ngành công nghiệp dệt may. Khu vực này cũng là nơi thu hút hơn 90% số lao động mới hàng năm. Tuy nhiên 75% số DNNQD hiện có mức vốn dưới 2 tỷ đồng. Công nghệ sản xuất của các doanh nghiệp này còn lạc hậu và hoạt động chủ yếu ở lĩnh vực có giá trị thấp như chế biến và gia công.

Để đạt mục tiêu đến năm 2010, cả nước có 500.000 DNNQD, nhiều doanh nghiệp kiến nghị Nhà nước tiếp tục cải cách thủ tục hành chính để giảm phiền hà cho doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cũng đề nghị Nhà nước hỗ trợ mạnh về đào tạo nguồn nhân lực, cung ứng lao động và hỗ trợ thông tin kinh tế, pháp lý cho doanh nghiệp.

Hiện nay các doanh nghiệp Việt Nam không ngừng phát triển cả về chất lượng và số lượng. Đến nay tình trạng các DNNQD như sau:

  • Quy mô vốn nhỏ bé: Các DNNQD dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất nên nguồn vốn mang tính chất nhỏ hẹp, thâm niên tồn tại chưa lâu nên chưa có điều kiện để tích luỹ vốn. Nguồn vốn hoạt động chủ yếu là đi vay từ bạn bè, vay tư nhân, vay ngân hàng và các TCTD khác. Song do uy tín của các DNNQD chưa cao nên việc vay vốn gặp rất nhiều khó khăn, mặc dù đã có nhiều văn bản của chính phủ, NHNN quy định về việc mở rộng cho vay đối với khu vực này.
  • Trình độ kỹ thuật công nghệ chưa theo kịp với thế giới: Do quy mô vốn hạn chế cùng với việc thiếu thông tin về công nghệ, sự hạn chế trong việc áp dụng công nghệ tiên tiến, thiết bị đều cũ kỹ, lạc hậu, phần lớn là máy cũ tân trang lại dẫn đến trình độ kỹ thuật công nghệ của các DNNQD còn lạc hậu, đầu tư thiếu đồng bộ, dẫn đến hàng hoá kém chất lượng, chưa đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Vì vậy, khả năng cạnh tranh với kinh tế quốc dân và nước ngoài còn yếu. Bên cạnh đó, có một số doanh nghiệp có những phương án đầu tư, cải tiến thiết bị máy móc song không hợp lý, thiếu tính toán dẫn đến hiệu quả kinh doanh và khả năng thu hồi vốn thấp nên một số doanh nghiệp đã bị phá sản. Khóa luận: Mở rộng hoạt động tín dụng tại VPbank
  • Hoạt động kinh doanh chứa nhiều rủi ro: Do các DNNQD chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, quy mô sản xuất nhỏ hẹp. Các DNNQD nguồn vốn góp do các nhân, tập thể góp vốn tạo thành nên tính năng động tự chủ cao. Các doanh nghiệp hoạt động nhằm đạt được mục tiêu lợi nhuận tối đa. Vì thế, trong quá trình cạnh tranh, các DNNQD dễ đi đến hoạt động mạo hiểm, dễ xảy ra rủi ro. Nên các DNNQD cần phải có sự điều tiết, hướng dẫn của các cơ quan chức năng các DNNQD mới áp dụng đúng đắn những quy định, nguyên tắc do Nhà nước đề ra không chạy theo lợi ích trước mắt, gây hiệu quả xấu cho nền kinh tế xã hội.
  • Lĩnh vực kinh doanh chủ yếu là sản xuất tiêu dùng và dịch vụ: Kinh tế ngoài quốc doanh thường sản xuất tiêu dùng và cung ứng dịch vụ, lưu thông hàng hoá, vì vậy đây là những ngành không đòi hỏi một lượng vốn quá lớn. Hơn nữa lại là lĩnh vực hoạt động có vòng quay vốn nhanh, tỷ suất lợi nhuận cao phù hợp với đặc thù của các DNNQD. Điều này có ưu điểm là nhanh chóng tạo cho nền kinh tế một khối lượng hàng hoá dịch vụ lớn, thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của toàn xã hội. Song ngược lại những nhược điểm của DNNQD dễ gây ra những khủng hoảng lớn, rối loạn trong khâu sản xuất và lưu thông hàng hoá, ảnh hưởng đến sự ổn định của đồng tiền.

Trình độ tay nghề lao động còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu:

Trình độ lực lượng sản xuất của nuớc ta còn thấp trong khi tiềm năng phát triển của đất nước ta còn lớn. Sự độc chiếm của hình thức sở hữu Nhà nước và tập thể không cho phép khai thác hết những tiềm năng to lớn của đất nước. Việt Nam với hơn 80 triệu dân trong đó lực lượng lao động chiếm tỷ trọng lớn trong xã hội. Tuy nhiên, trình độ tay nghề của người lao động còn thấp chủ yếu là do thiếu những trường dạy nghề, người lao động chủ yếu học qua quá trình lao động nên tay nghề lao động chưa cao. Để phát triển các doanh nghiệp cần phải quan tâm nhiều hơn đến vấn đề nâng cao chất lượng lao động. Bên cạnh đó, cũng cần phải có ý thức của người lao động không ngừng học hỏi và nâng cao tay nghề, mỗi con người đều phải luôn vươn lên để khẳng định mình. Đây là động lực kích thích sự phát triển của lực lượng sản xuất, thúc đẩy xã hội phát triển.

2. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Tín dụng ngân hàng đóng một vai trò to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội nói chung và trong việc phát triển doanh nghiệp đặc biệt là các DNNQD nói riêng. Bất kỳ một tổ chức kinh doanh muốn phát triển cơ sở của mình cũng cần phải có vốn. Để có vốn bằng tiền thì phải có những tổ chức đủ thẩm quyền và chức năng để huy động và tập trung vốn đó trước khi đem sử dụng. bất kỳ một quốc gia nào công việc này do hai tổ chức thực hiện: Tổ chức tài chính và tổ chức tín dụng. Ngoài vai trò đối với sự phát triển kinh tế – xã hội thì nó còn đóng vai trò to lớn đối với các DNNN cũng như các DNNQD đó là việc duy trì, thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp.

Để tồn tại và phát triển các DNNQD cần phải có vốn. Vốn có vai trò rất quan trọng: vốn giúp cho các doanh nghiệp tiếp tục quá trình sản xuất kinh doanh, mở rộng hoạt động kinh doanh từ đó có thể tồn tại phát triển đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp luôn thiếu vốn do đó một giải pháp an toàn và hiệu quả đó là vay vốn thông qua tín dụng ngân hàng. Hiện nay, thủ tục vay vốn tại các ngân hàng là đơn giản, nhanh gọn tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp. Vì vậy, tín dụng ngân hàng có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của các doanh nghiệp đặc biệt là các DNNQD. Thể hiện ở các điểm sau: Khóa luận: Mở rộng hoạt động tín dụng tại VPbank

Thứ nhất, tín dụng ngân hàng tạo điều kiện ra đời các tổ chức kinh tế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài quốc doanh. Tín dụng ngân hàng sẽ là công cụ tài trợ đắc lực trong việc tạo lập cơ sở vật chất cũng như vốn lưu động trong hoạt động sản xuất và lưu thông của các doanh nghiệp. Từ đó thúc đẩy sự ra đời của các doanh nghiệp mới, cung cấp vốn giúp các doanh nghiệp hoạt động được liên tục và hiệu quả.

Thứ hai, tín dụng ngân hàng tạo điều kiện phát triển ngành nghề mới trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Thông qua hoạt động cấp tín dụng, các ngân hàng thấy được nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng hiện tại cũng như tương lai, cùng với nguồn vốn của mình, tín dụng ngân hàng sẽ thúc đẩy sự ra đời những ngành nghề mới, đáp ứng cho yêu cầu phát triển ngày càng đi lên của nền kinh tế.

Thứ ba, tín dụng ngân hàng trở thành đòn bẩy kinh tế quan trọng giúp nhà sản xuất kinh doanh thực hiện đều đặn quá trình tái sản xuất, giúp quá trình sản xuất diễn ra liên tục, ứng dụng khoa học kỹ thuật mới… sản xuất các sản phẩm thoả mãn thị hiếu của người tiêu dùng, cũng như khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Thứ tư, tín dụng ngân hàng có vai trò tích cực trong việc hạn chế, xoá bỏ tệ nạn cho vay nặng lãi góp phần tích cực vào việc xây dựng, bổ sung hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính, thúc đẩy DNNQD phát triển. Tín dụng ngân hàng với các hình thức cho vay đa dạng, thủ tục đơn giản nhanh gọn, thoả mãn nhu cầu của người vay.

Thứ năm, tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tránh tình trạng sử dụng vốn sai mục đích. Khi các doanh nghiệp vay vốn buộc các doanh nghiệp đó phải trả gốc và lãi trong một thời gian nhất định, các doanh nghiệp phải tính toán việc sử dụng vốn sao cho có hiệu quả nhất. Các doanh nghiệp phải tính toán chi phí sản xuất, tốc độ quay vòng vốn sao cho hết thời hạn vay có đủ gốc và lãi để trả ngân hàng và phần lợi nhuận cho doanh nghiệp. Như vậy với sự ràng buộc về lãi suất thời hạn, mục đích sử dụng đã thúc đẩy doanh nghiệp sử dụng vốn hiệu quả nhất. Bên cạnh đó, với sự giám sát của ngân hàng đã hạn chế việc sử dụng vốn sai mục đích. Hàng tháng hoặc định kỳ các cán bộ tín dụng sẽ đến các doanh nghiệp để kiểm tra hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, tình hình tài chính cũng như việc sử dụng vốn của doanh nghiệp. Hoạt động kiểm tra thường xuyên này một mặt giúp cho các doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả, mặt khác giúp cho ngân hàng thu hồi được gốc và lãi..

Thứ sáu, tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của DNNQD. Với nguồn vồn tự có doanh nghiệp không thể mở rộng sản xuất kinh doanh của mình, đầu tư trang thiết bị mới, tiên tiến, cải tạo sản phẩm mới. Vốn tín dụng giúp doanh nghiệp tập trung được vốn sản xuất nhằm mở rộng sản xuất, cải tạo trang thiết bị kỹ thuật hiện đại để tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Đồng thời doanh nghiệp có điều kiện phát triển sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu thị trường. Tín dụng ngân hàng cũng góp phần giúp doanh nghiệp mở rộng quan hệ thương mại với thị trường nhằm quảng bá sản phẩm của doanh nghiệp mình, nhằm tăng thương hiệu sản phẩm trên thị trường.

3. Mở rộng cho vay doanh nghiệp ngoài quốc doanh Khóa luận: Mở rộng hoạt động tín dụng tại VPbank

3.1. Sự cần thiết phải mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở nước ta

Nước ta, DNNQD có một vai trò to lớn và phải được khuyến khích phát triển. Trong việc thực hiện đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước, DNNQD góp phần thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, khai thác tiềm năng kinh tế, tạo ra và thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động. Vì vậy, DNNQD khai thác tối đa mọi khả năng của mình về vốn, sức lao động, trí tuệ để phục vụ sản xuất kinh doanh, đem lại lợi nhuận cao nhất.

Từ những vấn đề nêu trên, DNNQD cần được tiếp tục phát triển và trở thành một đối trọng với kinh tế quốc doanh, thúc đẩy DNNN sớm có những chuyển biến tích cực phù hợp với xu thế của nền kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển. Với ngân hàng, DNNQD là nhóm khách hàng lớn và quan trọng với các nghiệp vụ như huy động vốn, sử dụng và phát triển dịch vụ ngân hàng. Đại bộ phận tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng là từ các thành phần dân cư trong xã hội, đây là nguồn vốn có tính chất ổn định cao đối với ngân hàng. Mặt khác nhu cầu sử dụng vốn của các DNNQD là rất lớn, đối với doanh nghiệp thì vốn tự có của họ rất nhỏ, phần lớn DNNQD phải sử dụng vốn vay để hoạt động. DNNQD phát triển sẽ tạo ra mối quan hệ mua bán, chi trả lớn, tài khoản mở tại ngân hàng sẽ ngày một tăng và kéo theo các hoạt động dịch vụ khác của ngân hàng phát triển. Điều này có nghĩa là sự phát triển DNNQD kéo theo sự phát triển của NHTM. Trong tương lai DNNQD sẽ chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế, do vậy việc mở rộng hoạt động cho vay đối với DNNQD là một việc hết sức cần thiết.

3.2. Các tiêu thức đánh giá kết quả mở rộng cho vay doanh nghiệp ngoài quốc doanh Khóa luận: Mở rộng hoạt động tín dụng tại VPbank

Mở rộng về khách hàng: Số lượng khách hàng DNNQD (công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh …) có quan hệ tín dụng đối với ngân hàng qua các năm.

Tỷ trọng khách hàng vay= Số lượng khách hàng vay/ Tổng số khách hàng vay

Mở rộng về quy mô: Mở rộng về quy mô tín dụng đối với DNNQD thể hiện khối lượng đầu tư cho vay tăng lên so với kỳ trước. Việc tăng trưởng tín dụng đối với DNNQD không những giúp cho ngân hàng có cơ cấu tín dụng hợp lý, giúp cho các tổ chức kinh tế thực hiện việc cải tiến kỹ thuật hợp lý hoá dây chuyển công nghệ, thúc đẩy tăng năng suất lao động mà còn góp phần đẩy mạnh đầu tư trong phạm vi toàn nền kinh tế xã hội, góp phần đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất nền kinh tế để thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế.

Mở rộng về dư nợ cho vay:

Tỷ trọng dư nợ cho vay  = Dư nợ đối với DNNQD/ Tổng dư nợ

Mở rộng doanh số cho vay: Đối với các DNNQD trong những năm gần đây đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế đất nước và nhà nước cũng đang khuyến khích thành phần kinh tế này phát triển do vậy việc mở rộng doanh số cho vay là điều cần thiết: Thể hiện số lần giải ngân trong năm tăng và số lượng khách hàng có quan hệ tín dụng với ngân hàng tăng.

Tỷ trọng doanh số cho vay = Doanh số cho vay DNNQD/ Tổng doanh số cho vay

Mở rộng loại hình cho vay: Tổ chức tín dụng thoả thuận với khách hàng để áp dụng các hình thức cho vay thích hợp.

Cho vay theo dự án đầu tư: ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh dịch vụ và đời sống.

Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một dự án vay vốn.

Cho vay trả góp: Khi vay vốn tổ chức tín dụng và khách hàng xác định, thoả thuận số lãi vốn vay phải cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong kỳ hạn cho vay.

Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng. Khóa luận: Mở rộng hoạt động tín dụng tại VPbank

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY    

===>>> Khóa luận: Khái quát về hoạt động kinh doanh của VP Bank

One thought on “Khóa luận: Mở rộng hoạt động tín dụng tại VPbank

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp mở rộng tín dụng đối với VP bank

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464